• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Lụm lặt: Nam Phái Nội Gia

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Lụm lặt: Nam Phái Nội Gia

                                          NAM PHÁI NỘI GIA

                                                      GS Vũ Đức N.D.



    Vào thời thượng cổ tại Trung Hoa vơ thuật được bắt nguồn từ các môn vơ sơ khai như: Giốc Để (đấu vật cổ truyền), Thủ Bác (Đánh Tay Đá Chân), Đạo Dẫn (Hô Hấp Dưỡng Sinh) và Kiếm Thuật (Đánh Kiếm).

    Về sau, v́ muốn trao dồi kỹ thuật chiến đấu, và sức khỏe thân tâm, bốn môn vơ cổ điển này đă được người ta phát huy và phối hợp lại thành hệ thống vơ thuật Trung Hoa, gồm có hai ngành chính yếu: Quyền Thuật và Binh Khí. Ngày xưa, vơ thuật Trung Hoa được mệnh danh là "Kỷ Kích" hay "Quốc Kỷ". Vào thời cận đại, người ta gọi là "Wu Shu" tại lục địa Trung Hoa, và "Kung Fu" tại các nước khác trên thế giới.

    Tại Trung Hoa, v́ ảnh hưởng với các yếu tố: Hoàn cảnh địa lư, triết lư tôn giáo, và kỹ thuật thực hành, vơ thuật Trung Hoa đă phát sinh ra hàng trăm vơ phái lớn nhỏ khác nhau, qua các thời đại.

    Từ thời thượng cổ đến đầu triều Minh (1368), nguồn gốc lịch sử của các vơ phái rất là mơ hồ, không có tài liệu dẫn chứng. Hầu hết, chỉ dựa vào các truyền thuyết không được rơ ràng.

    Kể từ triều đại nhà Minh (1368 – 1660) về sau, xuất xứ và cách truyền dạy của các vơ phái tương đối được rơ ràng xuyên qua các tài liệu sách sử.

    Hoàn cảnh địa lư đă đóng một vai tṛ rất quan trọng trong đời sống con người và vơ thuật. Cho nên, trên đại thể, hầu hết giới vơ lâm Trung Hoa đă đồng thuận dùng sông Dương Tử (Trường Giang), làm giới tuyến cho địa phận Nam Bắc, nơi khai sinh các vơ phái. Do đó, vơ thuật Trung Hoa được chia thành hai phái căn bản: Nam và Bắc phái. V́ vậy người ta thường nói "Nam Quyền, Bắc Cước".

    Nam phái được đại diện bởi ba vơ phái: Vơ Đang Thái Cực Quyền, Bát Quái Quyền, và H́nh Ư Quyền.

    Bắc phái gồm có rất nhiều vơ phái khác nhau. Xuất xứ từ miền Bắc, các vơ phái nổi danh như Thiếu Lâm, Trường Quyền, Đoàn Đả, và Địa Đàn.

    Ngoài ra, v́ ảnh hưởng tríết lư tôn giáo và nguồn gốc khai sáng, danh từ "nội gia" và "ngoại gia" c̣n được dùng thêm cho Nam Phái và Bắc phái. Tức là hai nguồn vơ thuật: nội phát và ngoại nhập.

    Nội Gia (hay Nam phái)

    V́ ba vơ phái Vơ Đang Thái Cực Quyền, Bát Quái Quyền, và H́nh Ư Quyền đều được ảnh hưởng bởi triết lư đạo dẫn của Lăo Trang, và Kinh Dịch cũng như nguồn gốc khai sáng tại nội địa Trung Hoa. Kỹ thuật thực hành của Nội Gia có những đặc tính như: nhu nhuyễn, chậm chạp, ṿng cầu, nội lực, tĩnh chế động, tư thế ngắn hẹp.

    Ngoại gia (hay Bắc Phái)

    Hầu hết các vơ phái ngoại gia đều được ảnh hưởng bởi các triết lư tôn giáo cũng như nguồn gốc khai sáng do từ nước ngoài du nhập vào Trung Hoa: Thiếu Lâm từ Phật Giáo đến Ấn Độ, Đàn Thoái từ Hồi Giáo ở Tây Tạng. Kỹ thuật thực hành của ngoại gia có những đặc tính như cương mănh, nhanh nhẹn, đường thẳng, ngoại lực, năng động, tư thế dài rộng.

    Sau đây là nguồn gốc lược sử của một số vơ phái nổi tiếng đại diện cho hai nhóm Nam Phái (Nội Gia) và Bắc Phái (Ngoại Gia):

    NAM PHÁI (NỘI GIA)

    1. PHÁI VƠ ĐANG (THÁI CỰC QUYỀN)

    Vơ Đang Phái tọa lạc tại Vơ Đang Sơn thuộc Tiêu Anh phủ, nằm giữa hai phần đất Giang Tây và Hà Nam.

    Sáng tổ là Trương Quân Bảo, đạo hiệu là Trương Tam Phong sống vào cuối đời nhà Nguyên (Mông Cổ) và đầu đời nhà Minh, tổ tiên gốc ở Long Hổ Sơn, tỉnh Giang Tây. Thuở nhỏ, ông theo học đạo Nho và đạo Lăo. Vào triều Nguyên, vua Huệ Tôn (Thuận Đế), niên hiệu Nguyên Thống (năm 1333) ông thi đỗ Mậu Tài (Tú Tài ngày nay) và làm quan Lịnh ở Trung Sơn và Bắc Lăng. Về sau ông dứt bỏ đường công danh để chu du thiên hạ. Ông đă từng theo học vơ và Phật tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự khoảng 10 năm. V́ nhận thấy vơ thuật Thiếu Lâm Tự thuộc về cương quyền ngoại tráng, cho nên khi thành đạo sĩ tu luyện tại núi Vơ Đang, ông đă khai sáng Vơ Đang quyền pháp, với đặc tính nhu nhuyễn trong kỹ thuật, phối hợp với nội lực tĩnh luyện. Cũng như triết lư Lăo Trang và Dịch Kinh được áp dụng dẫn đạo thực hành. Môn quyền nổi danh nhất của Phái Vơ Đang là "Thái Cực Quyền" được Trương Tam Phong sáng chế. Theo sách "Thái Cực Quyền Luận" của Vương Tông Nhạc có ghi: "Những điều bàn luận trong sách này đều căn cứ vào tài liệu truyền dạy của Trương Tam Phong tiên sinh, để giúp hào kiệt trong thiên hạ, tăng thêm tuổi thọ, sống lâu, chớ không nghĩ đến chuyện dùng Thái Cực Quyền để làm phương tiện chiến đấu với kẻ địch".

    Theo mục "Phương Kỷ Truyện" trong Minh sử có chép" "Trương Toàn Nhất có tên thật là Trương Quân Bảo, đạo hiệu là Trương Tam Phong dung mạo khôi ngô, thân giống rùa, lưng giống hạc, tai to, mắt tṛn, râu cứng như kích. Dù trời nóng hay lạnh, Trương Tam Phong thường mặc một bộ quần áo đạo sĩ, đầu đội nón, mỗi ngày ăn hơn một đấu gạo, và đi hơn trăm dặm đường. Ông cùng học tṛ đi chơi núi Vơ Đang, v́ thích phong cảnh nơi đây, ông đă lập ra lều cỏ trên núi Vơ Đang để tu luyện. Vua Minh Thái Tổ nghe tiếng vào năm Hồng Vũ thứ 14 tức năm 1382, có sai sứ đến t́m ông nhưng không gặp".

    Theo Hoàng Tông Hy, một học giả đời Thanh cho rằng Trương Tam Phong sống vào đời Bắc Tông (950 – 1275). C̣n có thuyết cho rằng Trương Tam Phong sinh ngày 9 tháng 4 năm 1247, triều Nguyên, sống đến triều Minh, thọ trên 200 tuổi. Theo Quốc Kỷ Luận Lược của Từ Triết Đông, những thuyết này không đáng tin cậy.

    Về nguồn gốc môn Thái Cực Quyền có tất cả là 4 truyền thuyết:
            1. Trương Tam Phong là sáng tổ (vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh);
            2. Vào đời Đường (618 – 907) Thái Cực Quyền được phát triển bởi bốn nhà: Hứa Tuyên B́nh, người phủ Vi Châu, Giang Nam, Du Lưu Châu, người phủ Ninh Quốc, Giang Nam, Tŕnh Linh Tiển, tự Nguyên Điều, người phủ Vi Châu, Giang Nam và Ân Lợi Hanh.
            3. Vào cuối đời Minh 91618 – 1644) Trần Vương Tinh, người thuộc Trần Gia tại làng Trần Gia.
            4. Vào triều Thanh vua Càn Long 91736 – 1797), Vương Tông Nhạc, người tỉnh Thiểm Tây trong lúc đi ngang qua làng Trần Gia Cấu, tỉnh Hồ Nam trông thấy dân làng đang tập luyện môn nhuyển quyền Thái Cực Trần Gia. Hôm sau, ông đến tiếp xúc và được dân làng nể phục, sau những lần thử đấu với các vơ sư Trần Gia. Vương Tông Nhạc đă nhận lưu lại dạy Thái Cực Quyền cho dân làng Trần Gia. Từ đó, Trần Gia Thái Cực Quyền có ba hệ phái đứng đầu bởi: Trần Hữu Bổn (Tân phái), Trần Trường Hưng (cựu phái) và Trần Thanh B́nh (Tiểu gia). Về sau Dương Phúc Khôi, tự Lộ Thiền theo học với Trần Trường Hưng, rồi cải biến thành Dương Gia Thái Cực Quyền. Dương Phúc Khôi (Lộ Thiền) có ba người học tṛ là anh em họ Vũ: Vũ Trừng Thanh, Vơ Hà Thanh (tự là Vơ Nhượng) và Vơ Như Thanh. Vơ Hà Thanh (tự Vơ Nhượng) đến làng Trần Gia Cấu (Hồ Nam) học thêm với Trần Thanh B́nh (Tiểu gia phái) rồi cải biến thành "Vũ Gia Thái Cực Quyền".


    2. BÁT QUÁI QUYỀN (hay BÁI QUÁT CHƯỞNG)

    Bát Quái là một trong ba phái thuộc Nội Gia Nam Phái, danh từ Bát Quái được rút ra từ Dịch Kinh, tạm hiểu là sự biến động truyền điệu trong tám phương hướng. V́ vậy kỹ thuật chính yếu của Bát Quái Quyền (Chưởng) chuyền dùng bộ pháp và chưởng pháp làm trung tâm vận chuyển, biến hóa không ngừng trong vị thế bốn phương tám hướng.

    Nguồn gốc Bát Quái Quyền (Chưởng) vẫn chưa được xác định. Câu hỏi vẫn c̣n đặt ra. Do ai, từ đâu, và lúc nào phát sinh ra nó ? Theo sách "Lam Triều Ngoại sử" có ghi: "Vào năm 1798, triều Thanh vua Gia Khánh năm thứ hai ở huyện Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông, miền Hoa Bắc, Vương Trường có truyền dạy quyền pháp cho Phùng Khắc Thiện. Đến mùa xuân Canh Ngọ (năm Gia Khánh thứ 15), Ngưu Lương Thần theo học quyền pháp này với Phùng Khắc Thiện và nhận thấy quyền pháp có tám phương bộ nên gọi là Bát Quái. Từ đó, môn Bát Quái được lưu truyền cho đến nay đă hơn trăm năm."

    Đến đời vua Thanh Quang Tự thứ sáu (1881), môn Bát Quái Quyền phát triển cực thịnh khắp Trung Hoa, nhất là ở Bắc Kinh, có nhiều vị tiền bối về Bát Quái Quyền như các ông: Đổng Hải Xuyên (1798 – 1879), người tỉnh Hồ Bắc học được môn Bát Quái từ một đạo sĩ ở miền núi. Đổng Hải Xuyên rất giỏi và nổi tiếng nhất ở Bắc Kinh, được xem như một Chưởng Môn về Bát Quái, có nhiều học tṛ nổi tiếng như Vi Phước, Trịnh Đ́nh Hoa, Tống Vĩnh Tường, Mă Duy Kỳ, Ngụy Cát, Lư Văn Bảo, Đoàn Phúc, Lư Tồn Nghĩa.

    Về sau, Đổng Hải Xuyên kết bạn với danh thủ Quách Vân Thâm về H́nh Ư Quyền, sau trận thử thách ngang tài. Từ đó, hai người kết hợp hai môn cùng dạy cho các học tṛ.

    Trong số các học tṛ của Đổng Hải Xuyên có Trịnh Đ́nh Hoa rất giỏi, nổi tiếng ở Hoa Bắc. Trịnh Đ́nh Hoa có học tṛ giỏi nhất là Tôn Lộc Đường.

    Về kỹ thuật Bát Quái, theo sách "Bát Quái Quyền Học" của Tôn Lộc Đường có ghi: "Trong Du Thân Bát Quái Liên hoàn chưởng có chứa mười tám đường La Hán Quyền, gồm 72 tuyệt thoái, 72 ám cước, đến như các môn điểm huyệt, kiếm thuật, và các môn vơ khí cũng chứa trong Bát Quái Quyền. Do đó, về h́nh thức môn Bát Quái rất giống như các quyền thuật ngoại gia Bắc Phái, nhưng đặc điểm chuyên dùng bộ pháp tṛn Hoán Hành, và thay đổi tay Hoán Chưởng làm chính tông, được gọi là "Du Thân Bát Quái" gồm có ba loại: thượng bàn, trung bàn, và hạ bàn. Các thế thượng bàn đă thấp, trung bàn và hạ bàn c̣n thấp hơn. Trong lúc xoay chuyển bộ pháp dùng rất hẹp và nhanh nhẹn, với dụng ư né tránh thế công của địch, để phản kích vào mặt sau lưng của địch. Trong lúc đối địch, thân và ư phải chuyển động nhưng khí phải trầm. Các động tác về tay gồm có thập chưởng, đơn hoán chưởng, dùng để biến chuyển phối hợp với bốn bộ pháp linh động. Trong thập chưởng, đơn hoán chưởng và song hoán chưởng làm gốc, c̣n lại là tám chưởng chủ yếu. Bốn bộ pháp gồm có: Khởi, Lạc, Khấu và Bài. Nhằm rèn luyện cho thân thủ được nhanh nhẹn, kỹ thuật của Bát Quái gồm có bốn đặc điểm như sau: Nhất Tẩu (chạy, bước lẹ), Nhị Thị (trông, nh́n thấy rơ ràng), Tam Tọa (xuống bộ, ngồi thấp), và Tứ Phiên (nhà lộn, thoát ra khỏi).

    3. H̀NH Ư QUYỀN

    Theo truyền thuyết, Nhạc Phi Vũ (Vũ Mục 1103 – 1142) Trung Liệt Tướng Quân vào đời vua Tống Cao Tông là sáng tổ của môn H́nh Ư Quyền. Nhưng về kỹ thuật, người thừa kế và địa phương truyền bá môn này như thế nào? Không ai biết đến, v́ không có tài liệu lưu truyền.

    Măi về sau, đến giữa thời của cuối đời Minh và đầu đời Thanh (1637 – 1662), Cơ Tế Khả, tự là Long Phong, người ở Bồ Châu, tỉnh Sơn Tây rất giỏi quyền thuật và thương pháp. Một hôm, Cơ Long Phong đến học đạo tại núi Chung Nam Sơn, và được một lăo dị nhân truyền dạy môn H́nh Ư Quyền và trao cho quyển "Ngũ Quyền Kinh" của Nhạc Vũ Mục với nội dung ghi chép các phép Ngũ hành và các h́nh vẽ liên hoàn quyền của Thập Nhị Thú H́nh Đồ như Long, Hổ, Ưng, Hùng (Gấu), Xà, Cáp (bồ câu), Yến, Kê, Diều (tên một loại chim), Mă, Hầu, Qui. Tất cả đều dựa vào h́nh thể động tác mà rút ra cái ư nghĩa. Đó cũng là chủ yếu của môn H́nh Ư Quyền. Từ đó, Cơ Long Phong kiên tâm nghiên cứu luyện tập mà đại ngộ và phát huy môn này đến chỗ cực thịnh. Cơ Long Phong có hai người học tṛ rất giỏi là Tào Kế Vũ, người Sơn Tây làm quan Thiểm Tây tỉnh Viên Tổng Trấn vào thời vua Thanh Khang Hy (1662 – 1722) và Mă Học Lễ, người ở Lạc Dương, Hà Nam.

    Vào niên hiệu Hàm Phong (1811), hai anh em Đới Long Bang và Đới Lăng Bang theo học với Tào Kế Vũ và rất nổi tiếng về H́nh Ư Quyền tại Sơn Tây. Về sau, Lư Năng Nhiên có tên là Lạc Năng hay Phi Vũ, người ở Thâm Châu, tỉnh Trực Lệ, vốn thích quyền thuật, thường đi buôn ở Thái Cốc, nghe danh tiếng Đới Long Bang giỏi về H́nh Ư Quyền đến xin theo thụ huấn được chín năm. Sau khi về quê, Lư Năng Nhiên thâu nhận học tṛ và rất nổi tiếng ở Hà Bắc. Học tṛ rất giỏi của Lư Năng Nhiên gồm có Quách Vân Thâm, người Thâm Châu (Quách Vân Thâm kết bạn với Đổng Hải Xuyên, một danh thủ Bát Quái Quyền, do đó mà hai môn H́nh Ư và Bát Quái được dạy chung cho các học tṛ của hai phái), Lưu Kỳ Lan, người Thâm Châu, Trương Thủ Đức, người Kỳ Châu, Tống Thế Vinh, người Uyển B́nh, Xa Nghị Trai, người Thái Cốc, Bạch Tây Viên, người Đại Hưng, Lưu Hiếu Lan, người Hà Giang, và Thọ Nhiễu Trai, người Tân An.

    Quách vân Thâm có một số học tṛ rất giỏi như Hứa Chiêm Ngao, Tiền Quản Lương, Lư Tồng Nghĩa, Lư Khuê Nguyên, Trương Chiếm Khôi, ...

    C̣n Mă học Lễ khi về đến Hà Nam thâu nhận rất đông học tṛ. Trong số học tṛ giỏi nhất như mă Tầm Nguyên, người Hà Nam và Trương Chí Thanh, người Nam Dương. Về sau, Trương Chí Thanh truyền dạy cho Lư Chính, người Lỗ Sơn. Lư Chính truyền lại cho Trương Tu, người Lỗ Sơn. Trương Tu dạy lại cho Gia Trang Đỗ, rồi Gia Trang Đỗ dạy lại cho An Đại Khánh, người Trường An. An Đại Khánh dạy lại cho Bảo Hiến Đ́nh. Đó là chi phái H́nh ư Quyền ở Hà Nam một thời danh tiếng.

    Môn H́nh Ư Quyền rất là đơn giản, ít biến hóa, người tập chuyên tâm dễ thuần thục. Cả ba môn Thái Cực, Bát Quái, và H́nh Ư thuộc Nội Gia Quyền đều có liên quan mật thiết lẫn nhau.

    GS. Vũ Đức
    Tửu Phùng Tri Kỷ Thiên Bôi Thiểu,
    Thoại Bất Đầu Cơ Bán Cú Đa.
Working...
X