• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Lục Súc Tranh Công - [Vô Danh Thị]

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Lục Súc Tranh Công - [Vô Danh Thị]

    Lục Súc Tranh Công - [Vô Danh]

    "Lục súc tranh công" nghĩa là sáu con vật nuôi trong nhà tranh nhau công trạng của ḿnh. Sáu con ấy là: trâu, ngựa, chó, dê, gà, và lợn. Trâu th́ rằng làm ăn vất vả, có công sinh ra thóc, gạo, ngô, đỗ; chó th́ rằng có công coi nhà giữ trộm; ngựa th́ rằng có công đem chủ đi quán về quê, đánh đông dẹp bắc; dê th́ rằng có công trong việc tế lễ; gà th́ rằng có công gáy sáng, xem giờ; lợn th́ rằng có công trong việc quan, hôn, tang, tế. Sáu con cùng tranh luận, người chủ phải can thiệp vào, dàn ḥa mới yên. Bài này viết theo thể "nói lối".


    Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
    Phiến vân thiên thượng khứ du du
    Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
    Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

  • #2
    LỤC SÚC TRANH CÔNG

    Tựa:

    Trời hóa sinh muôn vật
    Đất dong dưỡng mọi loài,
    Giống nào là giống chẳng có tài;
    Người đâu dễ không nhờ vật.
    Long chức quản bổ thiên, dục nhật.
    Lân quyền tư giúp thánh, pḥ thần.
    Quy thông hay thành bại, kiết hung .
    Phụng làu biết thạnh suy, bĩ thái.
    Trong trời đất ba ngàn thế giái
    Đều xưng rằng tứ vật chí linh.
    Nhẫn đến loài lục súc hi sinh,
    Trời cho xuống hộ người dương thế.


    - dong dưỡng: Nuôi nấng
    - bổ thiên Giúp trời;
    Dục nhật : Tắm cho mặt trời.
    Rồng làm mưa trong khi hạn hán, cho nên gọi là giúp trời, sau cơn mưa mặt trời lại sáng, cho nên gọi là tắm cho mặt trời tỏ.
    -giúp thánh, pḥ thần: Đời có thái b́nh, Kỳ lân mới hiện ra, cho nên gọi nó là một loài thú giúp các bậc thánh thần trong đời thịnh trị.
    - Quy: Rùa dùng để bói cho biết sự nên, sự hỏng, sự xấu, sự tốt.
    -làu: Biết rơ
    - thạnh suy: Chim phụng hoàng gặp đời thịnh ra, gặp thời suy th́ ẩn đi.
    - ba ngàn thế giái: Kinh phật chia vũ trụ làm tiểu thế giái, đại thế giái, cộng cả lại gọi là tam thiên thế giái (giái : giới)
    -Nhẫn: Nh́n, xem.
    -hi sinh: Loài súc dùng làm thịt để cúng tế
    Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
    Phiến vân thiên thượng khứ du du
    Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
    Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

    Comment


    • #3
      Ngưu(trâu)

      Trâu mỏi nhọc, trâu liền năn nỉ :
      "Một ḿnh trâu ghe nỗi gian nan,
      Lóng canh gà vừa mới gáy tan,
      Chủ đă gọi thằng chăn vội vă.

      Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dă,
      Cho nó ăn ba miếng đỡ ḷng.
      Chưa bao lâu thoắt đă rạng đông;
      Vừa đến buổi cày bừa bua việc.

      Trước cổ đă mang hai cái niệt
      Sau đuôi thêm kéo một cái cày;
      Miệng đă dàm, mũi lại ḍng dây,
      Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đỉa cắn.

      Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,
      Người c̣n hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.
      Liệu vừa đứng bóng mới thôi,
      Đói ḥa mệt, bước khôn dời bước.

      Ai thong thả, trâu nào ben đặng ?
      Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho?
      Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no,
      Lại vườn đậu, vườn khiến chở

      Làm không kịp thở,
      Ăn không kịp nhai.
      Tắm mưa, trải gió chi nài !
      Đạp tuyết, giày sương bao sá !

      Có trâu, sẵn tằm tơ, lúa má,
      Không trâu, không hoa quả, đậu mè,
      Lúa gặt cất lên đà có trâu xe,
      Lúa chất trữ, lại để dành trâu đạp.

      Từ tháng giêng cho đến tháng chạp,
      Kể xuân, hè, nhẫn đến thu, đông,
      Việc cày bừa, nông vụ vừa xong,
      Lại xe gỗ, dầm công liên khói ,

      Bất luận xe rào, xe củi.
      Nhẫn đến loài phân bổi , tranh che
      Hễ bao nhiêu nhất thiết của chi,
      Th́ đă phú mặc trâu chuyên chở.

      Bao quản núi non hiểm trở ?
      Chi nài khe suối dầm dề ?
      Cong lưng chịu việc nặng nề,
      Cay đắng những lời dức lác !

      Ăn th́ những rơm khô, cỏ rác,
      Ở quản chi ràn lấm, tráp nè.
      Trâu dựng nên nông nọ, nỗi kia;
      Trâu làm đặng căn trên, bồ dưới.

      Nghĩ suy lại công trâu cho phải,
      Lẽ cho trâu thao lụa mặc dày.
      Không chi th́ quần vải, dải gai,
      Không chi th́ khố lưỡi cày cũng khá

      Ăn cho phải những cơm với cá,
      Không nữa th́ rau cháo cũng nên
      Đến mai sau già cả sức hèn,
      Cũng bảo dưỡng bổ công lao lư.

      Khi mạng một chẳng đơm, chẳng tế;
      Lẽ "sinh cử, tử táng", mới ưng.
      Thủa sống đà không dạ yêu đương,
      Khi thác lại đoạn t́nh siêu độ.

      Bảo nhau sắm con dao, cái rổ,
      Khiến nhau vơ mớ củi, nắm nè.
      Rằng : Trâu này cốt Phật xưa kia,
      Phát đ́nh liệu cho hồn thăng thiên giái.

      C̣n h́nh tích giống chi để lại,
      Người người đều bàn bạc với nhau:
      Kẻ th́ rằng : Tôi lănh cái đầu,
      Người lại nói : Phần tôi cái nọng.

      Kẻ giành ḷng bóng ép gối mà kê,
      C̣n sừng đem về ép thoi làm lược.
      Kẻ th́ chuốc hoa tai, làm bầu liều.
      Làm tù và mà thổi cũng kêu,

      Tiện con cờ mà đánh cũng tốt.
      Kẻ th́ làm cái mơ, cáo hộp,
      Người lại tỉa cán quạt, cán dao.
      C̣n gị chia nhau,

      Làm nham, làm thấu.
      Trâu gẫm lại là loài cầm thú,
      Phận sau chịu vậy, dám nài !
      Trâu thác đă công nghiệp phủi rồi,

      Trâu sống lại kiện nài với chủ :
      Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ
      Ơn Tề vương vô tội kiến tha
      Tưởng chưng khi sức mọn tuổi già,

      Cám Điền tử dạy con chớ bán.
      Lời cổ nhân c̣n dặn,
      Sao ông chủ vội quên ?
      Chẳng nhớ câu "Dĩ đức hành nhân".

      Lại lấy chữ "Báo ân dĩ oán !"
      Nói chi nữa cho dài chuyệnvăn ?
      Thưa chủ xin nói thép một lời :
      Nhưng loài muông, vô tướng, vô tài,

      Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc ?
      Ăn cho lớn, dưỡng vai, dưỡng vóc,
      Giỡn với nhau vạch cửa, vạch sân,
      Một ngày ba bữa chực ăn,

      Thấy đến việc lén ḿnh lét lét.
      Chưa rét đă phô rằng rét,
      Xo ro đuôi quít vào trôn,
      Vấy bếp người, tro trấu chẳng c̣n,

      Ba ông táo lộn đầu, lộn óc,
      Chưa sốt đà nằm dài thở dốc.
      Le lưỡi ra phỏng ước dư gang.
      Lại thấy người lơ đĩnh lơ hoang

      Tài ăn vụng thôi th́ hơn chúng.
      Nhưng muông biết cày nương, bừa ruộng,
      Th́ muông kể biết mấy công ơn ?
      Muông, người cho ăn cháo, ăn cơm,

      Trâu, người bắt nhai rơm, nhai cỏ.
      Khi muông thác tống chung, an thổ,
      Có gạo tiền cấp táng toàn thân,
      Trách một ḷng chủ ở bất công,
      Hậu ư bạc, bạc đem làm hậu".



      - ghe: Nhiều
      -Lóng: Nghe
      -thảo dă: Cánh đồng cỏ.
      -bua việc: Công việc
      -niệt: dây to buộc ở cổ trâu
      - ḥa:
      -ben: b́ kịp
      -thế: Thay, làm hộ.
      -no: Đủ.
      -: Vừng.
      -dầm công liên khói: Làm việc liên miên không dứt như khói tuôn lên vậy.
      -Nhẫn đến: Cho đến, đến cả.
      -bổi: Cỏ rác.
      -phú: Phó.
      -ràn lấm: Chuồng bẩn lấm.
      -trápTàu bỏ rơm cho trâu ḅ ăn .
      -: Cỏ rác vụn.
      -căn: Chỗ ngăn ra để chứa thóc lúa.
      -thao lụa: Tơ lụa.
      -khố lưỡi cày: Thứ khố vải, một đầu vuông, một đầu chéo.
      -bảo dưỡng: Nuôi nấng.
      -lao lư: Khó nhọc.
      -đơm: Cúng.
      -sinh cử, tử táng: Sống cho ở, chết đem chôn.
      -mới ưng: Mới phải đạo.
      -siêu độ: Độ cho kiếp sau được sung sướng hơn,
      -cốt Phật xưa kia: Nước Thiên Trúc có loài trâu sừng nhỏ, sắc đen, ḿnh rất cao, thịt cắt rồi lại mọc, ai uống máu nó th́ sống lâu, người ta gọi là phật ngưu. (Đường Thư).
      -đ́nh liệu: Cây đuốc to.
      -ḷng bóng ép gối mà kê: Lấy ḷng và bong bóng trâu phơi khô ép làm gối.
      -ngạt quạt: Nan vái quạt.
      -bầu liều: Cái bầu dùng để ao, đong.
      - Nham, thấu : Hai món đồ ăn.
      -phủi: Phẩy đi, xóa đi.
      -bôi chuông: Theo lễ cổ, khi nào đúc xong một quả chuông th́ giết trâu, lấy máu bôi vào chuông, lễ này gọi là Hấn chung (bôi chuông).
      -đường hạ: Dưới thềm, dưới nhà.
      -Ơn Tề Vương vô tội kiến tha: Tề Tuyên Vương trông thấy người ta dắt trâu đi làm thịt để lấy máu bôi chuông, thương trâu vô tội, bèn truyền lệnh tha cho (Mạnh tử).
      -Điền tử: Điền tử Phương người đời Chiến quốc, rất thương những trâu ngựa già,
      -dạy con chớ bán: Điền tử Phương thường dặn con cháu và người nhà đừng đem bán trâu và ngựa già.
      -Dĩ đức hành nhân: Lấy điều phúc đức để thi hành ḷng nhân.
      -Báo ân dĩ oán: Lấy sự oán báo lại cái ân.
      -nói thép: Nói lư sự.
      -lét lét: Sợ mà tránh không cho ai trông thấy,
      -sốt: Nóng, bức
      -lơ đĩnh lơ hoang: Hờ hững, không thiết,
      -tống chung, Đưa lúc chết .
      - An thổ : Chôn xuống đất.
      -Hậu ư bạc, bạc đem làm hậu: Đáng bạc lại xử hậu, đáng hậu lại xử bạc.
      Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
      Phiến vân thiên thượng khứ du du
      Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
      Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

      Comment


      • #4
        Khuyển

        Muông nghe nói, giận đau phế phổ,
        Liền chạy ra sủa mắng vang tai :
        "Trời đă sinh các hữu kỳ tài,
        Lớn việc nặng, bé th́ việc nhẹ.

        Bởi v́ đó lớn vai, lớn vế,
        Th́ chuyên lo nông bổn cày bừa,
        Vốn như đây ốm yếu chân tay,
        Cũng hết sức gia trung xem xét.

        Trách sao khéo thổi lông t́m vết ?
        Giận thày lay vạch lá t́m sâu.
        Ai ai đều phận thủ như nhau ;
        Khắn khắn cũng một ḷng pḥ chủ.

        Kẻ đầu kia, người việc nọ,
        Đứa coi ngoài có đứa giữ trong.
        Đêm năm canh con mắt như chong :
        Đứa đạo tặc nép oai khủng động.

        Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,
        Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.
        Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
        Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.

        Bao quản chui gai, lước góc,
        Chi này múa mỏ, ḷn hang.
        Anh trâu sao chẳng biết thương,
        Nỡ lại tra lời sanh nạnh.

        Ăn th́ cơm thừa, canh cặn,
        Ăn th́ môn sượng, khoai sùng
        Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều,
        Có cũng rằng, không cũng chớ.

        Trâu rằng : trâu ăn rơm với cỏ
        Mà c̣n có một thằng chăn,
        Tốn áo quần cùng tốn cơm ăn,
        Nỗi lại tới gạo tiền đằng khác;

        Tính chắt lót một năm hai đạc,
        Về thằng chăn đă hết một trâu.
        Cũng mạnh cày, mạnh kéo nên giàu,
        Hăy cho nhẹm ḿnh trâu là quí.

        Vốn như đây gia tài ủy kư,
        Mà chủ không tốn kém đồng nào.
        Nếu không muông coi trước giữ sau,
        Th́ của ấy về tay kẻ trộm.

        Trâu biết nói, trâu không biết xét,
        Suy ḿnh muông công nghiệp đă dày,
        Khi sống th́ giữ ǵn của đời,
        Khi thác xuống giữ cầu âm giái,

        Người có phước, muông đưa ra khỏi,
        Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu !
        Chủ có ḷng suy trước,xét sau,
        Khi lâm tử gạo tiền tống táng.

        Chủ đă có công dày ngăi rộng,
        Muông dễ không tiếp rước đăi đưa,
        Thấy anh trâu chưa biết căn do,
        Nói vài chuyện, kẻo chê muông dại".

        Trâu với muông hai đàng đối nại,
        Chủ nghe qua khó nỗi xử phân :
        "Thôi đừng nhĩ ngă thiệt hơn.
        Phú lưỡng bạn dĩ hoà vi quí".



        -các hữu kỳ tài: Mỗi một giống vật có một tài riêng.
        -nông bổn: Nghề làm ruộng là gốc. Trong nhà.
        -gia trung: Trong nhà
        -thày lay: Lôi thôi, càn dỡ
        -phận thủ: Giữ một chức phận.
        -Khắn khắn: Khăng khăng chăm chỉ.
        -khủng động: Sợ hăi
        -sanh nạnh: Nói ngang, nói bướng.
        -chắt lót: Tính ít nhất.
        -hai đạc: Hai thủa ruộng.
        -nhẹm: No đủ.
        -ủy kư: Phó thác.
        -âm giái: Âm phủ.
        -lâm tử: Lúc chết.
        -đăi đưa: Lúc chủ mất muông cũng đón rước tử tế ở cầu địa phủ,
        -nhĩ ngă thiệt hơn: Phân b́ ḿnh với ta.
        Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
        Phiến vân thiên thượng khứ du du
        Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
        Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

        Comment


        • #5

          Hai vật đă tương đồng hoan hỉ,
          Lại cùng nhau từ tạ một lời :
          "Như luận trong công nghiệp hai tôi:
          Ăn có bữa, lo không có bữa.

          Dám thưa người, báu ǵ giống ngựa,
          trau tria lều trại nhọc nhằn ?
          Ăn cho ăn những cháo đậu xanh,
          Ở th́ ở những tàu lợp ngói.

          Bữa bữa dạo chơi, tắm gội,
          Ngày ngày chắn vó, hớt mao.
          Sắm sửa cho, chẳng biết chừng nào,
          Suy tính lại, dư trăm, dư chục.

          Sắm lá vả, sắm yên, sắm lạc,
          Sắm chân đưng hàm thiếc, dây cương.
          Dời tiền, dời hậu bao vàng,
          Thắng đái, dây cương thếp bạc.

          Gẫm giống ấy :
          Nết na giớn giác,
          Tính khí chàng ràng,
          Tuy đang khi mọi vẻ nghiêm trang,

          Trong gia sự nhiều điều ngơ ngáo.
          Nghề cày bừa, nghe coi lếu láo,
          Việc bắn săn coi cũng ươn tài,
          Chủ nuôi không biết chủ là ai,

          Nhà ở, chẳng biết nhà mà lại.
          Dại không ra dại,
          Khôn chẳng nên khôn ;
          Ngất ngơ như ốc mượn hồn.
          Nuôi giống ấy làm chi cho rối".


          -trau tria: Sửa-sang.
          -chắn vó: Cắt gọt móng.
          - lạc: Nhạc đeo cổ.
          -chân đưng: Bàn đạp,
          Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
          Phiến vân thiên thượng khứ du du
          Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
          Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

          Comment


          • #6


            Ngựa nghe nói, tím gan, nổi phổi,
            Liền chạy ra hầm hí vang tai :
            "Ớ ! này, này, tao bảo chúng bay,
            Đố mặt ai dày bằng mặt ngựa ?

            Tuy rằng thú, cũng hai giống thú,
            Thú như tao ai dám phen lê
            Tao đă từng, đi quán, về quê,
            Đă ghe trận đánh nam, dẹp bắc.

            Mỏi gối nưng pḥ xă tắc,
            Ṃn lưng cúi đội vương công.
            Ngày ngày chầu chực sân rồng
            Bữa bữa dựa kề loan giá,

            Ông Cao Tổ năm năm thượng mă,
            Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia
            ,
            Ông Quan Công sáu ải thoát qua,
            V́ cậy có Thanh Long, Xích thố

            Đă nhiều thủa ngăn thành, thủ phủ
            Lại ghe phen đột pháo, xông tên
            Đàng xa xôi ngàn dặm quan sơn
            Ngựa phi đệ một giờ liền thấu.

            Các chú đặng ăn no, nằm ngủ,
            Bởi v́ ta cần cán, giữ ǵn.
            Khắn khắn lo nhà trị, nước yên,
            Chốn chốn đặng nông bô lạc nghiệp.

            Các chú những nằm trong xó bếp,
            Tài các ngươi ở chốn quê mùa.
            Đừng đừng buông lời nói khật khù
            Bớt bớt thói chê bai giớn giác,

            Nếu tao chẳng lo trong việc nước,
            Giặc đến nhà ai để chúng bay ?
            Thật biết một mà chẳng biết mười,
            Chớ lừng lẫy cậy tài, cậy thế".

            Ngựa nói lâu, gẫm càng hữu lư,
            Vậy chủ bèn phân giải một lời :
            "Đại tiểu các hữu kỳ tài,
            Vô đắc tương tranh nhĩ ngă".



            -phen lê: Phân b́.
            -Cao tổ năm năm thượng mă,: Hán Cao tổ mă thượng đắc thiên hạ : Vua Cao tổ họ Lưu đánh dẹp năm năm được thiên hạ ở trên ḿnh ngựa.
            -Quan Công sáu ải thoát qua: Quan Vũ vượt qua sáu cửa ải.
            -Thanh longTên thanh đao.
            Xích thố : Tên con ngựa sắc hồng,
            -phi đệ: Chạy nhanh như tên bay.
            -nông bô lạc nghiệp: Dân cày cấy yên vui nghề nghiệp.
            -khật khù: Gàn dở
            -Đại tiểu các hữu kỳ tài: Vật lớn vật nhỏ đều có một nghề tài giỏi riêng.
            -Vô đắc tương tranh nhĩ ngă: Không được ganh tị nhau.
            Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
            Phiến vân thiên thượng khứ du du
            Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
            Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

            Comment


            • #7

              Trâu với ngựa cùng muông ba gă,
              Mới ra ngoài từ tạ phân nhau.
              Ngựa giận dê, đứng lại giây lâu,
              Bèn phát trạng cáo nài với chủ :
              "Dê với ngựa cũng là giống thú,
              Chăn đồng chăn, nuôi cũng đồng nuôi,
              Dê, người cho ăn nhảy chơi bời,
              Ngựa, người bắt kỵ biều,, luân tế.
              Gẫm giống chi hữu đầu vô vĩ,
              H́nh con con, bụng lớn chang bang;
              Cáng náng như đứa có hạ nang,
              Sớn sác tợ con chàng kẻ cướp.
              Nghề tế kiệu coi đà xấu vóc,
              Việc cày bừa nhắm bóng cũng ươn ;
              Hễ thấy người thấp thoáng đôi bên,
              Liền há miệng kêu la : bé hé".



              -phát trạng: Phát đơn khiếu nại.
              -kỵ biều: Cưỡi chạy.
              -luân tế: Chạy luôn không nghỉ.
              -chang bang: To phềnh.
              -đứa có hạ nang: Người có bệnh sa đ́.
              -tế kiệu: Chạy nước kiệu.
              -nhắm bóng: Xem h́nh dạng,
              Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
              Phiến vân thiên thượng khứ du du
              Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
              Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

              Comment


              • #8


                Dê nghe ngựa nói dê quá tệ,
                Liền chạy ra vác mặt, vênh râu ;
                Dê nói rằng : "Ta đọ với nhau,
                Thử anh lớn hay là tôi lớn.
                Anh đă từng vào dinh, ra trấn,
                Sá chi tôi tiểu thú quê mùa ?
                Mạnh th́ lo việc nước, việc vua.
                Song chớ khá cậy tài, cậy tướng,
                Ai có tài, chủ ban chủ thưởng,
                Ai không công, tay làm hàm nhai,
                Chẳng dám ăn lúa má, môn khoai ;
                Không hề phạm đậu mè, hoa quả.
                Khuyên khuyên chớ nói ngang nói ngửa,
                Bớt bớt, đừng ỷ thế, cậy tài,
                Ai chẳng biết đuôi ngựa th́ dài,
                Dài th́ để xua ṃng, đuổi muỗi ;
                Vốn như đây đuôi tuy vắn vỏi,
                Đây cũng không mượn ngựa nối thêm.
                Ngàn dặm trường, mặt ngựa khoe êm.
                Ba g̣ sỏi, dê đà xong việc.
                Việc dê th́ dê biết,
                Việc ngựa th́ ngựa hay
                Bừa cày, có thú bừa-cày,
                Kiệu tế, có muông kiệu tế,
                Dê vốn thật thuộc về việc lễ,
                Để ḥng khi về hạng tư văn ;
                Để dành khi tế thánh, tế thần,
                Lại có thủa kỳ yên, kỳ phước.
                Hễ có việc, lấy dê làm trước,
                Dê dâng vào người mới lạy sau.
                Ngựa tuy rằng h́nh tượng lớn cao,
                Tam sanh lễ, ai dùng đến ngựa ?
                Dầu đến việc làm đ́nh, làm chợ,
                Cũng lấy dê trảm thảo, bồi cơ ;
                Nhẫn đến ngày mạng tướng xuất sư,
                Cũng lấy dê khấn cầu tổ đạo.
                Lễ cốc sóc thánh nhân c̣n bảo :
                Tử Cống sao dê sống bỏ đi ?
                Ngựa nói ngang mà chẳng biết suy,
                Dê nào có thiếu chi công trạng ?
                Nói cho xứng đáng,
                Há dễ cơ cầu,
                Dê tuy rằng vô vĩ, vô đầu,
                Quan phong Trường tu chủ bộ.
                Hèn như dê mà dám đọ,
                Tiện như dê, quí bất khả ngôn.
                Ngựa rằng : Ngựa ở chốn quyền môn,
                Phong cho ngựa chức chi nói thử ?
                Thưa chủ nghiệm việc dê với ngựa,
                Cân mà coi, ai trọng, ai khinh ?"


                -môn: Loài khoai, giống khoai sọ thường mọc ở rừng,
                -ṃng: Một loài ruồi lớn.
                -muông: Loài thú,
                -tư văn: Hội các nhà văn thân lập lên để phụng sự đức Khổng tử và t́nh liên lạc trong phái văn hào.
                -Tam sanh: Ba giống súc : Dê, lợn và trâu ḅ dùng làm đồ tế lễ,
                - Trảm thảo : Phát cỏ
                - Bồi cơ : Đắp nền.
                Theo tục khi làm đ́nh làm quán, giết dê tế thổ thần để khởi công.
                -tổ đạo: Mở đường. Lễ làm khi xuất quân thường giết dê để tế cờ.
                - Cốc : Tŕnh cho biết, tiếng dùng riêng để tế thần thánh.
                Sóc : Ngày mồng một mỗi tháng. Lễ cổ cứ ngày mồng một đầu tháng, các vua chư hầu giết dê làm lễ cúng ở nhà thái miếu.
                -Tử Cống: Học tṛ Khổng phu-tử .Theo sách Luận ngữ, thầy Tử Cồng muốn bỏ lễ cốc sóc, v́ tiếc mỗi tháng mất con dê, song Đức Khổng tử cho là lễ cốc sóc có nhiều ư nghĩa quan trọng hơn con dê nhiều.
                -cơ cầu: Căi lẽ.
                -Trường tu chủ bộ: Chức chủ bộ dài râu, biệt hiệu của con dê.
                Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
                Phiến vân thiên thượng khứ du du
                Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
                Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

                Comment


                • #9
                  Ngựa nghe qua tỏ đặng sự t́nh,
                  Dê rằng : bé, ai hay chức lớn ?
                  Dê nói lại tài dê cũng rắn,
                  Ngựa thưa qua, sức ngựa thêm rồng :

                  Chủ phê cho lưỡng bạn tương đồng,
                  Chắp sự giả các tư kỳ sự.
                  Lời tự thuận hai đàng xong xả,
                  Dê phát ngôn, bèn trở nại gà :

                  "Nuôi chúng tôi lợi nước lợi nhà,
                  Nuôi giống gà thật vô ơn ngăi.
                  Thấy chủ văi đám ng̣, vạc cải
                  Túc nhau bươi chếch gốc, trốc cây.

                  Thấy người trồng đám đậu, vồng khoai,
                  Rủ nhau vầy nát bông, nát lá.
                  Rất đến đỗi thấy nhà lợp rạ,
                  Kéo nhau lên vậy vă tâng bầng.

                  Cho ăn rồi quẹt mỏ sấp lưng
                  Trời chưa tối, đà lo việc ngủ.
                  Ba cái rác nằm không yên chỗ,
                  Mấy bụi rau nào để bén dây
                  Cả ngày thôi những khuấy, những rầy,
                  Nuôi giống ấy làm chi vô lối ?"



                  -rắn: Cứng cỏi.
                  -rồng: Hay, khỏe mạnh.
                  -Chắp sự giả các tư kỳ sự: Người nào coi việc ǵ cứ giữ việc ấy.
                  - Văi : Rắc hạt giống trồng.
                  -ng̣: Loài rau thơm, tức là rau mùi.
                  -Vạc : Đám.
                  -bươi: Bới.
                  -trốc: Đổ, làm bật lên.
                  -vồng: Luống.
                  -sấp lưng: Quay lưng lại.
                  Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
                  Phiến vân thiên thượng khứ du du
                  Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
                  Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

                  Comment


                  • #10


                    Gà nghe nói, nóng gan, nóng phổi,
                    Liền nhảy ra, chớp cánh, giương đầu.
                    Này này ! gà ngũ đức thẳm sâu :
                    Nhân, dũng, tín, vơ, văn, gồm đủ.

                    Trên đầu đội văn quan một mũ ;
                    Dưới chân đeo hai cựa thần thương.
                    Đă ghe phen đến chốn chiến trường.
                    Lập công trận vang tai, lói óc,

                    Thủa Tây Lũng tam canh trống thúc ;
                    Gà gáy đầu ba tiếng đêm khuya,
                    Một tiếng rằng : thiên nhật tác th́ ;
                    Hai tiếng rằng : quốc tộ tác xương,
                    Ba tiếng rằng : nhân gian tác lạc,

                    Đă cứu nạn Mạnh Thường đặng thoát ;
                    Lại khuyên người Tấn Sĩ năm canh.
                    Hễ ai toan cải dữ về lành,
                    Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp.

                    Coi gị gà xét biết thịnh suy.
                    Dóng canh khuya vui dạ kẻ tiêu y,
                    Cất tiếng gáy, toại ḷng người đăi đán,
                    Cứ mấy điều mà đoán,

                    Đă tỏ việc phải chăng ?
                    Giận anh dê cứ nói việc ăn,
                    Khéo kiếm chác những điều xoi tệ.
                    Dê biết lễ gà cũng biết lễ,

                    Dê phong Chủ Bộ, gà chức Tư Thần.
                    Nói vài điều đă biết xứng cân,
                    Huống gà có ngoại khoa biết mấy ?
                    Chưa biết ai hay rầy, hay khuấy,

                    Chưa biết ai ngủ sớm ngủ mê.
                    Gà không người chăn giữ đi về,
                    Nên gà mới lỗi lầm bươi móc.
                    Dê lầm thế không ai xem sóc,

                    Việc phá dê bằng chín bằng mười.
                    Bữa ăn gà tốn kém mấy hơi?
                    Nói những chuyện so chày buộc chặt.
                    Kể ít chuyện cho dê biết mặt,

                    Kẻ rằng gà vô thú trong đời.
                    Chẳng nhớ xưa đêm sáng, tốt trời,
                    Xui kẻ nhớ vợ hiền thêm chạnh.
                    Thức vua Thính làm lành giấc tỉnh.


                    Gà thua dê một hàm râu nịnh,
                    Nghĩ lại coi không ích lợi chi.
                    Gà dễ đâu có dám phân b́,
                    Nói điều phải mà nghe cho đặng ?"

                    Dê nghe nói công lênh nhẹ nặng,
                    Mới biết suy hơn thiệt mọi điều :
                    "Thôi, thôi, nói ít biết nhiều,
                    Dê xin chịu lập tờ tự thuận"

                    Gà c̣n hăy chưa nguôi cơn giận,
                    Bèn phát ngôn thưa chủ một lời :
                    "Như chúng gà vốn đạo làm tôi,
                    Giữ một tiết thức khuya dậy sớm.

                    Thủa ấu thơ người c̣n tríu trớn;
                    Đến lớn khôn đều có riêng quan.
                    Ai siêng bươi, siêng móc th́ no,
                    Bằng biếng lặt, biếng t́m th́ đói.

                    Gà gẫm lại thân gà thêm tủi,
                    Làm tôi người không đặng nhờ chi.
                    Heo ăn rồi ngủ ngáy ś ś,
                    Giả ngây dại, biết ǵ việc chủ.

                    Ngắm diện mạo, dị h́nh, dị thú,
                    Xem dung nhan khác thế lạ đời.
                    Như nuôi chơi, chẳng phải giống chơi
                    Chạy rau cám, như tiền nội án.

                    No đú mỡ, nhảy quanh, nhảy quất,
                    Đói xép hông, cắn máng, cắn chuồng.
                    Mỗi một ngày ba bữa ṛng ṛng,
                    Đă chẳng thấy bữa nào sai chạy,
                    Bán bối ǵ mà người yêu vậy ?
                    Mù quáng chi mà phải báo cô?"




                    -chớp cánh: Vỗ cánh.
                    -Nhân, dũng, tín, vơ, văn, gồm đủ: Theo Hàn Thi ngoại truyện : gà có năm đức-tính : có ăn th́ gọi nhau là nhân ; có chí phấn đấu hăng hái là dũng; đêm gáy đúng gọi là tín; chân có cựa sắt là vơ; đầu có mào đỏ là văn,
                    -văn quan: Mũ quan văn
                    -thần thương: Giáo sắt,
                    -thiên nhật tác th́: Thời giờ bắt đầu cho đúng.
                    -quốc tộ tác xương: Ngôi vua thịnh vượng cho lâu bền.
                    -nhân gian tác lạc: Cơi người bắt đầu yên vui.
                    -Mạnh Thường đặng thoát: Theo sử kư : Mạnh Thường Quân khi đi tị nạn, đến cửa quan th́ cửa quan đă đóng mất rồi, nhờ có người gia khách giả làm gà gáy sáng, người coi thành ngỡ là đă sáng, mở cửa thành, v́ thế mà Mạnh Thường Quân thoát nạn.
                    -Tấn sĩ năm canh: Tổ Địch và Lưu Côn là hai chí sĩ ở đời Tấn, đêm nghe gà gáy trở dậy múa gươm.
                    -Gà cũng biết tỉnh, mê, giấc điệp:Theo Mạnh tử : Kê minh vi thiện : Những người tốt nghe gà gáy đă dậy ngay để làm điều lành.
                    -gị gà xét biết thịnh suy: Khương Tử Nha xem chân gị mà biết trước là nhà Chu hưng thịnh và nhà Thương mất.
                    -tiêu y: Ban đêm cũng cứ để nguyên cả khăn áo, không ngủ và ngồi để chờ sáng.
                    -đăi đán: Đợi sáng. Người có chí th́ thường đêm không ngủ chỉ mong cho trời sáng để làm công-việc.
                    -Tư thần: Giữ một chức vụ báo cho người biết trời sáng.
                    -ngoại khoa: Những môn ngoài môn chính.
                    -Xui kẻ nhớ vợ hiền thêm chạnh: Người vợ hiền nghe tiếng gà gáy, đă khuyên chồng trở dậy.
                    -Thức vua Thính làm lành giấc tỉnh: Theo Mạnh tử : Thuấn chi đồ kê minh thiện : Những người về phái vua Thuấn, nghe tiếng gà gáy đă trở dậy ngay để làm điều lành.
                    -tríu trớn: Đớn hèn
                    -riêng quan: Công việc riêng,
                    - Tiền nội án : Tiền lộ phí trong việc kiện tụng.
                    -bữa nào sai chạy: Bữa nào cũng phải cho đủ.
                    -báo cô: Nuôi cho ăn không.
                    Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
                    Phiến vân thiên thượng khứ du du
                    Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
                    Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

                    Comment


                    • #11
                      Heo

                      "Chú gà chớ lung lăng múa mỏ,
                      Giữ, có ngày cắn cổ chẳng tha !
                      Ghét thương th́ mặc lượng chủ nhà,
                      Chớ thóc mách kiếm lời phỉ báng.

                      Như các chú lao đao đă đáng,
                      Heo thong dong ăn nhảy mặc heo.
                      Nội hàng trong lục súc với nhau,
                      Ai sánh đặng ḿnh heo béo tốt ?

                      Vua ngự lễ Nam Giao đại đột,
                      Phải có heo mới gọi tam sanh,
                      Đừng đừng quen lời nói lanh chanh,
                      Bớt bớt thói chê ai ăn ngủ,

                      Ḱa những việc hôn nhân giá thú.
                      Không heo ra, tính đặng việc chi?
                      Dầu cho mời năm bảy chuyến đi,
                      Cũng không thấy một người thấp thoáng.

                      Việc ḥa giải, heo đầu công trạng,
                      Thấy mặt heo nguôi dạ oán thù.
                      Nhẫn đến khi ngu phụ, ngu phu,
                      Giận nhau đánh giập đầu, chảy máu.

                      Làng xă tới lao đao, láu đáu,
                      Nào thấy ai gỡ rối cho xong,
                      Khiêng heo ra để lại giữa ḍng,
                      Mọi việc rối liền xong trơn trải.

                      Phải chăng, chăng phải,
                      Nghĩ lại mà coi,
                      Việc quan, hôn, tang, tế, vô hồi
                      Thảy thảy cũng lấy heo làm trước.

                      Bởi gà nhỏ nói lời lấn lướt,
                      Nên phải phân ít chuyện mà nghe.
                      Dễ heo nào có dạ dám khoe ?
                      Khắn khắn cũng lo làm việc phải.

                      Heo cũng biết đền ơn báo ngăi,
                      Heo cũng hay tiêu họa, trừ tai,
                      Toái thân phấn cốt chi nài ?
                      Nát thịt tan xương bao quản ?

                      Ḷng thờ chủ ngay đà tỏ rạng.
                      Thân ḿnh này ví bẵng như không.
                      Tại chú gà lời nói khùng khùng,
                      Mới sinh sự so đo trường đoản".

                      Vậy chủ bèn phân đoán,
                      Phê một câu khúc tận kỳ t́nh :
                      "Gà biết chữ xả sinh thủ ngăi ;
                      Heo đặng câu tịnh sinh, tịnh dục "



                      -đại đột: Lớn lao.
                      -vô hồi: Hết thảy.
                      -Toái thân phấn cốt: Thịt nát xương tan.
                      -khúc tận kỳ t́nh: Rơ cả t́nh lư một cách khúc-chiết.
                      -xả sinh thủ ngăi: Bỏ đời sống để giữ lấy nghĩa.
                      -sát thân thành nhân: Giết ḿnh để làm tṛn đạo nhân.
                      -tịnh sinh, tịnh dục: Cùng sống cùng sinh sản ra cho nhiều,
                      Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
                      Phiến vân thiên thượng khứ du du
                      Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
                      Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

                      Comment


                      • #12
                        Nhân rảnh thảo ra một lúc,
                        Chép ra cho rơ sự đời
                        Sự này cũng sự nói chơi,
                        Ai muốn th́ đọc mà cười cho vui.



                        HẾT
                        Nhất đóa phù dung trầm ảnh thủy
                        Phiến vân thiên thượng khứ du du
                        Băng hàn ngọc kết như minh nguyệt
                        Tâm đồng tri kỷ đáo muôn thu

                        Comment

                        Working...
                        X