• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Nho giáo và văn hóa VN

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Nho giáo và văn hóa VN

    Trong xă hội Trung Hoa cổ đại, "Nho" là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi. Chữ nho gồm bộ "nhân" ở bên trái là người và chữ "nhu" bên phải là cần ghép lại là : nhà Nho là người cần cho thiên hạ. NHO GIáO là hệ thống giáo lư của các nhà Nho nhằm mục đích tổ chức xă hội có hiệu quả. Những cơ sở của nó được h́nh thành từ đời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán. Chu Công Đán là con thứ Chu Văn Vương, em ruột Chu Vơ Vương. Ông là cố vấn văn hóa và chính trị của nhà Chu, là chú ruột Chu Thành Vương và phụ chính của Thành Vương khi ông này lên ngôi thay cha lúc c̣n nhỏ tuổi. Chu Công đă đúc kết kinh nghiệm của các thị tộc Hạ, Thương trước đó mà xây dựng nên một thứ chính trị để trị nước (bộ lạc) và b́nh thiên hạ (liên minh bộ lạc). Đến đời Xuân Thu, xă hội loạn ly KHổNG Tử mới phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá. V́ vậy, ông thường được xem là người sáng lập Nho giáo.

    Khổng Tử tên là Khâu tự là Trọng Ni, sinh ngày 27.8 năm 551 tr.CN tại ấp Trâu, làng Xương B́nh nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phu, tỉnh Sơn Đông) trong một gia đ́nh mà ông tổ ba đời vốn thuộc ḍng quư tộc sa sút từ nước Tống dời sang nước Lỗ.

    Cha Khổng Khâu làm một chức quan vơ ở ấp Trâu, ngoài 70 tuổi lấy Nhan thị làm vợ ba mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả đế giúp mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho. Năm 20 tuổi sinh con đặt tên là Khổng Lư, tự là Bá Ngư.

    Từ năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học tṛ gọi ông là Khổng Tử (thầy Khổng). Từ năm 34 tuổi, trong suốt gần 20 năm, Khổng Tử dẫn học tṛ đi khắp các nước trong vùng để truyền bá tư tưởng của ḿnh và t́m người biết dùng để thực hành. Có nơi Khổng Tử được kính trọng, nhưng nhiều nơi thầy tṛ bị bỏ đói, bị dọa giết, và đạo của ông th́ chẳng ai dùng. Một lần vào lúc 51 tuổi, khi đă về nước Lỗ, ông được giao coi thành Trung Đô, một năm sau được thăng đến chức Đại tư khấu (coi việc h́nh pháp), kiêm quyền tể tướng , sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị. Nhưng rồi bị ly gián, dèm pha, ông bèn từ chức và lại một lần nữa ra đi.

    Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách. Ông mất tháng 4 năm 479 tr.CN, thọ 73 tuổi.

    Sách Kinh điển của Nho giáo gồm 2 bộ .

    Bộ thứ nhất là Ngũ kinh gồm 5 cuốn, phần lớn có từ trước Khổng Tử; Khổng Tử đă gia công san định, hiệu đính và giải thích. Năm cuốn đó là :1. Kinh thi là sưu tập các thơ ca dân gian, có từ trước Khổng Tử trong đó thơ ca về t́nh yêu nam nữ khá nhiều; Khổng Tử đă gia công, san định, chọn lọc c̣n hơn ba trăm thiên. Khổng Tử muốn dùng Kinh Thi để giáo dục cho mọi người một t́nh cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt tư tưởng khúc chiết rơ ràng.

    2. Kinh thư ghi lại những truyền thuyết và biến cố về các đời vua cổ, cũng có từ trước Khổng Tử, ông gia công, san định lại những mong đem gương những ông vua anh minh như Nghiêu, Thuấn và tàn bạo như Kiệt, Trụ làm gương cho đời sau.

    3. Kinh lễ (vốn gọi là Lễ kư) ghi chép những lễ nghi thời trước; Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện duy tŕ và ổn định trật tự xă hội, dạy cho người "không biết cách đi đứng ở đời".

    4. Kinh dịch khởi thủy vốn là một sưu tập những khái niệm âm dương, bát quái...ở dạng kư hiệu. Thời Chu, Chu Văn vương đă đặt tên và giải thích các quẻ của Bát quái (gọi là Thoán từ), lại lập ra Bát quái hậu thiên. Chu Công Đán giải thích chi tiết từng hào trong mỗi quẻ (gọi là Hào từ). Từ bộ "Chu dịch" đó, Khổng Tử đă giảng giải rộng thêm, sâu thêm thành Thoán truyện và Hào truyện và tŕnh bày thứ tự rơ ràng hơn.

    5. Tác phẩm duy nhất mà Khổng Tử biên soạn là Kinh Xuân Thu ghi chép lịch sử nước Lỗ quê hương ông. Khổng Tử theo đuổi mục đích trị nước của ḿnh cho nên ông dụng tâm chọn lọc các sự kiện, ghi kèm theo những lời b́nh, thậm chí sáng tác thêm những lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa.

    Đúng ra, bộ sách đang bàn không phải "ngũ" mà là lục kinh : ngoài 5 cuốn trên c̣n có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính. Nhưng v́ về sau Kinh Nhạc bị thất lạc, chỉ c̣n lại một ít được ghép chung vào Kinh Lễ thành một thiên gọi là Nhạc kư, cho nên "Lục kinh" thành ra chỉ c̣n Ngũ kinh.

  • #2
    Sau khi Khổng Tử mất, học tṛ tập hợp những lời dạy của thầy lại mà soạn ra cuốn Luận ngữ (các lời bàn luận). Học tṛ xuất sắc của Khổng Tử là Tăng Sâm (thường gọi là Tăng Tử) dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại học nói về "cái đạo của bậc đại học" . Khổng Cấp, thường gọi là Tử Tư, cháu nội của Khổng Tử, học tṛ Tăng Tử, viết ra Trung dung nhằm phát triển tư tưởng của Khổng Tử về cách sống dung ḥa, không thiên lệch. Đến thời Chiến quốc, xă hội loạn lạc, các học phái nổi lên như nấm, có Mạnh Kha (khoảng 390 – 305 tr.CN), thường gọi là Mạnh Tử, học tṛ Tử Tư, là người kế tục xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử, những lời của ông được học tṛ về sau biên soạn lại thành sách Mạnh Tử. Thời Hán, "Đại học" và "Trung dung" chỉ là hai thiên trong "Lễ kư", đến đời Tống, chúng được tách ra và cùng với Luận ngữ, "Mạnh Tử" gọi là Tứ thư. "Tứ thư" và "Ngũ kinh" trở thành hai bộ sách gối đầu giường của Nho gia.

    Mạnh Tử đă khép lại một giai đoạn quan trọng - giai đoạn h́nh thành Nho giáo. Đó là Nho giáo nguyên thủy, c̣n gọi là Nho giáo tiên Tần (trước thời Tần). Khởi đầu từ Khổng Tử và kết thúc bằng Mạnh Tử nên triết lư Nho giáo nguyên thủy cũng được gọi là tư tưởng Khổng Mạnh.

    2. Nội dung cơ bản, ngọn nguồn và sự phát triển của Nho Giáo

    Như đă nói, thực chất của Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xă hội. Để làm được điều đó, điều cốt lơi là đào tạo cho được những người cai trị kiếu mẫu - mẫu người lư tưởng đó gọi là QUÂN Tử (quân= cai trị; quân tử : người cai trị).

    Để trở thành người quân tử trước hết là phải tự đào tạo, phải tu thân. Có ba tiêu chuẩn chính :

    1. Đạt "đạo" : Đạo là con đường, là những mối quan hệ xă hội mà con người phải biết cách ứng xử trong cuộc sống : " Đạt đạo trong thiên hạ có 5 điều : đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo kết giao bè bạn" (Trung dung). Năm đạo đó gọi là ngũ luân (luân = thứ bậc, đạo cư xử). Trong xă hội, cách ứng xử tốt hơn cả là trung dung (dung ḥa ở giữa). Khổng Tử nói : "Trung dung là đức cực đẹp vậy, ít người giữ được đức đó lâu" (Luận ngữ).

    2. Đạt "đức" : Người quân tử, theo Khổng Tử , nếu có ba điều Nhân - Trí - Dũng th́ gọi là đạt đức (Trung dung). Về sau, Mạnh Tử bỏ "dũng" mà thay bằng "lễ, nghĩa" thành 4 đức : nhân, nghĩa, lễ, trí ( Đến đời Hán thêm "tín" thành 5 đức gọi là ngũ thường).

    3. Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức" , người quân tử c̣n phải biết thi - thư - lễ - nhạc. Khổng Tử nói rằng con người "hưng khởi trong ḷng là nhờ học Thi, lập thân được là nhờ biết Lễ, thành công được là nhờ có Nhạc" (Luận ngữ). Nói cách khác, Khổng Tử đ̣i hỏi người cai trị phải có một vốn văn hóa toàn diện.

    Tu thân rồi, bổn phận của người quân tử là phải hành đạo, phải ra làm quan, làm chính trị. Nội dung của hành đạo là tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ. Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong công việc cai trị là hai phương châm:

    Phương châm thứ nhất là nhân trị. Nhân là t́nh người. Nhân trị là cai trị bằng t́nh người, cai trị bằng t́nh người là yêu người, là coi người như bản thân ḿnh. Khi Phàn Tŕ hỏi về Nhân, Khổng Tử đáp "Yêu người" ( Luận ngữ) ; c̣n khi Trọng Cung hỏi thế nào là Nhân, Khổng Tử trả lời : "Điều ǵ ḿnh không muốn th́ đừng làm cho người khác" (Luận ngữ). Khổng Tử coi nhân là phạm trù cao nhất của luân lư, đạo đức, là gốc của lễ nhạc, ông nói : "Người không có Nhân th́ lễ mà làm ǵ ? Người không có Nhân th́ nhạc mà làm ǵ ?" (Luận ngữ).

    Phương châm thứ hai là chính danh. Khi học tṛ là Tử Lộ hỏi : "Nếu vua nước Vơ mời thầy giúp cai trị, thầy làm ǵ trước ? " th́ Khổng Tử đáp : "ắt phải chính danh đă...Nếu danh không chính th́ lời nói không thuận. Lời nói không thuận tất việc chẳng thành" (Luận ngữ). Chính danh tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của ḿnh . Chính danh trong cai trị, như lời Khổng Tử nói với Tề Cảnh Công là phải làm sao để "vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con" (Luận ngữ).

    Nho giáo có nguồn gốc từ đâu ? Câu hỏi này xưa nay ít người đặt ra bởi lẽ câu trả lời dường như quá hiển nhiên : Nho giáo bắt nguồn từ trung Hoa.

    Đúng ra, Nho giáo là đứa con tinh thần được ra đời và nuôi dưỡng bởi hai ḍng sữa : truyền thống văn hóa du mục phương Bắc và truyền thống văn hóa nông nghiệp phương Nam.

    Chất du mục phương Bắc mà Nho giáo nguyên thủy đă hấp thụ thể hiện ra nổi bật ở các điểm sau :

    Thứ nhất là tham vọng "b́nh thiên hạ". Coi trọng cái quốc tế và coi nhẹ cái quốc gia, chính là một trong những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa gốc du mục, bản thân Khổng Tử đă trên một lần rời nước Lỗ quê hương đến các nước để t́m minh chủ. Tư tưởng bá quyền, coi khinh các dân tộc nơi miền biên viễn cũng chi phối ông rất rơ rệt : "Các nước Di, Dịch dù có vua cũng không bằng Hoa Hạ không vua" (Luận ngữ) .

    Quan niệm về một xă hội trật tự ngăn nắp , có tôn ti trên dưới rơ ràng, thể hiện qua thuyết chính danh cũng là một sản phẩm của truyền thống văn hóa gốc du mục phương Bắc với nếp sống chặt chẽ kỷ cương được đảm bảo bằng sức mạnh.

    Comment


    • #3
      C̣n chất nông nghiệp phương Nam mà Nho giáo nguyên thuỷ đă tiếp thu thể hiện nổi bật ở các điểm sau :

      1. Việc đề cao chữ "Nhân" và nguyên lư "Nhân trị" có nguồn gốc từ lối sống trọng t́nh của người nông nghiệp phương Nam. Có lần Tử Lộ hỏi về cái mạnh, Khổng Tử đă trả lời rất rơ : "Hỏi về cái mạnh của phương Nam ư ? Hay là cái mạnh của phương Bắc ư ?... Khoan ḥa mềm mại để dạy người không báo thù kẻ vô đạo - ấy là cái mạnh của phương Nam, người quân tử ở vào phía ấy. Xông pha gươm giáo, dầu chết không nản, ấy là cái mạnh của phương Bắc – kẻ mạnh ở vào phía ấy" (Trung dung). Chính do chọn lối sống trọng t́nh phương Nam cho nên khi nghe ông quan huyện Điệp kể chuyện một người trong huyện ḿnh ngay thẳng tới mức tố cáo cha về tội ăn trộm cừu th́ Khổng Tử nói lại ngay : "Cánh chúng tôi th́ không thế. Cha giấu tội cho con, con giấu tội cho cha, ngay thẳng là ở trong đó" (Luận ngữ).

      2. Việc coi trọng dân có nguồn gốc từ tinh thần "dân chủ" của văn hóa nông nghiệp phương Nam. Khổng Tử nói : "Dân là chủ của thần, v́ thế thánh nhân xưa lo xong việc dân mới lo đến việc thần" (Xuân Thu). Tử Lộ hỏi về phép trị dân, Khổng Tử đáp : "Phải khó nhọc v́ dân" (Luận ngữ). Tử Cống hỏi về cách cai trị, Khổng Tử nói : Lương thực đủ, binh lực mạnh, dân tin, trong ba điều ấy th́ "dân tin" là quan trọng nhất (Luận ngữ). Mạnh Tử c̣n nói rơ hơn : "Dân là quư, thứ đến đất nước, vua th́ xem nhẹ" (Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh". Năm mối đạo "ngũ luân" luôn được Nho giáo nguyên thủy lư giải trong tinh thần một thứ quan hệ hai chiều b́nh đẳng, tôn trọng con người : Quân minh thần trung (vua sáng suốt, tôi trung thành), Phụ từ tử hiếu (cha hiền từ , con hiếu thảo), Phu nghĩa phụ kính (chồng có nghĩa, vợ kính trọng); Huynh lương đệ đễ (anh tốt, em nhường), Bằng hữu hữu tín (bạn bè tin cậy nhau) ; Khi Tử Lộ hỏi về việc thờ vua, Khổng Tử đáp : "Không nên lừa gạt vua, nhưng không ngại xúc phạm vua" (Luận ngữ).

      3. Nho giáo nguyên thủy rất coi trọng văn hóa, đặc biệt là văn hóa tinh thần (thi, thư, lễ, nhạc...). t́nh yêu nam nữ mà kinh Thi nói đến nhiều chính là biểu hiện của t́nh người, là cái gốc của chữ nhân, cũng là cái gốc của mọi sự. " Đạo quân tử khai mào từ chuyện vợ chồng, tới lúc cùng tội th́ bàn đến chuyện trời đất" (Trung dung). Khổng Tử có lần nói "Kinh Thi có thể khiến người ta phấn chấn, có thể khiến người ta quan sát phong tục, có thể khiến người ta hợp quần, có thể khiến người ta phúng thích chính trị đương thời. Gần th́ biết đạo thờ cha, xa th́ biết đạo thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây" (Luận ngữ). Về nhạc, ông nói : "Khi người ta hiểu thấu được nhạc để dưỡng tâm trí th́ những đức nhă nhặn, thành thực sẽ phát triển dễ dàng. . . Cách hay nhất để cải thiện phong tục là . . . xét cho kỹ những bản nhạc trong nước". Việc trọng văn hơn vơ cũng có nguồn gốc từ phương Nam nông nghiệp (khác với truyền thống du mục trọng vơ hơn văn).

      Việc đồng thời dựa vào hai truyền thống văn hóa đối lập nhau - du mục và nông nghiệp - trong một hoàn cảnh xă hội đầy biến động, khiến cho tư tưởng Khổng Mạnh không tránh khỏi có những giằng co, nhiều khi chứa đựng đầy mâu thuẫn.

      Mâu thuẫn rơ nhất là trong khi chịu ảnh hưởng của truyền thống dân chủ nông nghiệp coi trọng dân, Khổng Tử vẫn không thoát khỏi lối nghĩ miệt thị dân của kẻ có sức mạnh: "Dân chúng, có thể khiến họ theo, chứ không thể giảng cho họ hiểu được" (Luận ngữ). Ông tỏ sự khinh bỉ họ : "Sở dĩ người quân tử không muốn ở chung với đám hạ lưu v́ bao nhiêu tội ác trong thiên hạ dồn cả về đó " (Luận ngữ). Ông muốn dân chủ nhưng cũng không thoát khỏi tính cách du mục trọng nam khinh nữ "Chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần th́ họ nhờn, xa th́ họ oán" (Luận ngữ), cũng như tư tưởng bá quyền coi thường nước nhỏ.

      Khổng Tử chống lại chính sách "pháp trị" của truyền thống du mục nhưng ban đầu ông đă tỏ ra rất lúng túng giữa "lễ trị" và "nhân trị". Khổng Tử nói nhiều đến Lễ trị, vận động các nước chư hầu duy tŕ cái lễ của nhà Tây chu: "Ta học lễ nhà Chu, hiện đang ứng dụng" (Trung dung). Tuy nhiên, dần dần Khổng Tử có phần bớt bảo thủ hơn. Ông đi đă từ chữ "lễ" cứng nhắc đến chữ "nhân" đôn hậu.

      Tuy đầy mâu thuẫn và lúng túng, nhưng rơ ràng là về tư tưởng trong hai truyền thống, Khổng Tử và Nho giáo nguyên thủy đă thiên về truyền thống nông nghiệp phương Nam hơn.

      Chính chất nông nghiệp phương Nam này là nguyên nhân gây nên tấn Bi Kịch lớn nhất của Nho giáo : Cái Nho giáo mà Khổng Tử tốn bao công lao gây dựng, vừa có thể nói là rất thành công, lại vừa có thể nói là đă thất bại.

      Thất bại, bởi lẽ trong khi các bậc đế vương với truyền thống trọng vơ phương Bắc quen cầm quyền theo lối pháp trị và chuyên chế th́ Khổng Tử lại chịu ảnh hưởng của truyền thống trọng t́nh (trọng văn) phương Nam mà khuyên họ nên cầm quyền theo lối nhân trị. Chính v́ đi ngược lại xu thế chung như vậy cho nên ngay từ khi c̣n sinh thời, Khổng Tử luôn muốn làm quan nhưng hầu như chẳng được dùng. Về già, Khổng Tử đă trên một lần tiên đoán về sự suy tàn của đạo ḿnh : "Chim phượng chẳng đến, bức đồ chẳng hiện trên sông Hoàng Hà, ta hết hy vọng rồi !" (Luận ngữ) "Ta đă suy lắm rồi, từ lâu không c̣n mộng thấy Chu Công" (Luận ngữ); "Thiên hạ không có đạo đă lâu rồi, không ai biết theo ta". Khi sắp mất, nghe đồn có người bắt được con kỳ lân bị què chân trái, Khổng Tứ nước mắt giàn giụa mà nói : "Đạo của ta đến lúc sắp tàn rồi!"

      Năm 246 tr. CN, vua Tần là Doanh Chính dùng vũ lực mà thống nhất thiên hạ, lên ngôi hoàng đế (xưa là Tần Thủy Hoàng đế), áp dụng một chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán, chuyên quyền vào bậc nhất, nó đối lập hoàn toàn với chủ trương cai trị bằng t́nh người dân chủ, b́nh đẳng của Nho gia. Mâu thuẫn đó là nguyên nhân tất yếu dẫn đến việc nhà Tần tiêu diệt Nho giáo với những hành động tàn bạo đốt sách, chôn Nho nổi tiếng.

      Chế độ độc tài của Tần Thủy Hoàng bị phần đông trí thức đương thời, nhất là các môn đệ của Khổng Tử phản đối. Nghe theo lời tâu của thừa tướng Lư Tư, một người theo phái pháp gia, bạn học của Hán Phi, Tần Thủy Hoàng đă cho đốt hết mọi thứ sách vở của nhà Tần. Người nào dám bàn luận về Thi, Thư th́ chém bêu đầu ngoài chợ, lấy đời xưa mà chê đời nay th́ giết cả họ. Kẻ nào biết mà không tố giác th́ chịu cùng tội với phạm nhân. Trong 30 ngày mà không đốt sách th́ thích chữ vào mặt cho đi xây và canh giữ Trường Thành. Thất vọng với bạo chúa, có những người được Thủy Hoàng trọng đăi cũng bỏ trốn đi, Thủy Hoàng sai tra xét các nhà Nho, lọc ra 460 người phạm cấm mà đem chôn sống tất cả ở Hàm Dương. Con cả Thủy Hoàng là thái tử Phu Tô can gián liền bị Thủy Hoàng nổi giận đưa lên miền Bắc làm quan (Tư Mă Thiên, Sử kư) .

      Chính v́ quá chuyên chế độc tài mà chỉ 5 năm sau khi Thủy Hoàng chết, nhà Tần đă sụp đổ; nhà Hán lên thay (năm 202 tr.CN), Hán Cao Tổ Lưu Bang lúc đầu cũng ỷ vào vũ lực coi thường trí thức, văn hóa. Có lần ông nói với Lục Giả : "Ta ngồi trên lưng ngựa mà được thiên hạ, cần ǵ phải học Thi, Thư". Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng biết rút kinh nghiệm của triều Tần, ông nghe theo lời khuyên của Lục Giả, thủ tiêu các h́nh phạt hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và trọng dụng trí thức dể bảo vệ ngai vàng.

      Hán Vũ Đế (140-87 tr.CN ) là một ông vua sáng suốt đă thực hiện nhiều cải cách quan trọng nhằm tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương. Ông đă theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư, ra lệnh băi bỏ các học thuyết khác, lần đầu tiên đưa Nho giáo lên địa vị quốc giáo, dùng nó để làm công cụ để thống nhất đất nước về tư tưởng. Từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và công cụ tinh thần để bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa suốt hai ngh́n năm lịch sử. Không những thế, nó c̣n được truyền bá khắp các nước miền Đông á; Khổng Tử được tôn lên bậc thánh; trên thế giới, tên tuổi ông không ai là không biết. Nh́n vào những sự kiện hiển nhiên này, ai lại chẳng nói rằng Nho giáo đă rất thành công ! W. Durant viết : "Rốt cuộc đạo Khổng thắng . . . Kinh đă mạnh hơn kiếm"

      Thực ra, đây là một sự kiện rất tế nhị. Nó mang tính hai mặt. Xét về h́nh thức th́ đúng là Nho giáo thắng, nhưng trên thực tế th́ chính là đạo Khổng thua. Nguyên nhân của cả việc thắng lẫn việc thua đều là ở chất nông nghiệp phương Nam và nho giáo nguyên thủy đă tiếp thu !.

      Tại sao nhà Hán đă không chọn các phái khác trong số "trăm nhà" mà lại chọn đúng Nho giáo ? Chính là v́ Nho giáo có cái mà các học phái thừa hưởng truyền thống Bắc phương đều thiếu : đó là đường lối nhân trị (cai trị bằng t́nh cảm và coi trọng dân chủ). Chọn Nho giáo, nhà Hán sẽ được sự ủng hộ rộng răi của nhân dân - những người bấy nay rên xiết bởi chiến tranh và chế độ pháp trị bạo tàn của nhà Tần.

      Nhưng lối sống theo t́nh cảm và dân chủ chỉ thích hợp cho những phạm vi nhỏ hẹp của các làng xă nông nghiệp, khi mọi người đều quen biết nhau, làm sao mà áp dụng được cho một đất nước Trung Hoa rộng lớn ? Để giải quyết mâu thuẫn này, nhà Hán đă áp dụng hai biện pháp.

      Một mặt, nhà Hán chỉ đề cao Nho giáo một cách h́nh thức c̣n trên thực tế họ vẫn cai trị theo lối pháp gia. Họ chủ trương dương đức, âm pháp hay như sau này có người đặt tên là ngoại Nho, nội Pháp. Đây là một chính sách hai mặt với mục đích mị dân, lấy "Nho" và "nhân trị" làm cái b́nh phong để che đậy lối cai trị bằng luật pháp hà khắc.

      Mặt khác, ngay cả cái Nho giáo h́nh thức ấy, nhà Hán cũng không giữ nguyên mà đă tiến hành cải tạo, biến đổi nó một cách cơ bản. Người giương ngọn cờ cải cách Nho giáo thời Hán này là Đổng Trọng Thư (170-104 tr. CN). Mục đích những cải cách của Đổng và các môn đệ của ông sau này thực chất đều nhằm vào việc loại trừ bớt chất "nông nghiệp phương nam" trong Nho giáo.

      Đổng Trọng Thư không dám tấn công thẳng vào chữ "nhân" và chủ trương "nhân trị" bởi lẽ đây là cốt lơi của học thuyết Khổng Tử, chính nhờ nó mà Nho giáo được chọn làm công cụ mị dân. Nhưng Đổng đă lờ đi, ông hạn chế nhắc đến "nhân" và "nhân trị"; thay vào đó, ông nói đến "lễ trị" và đặc biệt đề cao Trời (thiên mệnh) : Mọi việc trên thế gian đều do ư chí của Trời quyết định, cho nên mỗi khi trái ư, Trời trừng phạt con người bằng cách giáng những tai họa như hạn hán, dịch bệnh, nhật thực... Đề cao Trời để rồi thống nhất quyền vua (vương quyền) với quyền Trời (thần quyền). Vua thống trị theo mệnh Trời, do Trời giao phó. Đó thật là cả một sách lược khôn ngoan, tác dụng của nó c̣n hơn cả lễ trị và pháp trị.

      Việc tiếp theo là loại bỏ cái hạt nhân dân chủ. Thay cho quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về Ngũ luân với các quan hệ hai chiều b́nh đẳng, Đổng Trọng Thư quy tất cả về ba giềng mối chủ yếu và đề ra thuyết "Tam cương" với quan hệ một chiều duy nhất chỉ đ̣i hỏi trách nhiệm của kẻ dưới đối với người trên : tôi phải trung với vua, con phải hiếu với cha, vợ phải tiết hạnh với chồng. Nó là cơ sở cho việc diễn đạt quan hệ vua tôi bằng công thức hết sức phi nhân bản : Quân xử thần tử thần bất tử bất trung (Vua bảo tôi chết, tôi không chết là tôi bất trung); tương tự là quan hệ cha con : Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu (Cha bảo con chết, con không chết là con bất hiếu); c̣n vợ đối với chồng th́ có trách nhiệm Phu xướng phụ tùy, mở rộng ra là trách nhiệm của phụ nữ đối với giới đàn ông nói chung qua công thức "tam ṭng" : Tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) .

      Từ đời Hán trở về sau, vai tṛ của văn hóa cũng bị thu hẹp, nó chỉ giới hạn trong khuôn khổ những ǵ có lợi cho vương quyền. Kinh Thi được giải thích theo lối cao quư, tao nhă, nam nữ bị ngăn cách (nam nữ thụ thụ bất thân), đề cao nam, hạ thấp nữ (dương thiện tâm ác, nam tôn nữ ti); con hát bị khinh rẻ là "xướng ca vô loài".

      Như vậy, Nho giáo nguyên thủy của Khổng - Mạnh, đúng như họ Khổng dự đoán, đă hoàn toàn thất bại. Khổng Tử đă không hiểu được rằng, hút nhụy từ văn minh nông nghiệp, Nho giáo đầu tính nhân bản của ông chỉ thích hợp được với quy mô làng xă. Để phục vụ được cho vương quyền trong phạm vi quốc gia cần có một thứ triết thuyết tổng hợp được chất pháp luật tôn ti của văn minh du mục để cai trị và chất t́nh cảm của văn minh nông nghiệp để lấy ḷng dân, con đường thích hợp hơn cả là du mục hóa Nho giáo. Nhiệm vụ này Hán Nho đă thực hiện một cách xuất sắc bằng việc đề cao thần quyền (Trời) và thứ bậc tôn ti (Tam cương).

      Đó mới là cái Nho giáo mà từ Hán đến các triều đại phong kiến sau này ra sức đề cao. Đến Tống Nho , Nho giáo lại từ hoàn thiện thêm bằng cách bổ sung những điểm mạnh của Phật giáo (yếu tố tâm lư, tâm linh) và Đạo giáo (yếu tố siêu h́nh) để phục vụ cho việc đào tạo quan lại.

      Comment


      • #4
        3. Quá tŕnh thâm nhập, phát triển và những đặc điểm của Nho Giáo Việt Nam

        Nho giáo ở dạng Hán Nho được một số quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp tích cực truyền bá từ đầu công nguyên, song v́ đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt cho nên, ngoài một số người Việt được bổ làm quan trong bộ máy cai trị, có thể nói rằng suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xă hội Việt Nam .

        Đến thời Lư, với sự kiện Lư Thái Tổ cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (l070) , mới có thể xem là Nho giáo dược tiếp nhận chính thức. Chính v́ vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho (nhà Lư tương ứng với nhà Tống Trung Hoa) chứ không phải Hán Nho. Đường Nho, cũng không phải Minh Nho, Thanh Nho.

        Đời Trần có Chu Văn An đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo được khá đông học tṛ. Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của ḿnh. Tuy nhiên, cho đến gần cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng răi.

        Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418 - 1408) , các nhà Nho đương đầu là Nguyễn Trăi tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi đă có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lư đất nước (yêu cầu khách quan) đă dẫn đến việc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành quốc giáo : sự phát triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn thứ ba - giai đoạn Nho giáo độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đ́nh : Thời Lê sơ th́ Nho giáo thịnh, chí sĩ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê - Mạc th́ Nho giáo suy, nhiều nhà Nho xuất sắc (như Nguyễn Bỉnh Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị Nho giáo một lần nữa được khăng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây.

        Trong quá tŕnh tiếp nhận Nho giáo, giữa văn hóa việt Nam và Nho giáo đă bộc lộ những nét tương đồng và dị biệt.

        Những cái tương đồng đă được chú trọng phát huy :Nét tương đồng lớn nhất là việc trọng t́nh người. V́ trọng t́nh vốn là truyền thống lâu đời của văn hóa Việt Nam cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam đă tâm đắc với chữ "nhân" hơn cả. Nhân là ḷng thương người : Tấm thành đă thấu đến trời - Bán ḿnh là Hiếu, cứu người là Nhân (Truyện Kiều). "Nhân" gắn liền với "Nghĩa" : Nguyễn Trăi mở đầu bài Cáo B́nh Ngô bất hủ bằng câu Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Đối với người b́nh dân, "nhân" c̣n đồng nghĩa với "t́nh" : các từ nhân t́nh, nhân ngăi (biến âm của nhân nghĩa), nhân duyên trong tiếng Việt là nói về t́nh yêu trai gái. Ca dao Việt Nam có câu rất dí dỏm : Chữ Trung th́ để phần cha - Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ T́nh !

        Nét tương đồng lớn thứ hai là xu hướng ưa ổn định. Truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn chỉ mong muốn một cuộc sống ổn định, mục đích của Nho giáo nguyên thủy cũng là tạo nên một xă hội ổn định. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ yên ngai vàng ( đối nội), c̣n đối ngoại th́ luôn chủ trương bành trướng, xâm lăng (phát triển) . ở Việt Nam, nhu cầu duy tŕ sự ổn định không chỉ có ở dân mà ở các triều đ́nh, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối ngoại. Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng phải thực hiện đều mang tính tự vệ, với phong kiến Trung Hoa cũng thế mà với người Chiêm Thành cũng thế .

        Để duy tŕ sự ổn định, làng xă Việt Nam tạo nên sự phân biệt dân chính cư - dân ngụ cư , cộng đồng hóa lĩnh vực hôn nhân, sử dụng hữu hiệu bộ máy dư luận, tất cả nhằm tạo ra sự lệ thuộc của cá nhân vào tập thể cộng đồng. Tương tự, muốn duy tŕ sự ổn định của quốc gia, cần tạo ra sự phụ thuộc của bộ máy quan lại vào nhà cầm quyền : để đạt được điều đó, Nhà nước Nho giáo đă dùng hai biện pháp :

        a. Biện pháp kinh tế là "nhẹ lương nặng bổng" : Quan lại xưa sống không phải bằng lương (lương chỉ có tính chất tượng trưng) mà chủ yếu bằng bổng và lộc. Cuộc sống của quan lại được bao cấp theo lối ban ơn.b. Biện pháp tinh thần là "trọng đức khinh tài " : Khai thác truyền thống của văn hóa nông nghiệp coi trọng đức hơn tài (mà "đức" là khái niệm rất mù mờ, do dư luận đánh giá), nhà nước Nho giáo buộc quan lại không thể hành động mà không tính đến dư luậnNét tương đồng lớn thứ ba là xu hướng trọng văn. Trọng văn là truyền thống của văn hóa nông nghiệp . Chữ, người Việt so sánh với vàng : Một kho vàng không bằng một nang chữ, việc học chữ, người Việt so sánh với việc nhà nông : Chẳng cấy lấy đâu có thóc, chẳng học lấy đâu biết chữ. Chính v́ chịu ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp phương Nam nên Nho giáo rất trọng kẻ sĩ, trọng văn, trọng văn hóa (văn hóa du mục vốn trọng vơ). Hán Nho đă t́m cách hạn chế văn hóa, xă hội Trung Hoa sau này có trọng quan văn, nhưng nh́n chung th́ cũng chỉ ngang hàng quan vơ; c̣n Việt Nam th́ trọng văn hơn hẳn vơ : Việt Nam chiến tranh liên miên, thế nhưng người Việt ít ai biết đến các kỳ thi vơ mà chỉ ham học chữ, thi văn. Nhà cầm quyền Việt Nam nh́n thấy ở Nho giáo một công cụ cai trị, c̣n người b́nh dân th́ nh́n thấy ở Nho giáo một công cụ văn hóa, một con đường làm nên nghiệp lớn : Chẳng tham ruộng cả ao liền - Tham v́ cái bút cái nghiên anh đồ.

        Những cái KHáC BIệT có lợi, Nho giáo có mà Việt Nam không th́ ta tận dụng khai thác .

        Trước hết, Nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là các triều Lê và Nguyễn, đă học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đ́nh và hệ thống pháp luật của người Trung Hoa. Thật ra, cái này không phải là sản phẩm của Nho giáo mà chủ yếu là của truyền thống văn hóa, gốc du mục (nhất là pháp luật) .

        Thứ hai, hệ thống thi cử của Nho giáo để tuyển chọn người tài cho bộ máy cai trị được xây dựng trên nguyên lư trọng văn đă được Nhà nước phong kiến Việt Nam vận dụng ngay từ đầu triều Lư. Từ kỳ thi đầu tiên (năm l075) đến kỳ thi cuối cùng của lịch sử khoa cử phong kiến (năm 1919), trong ṿng 844 năm có tất cả là 185 khoa thi, với 2.875 người đỗ, trong đó có 56 trạng nguyên.

        Thứ ba, khi mà chữ cổ (nếu đúng là nó có) đă mai một và mất hẳn, th́ người Việt đă sử dụng chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao dịch. Trong tâm thức người Việt, chữ Hán và Nho giáo không tách rời nhau (chữ Hán được gọi là chữ Nho) và được đồng nhất với cái thiêng liêng nhất – "chữ thánh hiền". Thấy tờ giấy có chữ dưới đất, người dân không dám bước qua. Trên cơ sơ chữ Hán, người Việt đă sáng tạo ra chữ Nôm (chữ của người Nam) dùng trong sáng tác văn chương. Thời Tây Sơn, Quang Trung Nguyễn Huệ đă mở rộng ra, sử dụng chữ Nôm cả trong lĩnh vực hành chính và giáo dục.Lại có những KHáC BIệT, Việt Nam có mà Nho giáo không th́ ta bổ khuyết vào

        Trước hết, ở Nho giáo, tư tưởng "trung quân" đóng vai tṛ rất quan trọng, c̣n tư tưởng yêu nước th́ không được đề cập đến (đó là đặc điểm của truyền thống văn hóa gốc du mục : đề cao vai tṛ cá nhân của thủ lĩnh và coi nhẹ quốc gia, hướng tới phạm vi quốc tế). Trong khi đó th́ ở Việt Nam, tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc lại là một truyền thống rất mạnh (bởi lẽ đặc điểm của văn hóa nông nghiệp là coi trọng hai đơn vị - làng và nước). Người Việt Nam hấp thu tư tưởng trung quân Nho giáo trên cơ sơ tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiến cho cái trung quân đó bị biến đổi. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua với đất nước, dân tộc th́ đất nước, dân tộc là cái quyết định. Lê Hoàn thay nhà Đinh; Lư Công uẩn thay nhà Lê, Trần Cảnh thay nhà Lư... khi triều đại cũ không c̣n đủ năng lực lănh đạo đất nước nên đều được quân dân ủng hộ. Nguyễn Trăi theo Lê Lợi mà không theo con cháu nhà Trần; Ngô Th́ Nhậm theo Tây Sơn mà không theo nhà Lê tàn tạ; các nhà nho yêu nước cuối tk.XIX từ Trương Định trở đi không theo triều đ́nh nhà Nguyễn đầu hàng giặc mà tiến hành khởi nghĩa chống giặc (và chống triều đ́nh!) đều v́ đă đặt nước trên vua.

        Thứ hai là truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp, Nho giáo nguyên thủy có tiếp thu yếu tố này, nhưng đến Hán Nho đă bị loại trừ hẳn. Chính nhờ tính dân chủ truyền thống ấy mà khi các yếu tố mang tính du mục của Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam, chúng đă được "làm mềm" đi, không đến mức quá ư hà khắc.

        Thứ ba là tâm lư khinh rẻ nghề buôn .Trong Nho giáo cũng có tư tưởng xem nhẹ nghề buôn, nhưng đó là sản phẩm của quan điểm coi trọng "đạo" và "đạo đức": "Người quân tử lo không đạt đạo chứ không lo nghèo (Luận ngữ). Khổng Tử khuyến khích làm giàu nếu nó không trái với lễ : "Phú quư mà có có thể cầu được th́ dù làm kẻ cầm roi đánh xe hầu người, ta cũng làm" (Luận ngữ).

        Comment

        Working...
        X