• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Phong Kiều dạ bạc

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Phong Kiều dạ bạc

    TẶNG CÁC BẰNG HỮU 1 BÀI THƠ
    Phong Kiều dạ bạc
    Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
    dịch nghĩa
    Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
    Trăng tà chiếc quạ kêu sương
    Lửa chài cây băi sầu vương giấc hồ
    Thuyền ai đậu bến Cô Tô
    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

  • #2
    Tranh luận thêm về Phong Kiều Dạ Bạc

    Chợt thấy bài thơ của huynh đệ đưa lên, bỉ nhân nhớ ra khi xưa các vị tiền nhân đă từng v́ bài thơ này mà tranh căi nhau ... Xin kể lại để chư huynh đệ cùng nghe ...

    "Phong Kiều dạ bạc" (PKDB) là một bài thơ Đường nổi tiếng của Trương Kế, có thể nói bài thơ nổi tiếng đến độ khiến cho chùa Hàn San - vốn là một ngôi chùa rất b́nh thường cũng nhờ nó mà được nhiều người biết tới. Ai khi đến thành phố Tô Châu cũng tới thăm chùa Hàn San và mọi người dân ở đây đều thuộc nằm ḷng bài thơ của Trương Kế.

    Nhưng có lẽ cũng chính v́ vậy mà từ xưa đă nảy sinh nhiều tranh căi xung quanh bài thơ mà trong các sách thi thoại c̣n ghi lại. Những tranh căi ấy đến nay hầu như đều đă được giải quyết, nhưng không tránh khỏi vẫn c̣n có đôi chỗ, đôi người chưa thoả măn, tạo nên những làn sóng tranh luận đến nay.


    Về "tiếng chuông nửa đêm":


    Trong "Lục Nhất thi thoại" - cuốn sách mở đầu cho thể giai thoại về thơ trong lịch sử văn học Trung Quốc - của Âu Dương Tu (1007 - 1072) nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời Bắc Tống, câu thứ tư trong bài PKDB: "Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" trước đó chưa có ai phát biểu, Âu Dương Tu là người đầu tiên thắc mắc: "Các nhà thơ thường tham những câu hay mà lư th́ có chỗ không thông. "Cô Tô thành ngoại Hàn San tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" … hay th́ có hay, nhưng canh ba quả không phải lúc nhà chùa đánh chuông."

    Sau đó dấy lên một loạt tranh căi của các "nhà" về câu thơ này. Diệp Mộng Đắc cũng đời Tống viết trong "Thạch Lâm thi thoại": "Có lẽ ông Âu Dương chưa từng đến Ngô Trung (chỉ Tô Châu) chứ chùa chiền đất Ngô Trung cho đến nay vẫn thỉnh chuông vào nửa đêm."

    Sách "Đường thi kỷ sự" th́ nói: "Đất này có chuông nửa đêm gọi là "Vô Thường chung". Trương Kế ghi lại một điều có thực mà ông cho là lạ, c̣n ông Âu Dương Tu cho là "bệnh ngữ" th́ không phải!"

    Hồ Tử cũng đời Tống trong cuốn "Điều Khê ngư ẩn tùng thoại" nói kỹ hơn: "Sách Nam Tử có chép bài thơ "Cảnh Dương lâu" của Từ Vơ Đế, bài ấy có nói đến chuông canh ba, chuông canh năm. Khi Ngô Cảnh Trọng làm thái thú Ngô Hưng th́ cấm chuông nửa đêm. Các nhà đời Đường, như Bạch Lạc Thiên, Ôn Đ́nh Quân, nói nhiều đến chuông nửa đêm. Ông Âu Dương chắc không khảo cứu đến…"

    Thậm chí trong "Đường thi cổ suư" c̣n ghi lại một giai thoại rất…giai thoại về "tiếng chuông nửa đêm" này:

    Trương Kế rong chơi trên một chiếc thuyền, đêm trăng, buộc thuyền ở bến sông, ánh trăng bàng bạc, sương toả đầy trời, đâu đó vẳg lại vài tiếng quạ kêu muộn màng, ḷng Trương tràn đầy thi hứng hai câu thơ chợt thành: "Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên; Giang phong ngư hoả đối sầu miên" nhưng không nghĩ tiếp được nữa, v́ cảnh trên sông đều đă ghi cả trong hai câu thơ này rồi.

    Cũng lúc ấy, sư cụ chùa Hàn San ngoài thành Tô Châu sau khi tụng niệm như thường lệ, ra sân tản bộ. Dưới ánh trăng nhạt, gió nhẹ, khẽ lay mấy đoá hoa trong bồn, hồn thơ chợt đến, sư cụ ngâm: "Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung; Bán tự ngân câu bán tự cung" (Mùng ba mùng bốn ánh trăng mờ mờ ảo ảo; Nửa như móc câu bằng bạc, nửa như cái cung) rồi cũng không thể nào nghĩ tiếp được nữa. Chợt chú tiểu đi vào, thấy thầy đang băn khoăn, hỏi ra sự t́nh, bèn thưa:

    - Vừa năy con ra hồ múc nước, ánh trăng sóng sánh, con làm được hai câu này: "Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn; Bán trầm thuỷ để bán phù không." (Một mảnh hồ trong như ngọc chia làm hai phần; Nửa ch́m đáy nước, nửa bay lên từng không)

    Nghe xong, nhà sư sáng bừng nét mặt:

    - Hai câu của con hay lắm. Thật lạ là lại khớp với hai câu của thầy thành một bài tứ tuyệt hoàn hảo. Con hăy ra thỉnh thêm một hồi chuông nữa để tạ ơn Phật Tổ đă ban cho thầy tṛ ta sự may mắn hiếm có này!

    Chú tiểu vâng lời, thầy tṛ cùng ngâm nga. Vùng Tô Châu đêm đó bất chợt được nghe tiếng chuông đánh vào nửa đêm từ chùa Hàn San. Trương Kế cũng v́ bài thơ dang dở chưa ngủ được, chợt nhe được tiếng chuông chùa, ngồi phắt dậy ngâm toáng: "Cô Tô thành ngoại Hàn San tự; Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền"

    Tác giả Lê Văn Đ́nh trong "Giai thoại Văn học Đường" - NXB Thanh Hoá 1997 có ghi lại giai thoại trên và cả cuộc tranh luận vào thời Tống của Âu Dương Tu.


    Về các "tên riêng" trong 2 câu thơ đầu của bài thơ:


    Tác giả Quang Phúc trong một bài viết trên TC Thế Giới Trong Ta dẫn "Thiên Gia Thi Đồ Chú", có nhắc đến hai danh từ riêng mà trước nay vẫn "bị hiểu sai" là: Giang Phong (chợ) và Sầu Miên (núi). Nhưng thực ra các "tên riêng" được tranh căi trong hai câu thơ này trong thời gian qua c̣n nhiều hơn. Nhiều tờ báo ở nước ta đă đưa những tin ngăn ngắn về các tên riêng này, mỗi bài một nguồn tư liệu nhưng chủ yếu có các vấn đề thắc mắc như sau:

    1. Ô Đề không phải là tiếng quạ kêu mà là tên một thôn ở khu vực chùa Hàn San.

    2. Giang Phong là tên chợ (như tác giả Quang Phúc dẫn từ sách "Thiên gia thi đồ chú")

    3. Giang Phong, Ngư Hoả, Sầu Miên là tên ba ngọn núi ngoài thành Cô Tô, trong đó hai ngọn Giang Phong và Ngư Hoả ở một bên, ngọn Sầu Miên ở bên kia sông.

    4. Sầu Miên là tên ḥn đá nơi Tây Thi ngồi nh́n về quê nhà (Sầu Miên thạch)



    Nếu chấp nhận hết những địa danh trên th́ có thể nói, trong hai câu thơ đầu đă có tới 4 địa danh, và chỉ c̣n 6 chữ để "kết nối", miêu tả. Và hàng loạt những tranh luận, trao đổi về những từ này đă được đăng trên các báo.


    a. Tác giả Trần Đắc Thọ trong Tạp chí Hán Nôm số 3 (32) năm 1997 có bài viết "Tư liệu mới về một bài thơ Đường nổi tiếng" đă cung cấp những tư liệu chi tiết về chùa Hàn San và khu vực xung quanh, có bản đồ du lịch khu vực kèm theo, trong đó vị trí chùa Hàn San được in lớn. Song có điều đây không phải là tư liệu ông trực tiếp thu lượm mà thông qua vợ chồng ông Trần Chung Ngọc (?) cung cấp, ông Ngọc cho biết: Giang Phong là tên hai cây cầu Giang Kiều và Phong Kiều. Chùa Hàn San xây trên đất bằng mà không phải trên núi. Hiện vẫn có một cây cầu Phong Kiều bắc qua con kênh nhỏ.

    Cuối bài, tác giả Trần Đắc Thọ kết luận:

    - Ô Đề có thể chấp nhận là một tên thôn được, nó nói nên khoảng không gian Trương Kế nh́n thấy trăng lặn. (Không hiểu v́ lư do ǵ)

    - Ngư Hoả không thể nào là địa danh v́ không ai lại đặt tên như thế. (?)

    - Sầu Miên không thể là núi, v́ một lẽ đơn giản: một trái núi lớn như vậy, lại có mặt trong bài thơ nổi tiếng như thế mà bản đồ du lịch lại không ghi, trong khi chùa Hàn San lại được ghi nổi bật. Đồng thời nói Sầu Miên là tên ḥn đá Tây Thi thường đứng trông về quê hương cũng vô lư, v́ đài Cô Tô c̣n cao hơn nhiều. (Luận điểm này nghe ra là có căn cứ nhất)

    Và ông chấp nhận 3 địa danh: thôn Ô Đề và Giang Phong là tên hai cây cầu cổ như thông tin của ông Ngọc và dịch lại hai câu tơ đầu thành: "Trăng lặn Ô Đề sương bát ngát; Lửa chài, cầu cổ, giấc sầu vương…"

    "Ô Đề" có phải là một tên thôn, dưới đây ta sẽ tiếp tục theo dơi cuộc tranh luận của các nhà nghiên cứu, c̣n Giang Phong có phải tên hai cây cầu, người viết xin mạn phép bàn luôn. Trước hết xin khẳng định rằng Phong Kiều đúng là tên một cây cầu và nó có tên trong bài thơ này, nhưng không phải ở câu thứ 2 như tác giả Trần Đắc Thọ nêu mà nằm ngay ở tiêu đề bài thơ: "Phong Kiều dạ bạc", người ta đă gọi tên bến sông theo tên cây cầu ở đó. Cầu Phong Kiều hiện được lưu giữ cũng là v́ nó trở nên nổi tiếng qua bài thơ này, nếu thực có cây cầu Giang Kiều nữa, th́ hẳn người ta sẽ giữ lại cả hai chứ không phá nó đi để đến nỗi bây giờ cầu Phong Kiều phải lẻ bạn, như ông Ngọc cũng thấy và cung cấp thông tin cho Trần Đắc Thọ. Thực ra điều này có thể thấy rơ qua bài thơ "Phong Kiều" của Cao Khải tự Quư Địch người Trường Châu - nhà thơ lớn đầu đời Minh, người từng được biết đến như một điển h́nh của bi kịch "án văn tự" đời Minh. Bài thơ này chép trong phần thất ngôn tuyệt cú của Đại Toàn tập quyển 16 được các học giả đời Càn Long nhà Thanh biên soạn lại trong Khâm định tứ khố toàn thư (Thượng Hải Cổ tịch Xuất bản xă in ảnh ấn xuất bản năm 1991), cụ thể bài thơ trên như sau:

    Hoạ kiều tam bách ánh giang thành

    Thi lí Phong Kiều độc hữu danh

    Kỷ độ kinh qua ức Trương Kế

    Ô đề, nguyệt lạc hựu chung thanh


    Tạm dịch:

    Ba trăm cầu đẹp khắp thành Tô

    Phong Kiều duy nhất có trong thơ

    Lại qua mấy bận nhớ Trương Kế

    Quạ kêu, trăng lặn lại chuông chùa


    Cao Khải từng qua lại vùng Tô Châu nhiều lần và không chỉ một lần viết về Phong Kiều. Như vậy là đất Tô Châu có rất nhiều cầu nhưng chỉ có cầu Phong Kiều có trong thơ mà thôi, mà thơ ở đây muốn nhắc tới chính là bài PKDB của Trương Kế.


    b. Trên báo Văn Nghệ Trẻ số 36 (67) năm 1997, tác giả Thái Anh có bài "Từ một áng thơ Đường đến với một tập thơ đương đại" giới thiệu bản dịch PKDB của Trần Yên Thảo trong tập thơ "Quà tặng người xưa” do NXB Trẻ ấn hành. Trong bài viết, Thái Anh đă đồng t́nh với Trần Yên Thảo trong việc cho Ô Đề và Sầu Miên là hai địa danh với hai câu dịch thơ là: "Mù sương trăng khuất Ô Đề; Rặng phong chài lửa ngóng về Sầu Miên" và nói: "Theo sách Đường nhân tuyệt cú khải mông của Lư Tế Giả th́ thôn Ô Đề và núi Sầu Miên là hai địa danh có thực. Nhiều bài báo ở nước ta cũng đă bàn qua vấn đề này."

    Sau đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phi - người chuyên nghiên cứu về văn học cổ Trung Hoa- ngay trên Văn Nghệ Trẻ số 1 (68) năm 1998 đă có bài "Bàn thêm về cách hiểu và dịch bài thơ Phong Kiều dạ bạc" phân tích kỹ về bài thơ và trao đổi về các vấn đề Thái Anh đưa ra. Trong đó về vấn đề tên riêng "Ô Đề", "Sầu Miên", ông nói: "Tôi đă đọc nhiều lần bài phân tích Phong Kiều dạ bạc của Lư Tệ Dă (chứ không phải Lư Tế Giả), mà không hề thấy chi tiết nói về "thôn Ô Đề", "núi Sầu Miên" như bạn Thái Anh đă nêu. C̣n "nhiều bài báo" "đă bàn" th́ chưa hẳn đă là đúng. Chúng tôi đă đọc hàng chục bản chú thích, phân tích bài thơ (trong đó hầu hết là sách vừa xuất bản ở Trung Quốc) th́ mới chỉ thấy một chỗ giải thích như bạn Thái Anh c̣n tất cả đều hiểu như Tản Đà. Giả thuyết đó đă có từ lâu và cũng đă bị bác bỏ từ lâu" Nguyễn Khắc Phi cũng nói thêm rằng PKDB nằm trong số 61 bài cổ thi mà học sinh tiểu học ở Trung Quốc bắt buộc phải học. Đây là loại sách có tính pháp lư rất cao, nhưng cũng không hề có sách nào quan niệm "ô đề", "sầu miên" là địa danh. Và ông phân tích hai câu thơ đầu: "Câu đầu chỉ 7 chữ nhưng chứa đựng những 3 cụm chủ vị: Nguyệt lạc, ô đề, sương măn thiên. Các chuyên gia thơ Đường đều thống nhất cho rằng đây là cảnh vật mà lữ khách nh́n thấy, nghe thấy, và cảm thấy trong "Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều". Hơn thế, tiến tŕnh những cảm nhận ấy diễn ra rất hợp lư: Trăng lặn - trời đang sáng bỗng tối sầm lại - khiến quạ giật ḿnh kêu lên"…"Câu thứ hai tuy không đủ 3 cụm chủ vị nhưng cũng chứa đến ba cảnh tượng: hàng phong thấp thoáng bên sông, ngọn lửa chài lập loè và lữ khách buồn không ngủ đối diện với chúng. Giang phong - ngư hoả: một xa, một gần, một mờ một tỏ; một tĩnh, một động. Và nếu kết hợp với cả câu trên: cảnh vật c̣n được miêu tả từ cao xuống thấp."…


    c. Nhà văn, nhà thơ Nguyễn Hà - người từng nhiều năm nghiên cứu và dịch thơ cổ Trung Quốc, từng dịch lại và xuất bản các tập thơ cổ Trung Hoa như: Thiên gia thi; Đường thi tứ tuyệt; Kinh Thi … băn khoăn với việc "chừng vài bốn năm nay, có một người lại đưa tin trên tờ Kiến thức ngày nay, rằng có một học giả nước Nhật Bản, sau khi đến Trung Hoa nghiên cứu về công bố: "Ô đề" không phải là tiếng quạ kêu, mà là một địa danh làng; cũng vậy "sầu miên" không là một giác hồ vương vấn, chính nó là tên một ngọn núi!" (Chữ của Nguyễn Hà). Thế là trong tâm trạng: "sực tỉnh và chuyển sang một trạng thái buồn, thấy nếu quả là như thế, th́ bài thơ đă mất hết sức âm vang!", ông đă dành dụm tiền trực tiếp đi đến Tô Châu t́m hiểu vấn đề này. Qua điều tra, nghiên cứu thực tế tại Tô Châu, nhà thơ Nguyễn Hà đă cho biết: Tất cả những người dân ở Tô Châu đều vô cùng ngạc nhiên và lạ lẫm khi nghe hỏi về cái tên "thôn Ô Đề", "núi Sầu Miên". Thậm chí cả cái tên Giang Phong mà ông bịa thêm ra (như vậy có nghĩa là ông không biết về vấn đề "địa danh" này trước đó) cũng không hề có, mà chỉ có những hàng phong cổ thụ đỏ lá bên sông, và quanh khu vực đó không có ngọn núi nào.

    Tất cả những chi tiết của cuộc điều tra được ông viết thành bài báo "Tôi đă đến chùa Hàn San" và đăng trên báo Tuần Du Lịch số tết Mậu Dần 1998 với tâm trạng hân hoan vui sướng v́ đă giải toả được những băn khoăn trong ḷng và yên tâm bởi PKDB vẫn là PKDB ngày nào.


    Như vậy chúng ta có thể thấy rằng các tranh luận quanh bài thơ PKDB là khá nhiều nhưng có thể khái quát như sau:


    I. Thời Tống, cùng với trào lưu viết thi thoại, các học giả trong thời gian này chủ yếu bàn đến PKDB ở câu thứ tư với chi tiết "tiếng chuông nửa đêm" và cuối cùng vẫn kết luận đó là đúng thực tế và không phải là "bệnh ngữ". C̣n các câu thơ khác th́ đều không bàn tới và hiểu đó là các miêu tả của bài thơ và cảm xúc của tác giả. (Như "Đường thi cổ suư" nêu rơ)


    II. Thời gian muộn hơn gần đây, bắt đầu dấy lên những luận điểm cho rằng một số cảnh tượng miêu tả trong 2 câu thơ đầu là tên riêng địa danh. Các sách Trung Quốc in trước, sau đó là các nhà nghiên cứu nước ngoài (Nhật Bản, Việt Nam …) nói theo các sách này. Nhưng có một điều lưu ư là: các địa danh được đưa ra rát nhiều và không thống nhất. Điều này khiến cho những người mới tiếp xúc lần đầu th́ đều giật ḿnh kinh ngạc trước thông tin mới, nhưng với những ai đă đọc qua nhiều sách khác nhau th́ tất sẽ nảy sinh sự hoài nghi thắc mắc: phải chăng những người làm sách đă cố t́nh tạo ra những vấn đề này để gây ấn tượng lạ với người đọc? Tiên phong nhất trong việc đi t́m chân tướng của sự việc vẫn là các nhà nghiên cứu chuyên môn. Và cho đến nay th́ tất cả giới nghiên cứu Trung Quốc, Việt Nam hay phương tây qua nghiên cứu các tài liệu cũng như thực tế đều bác bỏ những tên riêng này và thống nhất bài thơ vẫn như từ "hơn một ngàn năm nay người ta đă hiểu một cách thống nhất và ổn định" (Nguyễn Khắc Phi). Và cũng chỉ có thế bài thơ mới có sức truyền cảm mạnh mẽ và lâu dài cho đến tận ngày nay, c̣n nếu chỉ là việc điểm lại những địa danh một cách trực quan vô cảm th́ không hiểu PKDB sẽ ra sao?


    Người viết bài tổng hợp này chỉ là một người yêu thơ Đường và luôn quan tâm đến mọi vấn đề xung quanh những bài thơ Đường mà ḿnh hằng yêu mến. Với những tư liệu trên, có lẽ các bạn đă thấy được sự thật của vấn đề. Những bài thơ cổ luôn là cả một thế giới cho những người yêu thích t́m hiểu kỹ hơn, sâu hơn về nó để ngày càng thấy nó đẹp hơn, lung linh hơn. Nhưng nên nhớ rằng khi t́m hiểu chúng ta nên đứng trên góc độ khoa học, trên cơ sở tham khảo nhiều nguồn thông tin khác nhau, chớ nên choáng ngợp bởi một thông tin lạ mà vội vàng phủ nhận tất cả những ǵ mà ḿnh và mọi người đă hiểu.
    Bất thức Lô sơn chân diện mục; Chỉ duyên thân tại thử sơn trung!

    Comment

    Working...
    X