• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Thượng Kinh Kư Sự - [Hải Thượng Lăn Ông]

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Thượng Kinh Kư Sự - [Hải Thượng Lăn Ông]

            Thượng Kinh Kư Sự-Hải Thượng Lăn Ông
    H ải Thượng Lăn Ông là tên hiệu của Lê Hữu Trác, một nho gia và danh y Việt Nam vào cuối đời Hậu Lê. Ông sinh năm 1721, người xă Liêu xá, huyện Đường Hào, trấn Hải Dương (nay thuộc phủ Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Ông thuộc ḍng dơi một gia đ́nh có nhiều đời đại đăng khoa. Cha và chú đều đỗ tiến sĩ và làm quan đến đại thần. Lúc c̣n trẻ, ông đă nổi tiếng hay chữ. Đến năm 20 tuổi, gặp buổi nhiễu nhương, chúa Trịnh Giang độc đoán, giặc giă nổi lên khắp nơi, ông quyết định xếp bút nghiên theo việc đao cung. Đang ở trong quân ngũ, ông phải về quê ngoại là huyện Hương Sơn (thuộc tỉnh Hà Tĩnh bây giờ) để thay người anh thứ năm phụng dưỡng mẹ già. Tại Hương Sơn, ông mắc phải một chứng bệnh dai dẳng, may nhờ một y sĩ họ Trần cứu chữa. Từ đó, ông quyết định rời bỏ quan lộ, dốc ḷng nghiên cứu y học, trở thành một y sĩ có tiếng. Ông mở trường dạy y học và ra công trước tác một bộ sách y khoa đồ sộ : Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh . Năm 1782, ông được quan Chính Đường (Huy Quận Công Hoàng Đ́nh Bảo) tiến cử lên kinh đô chữa bệnh cho Thế Tử Trịnh Cán (con chúa Trịnh Sâm và Tuyên Phi Đặng Thị Huệ). Tuy việc chữa bệnh không thành, ông đă phải ở kinh đô trong khoảng một năm. Cũng may là ông về nhà kịp trước khi xảy ra loạn Kiêu Binh, mở đầu một thời kỳ đại loạn trong lịch sử Việt Nam, kéo dài đến năm 1802 mới chấm dứt. Sau khi về, ông ghi lại những điều mắt thấy tai nghe tại kinh đô trong cuốn tùy bút "Thượng Kinh Kư Sự". Sách này thường được in trong phần phụ lục của Y Tông Tâm Lĩnh . Ông mất năm 1791.

    Tác Phẩm
    Trong văn học lịch triều, đây là một thiên tùy bút hiếm có. Các nhà nho xưa ít khi nói về ḿnh. Nhưng trong cuốn này, tác giả đă không ngại để cái "Tôi" đóng một vai tṛ quan trọng. Ngoài ra, ông c̣n ghi lại những bài ngâm vịnh cùng nhiều danh sĩ tại kinh đô. Vào năm 1924, bản dịch của Nguyễn Trọng Thuật đă được đăng trong Nam Phong Tạp Chí. Chúng tôi xin trích nhiều đoạn trong bản dịch của Ứng Nhạc Vũ Văn Đ́nh (Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội, 1993). Cuốn sách được viết theo thể nhật kư, không chia chương mục. Chúng tôi xin lược bỏ nhiều bài ngâm vịnh và chia cuốn Thượng Kinh Kư Sự thành những chương sau đây :
    [list=1][*]Đoạn Lên Đường [*]Đến Kinh Thành [*]Chẩn Bệnh Thế Tử [*]Dọn Nhà [*]Họa Thơ [*]Nhớ Nhà [*] Gặp Bạn Cũ [*] Tiễn Bạn [*] Chữa Bệnh tại Kinh Thành [*] Viếng Chùa Trấn Quốc [*] Tái Ngộ Cố Nhân [*] Thăm Làng Cũ [*] Thăm Bệnh Chúa Trịnh Sâm [*] Chữa Bệnh Không Thành [*] Về Nhà[/list=1]
    Last edited by Phi Yen; 08-21-2002, 07:13 AM.
    Kiếp sau xin chớ làm người
    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

  • #2
    Lên Đường

                    Lên Đường

    Đó là về năm Nhâm Dần (1782), tháng Mạnh Xuân, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43. Buổi ấy ánh sáng xuân sáng dịu, hoa cỏ đua tươi. Tôi ở trong nhà U trai; trước sân vài ba cây trổ hoa, kết quả, ngậm hương mang tuyết, ánh mặt trời chiếu xiên ngang, tạo nên những bóng h́nh tựa các bà phi nơi sông Tương (Tương phi) ngồi quỳ. Những con rắn mối đuổi nhau chạy từng đàn. Thỉnh thoảng mùi hương lạ bay qua. Chốn tây viên, trong ao phẳng lặng, cá nhởn nhơ nhô lên lặn xuống mà hớp lấy bóng trăng hoặc nuốt lấy làn sóng. Những con chim oanh hay hót, do chân tính của trời phú cho, thời thường tới những chỗ có bóng mát mà nhảy nhót tung tăng. Lúc ấy tôi dắt tiểu đồng trèo lên núi, đưa mắt ngắm khói mây, biết bao hứng thú ! Lại thả câu ở đ́nh Nghinh Phong, hoặc gảy đàn cầm trong nhà "tị huyên", hoặc đọc sách ở đ́nh "Tối quảng", hoặc chơi cờ ở nhà "Di chân" rồi ngủ tại đó. Tùy ư t́m thú vui, ngày ngày thuờng say sưa mới quay về.
    Ngày 12 tháng ấy, thấy hai người dịch mục của quan thự trấn bản xứ sai tới. Vừa mới vào trước sân họ đă nói rằng : "Bản quan kính mừng." Tôi chưa biết là việc ǵ, mở giấy ra coi th́ thấy hai đạo văn thư.

    Bức thư thứ nhất là bản sao tờ chỉ, truyền rằng nội san b́nh phiên Trạch Trung Hầu vâng chỉ truyền cho quan thự trấn Nghệ An là Côn Lĩnh Hầu hăy t́m hỏi tính danh người con của tiền thượng thư họ Lê ở huyện Đường Hào, xă Liêu Xá; người con đó là Lê Hữu Trác, tục gọi là Chiêu Bảy, hiện ngụ quê mẹ ở huyện Hương Sơn, xă T́nh Diễm. Chỉ c̣n truyền cho trấn binh tức khắc đón về kinh đợi mệnh.

    Chỉ truyền năm Cảnh Hưng thứ 42, tháng 11 ngày 29.

    Bức thứ hai do chính quan thự trấn viết, tỏ lời mừng, đại lược nói rằng kẻ sĩ ở chốn hoang vu một sớm danh thấu Cửu trùng, hẳn cái tiến tŕnh vạn lư sẽ nhẹ bước khôn kể, c̣n thêm rằng Vương mệnh không đợi thắng ngựa, nột trong ngày phải lên đường đi trấn Vĩnh Hưng, nơi đây trấn binh đều đă sẵn sàng chờ đón để ra đi. Người mang thư c̣n nói riêng rằng : "Việc này do quan Chính Đường đề cử để coi bịnh Đông cung Vương Thế tử bị đau nặng từ lâu; việc chẳng nhỏ, ngày đêm phải gấp đường m à đi". Tôi nhận thấy cơ sự này rất lợi hại, lấy làm kinh hăi, người như ngốc như si giờ lâu. Người nhà nghe thấy vậy, kẻ hiểu tôi v́ tôi mà lo phiền, kẻ không biết tôi th́ mừng cho tôi. Sự ồn ào nhất thời bất tất nói làm ǵ.

    Nguyên bốn, năm năm về trước, quan Chính Đường vâng mệnh ra trấn đất Hoan Châu, từng mời tôi đến bắt mạch, chữa bệnh, đăi tôi như thượng khách, ngồi liền chiếu, ăn uống lấy lễ đăi rất hậu. Sau ông dẹp giặc biển có công, về triều tước vị đến tam công được tin dùng không ai bằng. Việc này tôi nghe biết từ nhiều năm, ḷng lo âu như đeo nặng một việc ǵ, thầm có sự ưu phiền sâu xa, thường than với môn nhân rằng :"Ắt có một phen ta phải nhọc nhằn vào kinh, lăn lộn trong cái phồn hoa đất đô hội, phụ t́nh hoa cỏ chốn non xưa". Sự thể ngày nay là giận ḿnh chẳng vào ở sâu thêm trong núi. Tuy nhiên vị này có tài như Cơ công, thường kính nhường hậu đăi kẻ sĩ trong thiên hạ, huống hồ đối với ḿnh sao ?". Có kẻ v́ tôi giải muộn mà rằng :"Ông dày công thâu thái, hiểu rơ cái học về tính mạng con người, chẳng làm lương tướng th́ cũng làm lương y chẳng sai đâu; giữ ǵn vẻ quư, che giấu đức tốt, cố nhiên là thái độ cao thượng. Nay cửu trùng tri ngộ, bốn bể nghe danh, há chẳng phải là việc xứng đáng của kẻ trượng phu sao ?". Lúc đó ḷng tôi bứt rứt thâu đêm chẳng ngủ, tôi thầm nghĩ :"Thuở thiếu thời mài gươm đọc sách, mười lăm năm trôi giạt chốn giang hồ, chẳng nên một việc ǵ. Khi đă gạt bỏ công danh rồi, làm nhà ở Hương Sơn, nuôi mẹ, đọc sách, chuyên chú vào các sách Hiên Kỳ, ǵn giữ sức khoẻ ḿnh, cứu giúp kẻ khác, tự lấy làm đắc sách. Bỗng một sớm lại vương vào cái hư danh".

    Đến đó tôi lại tự an ủi :"Ḷng ta hăng hái tự lực cực nhọc trong việc học thuốc đă 30 năm rồi, nay mới soạn thành Bộ Tâm Lĩnh, mà chẳng dám giữ làm của riêng ḿnh, tự đem truyền thụ, muốn nó thành của chung thiên hạ, chỉ hiềm sức mọn, việc lại trọng đại, khó mà tự ḿnh làm trọn được. Quỷ thần thành cảm sẽ giúp ḿnh chuyến đi này có chỗ gặp gỡ nên hay, cũng chưa thể biết được". Nghĩ đi nghĩ lại, bất giác mừng rỡ, mặt mày hớn hở. Tôi liền tiếp đăi sứ giả, phúc thư quan bản trấn. Ông này vốn chơi thân với tôi, muốn thay tôi làm tờ khải, tôi phải kêu là tôi tuổi giàḿnh yếu, kính xin châm chước mà miễn cho. Chẳng được mấy ngày quan bản trấn lại sai thuộc nha đưa khẩn đến một bức văn thư nói là bản trấn đă chu biện một cái đ̣ dọc dùng để di chuyển đến trạm, nếu tŕ hoăn sợ có liên lụy. Những con cháu trong nhà cũng hết sức khuyên nhủ tôi. Tôi liệu thế chẳng ở lại được, tức th́ báo tin cho đạo đồ hay mà tập hợp lại. Vào ngày 14 thành tâm làm một lễ lớn cúng tiên thánh tiên hiền, ca xướng náo nhiệt một phen. Đến ngày 16 thấy tôi phải đi xa, bọn ấy lại tổ chức một buổi hát xướng nữa. Ngày 17 đồ thư nửa gánh, gươm đàn một bao tôi bước lên thuyền theo đường thủy, nhắm huớng Vĩnh Dinh mà tiến phát. Bấy giờ tân khách đầy nhà, kẻ xin thuốc, người tiễn chân, dùng dằng trèo kéo. Mặt trời đă ngả về tây mới động mái chèo. Tôi ngồi trong thuyền, t́nh riêng đối cảnh, nỗi khách bâng khuâng, khôn cầm ḷng, miệng đọc mấy vần thơ rằng :

    Lưu thủy hà thái cấp
    Hành nhân ư dục tŕ
    Quần sơn phân ngạn tẩu
    Nhất trạo phích yên phi
    Sa nhạn thân như tống
    Du ngư cấp dục truy
    Vân gian hương lĩnh thụ
    Thái bán dĩ tà huy.

    Nước chảy sao mà lẹ
    Người đi những muốn thư
    Non chia đôi ngạn chuyển
    Mái rẽ đám sương mờ
    Vịt băi theo đưa tiễn
    Cá sông dơi lững lờ
    Mây che Huơng lĩnh khuất
    Quá nửa đă chiều tà.


    Đêm hôm ấy người đi trong bóng trăng sáng, thôn xóm bên sông đều yên lặng; chó sủa mỗi khi thuyền bơi qua. Một vầng trăng bạc chiếu ḍng sông, đôi bờ hải trào nghênh đ̣ khách. Xa xa vẳng tiếng chuông chùa, mờ mờ sương phủ lùm cổ thụ. Mấy nơi đèn chài lạnh lẽo rọi sáng, hai con hải âu sóng đôi nghỉ ngơi. Bọn học tṛ đi theo đều uống rượu, mượn chén giải sầu. Tôi nhân ngâm một bài thơ để dăi ḷng :

    Nhất giang yên thủy tĩnh
    Khách tứ măn quan hà
    Phong trọng chinh phàm cấp
    Sương thâm khứ nhạn tà
    Hàn san lai dạ khánh
    Viễn phố xuất ngư ca
    Kim tịch do như thử
    Minh triêu thả nại hà ?

    Nước mây sông phẳng lặng
    Nỗi khách chốn quan hà
    Gió mạnh buồm đưa gấp
    Sương dày nhạn lượn qua
    Núi sâu vang tự khánh
    Cảnh tối nay như thế
    Mai đây biết chăng là ?


    Gà gáy đến Vĩnh Dinh, nghỉ ngơi chốc lát trong thuyền đậu ở đầu bến. Sáng ngày mười tám rời thuyền lên bờ vào yết kiến quan thị trấn. Ông này đă nhiều ngày chờ đón tôi, nay nhân có giỗ tổ đă trở về bản quán, chỉ dặn thuộc viên sắp sẵn lính bản doanh với năm quan tiền để làm lộ phí. Người này nói : "Quan tôi có tiên kỵ, phải về quê, chẳng kịp diện đàm, có chút lễ mọn gọi là tỏ t́nh". Quan thị trấn c̣n phái quan văn thư (các phủ viên) đem quân bản đạo là 20 người, đầy đủ quân nhu đi hộ tống. Ngày hai mươi, viên quan này thu xếp hành trang lên đường, nhưng binh lính tùy tùng, v́ cớ lương ăn chưa sắm đủ, đều phải đi vay mượn. Sau giờ ngọ mới ra đi, tối đến ngủ trọ tại xă Kim Khê (hiệu Quán My). Quan văn thư làm một lễ tạ ơn tại cái miếu xă này, tổ chức một màn ca vũ, có mời tôi tới dự. Lúc này thần linh vừa giáng phụ vào một đồng nữ ngồi trên xập; cô đồng này vừa lắc lư vừa đàm thoại. Có kẻ bảo tôi rằng : "Thánh mẫu linh hiển báo ứng không sai, ngày nay lăo sư tiến kinh nếu có thỉnh nguyện điều chi hăy tới lạy xin". Tôi đáp rằng :"Phàm làm người tất cầu điều đắc, há có ai cầu điều thất. Ḷng tôi vốn không nguyện đắc th́ c̣n có ǵ mà cầu nữa !", Đồng nữ nghe vậy th́ hơi mỉm cuời. Quan văn thư cũng nh́n tôi mà cả cười. Nửa đêm tiệc tan, mọi người đều về nghỉ. Ngày 21 khởi hành thật sớm. Gặp khi mưa dầm t́nh cảnh bọn hành nhân thật buồn thảm. Trước mặt là hàng ngàn ngọn núi mọc đứng thẳng, đuờng đá th́ gồ ghề. Cũng v́ bạt thiệp gian nan, bất giác tôi ngâm lên rằng :
    Trông về nam núi non đen tối
    Buồn cho ai lặn lội đường xa ..


    Hướng về Cẩm Sơn mà đi, sang đ̣ Cấm Giang th́ đến Thiết Cảng. Toàn là hơi khói trên non, sương mù ngoài biển, hang động th́ mờ ảo. Đây chính là 106 ngọn núi, có tăng già đi lại mà chẳng biết từ xứ nào vậy. Trong năm bước không nom rơ được người hoặc vật, chỉ nghe vượn hót chim kêu trong mây; một màu hơi khói, một thú sơn lâm khiến người xúc cảnh sinh t́nh. Tôi thầm nghĩ : Trải 30 năm nay, một trường danh lợi phó ḍng nước xuôi, chỉ vui chơi cảnh suối rừng, lấy cái nhàn làm đắc sách; ai có hay ḷng đă không thiết tha với danh lợi mà cái thân lại vướng mắc vào danh lợi. Chẳng qua ḿnh đă không đạt được cái chân độn nên mới đến nỗi này. Nhân cảm hoài mà tự thuật trong một bài thơ :

    Độn thế ṭng y dưỡng nhất chân
    Bất tri vi phú khởi tri bần
    Lâm tuyền dục liễu tam sinh đạo
    Luân phất nan từ vạn lư thân
    Bán đản yên hà lao dịch mă
    Măn san viên hạc tống chinh nhân
    Hư danh tự sủy vô tha bí
    Hoàng khủng sơ cuồng đối thánh quân.

    Học thuốc xa người để dưỡng chân
    Phú không hay biết biết chi bần
    Ba sinh rừng núi mong tṛn đạo
    Vạn lư khâm thừa dám tiếc thân
    Nửa cơi khói mây chồn bước ngựa
    Đầy non hạc vượn tiễn hành nhân
    Hư danh đă bỏ không mơ ước
    Sơ kháng c̣n lo đối thánh quân !


    Tối hôm ấy đến chợ Đông Lũy (hiệu Suy Gian) để trọ. Tôi sắp đi nằm th́ thấy một người áo mũ chỉnh tề, bưng một mâm tôm biển đặt ở trước sân, rạp đầu chào bái. Tôi hỏi đến có việc ǵ. Y nói : "Tôi là lính trong nha của quan thị trấn, làng này là quê của vợ tôi. Tôi có đứa con vừa được tám tuổi, bị hàn nhiệt đă mấy tháng nay, hiện bệnh cũng đă thuyên giảm.Gặp lúc đêm tối ra ngoài thềm đi tiểu tiện, bỗng ngất đi bất tỉnh. Các thày thuốc cho là ngộ gió, đă chữa trị rồi. Lúc này chân tay đă co ruỗi được, chỉ hiềm nhiệt quá, hôn mê chẳng biết ai nữa, mắt dương, môi sưng,mong tôn sư đem từ tâm cứu giúp cho". Tôi biết đứa trẻ ấy âm khí chưa toàn, từ lâu lại nóng lạnh âm dương đều bị thương tổn, phong tà cũng do bệnh "hư" mà phát sinh; đă không biết bồi đắp cái cỗi rễ, lại chuyên dùng thuốc chữa phong, nên âm càng hao th́ hỏa càng bốc, cho nên mắc phải bệnh hen, gân khô đi khiến mắt mở to. Tôi bảo dùng lục vị làm thang, bỏ trạch tả mà thêm ban long, sao mạch môn lên mà trị bệnh. Đến sáng người ấy trở lại nói rằng :" Sau khi dùng hết tễ thuốc, nhiệt đă giảm, thần thức tỉnh táo dần, kêu đói nên đă cho ăn cháo loăng". Y c̣n nói trong làng một số thuộc danh gia thấy con y được lành bệnh, cũng muốn đến xin thuốc. Tôi sợ vướng mắc trong việc này bèn dùng phuơng bảo vị khí để điều dưỡng. Tôi sai người đến báo cáo với quan văn thư xin được đi trước và hẹn đến chợ Hoàng Mai th́ nghỉ lại. Ông ta cũng v́ có việc công chưa hoàn tất, phải lưu trú ở đây nên ưng ngay. Ngày 22 bọn chúng tôi tiến bước. Khi đi đến mé tây núi chúng tôi mói nhận ra một dăy cao phong, chỏm núi trùng điệp, ẩn ẩn hiện hiện trong mây trắng; bên đường đi mấy ngọn mọc tách ra để lộ những hang hốc nhỏ. Trời về chiều đồng ruộng nom chỗ trắng trắng chỗ vàng vàng. Đến Long Sơn thấy nhiều cổ thụ xanh um, một cung đất dâm mát, cảnh thật đáng yêu. Lại có những tấm đá mọc rải rác như những cái bàn thấp bé, hàng lối chỉnh tề. Tôi cho đỗ cáng lại để du ngoạn chốc lát, rồi để một bài thơ trên vách đá :

    Y sơn cương tác tự
    Bạng thạch giá sơn chung
    Tế vũ miêu xuân thảo
    Minh hà lạc vân tùng
    Nhân ngâm tàn chi'êu lư
    Điểu ngữ loạn lâm trung
    Phụng chiếu xu hành dịch
    Cần lao tiếu Lăn Ông

    Chùa tựa sườn non dựng
    Chuông kế vách đá treo
    Mùa xuân tươi cỏ sớm
    Ráng đỏ phủ thông chiều
    Chim hót trong rừng rậm
    Người ca buổi bóng xiêu
    Ra đi vâng chiếu chỉ
    Ông Lăn cũng cần lao !


    Đề xong, rảo bước đi, chiều đến trọ tại chợ Hoàng Mai, vẫn chưa thấy quan văn thư tới. Sáng hôm sau tôi cùng bản doanh khởi hành. Sau giờ ngọ th́ ông ta đến, nói rằng : "Tôi sợ số lính đi chẳng đầy đủ. Bản trấn tuy vâng mệnh, đă truyền lấy lính ở các huyện thành, số người vẫn chưa đủ lệ, tôi rất muốn có thêm người nữa để giúp vào việc khuân vác mà đi cho được trang trọng". Tôi đáp rằng : "Những gói bọc lương tiền cũng nhẹ, hà tất phải để tâm nghĩ ngợi". Sáng ngày 23 chúng tôi đi về cầu Kim Lan Mạn, tất cả đều đi xuống cái đền thờ ở bờ biển, đứng xa xa mà bái vọng. Viên quan nọ bảo tôi rằng : "Vị thần này ở Nghệ An linh thiêng vào bậc nhất, tôi từ xa đến chưa tường sự tích". Tôi đáp : "Năm xưa tôi từng qua chốn này, có hỏi cố lăo, lời truyền tụng quả đà sai lạc. Xét sử nhà Tống, người nước Kim dùng chiến thuyền đánh phá. Quân thua, Trương Thế Kiệt mang Bính Đế chạy ra biển gặp sóng gió, vua tôi đều bị chết đuối. Hoàng hậu cùng hai con bám được vào đồ vật mà nổi trên mặt nước, trôi dạt vào bờ, nơi có thôn xóm. Người trong làng trông thấy, liều ḿnh cứu thoát. Sau người ấy có tư tâm, Hoàng hậu nghiêm nghị cự tuyệt. Người ấy xấu hổ nhảy xuống nước mà chết. Hoàng hậu than rằng : "Ta nhờ người này mà sống, người này v́ ta mà chết. Có lẽ nào ta tham sống lấy một ḿnh".Rôi bà đâm đầu xuống biển mà tự ải. Hai người con gái quá bi thương cũng nhảy theo xuống biển. Sau này bà hiển linh, người miền duyên hải tôn làm thần mà thờ phụng, đến nay hương khói vẫn c̣n. Tôi nhân ngâm một đối liên :

    Cơ đồ nhà Tống ngh́n thu hận
    Vũ trụ trời Nam tứ quư xuân

    Đại Tống cơ đồ thiên cổ hận
    Nam thiên vũ trụ tứ thời xuân.


    Ngâm xong, mọi người cứ phải đi quanh co măi, rồi đến khe Lănh Thủy (nơi đây là phân giới Thanh Hóa và Nghệ An) th́ thấy một nhóm người đứngbên đường, hướng về tôi mà vái chào. Đó là mấy người ở ấp gần đó, từ kinh đô trở về. Tôi cũng dừng cáng đáp lễ. Một lát sau họ mới ra đi. Khi này t́nh quê nỗi khách dào dạt, tôi ứng khẩu đọc một bài thơ để tả tâm trạng :

    Hoan Ái phân cương địa
    Quần sơn hỗ tống nghênh
    Tiều ca văn lộ xuất
    Điểu ngữ cốc phong sinh
    Phục thạch đương đồ lập
    Dao thiên đoạn bích hoành
    Hành nhân thuyết hương tứ
    Duy ngă thượng thần kinh.

    Hoan Ái chia đôi vực
    Nghênh tống núi bên đường
    Tiều hát trong mây ngút
    Chim ca đáy cốc vang
    Trời xanh màu loé rạng
    Lối nghẽn đá nằm ngang
    Ai kể t́nh nhà đó ?
    Về kinh trải dặm trường.


    Ngày hôm ấy khí xuân ấm áp, đường đi thảnh thơi, chiều đến chợ Thổ Sơn đỗ lại ngủ trọ; trong chợ có đồn binh (trấn Thanh Hóa có một cánh quân tuần pḥng ở đây) binh khí khá nhiều. Họ ngăn bọn tôi lại mà xét hỏi.Đến khi biết là phụng mạng mà đi th́ họ xúm lại xin lỗi rồi lui ra. Ngày hai mươi bốn lên đường thật sớm. Mây đen khắp trời, suơng khói che đất;gió rét căm căm, mặc áo ấm dầy cũng thấm lạnh. Đi mấy giờ nữa th́ đến bờ biển Hào Môn, trông ra chỉ thấy vạn khoảnh nước sóng mênh mông không bờ bến.
    Nhớ xưa Tần Hoàng, Vũ Đế hao tổn tâm tư về chuyện "Tiên thạch vân nang", rốt cuộc nửa bóng Bồng Lai cũng chẳng được trông thấy. Điều đó chẳng là lầm lạc lắm ru ? Người xưa rơ ràng đă lo lắng cho rằng kẻ làm quan lặn lội trong bể hoạn, phải gánh chịu cái nguy cơ nổi ch́m. Mắt trông ra xa chỉ thấy khói sóng mịt mù, miệng ứng đọc một bài thơ như sau :

    Hải ngạn kinh hành khách
    Thương mang vạn lư thu
    Ba đào chấn ngao cực
    Vân vụ khởi thiên thu
    Dục nhặt thiên trùng lăng
    Tùy phong nhất diệp chu
    Cổ nhân ta hoạn hải
    Thâm ư tại trầm phù.

    Trông biển ḷng ai sợ
    Khí thu tỏa khắp miền
    Ba đào xua cá vực
    Vân vụ mấy tầng thiên
    Trời tắm ngàn trùng sóng
    Gió đưa một lá thuyền
    Hoạn đồ người thuở trước
    Thăng giáng ư lo phiền.


    Hôm ấy quan văn thư sai trấn binh chọn lấy ba chiếc thuyền mành để qua cửa Cự Nham (tên xă) là chỗ cửa biển, rồi lên bờ đến chợ Hàng Cơm mà tạm trú. Ngày 25 noi đường thượng đạo mà đi (đường hạ đạo qua Thần Phù), qua vài nơi có tôn lăng đều rời cáng đi bộ. Chiều t́m đến chợ trú ngụ. Ngày 26 dậy đi sớm, sau giờ ngọ đ̣ qua bến Đài Sước, đến chợ huyện nghỉ ngơi ăn cơm trưa. Bỗng thấy một người khăn áo thầy tu, tay chống gậy trúc đang đi tới, phiêu nhiên có dáng xuất trần. Tôi lấy làm lạ hỏi người chủ quán, y đáp rằng :"Ông ấy vốn là sư trụ tŕ tại sơn tự, tinh thông nghề bói toán". Tôi sai duợc đồng mời sư đến nhà, phân ngôi chủ khách. Tôi nói : "Được biết ông am tường về Dịch lư, muốn hỏi một quẻ về tiền tŕnh được chăng ?". Nhà sư không chối từ, đáp ngay rằng :"Quan nhân năm nay bao nhiêu tuổi, muốn hỏi việc ǵ, nên thành tâm cầu xin, tự nhiên sẽ có linh nghiệm". Tôi liền nhất nhất nói rơ. Nhà sư suy nghĩ giây lát, rồi nói to lên rằng :"Đẹp thay ! Tốt thay ! Đúng là có việc phi thường rồi !". Tôi nói : "Người quân tử hỏi về điều dữ, chẳng hỏi chi về điều lành. Xin tiên sinh đừng có giấu giếm ǵ cả". Nhà sư đáp :"Tôi bói được quẻ Nguyên thủ, đó là cái tượng vua sáng tôi hiền, Chu tước ngậm thư rất vượng, Thanh long ở giữa, Bạch hổ ở cuối, Quư nhân gặp bản mệnh, Dịch mă ứng với hành niên, quả là ứng vào việc trưng triệu, ba lần truyền đều có nhật can thời chi Lục hợp. Cá nước vui duyên, giao long gặp mưa. Đó là cái triệu toàn cát toàn mỹ. Tuy nhiên cái điều phải lo ngại là Bạch hổ nhập tù, đến Kinh sẽ mắc bệnh". Tôi nghe nói thầm nghĩ rằng : Người này học thuật tinh vi, h́nh mạo nham cổ, ắt có cái hiểu biết hơn người, chỉ tiếc là khi gặp được th́ đă muộn, làm sao t́m biết được hết cái văn kiến súc tích của người ta. Tôi đem đầu đuôi việc ḿnh nói thật cả ra, lại bảo rằng :"Tôi ở nơi cùng sơn tuyệt lĩnh, mây đầu non trăng mặt biển, một thú u nhàn mến tiếc chẳng rời, không biết khi nào mới được quay trở về đánh bạn cùng lũ hươu nai, chuyện tṛ mỗi chiều tà với bọn ngư tiều".Nhà sư nghe nói vậy th́ than thở măi mà rằng :"Đồ cao lương làm cho phủ tạng con người ta phải đam mê; sao những kẻ khác đều mê cả mà riêng ngài lại tỉnh sao ? Duy quẻ này ứng vào việc chủ khách cát vượng, trên dưới sinh hợp, nên ngày trở về của quan nhân chưa thể biết được". Tôi nghe nói than dài mấy tiếng, sai dược đồng mang lại một món tiền lớn để hậu tạ. Nhà sư nhất mực từ chối mà rằng : "Trong chuyến đi này của quan nhân, bần đạo chỉ nguyện được uống mấy chén kinh tửu là đủ rồi". Tôi sai kẻ tùy tùng đến quán rưọu mua một chén thật ngon. Ông ta vui vẻ hai tay đón nhận, chẳng hỏi đồ nhắm, đổ rượu đầy một bát, há mồm như rồng hút sóng, nuốt một hơi hết sạch, nhổ một băi nưóc bọt dưới chỗ ngồi, khen ngon, đoạn chắp tay vái chào mà từ biệt.

    ============================================

    1. U trai : nhà ở sạch sẽ và tĩnh mịch để học hay để tu luyện.

    2. Tương phi : Nga Hoàng và Nữ Anh là hai bà phi của vua Ngu Thuấn. Sau khi vua Thuấn băng, hai bà ở đất Thương Ngô, rồi đến sông Tương, khóc lóc thảm thiết, gieo ḿnh chết.

    3. Hương Sơn : tên huyện thuộc tỉnh Nghệ An ở phía nam sông Cả, tức là sông Lam Giang (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh).

    4. Nguyên văn : vương mệnh bất sĩ giá. Ư nói mệnh của Chúa phải thi hành cấp tốc như ngựa không kịp thắng yên.

    5. Quan Chính Đường : Chỉ Huy quận công Hoàng Đ́nh Bảo, trước tên là Đăng Bảo, sau đổi là Tố Lư, lại đổi là Đ́nh Bảo; người xă Phụng Công, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay; cháu của Hoàng Ngũ Phúc, đậu hương tiến, lại đậu tạo sĩ, lấy con gái chúa Trịnh Doanh. Năm 1777, làm trấn thủ Nghệ An; năm 1778, được Trịnh Sâm cho coi việc phủ chúa và lĩnh chức trấn thủ Sơn Nam. Sau khi Trịnh Sâm mất, giữ chức phụ chính, sau bị quân Tam Phủ nổi loạn giết chết (loạn Kiêu Binh).

    6. Đông cung thế tử : tức Trịnh Cán, con Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ.

    7. Lợi hại : điều lợi và điều hại. Nghĩa bóng : quan hệ, ghê gớm.

    8. Tam công : ba chức quan lớn trong triều đ́nh, tức Thái sư, Thái phó và Thái bảo.

    9. Cơ công : chỉ Cơ Đán tức là Chu Công, chú vua Thành Vương nhà Chu, có công dẹp loạn miền đông nam, trở về cải định quan chế, sáng chê lễ pháp; sau lại đóng đô ở Lạc Ấp, gọi là Đông Đô.

    10. Hiên Kỳ : Hiên Viên hoàng đế và Kỳ Bá, hai người có công trong y học thời cổ.

    11. Đạo đồ : học tṛ theo học thuốc.

    12. Đồ thư : tranh và sách. - Gươm đàn : thanh gươm và cây đàn, đồ dùng của người học tṛ xưa.

    13. Vĩnh Dinh : một địa điểm ở vùng Vinh.

    14. Bạt thiệp : đi trên cỏ và lội trong nước, có nghĩa lặn lội khó nhọc.

    15. Cấm Giang : sông ở vào hai huyện Hưng Nguyên và Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

    16. Thiết Cảng : có nghĩa cửa Sắt ở đông bắc huyện Hưng Nguyên và phía nam huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An.

    17. Chân độn : việc ẩn náu được tiến hành đúng mức và đúng ư nghĩa của nó.

    18. Dưỡng chân : nuôi dưỡng cái tính thành rất mực.

    19. Ba sinh : do chữ Hán tam sinh có nghĩa là ba lần sinh ra ở đời để trả cho hết duyên nợ (duyên nợ ba sinh).

    20. Đông Lũy : tên làng thuộc huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An.

    21. Vị khí : cái khí trong dạ dầy.

    22. Hoàng Mai : tên xă thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

    23. Long Sơn : tên núi ở làng Nhân Sơn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

    24. Giờ ngọ : khoảng thời gian từ 12 giờ đến hết 14 giờ ngày nay.

    25. Theo Trung Quốc Sử Lược của Phan Khoang th́ vua cuối cùng nhà Tống dời ra ở đảo Nhai Sơn (Quảng Đông), có đại tướng Trương Thế Kiệt, tể tướng Lục Tú Phu pḥ trợ. Quân Nguyên đánh Nhai Sơn, Tú Phu cơng vua nhảy xuống bể tự tử (1279). Thế Kiệt đi đường thủy qua Việt Nam mưu sự khôi phục, đi đường gặp băo, thuyền ch́m mà chết.

    26. Khe Lănh Thủy, ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, về phía bắc. Khe từ trong núi chảy ra, nước lạnh ghê người, nên gọi là thế.

    27. Hoan Ái : Nghệ An và Thanh Hóa.

    28. Hỗ tống nghênh : thay đổi nhau mà tiễn đưa và nghênh đón (nói về h́nh trạng núi non).

    29. Tiên thạch vân nang : sự tích Tần Thủy Hoàng muốn xây một cái cầu bằng đá ngoài biển để tiện đường đi về phương đông. Một đạo gia học được phép đưa đá ra biển, lấy roi đánh vào những ḥn đá, đá cũng phọt máu, rồi dùng bao bỏ đá mà quẩy đi.

    30. Thần Phù : tên cửa biển cũ ở chỗ giáp giới tỉnh Ninh B́nh và tỉnh Thanh Hóa (địa hạt huyện Yên Mô và huyện Nga Sơn). Cuối đời Lê, cửa ấy bị çát bồi lấp hết. Nay ờ huyện Yên Mô có một cái tổng tên là Thần Phù.

    31. Đài Sước : tên đèo. Nghĩa đen, đèo kinh hoàng.

    32. Nguyên thủ : vua một nước. Ngày nay bất luận quân chủ, dân chủ, người nào làm thủ lănh toàn quốc đều gọi là nguyên thủ.

    33. Chu tước, Bạch hổ : hai trong sáu vị thần thuộc Hắc đạo trong tháng. Ở phương nào và ngày nào những vị thần ấy xuất hiện, người ta kiêng việc làm đất cát, nhà cửa, dời chỗ ở, đi xa, làm giá thú, xuất quân.

    34. Thanh long : một trong sáu vị thần thuộc Hoàng đạo. Sáu vị thần ấy là Thanh long, Minh đường, Kim quỹ, Thiên đức, Ngọc đường, Tư mệnh. Ngày nào trong tháng gặp vị thần ấy th́ nên làm mọi việc, tránh được các điều hung ác.

    35. Quư nhân tức là Thiên ất Quư nhân, chia ra Dương quư và Âm quư; thần này có được sự ḥa b́nh của âm dương phối hợp, nên khiến người gặp những điều tốt đẹp.

    36. Dịch mă : vị thần ảnh hưởng thích hợp cho việc phong tặng quan tước, đi xa, dời chỗ ở, v..v..

    37. Lục hợp : tên thần lúc nhật nguyệt nhập hội (nhật nguyệt hợp tú chi thời). Ngày có Lục hợp nên hội tân khách, kết hôn nhân, lập khế khoán, hợp giao dịch.

    38. Kinh tửu : rượu do người Kinh chế tạo.
           
    Last edited by Phi Yen; 08-19-2002, 07:59 AM.
    Kiếp sau xin chớ làm người
    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

    Comment


    • #3
      Dọn Nhà

      Lúc ấy tôi ở trong dinh quan Trung Kiên được hơn một tháng. Thân bằng đến thăm hỏi, ngày đêm văng lai nhộn nhịp, mà lính quan Chính Đường tra hỏi ngáng trở. Kẻ muốn và o phải có người nhận lănh mới được đi qua. Tôi nghĩ :"Ở trong dinh ra vào khó khăn. Vả lâu ngày, nào gạo nào củi, lại hơn mười người theo hầu, lấy đâu ra cho đủ chi dùng. Có lúc Quận hầu hỏi ḿnh người theo hầu nhiều hay ít, quan Chính Đường muốn cho lẫm cấp, ḿnh chẳng sa vào dàm khóa của nguời, bền ḷng từ chối, nên được miễn. Nay phải t́m ở chỗ khác ngoài dinh, tiện cho khách và bạn lui tới, rồi phát thuốc để cung nhật dụng". Sau khi toan tính ổn thỏa, tôi nói với Quận hầu rằng :"Tôi lưu lạc giang hồ đă hơn ba mươi năm, một sớm đến kinh, thân bằng xa cách nhớ nhung cũng là thường t́nh, ngày đêm lui tới thành ra có sự đẳng đăi, nay xin được ngụ tại ngoài cửa dinh, cậy Quận hầu bẩm với đại nhân để tôi được tiện khu xử". Lúc đầu ông không thuận cho dời xa. Tôi nài xin mấy lần mới hứa cho. Tôi sai người ḍ hỏi một nơi trong quân dinh đội Kinh Hữu. Người chủ tên là Biện Đồng. Anh này nửa đời rồi mà chưa có con, nghe vậy cho việc gặp gỡ này là bởi trời, thân hành đến mời mọc. Tôi sai người chuyển vận đồ đạc đến ngụ tại nhà y. Vợ chồng y hoan hỉ và trọng đăi tôi vô cùng. Từ dinh quan Chính Đường đến nơi này ước vài ba cung đường. Cứ ba hoặc năm ngày một lần, Quận hầu đến chuyện tṛ với tôi, t́nh thân ái bất tất nói nữa.
      Hăy nói chuyện tôi ở kinh chưa được nửa tháng mà từ quan viên, binh lính đến người trong phố phường, phần đông đều biết tôi cả; hoặc đă xin thuốc, hoặc đă xin chẩn bệ nh, cho đơn, ngày đêm vô cùng huyên náo. Tôi nghĩ thầm :"Lúc mới những nghĩ kiếm sao cho đủ nhật dụng, chẳng ngờ nay kiếm được gấp bội. Tuy nhiên ḿnh đi chuyến này không để tâm ǵ đến phú quư mà lại cầu lợi ư ?". Tôi muốn dời chỗ ở nhưng chưa t́m được nơi nào. Lúc ấy có quan Quản Thị Nội Tả Cơ là Hàm Xuyên Hầu, thuở nhỏ theo cử nghiệp đă từng theo trường học ở quận, sau ông theo cha đi đánh giặc có công nên mới tiến thủ trên đường vơ bị. Nhưng nhất sinh ông hay đau ốm, nhiều lần đến xin chữa bệnh. Ông thấy tôi thường khi không trị bệnh mà bệnh lại khỏi th́ cho là thần dị, mỗi khi có bệnh nguy kịch th́ cũng nhờ tôi chữa chạy cho. Ông xin nhập môn học tôi nghề thuốc. Tôi thấy ông là nguời chân thành nên nhận lời. Ông biết tôi không muốn ở nơi ồn ào, tức th́ lẳng lặng sửa sang một sở dinh cũ ở cạnh hồ gần bản dinh; từ nhà ngoài, nhà khách, nhà bếp đều tĩnh mịch. Rồi ông đến mời tôi lại ở. Tôi mừng quá liền dời chỗ trọ. Hai vợ chồng tên Biện Đồng không bằng ḷng như vậy. Chỗ ở mới này cùng với dăy nhà phía sau của Biện Đồng cách nhau vài ba trăm bước. Tôi cho đục tường mở một cửa nhỏ, sớm tối ân cần tiếp xúc với nhau.

      Kể từ lúc di ngụ tới đây ḷng tôi mới được thư thái. Một đêm kia trăng sáng như ban ngày, ngồi tựa câu lan tôi thầm nghĩ : Đến kinh đă hơn hai ba tháng rồi, làng cũ ch ưa về thăm được, cũng chưa từng rời bước đi đâu được. Tính đốt ngón tay trải ba mư ơi năm rồi, những tưởng không bước vào cái cuộc danh dàm lợi khóa, ngày nay phải cam làm cái anh Sở tù chăng ? Nghĩ ngợi một hồi, bỗng than dài một tiếng, sai tiểu đồng pha trà uống một ḿnh rồi đi nằm. Tôi chợt nghe từ bờ hồ bên kia nổi lên một tiếng trong trẻo, véo von, trong như ve sầu uống hạt móc, dứt dứt nối nối, trắng như hạt móc kết thành sương. Tôi hốt hoảng trở dậy, ra trước sân nghe ngóng, mới biết là ở tây dinh có người thổi sáo. Khi này mối sầu mới gợi thêm mối sầu cũ, nhân ngâm một bài thơ ngắn tả nỗi ḷng :

      Ngọc địch thanh du du
      Thanh tiêu hứng chuyển u
      Suy lai thiên lư nguyệt
      Tán tác măn thành thu
      Lạc cực thùy gia thú
      T́nh đa lữ khách sầu
      Tiêu tiêu thiên lại phát
      Cấm cố xuất tiều phu

      Sáo ngọc thanh nghe vẳng
      Đêm trong hứng ngẫu nhiên
      Thổi về ngàn dặm nguyệt
      Tan nhập khắp thành môn
      Vui ấy ai người hưởng
      T́nh này lữ khách buồn
      Sáo trời dào dạt thổi
      Trống điểm cấm cung đồn.


      Ngâm xong, tôi tản bộ trước thềm, đêm khuya mới đi nằm, chiêm bao thấy ḿnh ở quê nhà trong núi, măi đến khi mặt trời chiếu ngang cửa sổ vẫn chưa trở dậy. Đứa tiểu đồng vội vă chạy lại lay tỉnh, nói rằng Quận hầu chờ đợi ở ngoài cửa đă lâu rồi. Tôi hoảng hốt ra nghênh tiếp, mời vào trong nhà cùng ngồi. Quận hầu nói :"Trước đây vài ba gian quân pḥng chật hẹp, cửa trông thẳng ra ngă tư, náo nhiệt khó chịu, nay đư ợc chốn này thanh nhàn xứng đáng cho cao nhân tĩnh dưỡng". Tôi thưa :"Cũng là nhờ chủ nhân đây có ḷng hậu đăi vậy". Lúc ấy Hàm xuyên hầu thấy Quận hầu đến, cũng tới nơi hầu chuyện. Tô đưa bài thơ Đêm nghe tiếng sáo ra để hai ông b́nh luận th́ đều khen ngợi cả. Quận hầu nói :"câu cực lạc có do mối cảm kích mà ra chăng ?". Tôi thưa rằng :"Có". Hàm xuyên hầu nói :"Thái hết th́ đến bĩ, suy tán lắm cũng do thịnh măn nhiều; cho nên thánh nhân mới giảm cái dư trợ cái thiếu, chính là nói điều ấy vậy". Tṛ chuyện nửa giờ rồi, hai ông mới ra về. Sáng ngày hôm sau, dịch mục của Quận hầu đưa đến năm người trai tráng, áo khăn chỉnh bị. Tôi thấy thế ngờ rằng có việc ǵ phải đi xa. Người dịch mục nói :"Quan lớn tôi thấy chỗ ở mới của lăo sư rất vắng vẻ, vả lại nơi này có lắm bọn đào tường khoét vách, sợ có điều tai hại xảy ra, mới bẩm với đại quan truyền lấy năm tên lính ở tiền quân thuộc bản dinh cho chúng phục dịch ban ngày, canh gác ban đêm". Tôi bảo rằng :"Thân tôi được nhờ tôn hầu có ḷng tốt chu toàn, ơn ấy ghi tạc không quên. C̣n việc này ông hăy v́ ta hết lời từ tạ". Người dịch mục không nghe, cho bọn lính cư ngụ tại nhà ngoài. Nguyên lai mỗi lần tôi đi đâu đều phải mượn lính hầu của Quận hầu. Những quan viên qua lại cầu thuốc cũng cấp cho tôi lính để sai khiến, được bảy, tám người :

      Thị Nội tả quân ------------2 người
      Nhương Trung quân------1 người
      Trung Kinh quân-----------1 người
      Hậu Dũng quân -----------1 người
      Tiền Hùng quân -----------1 người

      Phần đông bọn chúng đều lười biếng,chỉ có năm tên lính Tiền Dũng là biết sợ pháp luật, công việc sai khiến đều được vừa ư. Như thế cũng đủ rồi; tôi cảm tạ các quan viên và cho bọn lính kia trở về, chỉ giữ lại một tên của Tiền Ninh, một tên của Trung Kinh, năm tên của Tiền Dũng, phát lương cho chúng và cho chúng ở nhà bếp phục dịch.

      ==============================================

      1. Cung đường : một thôi đường đi chừng hết nửa ngày.

      2. Hàm Xuyên Hầu : tức Đinh Nhạ Hành, bỏ chúa Yến Đô, pḥ vua Lê, được làm quản Binh hiệu thị trung, từng vâng lệnh vua đem quân xuống Sơn Nam hạ chống quân Tây Sơn (Vũ Văn Nhậm). Cuối đời Chiêu Thống, Nhạ Hành làm đến Chẩn khấu Đại tướng quân, tước Hàm quận công. Năm Kỷ Dậu 1789, Nhạ Hành đem gia quyến theo vua chạy sang Tàu.

      3. Sở tù : tù binh do nước Sở bắt được. Sau dùng để chỉ kẻ ở trong t́nh trạng quẫn bách mà không có kế ǵ để mưu thoát.

      4. Dịch mục : kẻ đứng đầu mọi việc sai phái trong dinh.

      5. Tôn hầu : tiếng tôn xưng người có quan tước.
                       
      Last edited by Phi Yen; 08-14-2002, 12:52 PM.
      Kiếp sau xin chớ làm người
      Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

      Comment


      • #4
        Gặp Bạn Cũ

        Hăy nói người vợ Quận hầu bị bệnh, cho t́m tôi vào chẩn bệnh, Tôi được biết bà mang thai con trai đă ba tháng, tôi cho uống vài ba thang thuốc, thế là yên. Sau này tất cả nhà quan Chính Đường đều đến cầu chữa thuốc, trong số này có quan trấn Quảng Yên vốn cùng tôi có t́nh nghĩa sâu đậm; bà mẹ và và cô em ông ta mà bị đau bệnh ǵ th́ tôi hết ḷng đ́ều trị, cả nhà đều được yên lành. Cả đến Tiền Ninh, Hậu Dũng, Nhương Trung cũng qua lại, lấy làm hợp ư nhau lắm, được như vậy phần lớn nhờ việc thuốc men, đó là chuyện thường.
        Một ngày kia tôi hỏi Quận hầu rằng :"Ngày nào th́ tôi được trờ về ?". Quận hầu đáp :"Sắp có cơ đó". Tôi lại hỏi :"Trước kia tôi đă đệ tŕnh hai bài thơ, không biết tôn ư có thuơng cho không ?". Quận hầu nói rằng :"Cha tôi đọc đi đọc lại mấy lần, khen ngợi măi không thôi. Cha tôi bảo rằng ư ông một mực chẳng muốn lỗi ước với rừng núi vậy. Cái t́nh ấy chẳng nên cưỡng ép, để rồi ta liệu mưu đồ cho !". Tôi nghe lời nói đó, chẳng khác chi được của báu, ḷng vui mừng xiết kể. Tôi sai pha trà cùng Quận hầu đối ẩm. Bỗng thấy một người áo mũ hẳn hoi, đứng ở cạnh tôi, dương mắt nh́n. Quận hầu cả cười lấy tay trỏ người nọ, lại lấy tay trỏ tôi, rồi lại lấy tay trỏ lên mồm. Người nọ lấy tay trỏ tôi, lại đưa tay sờ lên trán, rồi hai tay đập phành phạch như chim bay, hai tay nhún nhẩy như ngựa chạy. Tôi sợ hăi mà rằng :" Sao ngườinày chẳng khác ǵ kẻ si kẻ ngốc là cớ ǵ vậy ?".

        Quận hầu nói rằng :"Hắn là người vừa điếc vừa câm, sấm vang chẳng nghe thấy, nửa tiếng cũng chẳng nói được, lại không biết chữ, không biết sao hắn lại có lệnh triệu mang đến đây". Tôi nói :"Tay chân hắn đều vùng vẫy, là cớ ǵ ?". Quận hầu đáp :"Hắn vạch trên trán là nói nhà vua đó, trỏ tay vào miệng là có chỉ triệu đó, tay vẫy là lại, chân nhảy là đi đó". Tôi nghe vậy th́ cũng cả cười. Lúc đó có viên tri huyện cũ huyện Cẩm Giang cũng ngồi đó. Quận hầu bảo tôi làm một bài thơ, và bảo viên tri huyện cùng vịnh để ghi lấy cái sự lạ lùng kể trên. Lúc đó ḷng tôi hân hoan, không nghĩ ngợi t́m ṭi ǵ. Thơ rằng :

        Tạo vật dữ nhân phú dĩ tuyền
        Như hà thử bối đắc kỳ thiên
        Khả đồng Dự Nhuợng trung quân nhật
        Hà dị Hàn hầu dẫn thọ niên
        Vạn lư lôi đ́nh tâm tự nhược
        Bách ban thế sự ư nhưng nhiên
        Thử sinh nhất mục vô dư sự
        Thủ chỉ hi truyền bí chỉ tuyên

        Tạo vật sinh người vốn vẹn tuyền
        Anh này tính khí cớ sao thiên ?
        Khác chi Dự Nhượng toàn trung tiết
        Cũng tựa Hàn hầu chúc thọ niên
        Vạn dặm lôi đ́nh chi đáng kể
        Trăm chiều thế sự cũng không sờn
        Mắt coi mọi việc không vương vấn
        Tay chỉ đầu nghiêng mỗi lệnh truyền !


        Viên tri huyện Cẩm Giang đọc thơ, nói :"Tài thơ của lăo sư mẫn tiệp, người ta không theo kịp; tôi không dám múa ŕu để mua cười". Quận hầu cũng mặc nhiên đồng ư, hai người chỉ khen ngợi mà thôi. Lát sau có đứa tiểu đồng của tôi tới nói sẽ với tôi là có một ông đến chỗ tôi trọ, đầy tớ theo hầu hơn mười người, ông ta nói là có quan tri phủ chờ đợi đă lâu. Tôi xin cáo từ mà về. Mới gặp tưởng là người lạ, lâu lâu nhận ra là người cũ, kéo nhau vào nhà cùng ngồi. Chúng tôi kể lể với nhau cái tâm t́nh xa cách. Người đó nói là đă từ lâu bị bệnh, muốn xin thuốc thang cứu chữa. Tôi hỏi tường tận căn bệnh, hứa cho mấy tễ thuốc. Tôi nói rằng:"Bệnh t́nh c̣n rắc rối, hăy thử dùng vài ba tễ, sau xem sai giàm ra sao đă, rồi mới t́m phương bồi bổ". Cười nói măi tới lúc trời sắp tối, ông ấy mới ra về.
        Nguyên ông ấy là người họ vợ tôi, tôi gọi bằng cậu, ở Hoài An, Nguyễn xă, giữ chức tri phủ Tiên Hưng. Thường nhật chúng tôi kính yêu nhau lắm. Hôm sau, ông sai người nhà đến trao cho tôi một bài thơ ngắn và nói là thuốc tễ đă dùng hết; các chứng bệnh giảm bớt đến tám, chín phần, chỉ có ăn uống là chưa được, và c̣n xin thêm thuốc dùng. Tôi chế cho thuốc cao và thuốc hoàn. Thơ như sau :

        Tam thập niên tiền hữu cố tri
        Âm dung vạn lư cửu hà tư
        Vương kỳ kim nhật thanh danh trọng
        Hạnh đắc lương phương thọ lăo quy

        Ba mươi năm gắn bó từ xưa
        Vạn dặm âm dung những tưởng mơ
        Danh tiếng kinh kỳ nay đă khắp
        Lương phương thọ lăo để người nhờ


        Ngày kia có hai tên lính đến chỗ tôi ngụ, đứng ở nhà ngoài, hỏi những lính hầu của tôi rằng :"Nghe nói có thày thuốc ở Nghệ An vâng chiếu đến kinh, không biết cư trú ở đâu ?". Tôi nghe hỏi vậy, gọi chúng lại hỏi :"Các ngươi thuộc cánh quân nào ? - Hỏi thày thuốc có việc ǵ ?". Chúng đáp :"Chúng tôi là Cẩm y vệ quân, vâng lệnh quan chúng tôi đi t́m thày thuốc ấy, chưa rơ về mục đích ǵ, hoặc xin thuốc, hoặc muốn biết chỗ trú ngụ, bọn tôi quả thật chẳng hiểu ǵ hơn". Tôi cười mà rằng:"Thày thuốc ấy là tôi đây, chẳng biết vị quan ấy cho tin đă bao ngày rồi ?". Đáp :"Đă năm ngày rồi ". Tôi bảo :"Các ông hăy trở về báo tin là thày thuốc ấy mời quan lớn lại đây ngay". Chúng được tin tức rồi th́ ra về.
        Nguyên viên quan ấy cùng tôi lúc thiếu thời là bạn tâm giao. Tôi xa cách ông ta đă ba mươi năm mà chưa được gặp lại. Lúc tôi đến kinh đă sai người ḍ hỏi, nhưng v́ ông ấy có công vụ ở nơi khác, nên chưa kịp báo cho biết tin về tôi. Bởi vậy khi ông ta trở về kinh, biết tôi cũng ở đây, mới cho t́m hỏi tôi khắp nơi. Lại nói chuyện bọn lính đi rồi, chẳng được bao lâu quả thấy viên quan ấy đến. Tôi ra cửa nghênh tiếp, cùng cầm tay dắt nhau vào nhà. Ông ấy hơn tôi một tuổi. Tuy đầu tóc đă một nửa bạc, răng đă rụng hết, nhưng thần khí c̣n tráng kiện. Trong lúc ngồi với nhau, chúng tôi kể nỗi hàn huyên, lúc vui lúc buồn, khỏi phải nói. Lại hỏi đến những việc cũ, th́ vật đổi sao dời, mười phần đến tám, chín. Người xưa có nói :"Người anh hùng trong lúc ly biệt không rỏ lệ". C̣n như kẻ khuất người c̣n (thân bằng) th́ biết làm sao được bây giờ ? - Trông nhau cầm lệ, chỉ những buồn thảm. Tôi đem những bài đề vịnh trong lúc đi đường và những bài xướng họa của khách khứa bạn bè ra để phê b́nh cứu xét, cốt để giải muộn. Đêm ấy, viên quan này nằm ngủ chung với tôi. Nửa vách đèn tàn và ba chén trà đặc, cùng nhau luận cổ đàm kim, gà gáy mới nhắm mắt. Trời vừa sáng, viên quan trở dậy và nói :"Quan quân của vệ tôi có lệ phải chực ở trong triều", rồi từ biệt ra đi. Buổi tối, viên quan ấy cho đem những thực phẩm ngon đến biếu kèm theo một lá thư. Tôi mở ra coi th́ thấy bài thơ họa nguyên vận bài thơ tôi soạn lúc về kinh :

        Bản lai sơ lăn bảo thiên chân
        Kỳ tập Hiên Kỳ nhiệm phú bần
        La bệ ích kiên Sào Phủ chí
        Chiếu thư sạ khuất Tử Lăng thân
        Lâm tuyền khẳng phụ lộc mi hữu
        Thành thị hà kham danh lợi nhân
        Thần hạ thốn đan vô khả nại
        Hành tàng phận nội ngưỡng minh quân

        Buông tuồng từ trước giữ thiên chân
        Chỉ tập Hiên Kỳ mặc phú bần
        Hoa cỏ thêm bền Sào Phủ chí
        Chiếu thư bỗng ép Tử Lăng thân
        Hươu nai rừng núi vui giai hứng
        D Danh lợi phồn hoa ngán thế nhân
        Tôi mọn tấc son khôn dăi tỏ
        Hành tàng giữ phận cậy minh quân


        Từ đó hoặc viên quan ấy đến chỗ tôi ngụ, hoặc tôi đến dinh ông ấy, thêm việc người nhà đưa biếu thực phẩm, ngày ngày qua lại, khỏi phải nói.
        Một ngày kia, vào sáng sớm, quân lính huyện Cẩm Giang mang nhiều nguời đi theo đến chỗ tôi ngụ thưa rằng : Có quan Hiến sứ Kinh bắc (người Hoan Châu là ông Huy Khiêm) nhân dịp trở lại kinh thành, nghe danh quư sư muốn đến yết kiến, sợ rằng quấy nhiễu nơi nhà trọ, trước hết giao cho kẻ hầu cùng ṭng nhân đến đón chờ, có soạn một bài cổ thi. Bài ấy do viên quan gởi đệ tŕnh như sau :

        Lương y đối lương tướng
        Dong dị khởi tu lai
        Di chúc cố cựu thỉnh
        Thử ư khởi tương sai
        Giang san hữu Chuyết ông
        Sài phi bất hư khai
        Hải thượng hữu Lăn ông
        Hạc giá dữ loan hài
        Lăn lai diệc Chuyết thỉnh
        Ẩm trác đô an bài

        Lương y với lương tướng
        Chưa dễ đến cùng nhau
        Đă nhắc t́nh cố cựu
        Ai ngờ ư ấy đâu
        Non sông có ông Vụng
        Cửa đóng đă từ lâu
        Hải thượng ông Lười đó
        Giày loan xe hạc chờ
        Lười qua do Vụng thỉnh
        Ẩm trác cũng nhiệm mầu


        Ông Cẩm Giang lại nói :"Vị quan ấy có lời thỉnh cầu, quư sư nghĩ t́nh đồng quận, đừng hẹp ḥi ǵ và đến với ông ta". Tôi đáp :"Đại quan vốn đồng quận, chỗ ở cũng chẳng xa; trước kia tôi vẫn mong được yết kiến,chỉ hiềm không duyên cớ. Nay đă được hạ cố, sao dám chẳng vâng mệnh !". Tôi mới cùng ông Cẩm Giang lên đường. Khi đến cổng ngoài thấy vị quan ấy chắp đứng ở trước sân nghênh tiếp. Tôi thấy vậy hoảng hốt xuống cáng, đến gần cúi ḿnh chào rồi vào nhà. Vị quan ngồi ghế chủ, tôi cùng ông Cẩm Giang ngồi phía tả và phía hữu. Vị quan nói :"Tôi có cố tật, chữa thuốc khắp nơi mà không khỏi bệnh. Tuy cùng lăo sư đồng quận, nghe danh lớn đă lâu, nhưng không duyên gặp gỡ. Ngờ đâu nay trời cho được dễ dàng gặp nhau. Há chẳng phải việc ẩm trác đều có tiền định sao ?". - Tôi thưa :"Kẻ ốm yếu ngu dại nơi quê mùa, biết sơ sài cái thuật nhỏ mọn, sao đương nổi lời quá khen ấy". Trong chốc lát, người nhà bếp dâng cơm, trẻ nhỏ bưng nước, thật là xa hoa trang trọng. Uống trà xong, vị quan xin được coi bệnh. Tôi thấy sáu đường mạch như tơ, hai đường mạch ở hai tay tựa như không có, tôi giật ḿnh thốt lên :"Tiếc thay ! Ngài khó mà hưởng được tuổi thọ". Tôi chỉ bằng mạch mà gọi bệnh, cũng may được phù hợp. Vị quan ấy than rằng :"Quả nhiên danh đồn không sai ! Giận rằng gặp nhau th́ đă muộn". Rồi ông xin đơn thuốc. Tôi nói rằng :"Cho đơn thuốc phải suy nghĩ cặn kẽ mới được ổn đáng. Nay ngồi đây vội vă sao nên, xin đến sáng mai sẽ đệ tŕnh". Ông Cẩm Giang nói rằng :"V́ thế khi tôi đến xin đơn thuốc, lăo sư chẩn bệnh, xem đi xét lại đôi ba lần mới cho thuốc; cẩn thận như thế sao mà chẳng linh nghiệm". Sau đó một lát quan Cai đạo Nam sơn là Đỗ hoàng giáp đi đến. Mọi người đứng dậy chào, mời ngồi cùng chiếu. Ông hoàng giáp họ Đỗ hỏi quan Hiến sứ rằng :"Đây là ông nào ?" - Quan Hiến sứ nói đùa rằng :"Người ở ẩn ở Hương sơn là ông này đó" - Ônghọ Đỗ cười rằng :"Có phải Hải Thượng Lăn Ông chăng ?" - Quan Hiến sứ đáp:"Chính phải đó". Đỗ hoàng giáp nói rằng :"Tôi nghe đại danh đă lâu mà chưa từng gặp mặt, nay nhà tôi bỗng mắc bệnh hiểm nghèo, muốn sai người lại đón, chỉn e lăo sư chẳng chiếu cố. Trong lúc phân vân may mắn được gặp gỡ, nay xin cho một bát thuốc để điều bổ". Tôi đáp :"Kẻ làm thuốc phải lo tính mệnh người, bổn phận là phải chịu khó nhọc, không từ nan điều ǵ, dám biếng nhác buông tuồng được sao !". Đỗ hoàng giáp mới kểbệnh từ đầu đến cuối. Tôi cho hai tễ thuốc thang và thuốc hoàn. Cẩm Giang công nói :"Cha tôi cũng khó ở đă lâu, vốn chẳng dám phiền nhiễu nhau, nay nhân chỗ ở của tôi ở bên tả (tả biên), mời lăo sư đến nhà, được như vậy, hân hạnh cho tôi chẳng ít".Thế rồi mọi người từ biệt nhau, tôi đi đến nhà ông Cẩm Giang. Thân sinh ông này là quan Tả Binh Sĩ Đoan, lúc này đă về trí sĩ, mà c̣n lưu lại kinh thành. Khi đă chẩn mạch, cho đơn rồi, th́ các công tử mời tôi đến nhà thủy tạ bên hồ, pha trà uống, cùngnhau nói chuyện. Đây là một cái hồ bằng phẳng, rộng ước chừng ngh́n mẫu. Qua lại thủy điểu giỡn làn sóng nhẹ; nhảy nhót du ngư tranh chiếc lárơi. Giữa hồ sóng cỏ trước gió dâng lên; bên hồ hoa sen thâu đêm vẫn nở.Trước hồ có đắp một con đê nhỏ h́nh bán nguyệt. Phía trong đê đều trồng sen trắng, cạnh đê những cổ thụ rủ bóng mắt, những hoa quư phô sắc xinh. Trước sân vài gốc mai già nghiêng ḿnh trên ghế đá; ngoài song mấy khóm trúc xanh tỏa bóng bên án thư. Hạc nội đứng co ro một ḿnh, ư chừng sợ khí trời lạnh lẽo; trăm hoa như đối thoại, mắt coi thấy sáng tươi. Nói chẳng hết được cái phong vị u nhàn. Lúc đó mọi người đ̣i làm thơ. Tôi nói :"Các ông xướng trước, tôi xin họa sau". Nhưng chẳng ai chịu mở đầu cả. Tôi mới cầm bút đề một tiểu luật như sau :

        Lăo tướng sùng lương cảnh
        Đ́nh đài hướng thủy biên
        Song minh đa đắc nguyệt
        Thu lăo thượng khai liên
        Diệp lạc du ngư dược
        Hoa tùng dă hạc miên
        Danh trà yêu khác ẩm
        Đàm tiếu xuất hương yên

        Lăo tướng ưa u nhă
        Đ́nh đài hướng nước mây
        Song thưa trăng chiếu sáng
        Lá rụng cá vùng nhẩy
        Hoa dày hạc ngủ say
        Cửa đóng đă từ lâu
        Trà ngon mời khách cạn
        Cười nói ngát hương bay


        Tôi đề xong, quan trí sĩ sai người mang thư đến cho ông xem xét. Ông nói rằng :"Thật thanh tân đáng yêu", rồi ông bảo đem dán lên vách. Ông Cẩm Giang cũng có lời thơ họa, có lời kê rằng :"Tiên sinh tuổi trọng đức cao, có thủ đoạn Hiên Kỳ, có thi tài Lư Đỗ, với thái độ nhă đạm, t́nh tứ cao dật, lâng lâng thành cao sĩ. Văn nhân tài tử đều mong được cùng người giao du. Tăng tôi làm quan một ấp xa, được gặp tiên sinh sau hết, may được người rủ t́nh cho linh đan, c̣n tặng giai cú. Mối t́nh thân thiết cao dày, ân đức ấy không quên. Kính cẩn thuật lời tạp nhạp để nối thơ".

        Chiêu yêu vân hạc lữ
        Nhàn thích thủy vân biên
        Hảo khách thùy thanh nhăn
        Trừng ba thưởng bạch liên
        Kỳ phương điều tích dạng
        Hảo cú khởi cao miên
        Nhă ấp xuân phong tọa
        Lung sinh ngũ sắc yên

        Mời mọc bạn vân hạc
        Nhởn nhơ thú nước mây
        Mắt xanh t́nh khách thỏa
        Sen trắng nước trong đây
        Thuốc lạ trừ tật dễ
        Câu thần ngủ giấc say
        Gió xuân ngồi cùng hưởng
        Năm sắc khói tuôn bay


        Chiều đến tôi từ biệt trở về nhà trọ. Các công tử tiễn đưa ra khỏi cổng, trèo kéo đùa giỡn, ư chưa muốn chia tay.

        ==================================================

        1. Thiên : thiên lệch, không đồng đều với kẻ khác.

        2. Dự Nhượng : người nước Tấn đời Chiến Quốc. Làm tôi Trí Bá. Sau Trí Bá bị Triệu Tương Tử diệt. Nhượng bôi đen ḿnh, lại nuốt than để thay đổi h́nh trạng, muốn giết Tương Tử, báo thù cho Trí Bá. Bị Tương Tử biết được, Dự Nhượng kêu rằng :"Tội tôi đáng chết, chỉ xin ngài cái áo để cho tôi đâm, dẫu chết cũng không hận ǵ". Tương Tử bằng ḷng, đưa áo cho Nhượng. Nhượng bạt kiếm, nhảy ba lần mà đâm vào áo, rồi tự đâm ḿnh mà chết.

        3. Hàn hầu : không rơ nghĩa. Đời Hán Cao Tổ, có Hàn Tín được phong Hoài âm hầu. Đời Xuân Thu, vua nước Hàn cũng gọi là Hàn hầu.

        4. Cẩm Giang : tên một huyện thuộc tỉnh Hải Dương.

        5. Tiên Hưng : tên một phủ thuộc tỉnh Hưng Yên, nay thuộc tỉnh Thái B́nh.

        6. Lương phương : bài thuốc hay.

        7. Hàn huyên : Lạnh ấm. Nói hai người xa cách nhau, trong khi được gặp lại, tṛ chuyện với nhau.

        8. Tử Lăng : chỉ Nghiêm Quang ở Đông Hán, mặc áo tơi đi cày ở núi Phú Xuân, cũng là một cao sĩ.

        9. Tức Phạm Nguyễn Du, tự Hiếu Đức, hiệu Dưỡng Hiên, trước tên là Phạm Huy Khiêm, người làng Đăng Điền, huyện Châu Thúc, Nghệ An. Ông nổi tiếng văn tài lúc thiếu thời, được tiến dẫn vào triều trước khi đi thi. Ông đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1779), năm Cảnh Hưng thứ 40, khi ôhg 40 tuổi. Làm quan Học sĩ ở viện Hàn Lâm và chép quốc sử. Lúc Tây Sơn tràn tới Nghệ An, ông đang giữ chức Đốc đồng tỉnh ấy. Theo sách Nghệ An Kư, ông lánh sang huyện Thanh Chương, chiêu mộ hương binh để chống lại Tây Sơn; sức không địch nổi, phẫn uất mà chết. Ông có viết sách Luận Ngữ Ngu Án, phú như Thạch Động Thi Văn Sao.

        10. Cai đạo : quan đứng đầu một trấn.

        11. Đỗ hoàng giáp : chưa rơ ông nghè họ Đỗ nào (hoàng gîáp là tiến sĩ đệ nhị giáp, cũng gọi tiến sĩ xuất thân).

        12. Sóng cỏ : Sóng mang theo cỏ.

        13. U nhàn : U nhă và an nhàn.

        14. Tiểu luật : một bài thơ nhỏ, soạn theo Đường luật. Đây là một bài ngũ ngôn luật thi.

        15. Vân hạc lữ : bạn với mây hạc, do câu Cô vân dă hạc, có nghĩa mây đơn hạc nội, chỉ người lánh đời ở ẩn.

        16. Thanh nhăn : mắt xanh. Đời Tấn, Nguyễn Tịch tiếp khách, gặp ai vừa ḷng ḿnh th́ mắt xanh, không vừa ḷng ḿnh th́ mắt trắng.
        Kiếp sau xin chớ làm người
        Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

        Comment


        • #5
          Đến Kinh Thành

                                                        Đến Kinh Thành
          Tôi bước xuống đ̣ mà đi. Đêm nay đến một cái điếm, trú tại đó. Quan văn thư đến tận điếm mà bảo tôi rằng :"Chuyến đi này can hệ dến việc công khẩn yếu. Bọn ta đi một ngày chẳng vượt quá năm mươi dặm đường. Trước kia được lệnh ngày mùng mười th́ đến Vĩnh Dinh, nay sắp hết nửa tháng rồi mà đường dài c̣n phải đi sáu, bảy ngày nữa. Nếu việc phải tấu tŕnh th́ sự đẳng đăi này thực đáng sợ, mong lăo sư đị nh đoạt, chọn những kẻ khoẻ mạnh cho đi theo, cứ ban ngày th́ đi, đêm khuya mới dừng để nghỉ, gấp đường mà tiến, bọn yếu đuối th́ cho ở lại sau." Tôi cười mà đáp rằng :"Quư huynh bất tất phải quá lo ! Tuy có chỉ truyền ngày mồng mười th́ đến nhà tôi, nhưng tôi bận chữa bệnh phương xa, đi t́m về đă mất mấy ngày, vả trong lúc đi đường c̣n gặp gió mưa cản trở. Như vậy tưởng rằng ngày nay dẫu mọc lông mọc cánh vị tất sẽ đến nơi đúng kỳ hạn được". Ông ta vừa cười vừa nói :"Cái thế tất phải như vậy". Tṛ chuyện uống trà xong, ai nấy về nhà trọ. Ngày 27 gà gáy đă vội khởi hành. Bên đường đi núi non đứng sững, bao bọc lấy nhau, khói mây mịt mù che khắp mặt đất. Hươu nai nghe bước chân đi th́ vội chạy tán loạn; chim chóc nghe tiếng người nói bay vút lên đầu non (hiệu Ba Dội). Ánh hồng ban mai mới dâng cao, màn sương đêm giá tan chừng nửa. Bọn hành nhân áo quần ướt át phải dừng bước nghỉ ngơi trên núi, trong một cái quán bỏ không. Chúng đốt lửa, hơ áo, ngồi sưởi cho ấm. Tôi sai người lau sạch cái thạch bàn, tựa lưng vào một cành cổ thụ bên thạch bàn ấy. Dược đồng pha trà, sửa soạn bữa ăn sáng. Tôi cho mời quan văn thư đến, cùng nhau uống rượu. Trèo lên cao mà trông ra xa, mới cảm thấy cái thú vị man mác là dường nào. Tôi đọc mấy câu thơ của cổ nhân để giải phiền trong ḷng, bất giác thốt lên rằng :
          Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại ?
          Tuyết ủng Lam quan mă bất tiền

          Tần Lĩnh mây nhà che khuất bóng
          Lam quan tuyết phủ ngựa chồn chân



          Ngâm xong dường như quá bị xúc cảm, tôi thẫn thờ chẳng nói năng ǵ. Quan văn thư thấy tôi buồn bă hiện ra sắc mặt th́ cười mà rằng :"Trăm khóm hoa cỏ, một khoảnh càn khôn, dường có cái phong vị của Hương Sơn. Lăo sư xúc cảnh sinh t́nh, có vẻ không vui". Ông ta lại tiếp :"Lăo sư lầm rồi ! Kẻ sĩ quân tử có hai đường : xuất và xử. Xử (đi ở ẩn) th́ giữ đạo làm vui; xuất (ra làm quan) th́ đem dùng đạo giúp đời. Lăo sư che giấu tung tích chốn núi sâu, một sớm cửu trùng biết tên, đại thần trọng đăi, thực là cuộc gặp gỡ lạ kỳ, ngàn năm mới có, cớ ǵ lại thế !". Tôi cười, đáp rằng :"Quan lớn khen quá lời, khiến người phải hổ thẹn. Người xưa tài cao học rộng, uẩn súc kinh luân, xử th́ trau giồi vẻ quư, cất giấu đức sáng, xuất th́ pḥ vua giúp nước. C̣n như tôi học hành thô kém, tài hèn trí thiển, đối với đời thật là vô dụng; học được cái nghề mọn tùy thân đă là may mắn rồi, tưởng đâu một sớm đến được thế này, khác chi áo mặc không xứng đức, sao gọi là điều hạnh được !". Quan văn thư nói rằng :"Tôi từng được nghe quan tôi trong những lúc nhàn đàm, ư giả lăo sư muốn cao ẩn mà mượn cái danh là làm thuốc đó thôi". Tôi cười mà rằng :"Há lại có cái lư ấy sao ?". Quan văn thư lại tiếp :"Chí lăo sư như vàng đá, tôi chẳng dám dài lời, được biết lăo s ư ngâm vịnh rất nhiều, nguyện được nghe lời vàng, rồi tôi cũng xin nối điêu để dâng cười mà giải muộn được chăng ?". Tôi mừng rỡ mà rằng :"Kẻ ôm đàn khổ tâm v́ không bạn tri âm. Câu cao sơn lưu thủy hẳn ông đă biết rồi vậy". Tôi gọi tiểu đồng mang bút mực lại. Tôi đọc trước m ột bài như sau :

          Nhất bách lục phong lam vụ mê
          Nhân ṭng tam cấp thượng vân thê
          Yên hoàn trầm lục hoành thiên bắc
          Loa kế phù thanh phó hải tê
          Chử mính sương hoa khuynh phấn hăn
          Ngâm thi u điểu hướng nhân đề
          Mỗi phùng thắng cảnh vi thi lụy
          Khiến quyển thời dư thủy quá khê

          Tam cấp leo trèo đá với mây
          Núi trăm lẻ sáu khí suơng đầy
          Khói ngàn trầm lục dăng trời bắc
          Đá núi phù thanh khuất bể tây
          Nấu nước sương hoa ĺa phấn ră
          Nghe thơ chim núi hót ai hay
          Chẳng qua ngâm vịnh v́ yêu cảnh
          Bịn rịn giờ lâu suối lội chầy.


          Đề xong đưa bài thơ cho ông ta coi để họa vần. Ông xem đi xem lại đến bốn lần, rồi nói rằng :"Thơ của lăo sư giống như những bài Bạch Tuyết Dương Xuân khó mà họa được, xin để tôi ḅn nhặt trong khúc ruột khô trong mấy đêm nữa rồi mới dám bày cái xấu của ḿnh ra". R ồi cùng dắt tay nhau xuống núi mà đi. Ngày hôm ấy, chiều tối th́ đến chợ Vân Sàng trọ lại. Ngày 28 đến Khương Kiều đỗ lại. Ngày 30 trọ tại Thịnh Liệt Kiều. Quan văn thư bàn với tôi rằng :"Trong tờ khải có nói ngày mấy th́ tiếp chỉ truyền, ngày mấy khởi tŕnh, ngà y mấy th́ tới nơi, xin xem qua thể thức trong tờ khải để tiện đệ bẩm", rồi đư a tờ khải cho tôi coi, lại cười mà nói rằng :"Nhất nhất đều y theo sự định đoạt của lăo sư ở dọc đường; tuy nhiên, vào chiều ngày hôm sau, mọi người nên đến dinh quan Chính Đường xem có công việc ǵ không ?". Ước định xong xuôi, ai nấy về đi nghỉ. Sáng ngày hôm sau quan văn thư noi đường bên tả, đi đường tắt thôn Nhân Mục đến đường Hoàng Mai, theo Cầu Triền mà tiến vào thành. Lúc ấy có tên Thuần là học tṛ đi theo nói với tôi rằng :"Năm trước tôi có người bạn tâm giao, con một người Tàu, y tên là Sự, cư ngụ tại quê mẹ là Lai Trào Ngung tức là Hiến Nam Cung; nay y dời cư đến cửa tây Khương Đ́nh làm nghề thày thuốc. Tôi thấy y chân thành hiếu hữu, có cho y một bộ Tâm Lĩnh của thầy. Từ ngày đó y ngày đêm học tập, tay chẳng rời sách, học thuật ngày tiến bộ, trong kinh th ành nhiều người biết tiếng, Y thường than rằng : Vạn dặm xa xôi, chẳng thể đến chỗ cung tường, chỉ chiêm ngưỡng mà thôi, muốn đến Hư ơng Sơn bái yết, nhưng v́ c̣n mẹ già, chẳng thể bỏ đi xa. Y có thiết lập một sở tự để thờ sinh vị thày, sớm tối đè n nhang để báo đức. Ngờ đâu trời cũng chiều người, cho y được thân đến bái tiếp. Vả lại từ nhà y vào thành chỉ hơn vài dặm; đường đi vào thành so với đường Cầu Triền dài ngắn bằng nhau, tôi muốn đi trước báo cho y hay, chẳng biết có được không ?". Tôi thấy con người có nghĩa nên cũng ưng thuận. Tên Thuần được lệnh bèn đi trước. Tôi noi đường bên tả mà đi, vượt hơn vài dặm đă thấy y ra đón ở bên đường cái quan. Y thấy tôi th́ lấy làm mừng rỡ, mời vào nhà bái tạ, kể lể cái t́nh khao khát bấy lâu. Y mời lưu lại ngủ một tối, khoản đăi rất hậu. Tôi nói rằng :"Hà tất phải như thế ! Tôi cùng quan vệ tống (tức quan văn thư) đă ước hẹn ngày hôm nay th́ cùng gặp nhau ở dinh quan Chính Đường; việc này thật khẩn cấp. Trong lúc đi đường đă bị gió mưa cản trở, nay mới tới được đây, không thể chậm trễ được. Có điều tôi quen ở trong núi, nên đường đi lối lại trong đô thành đều quên mất cả, ông nên v́ tôi đi trước đưa đường". Uống trà xong, đứng dậy, tên Sự dẫn đạo, cùng đi theo cửa Vũ Quan,nhắm cửa thành mà vào. Tôi thấy một cái thổ thành không cao lắm, kề bên có một dăy tường nhỏ, trên mặt tuờng ngựa đi được; phía ngoài là hàng rào tre dày đặc, dưới hàng rào có hào sâu, trong hào thả chông, thật là mười phần kiên cố. Ba tầng vọng canh được thiết lập nơi đây, tầng nào cũng có quân lính đứng thành hàng hai bên, đao thương xán lạn, hào quang như tuyết. Lính giữ cửa thấy bọn tôi đi có mang binh khí, xét hỏi thật nghiêm ngặt, đến khi biết rơ đầu mối, lại nhận thấy dấu hiệu áo lính trấn đất Nghệ An, mới để cho đi. Chúng tôi tạm nghỉ ngơi. Nguyên tại đất này thuở nhỏ tôi tùng du học và trú ngụ. Tôi mới chống gậy, thủ bộ tứ phía, du ngoạn nơi đất cũ. Tuy hồ sơn vẫn như trước mà Phật điện, đ́nh đài, quan xá, quân cư nhất nhất không c̣n h́nh dạng thuở xưa. Người qua kẻ lại như nêm, ngựa xe rộn ràng, khiến ḷng cảm khái, nhân làm một bài thơ giăi ḷng :
          Lạc phách giang hồ tam thập niên
          Ngẫu tùy đan phượng nhập Trường Yên
          Y quan văn vật sinh trung thổ
          Lâu quán đ́nh đài tiếp viễn thiên
          Thô xuất nhiễm thành sơn dă tính
          Xu bôi tu đối ngọc đường tiên
          Thiếu thời lịch lịch hi du xứ
          Kim nhật trùng lai bán bất nhiên !

          Phiêu bạt giang hồ mấy chục niên
          Chiếu vời một sớm đến Trường Yên
          Lâu đài đ́nh quán bên trời ngất
          Văn vật y quan giữa cơi truyền
          Sơn dă buông tuồng quen tính tục
          Ngọc đường lui tới thẹn cung tiên
          Đất này thuở nhỏ từng du hí
          Khác lạ ngày nay đă hiển nhiên !


          ===============================================
          1. Dặm : một đoạn đường dài 135 trượng = 540 m (là hơn nửa cây số ngày nay).

          2. Ba Dội : vùng núi giáp giới tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Ninh B́nh, cũng gọi là núi Tam Điệp.

          3. Uẩn súc kinh luân : chứa đựng tài trị dân giúp nước (kinh luân là sợi dọc và sợi xe, nghĩa bóng nói về tài chính trị).

          4. Có câu y phục xứng kỳ đức, nói cách ăn mặc tương xứng với cái đức của ḿnh.

          5. Cao ẩn : giấu ḿnh nơi hẻo lánh mà không dự vào việc đời.

          6. Vàng và đá : Nghĩa bóng nói lời nguyện ước gắn bó với nhau vững bền như vàng và đá. Ở đây nói chí của Lăn Ông không thay đổi.

          7. Nối điêu : do câu tục ngữ "Điêu bất túc, cẩu vĩ túc", có nghĩa là đuôi con điêu thiếu, lấy đuôi con chó thế vào. Nghĩa bóng : lời nói khiêm, lấy cái không hay của ḿnh mà tiếp vào cái hay của người.

          8. Dương Xuân Bạch Tuyết : khúc ca thời cổ.

          9. Vân Sàng : thuộc tỉnh lỵ tỉnh Ninh B́nh ngày nay.

          10. Thịnh Liệt : tên làng thuộc ngoại ô Hà Nội ngày nay.

          11. Nhân Mục : thường gọi làng Mọc, thuộc huyện Thanh Tŕ, Hà Đông.

          12. Cầu Triền : thường gọi Ô Cầu Dền.

          13. Hoàng Mai : tên làng, nay là ngoại ô Hà Nội.

          14. Cung tường : nhà bốn bên có tường, chỗ ở và miếu thờ đều ở trong, tường về phía Nam có cửa để thông xuất nhập. Sau người ta dùng hai chữ ấy để gọi sư môn (cửa nhà thầy dạy).

          15. Sở tự : nơi thờ phụng.

          16. Sinh vị : bài vị thờ người sống.

          17. Trường Yên : kinh đô nhà Tây Hán, nay là tỉnh Thiểm Tây, tác giả mượn để chỉ kinh đô nhà vua.

          18. Ngọc đường : đền nhà vua, chỗ các quan văn học lui tới làm việc.
          Last edited by Phi Yen; 08-15-2002, 09:21 AM.
          Kiếp sau xin chớ làm người
          Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

          Comment


          • #6
            Chẩn Bệnh Thế Tử

            Ngâm xong tôi lên cáng mà đi, tử cửa cung Khánh Thụy qua đ́nh Quảng Minh, rồi qua cửa Đại Hưng, theo đường phía hữu đi hơn nửa dặm nữa th́ đến dinh quan Chính Đường. Cửa dinh cao lớn, voi đi lọt, hai bên có dựng điếm túc trực bày đồ nhung trang mười phần nghiêm chỉnh; quân lính canh ngày đêm, tra xét bọn người tạp nhạp. Tôi vào trọ trong phạn điếm. Bọn ṭng nhân đi sắm sẵn áo mũ để tôi vào sảnh đường. Bấy giờ chuông lầu đă điểm canh tư. Trên sảnh bài thiết nghi trượng sáng bóng, chói cả mắt. Trước sân bọn lính đi lại như chợ. Tôi đứng đợi giờ lâu mới hỏi viên dịch trưởng trực nhật. Y nói :"Có phải lăo sư là thày thuốc ở Hương Sơn tên là Lăn Ông chăng ?". Tôi đáp :"Chính phải đó ! Nhưng sao quan nhân biết tôi ?". Người ấy nói :"Thời thường từng thấy thượng quan đàm đạo, lại nghe có Thánh chỉ tuyên triệu, nên mới biết việc đó; lăo sư nên đợi một lát, Thượng quan vào chầu qua đây, đón xe mà yết kiến, thật thuận tiện". Tôi theo lời ngồi đợi một lúc, quả thấy Thượng quan đi ra. Mọi người đều tránh né, im hơi. Trong sân có đặt một cỗ kiệu. Trước và sau kiệu, những người mang nghi trượng phân ban ra mà đứng chỉnh tề. Tôi rảo bước tới trước sân bái kiến. Vị thượng quan truyền cho chước miễn, lại kêu đến trước mặt, cười mà rằng :"Ngày nào th́ khởi hành ? Ngày n ào th́ đến kinh ?". Tôi thưa lại đầy đủ. Thượng quan quay lại, nói sẽ mấy câu với một vị quan nhỏ c̣n trẻ tuổi, rồi bước lên xe vào triều.
            Tôi c̣n chưa hiểu ra sao th́ viên quan này đến mời tôi về tư thất. Bấy giờ tôi mới biết thanh niên ấy là trưởng tử của thượng quan, tuổi ước trên dưới hai mươi, tướng mạo đẹp như ngọc. Vị này mời tôi ngồi cùng chiếu, tôi cố từ hai ba lần, vẫn cứ không nghe, một mực khiêm tốn, kế đó chia ngôi chủ khách mà ngồi. Quận hầu mở đầu rằng :"Nghe lăo sư băo học hoài tài, nhởn nhơ nơi núi hang, cây đàn chén rượu làm vui, lại có ḷng cứu giúp người, từng thấy cha tôi nhiều lần khen rằng hiện nay về nghề thuốc không ai ở trên lăo sư. Tôi một ḷng ngưỡng mộ đă lâu, may thay một sớm được thừa nhan, thật là tam sinh hữu hạnh". Tôi cảm ơn, nói rằng :"Tôi là kẻ sơ cuồng chốn sơn lâm, dám đâu sánh với đời. Quận hầu ban cho tiếng khen ấy làm tôi sợ hăi vô cùng". Quậ n hầu sai người đến dinh quan Trung Kiên truyền lính gác nhà quét sạch sân và nhà, kê giường trải chiếu, hẹn giây lát hồi báo. Người này đi chẳng bao lâu trở lại thưa rằng các việc đă xong xuôi cả. Quận hầu nói rằng :"Dinh này huyên náo không tiện, nhà chú tôi có một nơi tuy chẳng rộng răi nhưng mát mẻ đáng yêu. Hiện nay chú tôi có công vụ phải qua trấn Sơn Tây cho nên mới để không cái dinh ấy, mời lăo sư đến đó nghỉ ngơi". Nói đoạn, đứng dậy dắt tôi đi qua nội sảnh ước độ vài mươi bước, theo cửa nhỏ mà vào, th́ thấy ngoại sảnh, trung đường, pḥng ngủ, nhà bếp đều có ngăn nắp. Quận hầu vào trung đường cùng tôi ngồi nói chuyện. Lúc đầu tôi tưởng đây cũng là công tử vương tôn sinh trưởng nơi phú quư, quen tập nhiễm thói phồn hoa; sau mới biết ông là người học vấn uyên bác, hiểu rơ những điều phải trái xưa và nay, phàm nhân t́nh thế vị đều đă nếm đủ, hơn nữa có tính khiêm tốn, tuyệt nhiên dung mạo không chút chi kiêu hănh. Tôi thấy vậy lại càng kính phục. Trời gần tối ông mới cùng tôi cáo biệt. Tôi sai bọn theo hầu thu dọn hành trang để đi yên nghỉ. C̣n bọn trấn binh đi hộ tống th́ cho trở lại trấn cũ, khỏi nói đến nữa.

            Tháng hai ngày mồng một, tôi nghe tiếng gơ cửa rất gấp. Tôi sai người mời khách vào th́ thấy một tên lính hầu thở hổn hển bước tới. Đó là kẻ dịch mục của quan Chính Đường. Y thưa với tôi rằng :"Có thánh chỉ tuyên triệu lăo sư, quan truyền mệnh c̣n đợi ở trụ sở của quan lớn tôi. Tôi vâng mệnh chạy đến báo lăo sư biết và đă lấy lính bản dinh đem cáng đến đón ngoài cửa rồi, mời lăo sư vào chầu trong phủ ngay". Áo mũ chỉnh tề, tôi bước lên cáng đến cửa phủ. Lúc ấy dịch mục đi trước hét đường, c̣n cáng th́ đi vùn vụt như thể ngựa chạy. Tôi bị một phen đưa đẩy, sốc sác lấy làm mệt nhọc. Khi đến cửa phủ th́ được người dẫn đi qua hai lần cửa nữa rồi rẽ theo đường bên trái mà tiến bước. Tôi ngẩng đầu lên coi th́ bốn phương tám mặt, nơi nào cũng cây cối um tùm, chim kêu hoa nở, gió thoảng hương đưa. Những hành lang, những bao lơn bước bước đều liên lu, nơi nơi đều cân đối. Kẻ gác cửa có việc ǵ th́ truyền báo, kẻ công dịch qua lại như mắc cửi. Tôi thầm nghĩ :"Ḿnh vốn là công gia tử đệ, sinh trưởng ở kinh đô, mọi chốn trong Cấm thành đều thông thuộc; duy sự thể trong phủ chỉ được nghe nói thôi, mới hay cái giàu sang của nhà vua chẳng phải tầm thường vậy". Tôi ngâm mấy câu để ghi nhớ :

            Kim qua vệ sĩ ủng thiên môn
            Chính thị Nam thiên đệ nhất tôn
            Họa các trùng lâu lăng bích Hán
            Châu liêm ngọc hạm chiếu triêu đôn
            Cung hoa mỗi tống thanh hương trận
            Ngự uyển thời văn anh vũ ngôn
            Sơn dă vị tri ca quản địa
            Hoảng như ngư phủ nhập đào nguyên

            Qua vàng ngàn cửa lính canh đền
            Đây chính trời Nam chốn chí tôn
            Nguy ngật lâu đài sông Hán khuất
            Lung linh liêm mạc ánh vàng xuân
            Cung hoa không dứt mùi hương thoảng
            Ngự uyển đưa kêu tiếng vẹt dồn
            Quê kệch chưa tường nơi vũ nhạc
            Tưởng ḿnh đâu lạc tới đào nguyên.


            Đi ước vài trăm bước qua mấy nơi khuê môn mới đến cái điếm hậu mă quân túc trực. Điếm ở bên một cái hồ lớn, trong hồ có cây kỳ đá lạ, trong điếm cột và câu lơn đều gẫy gọn, thể chế khéo lạ. Quan Chính Đư ờng mỗi khi thoái triều th́ nghỉ ngơi ở đấy. Thấy tôi đến, ngài bảo quan Truyền chỉ rằng :"Chiều hôm trước,tôi đă tâu với Thánh thượng để ông này vào chầu, cho mạch cho Đông cung thế tử". Ông cùng với quan Truyền chỉ cùng đi, bảo tôi đi theo, có mấy tên tiểu hoàng môn nối gót. Khi đến một cái cửa lớn, lính thị vệ thấy tôi ăn mặc hơi khác lạ, vội lại ngăn trở. Quan Truyền chỉ nói rằng :"Có Thánh chỉ tuyên triệu", chúng mới để cho đi qua. Qua dẫy hành lang về phía tây th́ đi dến một ngôi nhà lớn, vừa cao vừa rộng, hai bên để hai cỗ kiệu ngự, những đồ nghi truợng đều chạm trổ thiếp vàng; ở gian giữa kê cao một cái sập ngự cũng thiếp vàng; trên sập treo một cái vơng điều. Trước sập và hai bên sập có kê kỷ án, đồ đạc chẳng thường thấy ở nhân gian. Tôi chỉ liếc mắt trông qua, cúi đầu mà đi. Lại đi qua một cái cửa nách nữa th́ đến một cái gác cao rộng. Trong gác những giường cột t ừ trên xuống dưới đều sơn son. Tôi hỏi quan Truyền chỉ th́ ông đáp: "Ngôi nhà lớn vừa đi qua mà có cuốn cỏ bồng gọi là Tử các. Nay Thế tử ở đó ngự trà, nên cũng gọi là pḥng trà (thuốc mà gọi là trà, ư kiêng nói đến thuốc)". Lúc ấy trong pḥng trà có tám chín người, thấy quan Chính Đường đi tới, đều đứng dậy. Quan Chính Đư ờng ngồi ghế trên, rồi mọi người theo thứ tự mà ngồi. Ông truyền cho tôi vào giữa hàng những người ấy. Mới đầu tôi c̣n chưa hiểu, sau mới biết những người ấy là lương y của sáu cung hai viện được dự hầu "trà" ở đây, ngày đêm tức trực. Thấy tôi mọi người nh́n nhau, có kẻ cúi đầu nói nhỏ. Quan Chính Đuờng cười mà rằng :"Ông này là con ông Liêu Xá, Đường Hào, ngụ tại Hương Sơn, nghề thuốc nổi danh trên đời, nay vâng Thánh chỉ mời vào kinh". Lúc ấy trong bọn có một người đầu đội khăn nhiễu Tàu, cười mà bảo tôi rằng: "Lăo s ư có nhận biết tôi là ai không ?". Tôi thưa: "Tôi ở chốn sơn dă, mà nay đư ơng buổi thịnh triều, các quan đông đảo, sao mà quen biết được ?". Người ấy nói: "Tôi là người An Việt La Sơn, lúc c̣n ở nhà từng nghe đại danh mà chưa gặp". Tôi mới biết ông là giáo quan ở An Việt, tên là Chức. Nhờ có quan trấn là Nguyễn Kiêm ở Tiên Điền đề cử làm thị y dược, được cai quản thuộc viện của Bộ binh, giữ chức Tham đồng. Tôi nói: "Chỗ ở quan lớn với chỗ ở của tôi không xa cách lắm, nhiều lần muốn được yết kiến, nhưng sợ tới mà không duyên do". Câu chuyện chưa dứt th́ quan Truyền mệnh đến nói nhỏ với quan Chính Đường. Vị này đứng dậy bảo tôi rằng: "Hăy tạm lui đi ăn sáng". Tôi theo ông đi đường cũ đến điếm Hậu mă. Ông nói: "Thánh Thuợng nghỉ ngơi tại đó, phi tần đứng hầu chung quanh, chưa dám tiến kiến, cho nên tạm ra ngoài". Ông san sẻ dồ ăn cho tôi. Trong lúc ăn uống tôi thấy chén bạc mâm v àng, các món ăn đều quư lạ, mới hay phong vị của đại gia là thế. Ăn vừa xong đă thấy quan thị cận chạy hộc tốc đến triệu quan Chính Đường vào nghe lệnh. Tôi đi theo ông, đến trước pḥng "trà". Ông sợ tôi lạc lối, bảo đi sát đằng sau ông, chợt thấy một nơi kia màn gấm mở ra, vào bên trông thấy đen tối, không biết đâu là cửa ra, màn trướng th́ hết lớp này đến lớp khác, mỗi lớp đều có thắp một ngọn nến để dẫn đường. Đi qua chừng bốn năm lớp trướng gấm th́ đến căn nhà rộng, vào trong thấy một vị ngồi giữa chiếc sập thếp và ng, độ năm sáu tuổi, mặc áo lụa hồng, tả hữu có mấy người đứng hầu, một cây nến lớn đốt cháy, cắm trên cây đèn đồng. Bên sập đặt một cái long kỷ sơn son vẽ vàng, mặt kỷ có đệm gấm. Ngang sân trư ớc có treo một trướng gấm, phía trong cung nhân đứng xúm xít với nhau, nến sáng lụa che, mặt phấn áo hồng, lóng lánh mọi vẻ; mùi hoa thơm chan ḥa khắp nhà.
            Kiếp sau xin chớ làm người
            Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

            Comment


            • #7
              Chẩn Bệnh Thế Tử (tiếp theo)

              Nguyên Thánh Thượng ngự trên long kỷ đă tạm lui vào trong trướng để cho tôi xem mạch cho được tinh tường. Lúc ấy tôi nín thở, đứng ở một bên xa xa để đợi lệnh. Quan Chính Đường truyền cho tôi ra phía trước cúc cung lạy bốn lạy. Thế tử cười rằng: "Người này lạy khéo". Quan Chính Đường lại truyền rằng: "Già yếu, cho ngồi mà coi mạch!". Tôi liền cúi người xuống đến trước sập ngự, ngồi mà chẩn bệnh. Chẩn xong, nghe trong trướng có lời nói se sẽ: "Cho xem cả h́nh trạng nữa". Một viên nội thần đứng đó đi tới bên sập ngự bẩm xin thế tử đứng dậy cởi áo đứng cạnh sập để cho xem. Tôi coi kỹ môt lượt lưng, bụng, chân tay, thân thể. Quan Chính Đường lại truyền bái tạ mà cho lui; tôi liền đứng dậy, lạy bốn lạy. Có lệnh sai một tiểu hoàng môn dẫn tôi ra pḥng trà mà ngồi. Một lát sau quan Chính Đường mới bước ra, bảo tôi rằng: "Lăo y xét mạch t́nh ra sao, ứng dụng phương thuốc ǵ, nhất nhất đều kê ra để tiến nạp." Ông c̣n bảo tôi rằng: "Mang bệnh đă nửa năm rồi, trước kia gầy lắm, bây giờ mới thêm da thịt, coi đó th́ biết sở bẩm không đầy đủ, lại bệnh đă lâu không bồi bổ ǵ được, nếu dùng dương dược bụng nóng không chịu nổi, mà dùng âm dược th́ trệ mà thêm bực dọc. Nay phải dùng những vị phát tán mới ổn đáng". Rồi ông sai Viện Tả quan đem những đơn thuốc đương được dùng để tôi xem xét. Nguyên ông đă tiến cử tôi, nên mới có những nghị luận ấy mà ông cho là hợp ư nhau. Vả lại ông vốn am tường y học, tuy vậy cái hiểu biết của ông c̣n chưa được thuần ḥa, mỗi lúc đàm luận ông đều có ư công phạt. Ông thường nói rằng: "Có bệnh th́ phải chữa bệnh, rồi uống thuốc bồi bổ là chí pháp". Nhưng theo tôi chỗ tôi thấy th́ v́ ở chỗ màn trướng vây bọc, ăn no mặc ấm, phủ tạng mềm yếu, lại thêm mang bệnh đă lâu th́ tinh huyết hao kiệt, khô khan, mặt không nhuận sắc, bụng lớn gân xanh, chân tay khẳng khiu, chẳng qua cái gốc đă bị tổn thương nhiều, lại c̣n lạm dụng đường lối công phạt sắc bén, không biết rằng cái hao kiệt ngấm ngầm làm cho cái hư cà ng thêm hư vậy. Cái kế sách ngày nay không bổ c̣n đợi ǵ. Chỉ sợ dùng nó chẳng được lâu, thảng hoặc thành công mau lẹ, tất nhiên sẽ rơi vào ṿng cương tỏa, không có ngày trở về núi; bất nhược dùng phương pháp ḥa hoăn, chẳng trúng th́ không quá sai lệch. Tôi lại nghĩ rằng: "Tổ phụ nhà ḿnh đời đời chịu ơn nước, ḿnh nên tận t́nh nối cái chí giữ điều trung của tổ phụ".

              Tôi suy nghĩ kỹ càng rồi thưa rằng: "Vâng coi thánh thể thấy gầy g̣ mà mệt nhọc lắm, mạch chạy mau, âm dương sút kém cần phải bồi bổ hai thứ tỳ, thận để củng cố cái căn bản của tiên thiên, bồi bổ cái hóa nguyên của hậu thiên, khiến cái chính khí được đầy đủ ở trong, bệnh tự tiêu ngầm ở ngoài, chẳng trị bệnh mà bệnh khắc hết vậy". Lúc ấy ông cứ quay đi trở lại bày tỏ ư kiến ông để chỉ dẫn cho tôi, tôi cũng biết thế. Ông nói rằng: "Ông đă lập kiến mà chẳng đổi th́ kê lời luận bệ nh và đơn thuốc để tiến nạp". Tôi theo lời làm tờ khải rằng :

              Nay vâng xem xét thấy sáu đường mạch đều chạy mau mà không c̣n sức, mạch bên hữu th́ mạnh mẽ, mạch bên tả yếu ớt. Đó là tỳ âm hư, vị hỏa quá nhiều, không tàng giữ được dương, âm hỏa vơng hành, cho nên bên ngoài thấy bụng ph́nh lên, thế là cái tượng trong th́ không, ngoài th́ phù. Phải bổ tỳ thổ, làm cho đầy đủ cái lực của khôn nhu th́ các trở ngại tự nhiên được san bằng vậy.


              Nay phụng kê :
              Bạch truật 1 lượng, gạo rang ba lần, đừng quá cháy, cốt giữ huơng vị để bổ tỳ khí.
              Thục địa 3 đồng cân, nướng khô, làm cho tỳ mềm mại và để bổ âm cho tỳ.
              Càn khương 2 đồng cân, sao đen để giúp vận động mạnh lên.
              Ngũ vị 1 đồng cân để nhuần phế khí, điều tiết tiểu tiện.
              Tất cả đều đun cho thành keo, mỗi lần dâng vào một chén trà, dùng thần thảo làm thang, đun lửa to, dùng vào lúc c̣n nửa no.
              Tiểu thần Lê Hữu Trác phụng kê

              Tôi viết xong, đệ nạp quan Chính Đường. Ông xem giờ lâu, dường như có vẻ ngần ngại. Lúc ấy, các y sĩ ngồi đó đứng dậy để coi đơn thuốc; ông không cho coi, thu tờ khải vào trong tay áo, cười mà rằng: "Ông này về phương pháp và biện luận so với bọn ta đều khác biệt rất nhiều". Ông sai một nội thần đem tờ khải dâng nạp. Một lát sau ông đứng dậy bảo tôi đi theo về trú sở Hậu Mă. Uống trà xong, nghỉ ngơi đôi chút, ông lại bảo tôi rằng: "Đường dài khó nhọc, tạm về nhà trọ nghỉ ngơi, nếu có thân bằng đến mời mọc cũng không được rời chỗ ngụ, v́ c̣n phải đợi thánh chỉ". Tôi buớc ra, lên cáng trở về dinh quan Trung Kiên. Một tuần qua đi, các thân bằng trong kinh thành đến hỏi thăm tôi, xa cách nhớ nhung cũng là thường t́nh.

              Hăy nói quan Chính Đường từ ít ngày nay ở trong phủ chầu chực, không giờ khắc nào trở về nhà. Tôi cũng chẳng biết bài thuốc mà tôi tiến dâng ra sao nữa. Quận hầu thường đến chỗ tôi ngụ mấy ngày liền, chuyện tṛ cười nói có khi canh khuya mới về, t́nh nghĩa thật đậm đà. Một ngày kia, dịch mục của quan Chính Đường đến chỗ ngụ truyền lệnh rằng có thánh chỉ tuyên triệu, tôi phải lập tức vào chầu. Tôi đến ngay dinh Quận hầu lấy bốn tên lính đi theo, lên cáng vào chầu, đến trú sở Hậu Mă đợi lệnh. Một giờ trôi qua mà chẳng thấy có truyền báo ǵ. Măi sau một tiểu hoàng môn là gia nhân của quan Chính Đường cầm nến từ cung cấm ra đi, vào bếp dọn bữa cơm tối, cùng tôi ngồi ăn. Y bảo tôi rằng: "Quan lớn tôi nói rằng : Lăo sư hăy về chỗ trọ, sáng mai trở lại đây". Y ghé bên tai tôi nói kính mừng nhỏ: "Cung hỉ, cung hỉ. Thánh thượng đă chuẩn ban lương bổng bằng suất hai mươi lính tùy hành, phán cho quan Câu kè hộ phiên chiếu lệ thi hành. Ngày mai sẽ nghe lệnh." Tôi nghe nói vậy th́ than thầm: "Lấy cái đó mà nhập vào việc đề cử th́ có nghĩa lư ǵ !". Ăn xong, tên tiểu hoàng môn lây cái quân phù đi dêm trong cung Cấm (dài hơn năm thuớc, hai đầu giát bạc, có khắc tự danh Nội Sai) dắt tôi ra khỏi cửa phủ. Suốt một đêm suy nghĩ, tôi chẳng chợp mắt, nghĩ thầm :"Có việc đề cử ắt chẳng buông tha, nếu ḿnh thụ mệnh, rốt cuộc không từ chối được, chi bằng thác bệnh không vào". Ngày hôm sau, tôi sai gia đồng đem thủ thư đến Quận hầu xin sai nhân vào bẩm với quan Chính Đường rằng: "Đêm tôi bị cảm hàn, đầu nhức, ḿnh nóng, đứng ngồi lẩy bẩy không vào hầu được". Lát sau Quận hầu đến vấn an, bảo tôi rằng :"Việc ấy tôi đă vào trong phủ bẩm với cha tôi rồi, lăo sư bất tất để trong bụng, mong sớm được khoẻ mạnh để vào chầu, chắc sẽ có thăng thưởng". Tôi hỏi: "Sao Quận hầu biết điều ấy ?". Ông nói: "Trước đây v́ có việc công tôi vào trong phủ, cha tôi nói rằng lăo sư kê đơn thuốc trong tờ khải, th́ viện y phân vân thương nghị, chưa dám tiến ngự. Duy Thánh thượng ngự lăm, khen là rất thông y lư, đă chuẩn định ban thưởng". Tôi nghe vậy th́ lo âu hiện ra sắc mặt. Quận hầu vốn biết tôi có ư muốn được ra về, cười mà rằng: "Lăo sư tài lớn, chẳng chịu nổi việc ngựa kỳ, ngựa kư nặng nhọc kéo cái xe muối, mà chẳng vui chăng ?". Tôi đứng dậy, hướng về phía trước với dáng vẻ sắp cúi xuống lạy. Quận Hầu hoảng hốt đứng lên nói rằng :"Từ khi lăo sư về kinh đến nay, sớm hôm tôi được thừa tiếp, có nhiều tiến ích cho tôi. Có việc ǵ cứ xin nói thực, tôi nguyện hết ḷng giúp đỡ". Tôi nói rằng :"Tôi từ thuở nhỏ có chí bay nhảy, v́ số mệnh và thời cơ ngang trái mới ẩn tích nơi sơn cùng để lo nhàn dưỡng. Năm nay đă lục tuần, tai điếc mắt chậm, há có cầu tiến; lại v́ lắm bệnh mà học nghề thuốc. Chẳng ngờ một sớm đại nhân đề bạt đến đây, thảng hoặc Quận hầu có thương, xin giúp tôi một phen; nếu chưa được quay về núi th́ cũng có thể thoát khỏi cái dàm danh, thật là may lắm". Quận hầu cười mà rằng :"Bệnh nhiệt của lăo sư thực không có thuốc ǵ chữa đưọc. Nên lấy ở Hương Sơn một chén nước để trị bên trong, một mảnh mây để đồ bên ngoài, tự nhiên khỏi bệnh ngay". Tôi cười rằng :"Quận hầu đă uống nước thượng tŕ cho nên trông được phế phủ như thế chăng ?". Nói xong hai người cùng cười mà cùng nhau từ biệt. Sáng hôm sau, Quận hầu sai người mang đến một bức thư nhỏ nói rằng đă thưa với đại nhân, nhưng chỉ cười mà chẳng đáp, lại dặn riêng tôi nên nằm giường bệnh, đừng liên lạc thư từ với tân khách. Tôi đáp :"Xin vâng lời dạy". Mấy ngày sau, tôi thấy Quận hầu đến mặt mày hớn hở. Tôi ngầm hiểu việc tôi đă xong rồi. Ông nói :"Đă mấy lần tôi cất lời nói, cha tôi như có ư ngần ngại, tôi phải thật t́nh cố xin th́ cha tôi bảo : Lúc trước chẳng tưởng ông ấy thờ ơ với công danh, trước mặt nhà chúa ta đă nói nhiều về học thuật của ông ấy, nay đổi giọng lưỡi th́ thật là khó. Chỉ có thể cáo là già yếu mà từ chối. Ta vào chầu rồi th́ báo cho ông ấy ngày mai đến Phủ đợi mệnh". Tôi nghe nói mừng rỡ khôn xiết, cười mà nói với Quận hầu rằng :"Lúc này quan Chính Đường ư hẳn cũng hiểu cho tôi rồi". Quận hầu lại nói rằng :"Cứ như ngôn ngữ của cha tôi, tôi nghĩ lăo sư sẽ nối lại lời ước xưa với vượn hạc núi cũ mà chẳng phụ bạc". Tôi đáp rằng :"Nhờ có Quận hầu cứu giúp, chắc cũng không có ǵ khó". Đàm thoại nửa giờ rồi cùng từ biệt. Sáng hôm sau tôi đến phủ đợi mệnh, không thấy quan Chính Đư ờng đâu cả, tôi hỏi bọn lính gác th́ họ đều nói :"Thánh thượng ngụ tại Đông Cung, quan Chính Đường chầu chực tại đó".

              Một người lính thuộc quyền tôi sai khiến dẫn lộ, chúng tôi theo cửa hữu phủ đường mà đi, quanh co ước hơn một dặm th́ thấy lâu đài đ́nh các, rèm châu cửa ngọc, ánh nước long lanh thấu từng mây. Quanh lối đi nào kỳ hoa, dị thảo, gió thoảng hương bay, chim xinh, con hót con nhảy. Chốn b́nh địa nổi ngọn núi cao, nơi bóng râm tỏa lùm cổ thụ. Cầu sơn vẽ bắc qua gịng nước, đá sặc sỡ tạo thành lan can. Tôi vừa đi vừa ngắm, thực chẳng khác cảnh tiên vậy. Sau đến cửa Đông cung, gặp quan Chánh Đường ở triều về, bảo tôi đến trú sở. Uống trà xong, ông cười mà bảo tôi rằng :"Ông ở chỗ lâm tuyền phóng dật đă quen, từ lúc vào kinh, ngày đêm chạy qua chạy lại mới biết nỗi lao khổ". Tôi đứng dậy tạ rằng :"Tôi vốn người nhiều bệnh, thêm tuổi già yếu đuối, mong đại nhân thương t́nh cứu giải cho". Ông nói :"Ngày nọ tôi đă đạo đạt ư của ông, muốn tạm ở xứ ngoài mà đợi lệnh, đă được chuẩn y rồi, ông nên ở chỗ trọ đợi lệnh, chẳng nên đi chơi xa, nếu đi đâu cũng phải có chỗ ở nhất định, sợ rằng bất thần có tuyên triệu đó". Nói chưa dứt lời đă thấy viên nội thần đến triệu quan Chính Đường. Tôi tạ từ về chỗ trọ. Quận hầu đến hỏi thăm tôi. Tôi đem đầu đuôi câu chuyện kể rơ một lượt. Quận hầu mừng rỡ nói rằng :"Lời ngạn nói vào cửa hầu sâu tựa biển, huống hồ ông đi hay ở chẳng do cha tôi tự do định đoạt, biết làm sao bây giờ ?". Tôi thưa :"Quận hầu là núi Thái sơn của tôi, biết tôi là Quận hầu, cứu tôi cũng là Quận hầu vậy. Sức người có thể thắng trời. Cái tiền tŕnh của tôi chưa thể nom thấy trước được". Chuyện tṛ nửa giờ lâu mới từ biệt nhau.

              Mấy ngày sau, quan Chính Đường ở triều về, tôi vào bái tạ. Lúc ấy một số quan liêu ngồi giữa nhà, cũng có người biết cửa nhà, tính danh tôi. Quan Chính Đường đem việc tôi kể cho họ nghe. Một viên quan cười nói rằng :"Ngư ời ta lấy điều được làm quan là mừng, ông đây lấy điều mất quan là may, sao riêng khác người ta vậy. Người xưa có câu rằng : Công hầu đâu có tại nham huyệt, thế mà cái phong lưu nơi nham huyệt chẳng sút kém cái phú quư của công hầu". Tôi nghe nói, nghiêm mặt mà rằng :"Kẻ sĩ ở nơi hoang vu được đại nhân tiến cử, một sớm Cửu trùng biết đến, thực là thiên tải kỳ phùng, tam sinh hữu hạnh. Chẳng qua v́ già yếu, đi đứng đau đớn, nên chẳng dám tham lộc trời, tự cam phúc mỏng, hối tiếc biết bao !". Một viên quan khác nói :"Thấy ông nét mặt đồng nhan, nghiễm nhiên như tùng bách dạn sương, trong phép tu dưỡng ắt có điều sở đắc". Lại một viên quan nữa nói :"Nếu ai ai cũng là Y-Chu th́ ai là Sào-Do ?". Quan Chính Đường cười mà nói rằng :"Kẻ sĩ ai có chí của người ấy". Lát sau mọi người đều đi ra.
              Kiếp sau xin chớ làm người
              Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

              Comment


              • #8
                Túc trực : chầu chực ban đêm.

                Sơ cuồng : không cẩn thận và rồ dại.

                Quận hầu : tiếng tôn xưng người có quan tước.

                Qua vàng : dịch chữ kim qua; qua là cái giáo, tức là thứ khí giới cán dài, mũi sắt nhọn, dùng để đâm.

                Sông Hán : tức là sông Ngân Hán, tên gọi đường trắng ở trên trời do ánh sáng các tinh tú tạo thành, trông h́nh như con sông bằng bạc.

                Liêm mạc : cái rèm và cái màn.

                Khuê môn : cái cửa nhỏ trong thành.

                Nghi trượng : đồ trần thiết trang nghiêm nơi vua ngồi hay lúc đi đường.

                Bồng : thứ cỏ cứ đến mùa thu th́ khô héo, gặp gió th́ bay tung.

                Tử Các : gác tía.

                Thị cận : trông coi gần, đây nói các quan hầu cậ n.

                Long kỷ : ghế ngồi của bậc vua chúa.

                Thánh Thượng : chỉ chúa Trịnh Sâm.

                Sở bẩm : cũng như nói bẩm thụ, tức là h́nh hài và tính chất trời cho ḿnh.

                Phát tán : làm cho cái khí độc nhiễm trong người tan giải ra ngoài.

                Công phạt : đánh phá, ư nói dùng những vị thuốc có năng hiệu mạnh mẽ và nguy hiểm.

                Phủ tạng : các bộ phận trong bụng, trong ngực ngư ời ta. Vị, đảm, tam tiêu, bàng quang, đại tiểu tràng là lục phủ; tâm, can, t́, phế, thận là ngũ tạng.

                Tiên thiên : những cái bẩm thụ được trước khi sinh ra. Hậu thiên : đối với tiên thiên.

                Lập kiến : định rơ, nêu rơ cái quan điểm của ḿnh; ấn định điều ǵ theo kiến thức của ḿnh.

                Vơng hành : đi đông không trật tự.

                Câu kè : chức quan đời xưa coi việc tra xét sổ bộ .

                Quân phù : phù hiệu trong quân làm tin cho các mệ nh lệnh, cũng gọi binh phù.

                Thụ mệnh : nghe theo lời truyền bảo.

                Thượng tŕ : ao nước ở nơi cao tuyết, ư nói phép tiên.

                Phế phủ : phổi và các bộ phận trong bụng người, các bộ phận này gọi là lục phủ.

                Nham huyệt : núi và hang, ư nói chỗ ở ẩn.

                Đồng nhan : mặt trẻ con, ư nói nom mặt th́ như ng ười c̣n trẻ trung.

                Tùng bách : hai loại cây thông, mùa đông tháng giá cũng không vàng lá rụng cành. Hai chữ tùng bách dùng để ví với những ng ười có khí tiết vững vàng.

                Y-Chu: Y Doăn đời nhà Thương và Chu Công đời nhà Chu, hai người đều là bầy tôi giỏi.

                Sào-Do : cũng thường nói Sào-Hứa. Tức là Sào Phủ và Hứa Do, là hai người cao sĩ đời Đường Nghiêu. Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho Hứa Do. Do nghe chuyện ấy, ra bờ sông Dĩnh Thủy rửa tai, gặp khi S ào Phủ dắt trâu đến đấy cho uống nước. Sào Phủ sợ nước bẩn miệng trâu, bèn dắt trâu lên quăng sông ḍng trên cho uống.
                Kiếp sau xin chớ làm người
                Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

                Comment


                • #9
                                                                    Họa Thơ
                  Hăy nói khi ấy ở trong kinh, khách nghe danh tôi mà đến nhiều lắm. Nguyên có lời đồn rằng được đại thần tiến cử, có thánh chỉ tuyên triệu, tôi là bậc kỳ tài nơi núi non, c̣n y dược là nghề mọn có đáng kể chi. Từ đó các quan nha đệ tử và những người trong đám nho học ngày ngày kéo nhau đến hỏi thăm tôi, hoặc nói chuyện thời nay, kể chuyện thời xưa, hoặc bàn luận cái hay, cái dở trong nghề thuốc. Chỗ ngồi không lúc vắng khách, chén nước không buổi vơi trà. Trong những ngày ấy cùng người thù tạc thật là bận rộn. Ngày kia H́nh quan tên Bật Trực, người ở An Toàn. Giám sinh tên Hằng người ở Nộn Liễu và hai Huấn đạo, một tên Dư, một tên Vụ, đều là anh em ở Đông Lũy; cả bốn ông ấy là những dật sĩ, cùng với Giám sinh Sơn Tây hiệu Thanh Hồ, Sơn Nam Thi Xă hiệu Thúy Anh cùng mang theo rượu với đồ nhắm đến chỗ tôi ngụ đánh chén. Các ông hỏi tôi rằng :"Nghe nói tiên sinh đă tinh thông cái học về tính mệnh lại có cái thi tứ phong lưu của Lư Đỗ, chắc đă soạn thành nhiều bài thơ, xin đừng giấu lời vàng ngọc mà cho kẻ hậu bối được thăm chốn cung tường, có nên chăng ?". Tôi từ tạ mà rằng :"Thơ là để nói lên cái chí của ḿnh, cái chí ắt hiện ra ở lời thơ; chẳng qua cũng góp nhặt những bài cũ kỹ, lời th́ tạp nhạp, tiếng th́ quê mùa, há dám múa ŕu qua mắt thợ để làm tṛ cười sao ?". Các ông nói :"Tiên sinh chẳng nên quá khiêm tốn, chúng ta đều là đồng đạo, ư đă hợp, hà tất ngần ngại chi". Tôi mới đem bài thơ Cảm Hoài lúc đi đường vâng chỉ về kinh đệ nạp để các ông coi. Viên H́nh công nói :"Đạm bạc mà có ư vị, ḥa nhă mà ra kiêu căng. Chẳng nói đến sang mà nói đến giàu, đúng là ư tại ngôn ngoại. Ư vị chứa đựng chẳng cùng vậy". Viên Giám sinh nói :"Một gịng khí vị do cảnh khói mây tạo ra cho thấy rơ ràng ngài là bậc ẩn giả vậy". Tối đến tiệc tan, mọi người giải tán. Ngày hôm sau, các ông ấy đều sai người nhà đưa thư đến. Tôi mở ra coi th́ là những bài thơ họa lại thơ của tôi, tôi giữ cả lại để lưu chiểu.

                  Thơ họa của Viên H́nh Công và lời dẫn

                  Tiên sinh vốn ḍng trâm anh, rời bỏ đến chốn lâm tuyền đă bao nhiêu năm tháng rồi. Kẻ biết thời vụ như tiên sinh hẳn có điều siêu việt khác người, lánh ẩn tu dưỡng, chơi coi nước non, đáng là vị lănh tụ trọng vọng như sơn đẩu, bọn sinh sau thực chẳng noi kịp. Nay thăm nhà : khăn tẩm sắc khói mây vẩn, lời đượm mùi dược hoa thơm, thật là vui thích thay ! Lại nghe nói ngón đàn cầm của tiên sinh cũng là một cái thú cao diệu (lúc đó chỗ tôi ngồi có cái đàn cầm bảy dây). Phong nhă khiến người mến phục; bất giác tối sập đến, nay xin nối điêu, nếu thơ được thâu nhận th́ lấy làm hân hạnh.

                  Thù thị trâm anh khứ luyện chân
                  Kim sa ngân tuyết bất ưng bần
                  Nhất lung quế truật dược trung vật
                  Vạn trạng yên hà phương ngoại thân
                  Chữ thạch lạc nhiêu tri vị xứ
                  Tiêu đồng hận thiểu thẩm âm nhân
                  Cung tinh thử nhật Hiên Kỳ hội
                  Hảo tế thị dân phụ thị quân.

                  Coi nhẹ công danh luyện tính chân
                  Cát vàng tuyết bạc há đâu bần
                  Một lồng quế truật bền hương dược
                  Muôn lớp yên hà gửi tấm thân
                  Chử thạch ai kia vui biết vị
                  Tiêu đồng khách giận ít cao nhân
                  Kỳ Hoàng hội ấy ngày nay gặp
                  Gắng cứu dân lại giúp Thánh quân.


                  Thơ họa của Nộn Liễu Giám Sinh với lời dẫn

                  Nhà lan quyển vàng, giữa hạ gió mát, đó là cái lạc thú của ông vậy. Nay ông tuổi hạc đă cao mà cái chí cũng cao. Bữa nọ hân hạnh được ngồi hầu chuyện, ông cho coi bài thơ Thuật hoài lúc đi đường, đọc đi đọc lại, nhận thấy ư thơ mạnh mẽ, cốt cách cao quư, tỏ nỗi lưu luyến non xưa với đá trắng mây hồng. Nay trộm nối điêu mà họa lại.

                  Cây vừng củ núi dưỡng thiên chân
                  Đất tốt dong chơi há chịu bần
                  Sơn dă cầm kỳ vui dật khách
                  Trí nhân non nước được nhàn thân
                  Liêm ngoan tục cải phô tâm tích
                  Cao tễ linh đan cứu thế nhân
                  Đă sẵn sâm linh đem bổ trợ
                  C̣n điều ngũ vị giúp minh quân.

                  Hồ ma sơn dược dưỡng thiên chân
                  Sinh địa ưu du bất ngă bần
                  Tục đoạn cầm kỳ sơn dă khách
                  Thong dong thủy thạch trí nhân thân
                  Phong đẳng viễn chí liêm ngoan tục
                  Thảo tiễn linh sa hoạt thế nhân
                  Nguyên bị sâm linh kham bổ tễ
                  Ưng điều ngũ vị tán minh quân.



                  Thơ họa của quan Huấn Đạo
                  (người anh)

                  Chẳng đến Hương sơn hỏi giả chân
                  Hăy coi phu tử chỉ vui bần
                  Núi rừng học đạo thanh nhàn thú
                  Đất nước nghe danh đạo đức thân
                  Người hám lợi danh quen thế tục
                  Ta đâu xu hướng giống thời nhân
                  Già gây sự nghiệp nhờ tài lớn
                  Mới rơ tôi hiền gặp Thánh quân.

                  Mạc tựu Hương sơn đính nhạn chân
                  Chỉ khan phu tử lạc nhi bần
                  Lâm tuyền thúc nhĩ thanh nhàn thú
                  Kinh quốc phiên nhiên đạo đức thân
                  Chỉ kiến thao thao vô tự ngă
                  Cố ưng lục lục bất như nhân
                  Văn thành khả kiến kinh luân hội
                  Hữu thị thần tư hữu thị quân.

                  Last edited by Phi Yen; 08-21-2002, 06:53 AM.
                  Kiếp sau xin chớ làm người
                  Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

                  Comment


                  • #10
                    Thơ họa của quan Huấn Đạo
                    (người em)

                    Cung đàn lư thú dưỡng thiên chân
                    Hồ dễ giàu sang bức được bần
                    Hoa động bay hương vui dật khách
                    Trăng song vô sắc được nhàn thân
                    Đón nghênh lễ ấy trưng long điển
                    Cầm hạc t́nh này tựa cổ nhân
                    Thành thị lâm tuyền qua lại khắp
                    Giữ tṛn hành chỉ đạo thần quân.

                    Nhất khương lư thú lạc thiên chân
                    Phú quư yên năng bức đắc bần
                    Hoa quật hữu hương cung thắng khách
                    Nguyệt song vô sắc ngụ nhàn thân
                    Cung tinh sa giác phi thường điển
                    Cầm hạc trung thành sự thích nhân
                    Tuyền hác thị thành kinh lịch xứ
                    Thời tai hành chỉ thái thiên quân.



                    Thơ họa của Giám sinh Sơn Tây

                    Hạo nhiên khí ấy bởi thiên chân
                    Ngày tháng tiêu dao xá kể bần
                    Bát trận xưa nay am thể chế
                    Tam tài trời đất thấu tâm thân
                    Tài không Khương-Phó hay yên nước
                    Vọng sánh Kỳ Hoàng từng cứu nhân
                    Ta muốn thay lời Sào Hứa nói :
                    Ba vua Bốn Thánh buổi minh quân.

                    Hạo nhiên chính khí đắc thiên chân
                    Tuế nguyệt tiêu dao bất kể bần
                    Bát trận cổ kim minh thể chế
                    Tam tài thiên địa hội tâm thân
                    Tài phi Khương Phó năng y quốc
                    Vọng thiếp Kỳ Hoàng lũ hoạt nhân
                    Vị ngă đương vi Sào Hứa ngữ
                    Tam hoàng, Tứ thánh thái b́nh quân.


                    Thơ của Cựu Thi Xă

                    Thuở thiếu thời tôi từng kết bạn với hàng chục người ở kinh dô, lập thành một thi xă. Nay tôi trở lại đây th́ người ngựi đă phân tán, chỉ c̣n lại vài ba kẻ mà thôi.

                    Đă sẵn ḷng chay dưỡng tính chân
                    Không cần giàu Khải, học Nhan bần
                    Ba nghi sơn thủy ta t́m thú
                    Trăm trận biên thùy kẻ dấn thân
                    Trên lộ trần ai cam lữ khách
                    Trước sân phong nguyệt họp thân nhân
                    Dù ai có hỏi ta sinh kế
                    Cựi trỏ linh đan cố Lăo quân.

                    Lănh đắc trai tâm dưỡng đắc chân
                    Vô cầu Khải phú học Nhan bần
                    Thanh sơn lạc ngă tam nghi thú
                    Tử tái nhiêu tha bách chiến thân
                    Lộ thượng trần ai hành lữ khách
                    Đ́nh tiền phong nguyệt cố tri nhân
                    Thuyết dư cảm vấn tam sinh kế
                    Tiếu chỉ linh đan cố Lăo quân.


                    Sau khi đọc những bài thơ ấy, tôi nói :"Viên H́nh công có phong vị nhà thơ. C̣n Giám sinh ở Nộn Liễu, Giám sinh ở Sơn Tây cùng với hai viên Huấn đạo đều có khí vị của nhà nho mà chưa thoát tục. Đến như thơ của Thúy Anh th́ tư tưởng bay bổng tận trời cao, viễn vông không đâu, thật đáng nực cười". Tôi biên chép tất cả để coi cho vui.

                    =========================================================
                    Thù tạc : nói chủ khách mời đăi nhau.

                    H́nh quan : quan coi về việc h́nh.

                    Giám sinh : học sinh nhà Giám. Ở kinh đô có nhà Giám, tức Quốc tử giám, nơi đây quan tế tửu và quan tư nghiệp làm giảng quan.

                    Nộn Liễu : tên xă thuộc huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An.

                    Viên H́nh Công : tức Bùi Bật Trực, làm quan đến thái thường tự khanh; sau này lúc quân Tây Sơn ra Bắc, được vua Lê sai giữ chức than tán quân vụ tại Sơn Nam.

                    Chử thạch : nấu đá. Người đạo sĩ nấu vàng đá làm thuốc; uống thuốc ấy th́ thành tiên, đó là kim đan. Ư nói thuốc hay.

                    Tiêu đồng : người ta dùng gỗ đồng làm đàn cầm, nên đàn cầm cũng gọi tiêu đồng.

                    Trí nhân : trích câu Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn trong sách Luận Ngữ; có nghĩa : kẻ trí ưa thích chơi với nước, kẻ nhân ưa thích chơi với núi.

                    Liêm ngoan tục : liêm là trong sạch, trái với ngoan là tham. Làm cho thói tham hóa liêm.

                    Thiên chân : sự chân thành rất mực bởi trời phú cho - cái bản tính thiên nhiên.

                    Cầm hạc : điển Triệu Biện người Tây An đời Tống, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Điện trung thị ngự sử, tính người cư ơng chính. Khi đi chịu chức ở Thành Đô, chỉ đem theo một cây đàn và m ột con hạc, việc cai trị dân rất giản dị.

                    Hành chỉ : làm quan và thôi việc quan, ư nói làm quan phải tùy thời tiến thoái để bảo toàn danh phận của ḿnh. Bài hát vịnh Hàn Tín đời Hán của Nguyễn Công Trứ có câu : Nếu biết chữ khả hành khả chỉ, th́ Năm Hồ một lá cho xong !

                    Thiên quân : bề tôi và nhà vua (không có tiếng quốc âm dịch được hai chữ thiên quân có nghĩa là ḷng người, nên tạm dùng hai chữ thần quân, có sai nghĩa, nhưng để họa nguyên vậ n).

                    Hạo nhiên chính khí : cái khí tiết ngay thẳng, cứng rắn của những anh hùng, liệt sĩ.

                    Bát trận : tám môn của những phương thuốc trị bệnh đă được chia ra trong sách thuốc Cảnh Nhạc.

                    Thể chế : cách thức chế ra, cách thức xây dựng lên.

                    Tam tài : ba ngôi là trời, đất và người.

                    Khương-Phó : Khương Tử Nha và Phó Duyệt. Tử Nha tuổi già ở ẩn, đi câu. Vua Văn Vương nhà Chu đi săn, gặp Tử Nha ở sông Vị, cùng nhau chuyện tṛ đắc ư, cho lên xe cùng về, tôn làm thầy, gọi là sư thượng phụ. Vũ Vương diệt Trụ mà có thiên hạ là nhờ mưu chước của Tử Nha. Nguyên tổ tiên của ông được phong ở đất Lữ, nên Tử Nha cũng được gọi là Lữ thượng. - Phó Duyệt : hiền tướng đời nhà Ân. Vua Cao Tông mộng thấy Duyệt, t́m về cất lên làm tướng, nước được thịnh trị.

                    Tam Hoàng : có nhiều thuyết khác nhau. Theo sách Đế Vương Thế Kư th́ Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế là tam hoàng.

                    Tứ Thánh : bốn vị thánh trong y học xưa tức là Hoàng Đế, Kỳ Bá, Tần Việt Nhân và Trương Cơ.

                    Khải : Vương Khải, nhà cự phú đời Tấn, cùng với một nhà cự phú khác là Thạch Sùng ganh đua nhau ăn chơi xa xỉ.

                    Nhan : Nhan Hồi, tên một vị trong tứ phối, thường gọi là Nhan tử. Học tṛ giỏi của Khổng Tử, nhà rất nghèo, chỉ ham học đạo.

                    Linh đan : thuốc luyện của thần tiên. Theo nghĩa rộng, chỉ liều thuốc hay.

                    Lăo quân : Lư Nhĩ đời nhà Chu, gọi là Lăo Tử, tổ Đạo giáo.
                    Kiếp sau xin chớ làm người
                    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

                    Comment


                    • #11
                                                                    Nhớ Nhà

                      Một ngày kia có người đồng hương được bổ nhiệm Huấn đạo ở Hà Hoa đến từ biệt để về Hương Sơn. Nhân tiện tôi gửi thư cùng vài ba thứ phẩm vật ở Kinh thành nhờ đưa về quê. Viên Huấn đạo nói là ở kinh làm chức quan nhỏ, ngày tháng kéo dài, tiền đi đường cũng không có; tôi cho ông ta mượn vài mươi quan tiền. Ông ta lấy làm mừng rơ, từ tạ tôi mà ta đi.
                      Đêm hôm đó, tôi ngồi ngơ ngẩn một ḿnh lại nhớ tới quê xưa. Trăng trong chiếu cửa sổ, mối t́nh thao thức chẳng chớp mắt được. Canh khuya mỏi mệt nằm trong cửa sổ mà ngủ. Nhưng tâm hồn sầu muộn cứ quấn quít bên gối, chợp chờn nghe tiếng chim vừa bay vừa kêu, bỗng tỉnh giấc. Một điểm sáng đèn tàn c̣n nguyên trên vách, tôi gọi tiểu đồng mang đàn lại chuyển điệu giờ lâu, lại sai pha trà, uống chừng vài ba chén trà cũng vô vị. Tôi ra trước sân đi tản bộ miễn cưỡng ngâm vài bài thơ nhỏ để tự an ủi :

                      Bài thứ nhất:

                      Tỉnh hậu vị qui khứ
                      Giai tiền nguyệt hựu sinh
                      B́nh hồ khởi thu sắc
                      Độc điểu tác li thanh
                      Mỗi đắc du sơn mộng
                      Y nhiên tại đế thành
                      Nhược ngu nguyên thả trí
                      Hà ngă lộng hư danh.

                      Tỉnh giấc quê đâu tá
                      Trước thềm nguyệt ló ra
                      Kêu đàn chim độc nọ
                      Ngắm cảnh hồ thu xa
                      Chơi núi thường nằm mộng
                      Ở Kinh vẫn thế mà
                      Dẫu khôn mà hóa dại
                      Danh nọ cứ ham a ?


                      Bài thứ hai:

                      Dạ tọa thiên sầm tịch
                      Vân biên thính nhạn qua
                      Hồ minh thâm đắc nguyệt
                      Thụ cổ cưỡng khai hoa
                      Trà hiết thi hoài thiểu
                      Cầm dư khách tứ đa
                      Liên kê minh thất độ
                      Tinh đẩu măn quan hà

                      Cảnh tối ngồi nơi vắng
                      Từng mây lắng nhạn bay
                      Hồ trong trăng chiếu sáng
                      Cây cối hoa nở chầy
                      Trà cạn ḷng thơ cạn
                      Đàn đây nỗi khách đây
                      Thương gà kêu nhớn nhác
                      Tinh tú quan hà đầy



                      Có một ngày, đang đêm giữa canh hai, tôi đi nằm th́ lính hầu vào báo :"Ngoài cửa có một cái cáng rất lộng lẫy đang tiến đến, có hai cái đèn lồng dẫn đường, không biết của viên nha nào". Tôi hoảng lên trở dậy đứng đợi th́ thấy là Quận hầu. Tôi mời vào, hai người cùng ngồi. Tôi kinh ngạc hỏi rằng :"Đang đêm Quận hầu đến, tất phải có việc ǵ ?" - Ông nói :"Tôi vâng mệnh cha tôi đến hỏi về dược phẩm. Nguyên trong ng ày có người tiến dâng đơn thuốc, trong đơn có kê vị thần thảo, chẳng biết khí vị nó như thế nào, đă lục t́m quyển Bản Thảo, nhưng không thấy đâu, cho nên tôi phải đến thỉnh vấn để biết cho rơ mà chế thuốc". Tôi lấy giấy bút tả kỹ càng rồi đưa nạp. Ông hỏi được rồi, chẳng kịp uống trà, chào tôi rồi đi ra. Tôi nhân nghĩ rằng :"Từ ngày đến Kinh tới nay, mỗi lần vào gặp quan Chính Đường th́ ngài lấy lễ đăi ḿnh rất hậu; c̣n hỏi thuốc là việc nhỏ mọn cũng sai đến con. Kính đăi như vậy th́ ngày trở về của ḿnh chắc là không ấn định được". Tôi đem những bài thơ của tôi gửi đến Quận hầu, để tỏ nỗi ḷng nhớ quê hương của tôi mà mong được đạo đạt. Nguyên từ lúc tôi xin được ra ở ngoài để chờ mệnh lệnh, nhiều lần tôi xin Quận hầu nói với quan Chính Đường để ông dùng quyền lực mà cứu giải cho; tuy đă dùng vạn kế, lại đă xin ngh́n lần, rốt cuộc chẳng ăn thua ǵ cả. Quận hầu mới đem những tác phẩm về thơ của tôi đệ tŕnh ông thân sinh và ra sức xin hộ một phen. Quan Chính Đường đem thơ xem đi xem lại, coi kỹ càng chỉ mỉm cười mà thôi. Lúc này đă là tháng năm. tôi có húy gia tiên; tôi làm tờ khải xin trở về làng cũ, nhưng không được phép. Nguyên là lúc ấy tuy chẳng dùng hẳn phương cách chữa thuốc của tôi, nhưng mỗi khi đem dùng cái đơn thuốc nào, lại cho tôi được coi. Khi này Thế tử bệnh kịch, tôi biết là không dược rời chỗ ngụ, mới sắm sửa đèn nhang bày lễ ngay chỗ trọ.
                      Một ngày nọ có quận chúa mang thai bị băng huyết. Chồng bà là pḥ mă Cung (pḥ mă là con Quán Quận công, cùng ở một huyện với tôi) sai người đến mời tôi, c̣n nói rơ là đôi bên có t́nh lân lư. Tôi tới chẩn bệnh. Pḥ mă có ư lưu tôi ở lại đó vài ba ngày, nên điều đ́nh với tôi. Tôi nói là quan Chính Đường dặn tôi không được dời chỗ mà đi đâu, đợi có thánh chỉ tuyên triệu. Nghe xong ông cũng không nói ǵ cả. Có biết đâu Quận chúa ngầm sai thị t́ vào phủ tâu xin được giữ tôi lại để chữa chạy. Ngài ngự phán rằng :"Người này già lăo bệnh tật không làm được việc", lại sang riêng thủ phiên Hữu viện đến (tên là Tân). Pḥ mă đem sự thực bảo tôi. Từ lúc hiểu rơ việc này, tôi mới biết quan Chính Đường quả đă tŕnh Thánh thượng cái ư của tôi. Chỉ v́ vị này nhất sinh lắm bệnh nên không chịu buông tôi ra mà dùng kế, đổ cho là việc công cần đến tôi. Tôi đến ngay nhà Quận hầu, nói rơ cái ư ấy. Quận hầu nói rằng :"Cha tôi lấy sự thành thực mà đăi người, vốn không có ư ǵ khác, thấy lăo sư th́ mười phần kính yêu, chẳng muốn xa nhau đó thôi. Lăo sư đă không có bụng ở lại lâu, có ư nào lại không theo ư lăo sư. Gần đây về những bài thơ của lăo sư, tuy cha tôi không nói rơ, nhưng có ư than văn ngầm. Như vậy việc trở về bất nhật sẽ đến vậy". Tôi mừng rỡ nghĩ rằng :"Cổ nhân ngâm thơ có thể làm kinh động cả quỷ thần, thơ của tôi cũng có thể làm cảm động Vương hầu. Cái ích lợi của thơ hẳn là có, chẳng sai vậy". Tôi đọc bài thơ Ở nhà trọ gặp mưa cảm hoài. Với đề tài này người bạn của tôi là quan Viên H́nh cũng làm một bài. Tôi cũng đọc bài Trông trăng tỏ nỗi ḷng. Hai người lại ngâm cho Quận hầu nghe, ai nấy đều nói lên cái chí của ḿnh. Thơ có chứa chất cái điều ǵ ở trong, ắt hiện ra ở bên ngoài. Tôi nay như say như mơ, quân hầu há lại không nghĩ thương sao ?

                      Kỳ khách xá ngộ vũ cảm hoài thi văn

                      Cuồng phong sậu vũ hốt nhiên sinh
                      Khách xá tiêu tiêu vạn lũ t́nh
                      Viễn thụ hàm yên vân ngoại ám
                      B́nh hồ suy lăng thủy trung minh
                      Qui sào mộ điểu phân quần khứ
                      Hà xứ sơ chung báo hiểu minh
                      Bất vị khổ trà năng khước thụy
                      Ưng tri thử dạ mộng nan thành.

                      Ở Nhà trọ gặp mưa cảm hoài

                      Bỗng đâu gió táp lại mưa sa
                      Trăm mối u t́nh kẻ trọ xa
                      Mây cách hàng cây làn khói ám
                      Nước rung đợt sóng mặt hồ đưa
                      Chim chiều t́m tổ chia bầy tẽ
                      Chuông sớm ngờ nơi báo sáng mà
                      Trà đắng ai rằng không chợp mắt ?
                      Đêm nay mộng mị dở dang a !


                      Kỳ đối nguyệt thư hoài thi văn

                      Nhận đắc Hương sơn nhất phiến nguyệt
                      Như hà dạ dạ chiếu thần kinh
                      ư lâu ca quản thiên hồi túy
                      Cận thủy đ́nh đài vạn sắc sinh
                      Đăn giác thanh thiêm diên thượng khúc
                      Ưng tri đạm bức lữ trung t́nh
                      Di chân đường thượng kim tiêu hội
                      Mạc cổ dao cầm tác oán thanh.

                      Trông trăng tả nỗi ḷng

                      Hương sơn vẫn một mảnh trăng thanh
                      Tối tối thường soi khắp đế kinh
                      Cai quản tựa lầu say túy lúy
                      Đ́nh đài gần nước ánh long lanh
                      Thanh cao khúc nhạc người trong tiệc
                      Lạnh nhạt t́nh ai buổi lữ hành
                      Nhà mát Di chân đêm tại đó
                      Đàn kia ai oán gẩy sao đành


                      Quận hầu hỏi :"Di chân đường ở đâu vậy ?". Tôi đáp :"Đó là cái nhà giữa của tôi ở quê, cây cối um tùm, thật là mát mẻ và yên lặng. Mỗi khi có trăng trong th́ họp con cháu lại, uống rượu mua vui". Quận hầu cười mà rằng :"Người xưa nhớ đến rau rút cá mè, bỏ quan mà về; lăo sư thanh dật lạc thú hơn cả câu chuyện rau rút cá mè nữa; sao mà chẳng khẩn khoản đ̣i về làng". Lại nói tiếp :"Lăo sư nên viết rơ hai bài thơ kia, rồi cho người nhà mang đến cho tôi, đợi dịp đệ tŕnh". Tôi cáo biệt trở về nhà trọ, vội mang bút giấy chép, xong cho người nhà đem những bài thơ đó đến nhà Quận hầu.

                      ======================================
                      Huấn đạo : một chức quan coi việc học trong một huyện hay một phủ.

                      Hà Hoa : tên một phủ. Đời vua Lê Thánh Tông, phủ Hà Hoa thuộc tỉnh Nghệ An. Đời vua Minh Mạng, hai phủ Hà Hoa và Đức Thọ được đặt làm tỉnh Hà Tĩnh, cho lệ thuộc vào tỉnh Nghệ An, đặt chức An Tĩnh Tổng đốc cùmg một Bố chánh, một Án sát để cai trị.

                      Húy gia tiên : giỗ tổ tiên trong nhà.

                      Quận chúa : tiếng gọi con gái các vị có tước vương, thuộc ḍng tôn thất.

                      Rau rút cá mè : chữ Hán là thuần lư. Trương Hàn đời Tấn, đến mùa thu, nhớ canh rau rút và gỏi cá mè ở quê ḿnh, liền từ quan mà về.
                      Kiếp sau xin chớ làm người
                      Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

                      Comment


                      • #12
                                                                                  Tiễn Bạn

                        Một ngày kia, Hàm Xuyên Hầu đến chỗ tôi ngụ. Trong lúc cùng nhau tṛ chuyện, sắc mặt ông ta đổi khác, hai ba lần miệng muốn nói lại thôi. Tôi hoảng sợ nói rằng :"Quân hầu ngày ngày cùng tôi có thân mật, t́nh nghĩa trọn vẹn, có việc ǵ đều cho nhau biết, không giấu giếm ǵ. Hôm nay, Quân hầu ra chiều bối rối ngại ngùng, hoặc giả tôi có điều chi lỗi đạo mà chẳng nỡ nói ra chăng ?". Quân hầu đáp :"Đâu có lẽ ấy ! Tôi may được giao du cùng lăo sư, thường giữ lễ đệ tử, đạo nghĩa không sứt mẻ. Chỉ v́ nhà này là biệt thất của anh tôi, nhân có việc về quê anh tôi bỏ không cái dinh này, tôi mới mời lăo sư ở tạm tại đó, cũng là tiện đường vào chầu. Nay lăo sư vạn phần không chắc được hồi hương, bất nhật ắt đưọc ban cấp binh dân, chừng ấy sẽ xin đất lập dinh cho tiện. Trong hơn một tháng nay,tôi c̣n được ở nhà; mặt trước cạnh hồ có một miếng đất bỏ không có thể ở đuợc. Thường tôi muốn xây một cái nhà riêng, mời lăo sư đến yên nghỉ; bấy giờ mới t́m anh tôi trở về nhà cũ. Chẳng ngờ tôi vâng mệnh làm giáo khảo cuộc thi bắn giữa các quân binh, công việc của tôi bề bộn, không lúc rảnh rang, cho nên chưa làm xong nhà. Hiện nay nhà ngoài chỗ tôi ở cũng khá rộng răi, vậy xin lăo sư đợi vài ba ngày nữa cái nhà bên hồ làm xong th́ dọn đến ở. Bằng không, sang dinh quan An Quảng cũng được nhàn tĩnh. Chẳng biết ư tôn sư như thế nào ?" - Tôi nghe vậy th́ cười mà đáp :"Đại trượng phu cùng nhau gặp gỡ, sao lại câu nệ như thế. Việc này tôi sẽ lo xong, xin đừng bận tâm làm ǵ". Ông ấy nghe nói vậy, dường như có vẻ vui mừng. Tôi thầm nghĩ :"Nhà ngoài của viên quan này, binh lính lai văng tụ tập, không thể ở được. C̣n dinh quan An Quảng, trong ngoài là nhà cửa cả đấy; nhưng dinh ấy bốn bề không tường vách, nơi ấy lại lắm trộm cướp, hẳn chẳng ở yên ổn. Ḿnh mới được biết quan Hậu Trạch ở cạnh hồ, có vài ba ngôi nhà tiếp giáp với nhau, đất cao nưóc sạch, nên báo ngay cho ông ta chỉnh đốn riêng một sở, rồi dời ngụ đi mới được hẳn hoi". - Tôi biên thư cho Hàm Xuyên Hầu để cáo biệt; nghe đâu "hầu" thấy vậy th́ trong ḷng áy náy, phúc đáp thư tôi, kèm thêm một bài thơ gởi đến. Thư viết như sau :
                        "Đă từ lâu nghe đại danh như sét đánh bên tôi, cứ hận không được biết họ Hàn. Tiên sinh ruổi xe vào cửa khuyết; tôi được trộm nghe lời giáo hối, tự biết là hân hạnh rất nhiều.Thường sớm tối muốn được thừa tiếp xuân phong, không phụ cuộc giải cấu vong niên này. Ngày trưóc tôi có dành riêng cái nhà tranh ở đây làm nơi "phượng" đậu, được tiên sinh chẳng bỏ qua mà dành trọn cáo ơn thắm thiết ấy. Hiện tại anh tôi trở lại kinh, tôi chẳng biết nói làm sao. Tiên sinh muốn lo dời gót, bản tâm tôi đâu có muốn thế mà ḷng c̣n canh cánh chẳng nỡ xa nhau. Nếu ờ dinh quan An Quảng rộng răi trống trải không tiện th́ nên dời đến tệ xá sảnh ngoài, cũng yên sở, chẳng cần phải đi xa xôi, qua bên kia cái hồ sen làm ǵ, khiến tôi bâng khuâng như bị mất mát ǵ đây. Đó là t́nh thật, tiên sinh nên nghĩ lại một chút. Có hai điều, xin chọn lấy một là nên tạm trú, sớm muộn tôi sẽ xây riêng biệt một ngôi nhà, tuần nhật sẽ làm xong, tiên sinh sẽ nằm thảnh thơi bên cửa sổ vậy. Nói chẳng hết lời, nên phải có thơ, ngơ hầu tả rơ cái chân t́nh mà thôi". Thơ rằng :

                        Thượng sơn sắc hạ nhạn trung chân
                        Đức thiệu niên tôn đạo bất bần
                        Cốt lận chân ngôn vô ẩn nhĩ
                        Định tri thạch thượng hữu tiền thân
                        Mă ngưu tương cập giai Hồng quận
                        Ph́ tích nan năng liệu biệt nhân
                        Kim nhật thử t́nh vô hạn hận
                        Nhất tràng tâm sự phó thiên quân

                        Thương sơn kiệm bạc giả mà chân
                        Đức lớn niên cao đạo chẳng bần
                        Lời trọng như vàng không ẩn ư
                        Duyên ghi trên đá nối tiền thân
                        Ngựa trâu thành bạn nguyên đồng quận
                        Gầy béo điều thang khó kén nhân
                        Đeo hận ngày nay t́nh xiết kể
                        Nỗi ḷng cam để gửi thiên quân


                        Tôi coi rồi lấy làm cảm động, dường khó mà cáo biệt được.. Đây là việc bất đác dĩ, chắc ḷng ông ấy chẳng muốn thế. Tôi phúc thư nói rằng :

                        "Lăn tôi bị vời về kinh, nửa gánh hành trang, ở nhờ bên đông, tạm trú bên tây, may được tôn hầu thành tâm đối đăi. Đă hơn mười tuần nay tránh gió che mưa, Lăn tôi tưởng thế nào cũng có ngày việc sẽ gỡ ra xong, gươm đàn trở về núi; có nghĩ đâu vẫn bị ràng buộc ở đây thế này. Thế rồi tuy trong gang tấc mà lại cách biệt, khiến ḷng tôn hầu băn khoăn biểu lộ ở lời thơ. Lăn tôi ḷng càng xúc động, có bài thơ luật Đường kính đáp như sau :

                        Thâm t́nh cao nghị xuất thiên chân
                        Hàm kết vô do chí dũ bần
                        Mộ cổ thần chung suy lữ mộng
                        Đông kiều tây ngụ lụy nhàn thân
                        Thanh sơn cựu ước hà vô phận
                        Tử các tiền tŕnh khổ cáo thân
                        Tứ hải tân bằng tuy măn tọa
                        Tâm tri hoàn hữu kỷ như quân

                        T́nh này bạn ấy ngẫm thiên chân
                        Uất ức v́ đâu để chí bần
                        Trống sớm chuông chiều nông nỗi khách
                        Đông kiều tây ngụ nước bèo thân
                        Non xanh cựu ước sao vô phận
                        Gác tía tiền tŕnh để năo nhân
                        Bốn bể bạn bè đầy dẫy đó
                        Mấy ai biết bụng được như quân


                        Khi ấy sát vách chỗ tôi ngụ là dinh quan Trạch Ưu Hữu. Viên quan này thường đau bệnh lạnh bụng. Tôi cho thuốc, bệnh đỡ được phân nửa. Bà vợ ông mắc cố tật đă hơn mười năm, cũng xin chữa trị; sau hai tháng dùng thuốc th́ bà hết đau. Hai ông bà nghe tôi muốn t́m chỗ trọ mới, hỏi lại Hàm Xuyên Hầu cho biết rơ, rồi chẳng bảo cho biết truớc, đem ngay giường chiếu kê đặt chỉnh tề ở các nhà giữa, gồm ba gian, nhà này mái ngói vách vôi. Trước sân có cây lạ đá chồng, hoa nở thơm tho. Ngoài ba gian dùng làm nơi tiếp khách, có một gian dùng làm gian nhà bếp, quét dọn sạch sẽ, bốn bề chia ra trong ngoài, lại mở cửa trong cửa ngoài để tiện xuất nhập. Tất cả đều đuợc xắp xếp ổn thỏa xong xuôi, ông bà mới đến mời tôi lại ở. Tôi chẳng hiểu nguyên cớ ǵ, sợ có điều phiền nhiễu người, nên chỉ biết thâm tạ hậu t́nh, chẳng chịu dọn đến. Hai vợ chồng mời đi mời lại măi, nói rằng :"Lăo sư không xét ḷng thành của chúng tôi, xin tạm sang coi qua một lượt". Tôi đến nơi th́ thấy trong ngoài pḥng ốc đều được thiết lập chỉnh tề, nghĩ thầm rằng :"Vợ chồng người ta cư xủ như thế mà ḿnh cự tuyệt được chăng ?". Tôi bằng ḷng di ngụ tới. Hàm Xuyên Hầu nghe biết vậy mừng lắm, ông vội đến gặp tôi.
                        Nguyên quan Trạch Ưu là tổ thúc Hàm Xuyên Hầu, tiên triều có ban cho một khu quan thổ. V́ thế họ hàng được ở chung hai dinh tiếp giáp nhau. Quan Trạch Ưu c̣n cho mở một cửa nhỏ để Hàm Xuyên Hầu qua lại cho tiện. Tôi cùng hai ông ăn ở với nhau, sớm đào tối mận, t́nh ngày càng thắm thiết. Quan Trạch Ưu cũng cấm ngặt người nhà không cho lui tới chỗ tôi ở, đủ biết ông kính đăi tôi thế nào.

                        Từ lúc tôi đến ở nơi này th́ ḷng ưa ư thích. Một đêm kia trăng chiếu vào hiên, nhận thấy trúc thưa gió lọt, tiết trời êm dịu, h́nh bóng u nhă, móc đọng trên hoa, hương bay nhè nhẹ. Thật là đẹp đẽ thú vị. Trà đồng pha trà, tôi ngồi tựa lan can uống một ḿnh. Bỗng có ông Viên H́nh là em rể tôi đến kể lể chút việc riêng. Tôi vui mừng xiết kể, cùng ông uống trà. Ông Viên H́nh nói rằng :"Đêm đẹp thế này, trăng trong gió mát, thật không phụ ta, ta lại nỡ phụ sao ?". Tôi đáp rằng :"Ông nói phải lắm, ông nên cùng tôi làm một bài thơ, lấy đề tài Đêm trăng uống trà nói chuyện cũ mà dùng các vần canh, thanh, phanh, kinh".
                        Tôi đọc trước rằng:

                        Trà âu phù nguyệt sắc
                        Hàn ngọc tẩm băng thanh
                        Mộng giác nhân thiên lư
                        Ca tàn dạ nhị canh
                        Cam ngôn vô nghịch nhĩ
                        Khổ minh bất tu phanh
                        Tinh đẩu kinh thi cú
                        Ngâm dư dục ky ḱnh

                        Chén trà lồng bóng nguyệt
                        Sắc trắng tựa băng thanh
                        Mộng tỉnh người thiên lư
                        Ca tàn lúc nhị canh
                        Lời đường tai thích thú
                        Trà cạn áo phong phanh
                        Sao chuyển câu thần cảm
                        Ngâm xong muốn cưỡi ḱnh


                        Ông Viên h́nh họa rằng:

                        Trợ ngă ngâm hoài khoát
                        Đương song nguyệt sắc thanh
                        Hảo đàm thi vạn trục
                        Bất giác dạ tam canh
                        Lữ khách tâm như hỏa
                        Trà đồng thủ quyện phanh
                        Điêu thanh hà xứ cấp
                        Nghi thị viễn chung ḱnh

                        Ngâm xướng giục ḷng khách
                        Hộ song chiếu nguyệt thanh
                        Mải bàn thơ vạn cuốn
                        Bỗng đă đêm tam canh
                        Kẻ trọ ḷng lửa đốt
                        Trà pha trẻ áo phanh
                        Điểm canh đâu gơ gấp
                        Ngờ đó tiếng chuông ḱnh

                        Ngâm xong, hai người đều lần lượt đọc những bài cổ thi, cùng nhau b́nh duyệt, canh khuya mời đi nằm. Ngày hôm sau ông Viên H́nh có việc phải cáo biệt. Giữa lúc ấy Nộn Liễu Giám sinh nhân dịp về Hoan Châu, đến từ biệt tôi. Tôi nói :"Tôi cùng ông đều là khách Trường Yên. Ông th́ đi Nam đi Bắc, c̣n tôi như chim trong lồng, không tự do mà đi hay ở được. Kẻ ở người về đều buồn bă cả, biết làm sao được".

                        Tôi mới ngâm một bài thơ ngắn để tặng ông, kèm theo lời giải như sau :"Đồng loại th́ t́m đến nhau, đồng đạo th́ tin cậy lẫn nhau. Một ngày chẳng nom thấy nhau th́ dài ghê. Huống nay đường trở về Hoan xe đi vạn dặm, Lăn tôi há không tưởng nhớ sao ? - Từ nay tôi ở nhà trọ, gió sớm trăng đêm buồn bă. Sau ba chén trà biết cùng ai nói chuyện thơ. C̣n như ông trên đường đi, mỗi khi gặp danh thắng, muốn xướng muốn ngâm dễ quên tôi được chăng ? - T́nh khôn xiết kể, có thơ để dăi ḷng".

                        Phân huề hà mặc mặc
                        Nan ngữ vị t́nh đa
                        Liễu ngạn hàm kim sắc
                        Hương sơn chiếu ngọc nga
                        Tiều lâu kinh cổ giốc
                        Khách tứ động quan hà
                        Cộng ước đông tiền hậu
                        Tam thu thả nại hà

                        Chia tay cùng lẳng lặng
                        Khó nói bởi t́nh dài
                        Ngàn liễu màu vàng ánh
                        Non Hương bóng nguyệt soi
                        Lầu canh chuông mơ tối
                        Nỗi khách tiễn đưa ai
                        Cùng hẹn đông tiền hậu
                        Ba thu tưởng nhớ hoài


                        Ông Nộn Liễu đang khi ngồi tại đó, đ̣i lấy giấy bút để đáp lại. Có lời mở đầu rằng :"Cổ nhân nói một đêm chuyện tṛ c̣n hơn cả một bụng thơ. Hằng tôi được bái yết phong quang và ghi tác những lời đạo đức, nhất là thường được họa thơ th́ lấy làm vui mừng lắm. Nay xin thuật lời quê mùa để phụng họa".

                        Hương bồi vi nhật thiểu
                        Liễu tặng kư hoài đa
                        Trịnh trọng duy thanh đĩnh
                        Trù trừ vọng tố nga
                        Văng lai giai lữ khách
                        Thù xướng chỉ quan hà
                        Tuy hữu trùng phùng ước
                        Kim chiêu thả nại hà ?

                        Hương bồi ngày chửa mấy
                        Liễu tặng ư nên dài
                        Trịnh trọng neo thuyền lại
                        Ngẩn ngơ ngó trăng soi
                        Văng lai đều nỗi khách
                        Xướng họa cảm ḷng ai
                        Gặp lại tuy giao ước
                        Buổi nay bịn rịn hoài


                        Ai nấy cầm bài thơ tặng ḿnh xem đến ba, bốn lượt, mối t́nh vương vấn khôn xiết kể. Trong lúc cười nói, tuy nét mặt cố giữ vẻ b́nh thường, nhưng lời nói và dáng vẻ đều khó giấu nổi thắc mắc buồn rầu. Uống xong vài ba chén trà th́ cùng nhau cáo biệt.

                        =======================================
                        Nguyên văn : Mỗi dĩ bất thức Hàn vi hận : lấy điều chẳng biết họ Hàn làm hận. Trong bức thư gởi Hàn Triều Tông, trưởng sử Kinh Châu, Lư Bạch có câu : Sinh bất dụng vạn hộ hầu, đăn nguyệt bất thức Hàn Kinh Châu (Sống không cần làm vạn hộ hầu, chỉ mong một lần được biết Hàn Kinh Châu).

                        Xuân phong : gió xuân. Nghĩa bóng : dáng dấp vui tươi, ḥa nhă.

                        Giải cấu vong niên : cuộc t́nh cờ gặp gỡ mà không kể tuổi. Ư nói chơi bời kết bạn cùng nhau mà không kể là già hay trẻ.

                        Thương sơn : tên núi ở tỉnh Thiểm Tây. Cuối đời nhà Tần, Từ Hạo tỵ nạn ở ẩn tại đó, hiệu là Thương Sơn Từ Hạo. Núi này rừng sâu vực thẳm, h́nh thế u thắng.

                        Kiệm bạc : ít ỏi, nhỏ mọn. Ư nói tuy vui cảnh núi non đẹp đẽ, nhưng sống trong cảnh thanh bần.

                        Đồng quận : Hầu này cùng tôi đều là người phủ Thượng Hồng (lời chú của tác giả Lăn Ông).

                        Điều thang : biến chế, gia giảm các vị thuốc để pha lẫn thành thang.

                        Đông kiều : ở nhờ nơi phía đông.

                        Trạch Ưu : tên riêng chỉ thứ quân ưu binh được kén làm quan túc vệ canh giữ đền vua, phủ chúa : thứ quân này lấy ở ba phủ đất Thanh Hóa và bốn phủ đất Nghệ An.

                        Khổ minh bất tu phanh : trà đắng chẳng nên nấu (phanh : nấu) - Trong quốc âm không gieo được vần phanh để diễn dịch cho đúng nghĩa câu. Ở đây gieo đúng vần th́ sai nghĩa.

                        Hương bồi : bồi tiếp chầu chực chốn thơm tho, ư nói được gần gủi người có đức thơm, có phẩm cách quư.

                        Liễu tặng : bẻ cành liễu mà tặng nhau trước khi từ biệt. Nguyên ở phía đông thành Trường Yên có cái cầu tên gọi Bái kiều. Người Hán đưa tiễn khách ở cái cầu ấy th́ bẻ cành dương liễu mà tặng nhau.
                        Last edited by Phi Yen; 08-23-2002, 01:31 PM.
                        Kiếp sau xin chớ làm người
                        Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

                        Comment

                        Working...
                        X