• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Nguyễn Khuyến

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Tay Doc
    started a topic Nguyễn Khuyến

    Nguyễn Khuyến

    Nguyễn Khuyến (1835-1909)

    Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835 tại quê ngoại -- làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà.

    Quê nội của cụ ở làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà.

    Cha là Nguyễn Tông Khởi (1796-1853), thường gọi cụ Mền Khởi, đỗ ba khóa tú tài, dạy học.

    Mẹ là Trần Thị Thoan (1799-1874), con cụ Trần Công Trạc, từng đỗ sinh đồ (tú tài) thời Lê Mạt.

    Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên năm 1864-1865) là bạn học ở trường cụ Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức Hương Nguyên) trường Hà Nội. Năm sau ông trượt thi Hội, thi Đình nên phẫn chí ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871, ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên. Từ đó Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.

    Năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tỉnh Thanh Hóa. Năm 1877, ông thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán.

    Nguyễn Khuyến cáo quan về Yên Đổ vào mùa thu 1884 và qua đời tại đấy ngày 5 tháng 2 năm 1909.
    Ông để lại các tập thơ văn Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối... truyền miệng.

    Nguyễn Khuyến có biệt tài về thơ văn chữ Nôm. Ông viết nhiều, bao gồm nhiều thể loại khác nhau. Ông thích tự vịnh, tự trào, phong cách thường ung dung, phóng khoáng, nhuốm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương. Một số lớn thơ văn ông cũng có khuynh hướng trào phúng, giễu cợt thế thái nhân tình và những thói hư tật xấu của người đời.

    Văn thơ của thi sĩ rất giản dị, không dùng những điển tích, lời văn nhẹ nhàng thanh thoát và rất tế nhị . Lời thơ của ông có một đặc điểm là không cầu kỳ, luôn luôn phảng phất một màu sắc thuần tuư Việt Nam, giữ được trọn vẹn dân tộc tính của nó .
    Những thơ văn của Nguyễn Khuyến, một phần lớn được sáng tác trong thời kỳ ẩn dật . Do đó, văn nôm của ông có thể chia ra làm 5 loại khác nhau .

    1. T́nh cảm:
    Là một nhà nho, chịu ảnh hưởng của thuyết Tu, Tề, ông rất tha thiết với cảnh gia đ́nh . Ta hăy nghe ông bỡn cợt trong bài "Nhất Vợ Nh́ Trời":

    Khôn đến mẹ mày là có một,
    Khéo như con tạo cũng là hai .
    Trời dẫu yêu nhưng v́ có phận
    Vợ mà vụng dại đếch ăn ai .


    2. T́nh yêu thiên nhiên:
    Ngao ngán về thờ cuộc, ông thích cảnh đồng ruộng, thiên nhiên, ngắm tạo vật để khuây khỏa nổi ḷng . Bằng những nét phác họa đơn sơ nhưng linh động, ông đă cấu tạo thành những bài thơ với một kỹ thuật vững thế quân b́nh giữ trí năng và t́nh cảm, thêm vào đó một nhận xét tinh vi .
    "Ao thu lạnh lẽ nước trong veo
    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo" Thu điếu .

    3. Yêu đời sống b́nh dân:
    Sống hơn 20 năm giữa đám b́nh dân, Nguyễn Khuyến đă nhiễm một phần tư tưởng và tánh t́nh của những người này . Do đó, ông hoà hợp đời sống của ḿnh vào đời sống của những con người chất phác, vui cái vui của họ, lo cái lo của họ .

    4. Tính chất trào phúng:
    Ông hay chỉ trích những cái dở, cái xấu của người đời . Hạng người bị ông chỉ trích là những tham quan ô lại, những người dốt mà thích khoe chữ, những kẻ tham tiền quên điều sỉ nhục . Trong những lời thơ tự trào, ông cũng đă nghiêm khắc với chính ḿnh, đem những tật xấu nhỏ của ḿnh mà chế giễu . Chấm biếm những người tham tiền, trong cuộc lễ quốc khánh của Pháp, bày ra tṛ mua vui làm nhục quốc thể :
    "Cậy sức cây du nhiều chị nhún,
    Tham tiền cột mỡ lắm anh leo ."
    hay
    "Bà quan tênh nghếch xem bơi trải
    Thằng bé lom khom nghé hát chèo ."
    Nguyền rủa những kẻ mang tiếng là "phụ mẫu chi dân" nhưng không lo việc ích nước lợi dân, chỉ lo đục khoét dân . Dưới đây là 4 câu thơ ông viết tặng một ông Đốc học hay ăn hối lộ :
    "Ai bảo ông dại với ông điên,
    Ông dại sao ông biết lấy tiền .
    Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
    Nẹt thẳng mặt trắng lấy Tam nguyên "

    5. Ḷng yêu nước thiết tha :
    Dù với tấm ḷng yêu nước tiêu cực, chủ trương bất hợp tác với Pháp, chối từ địa vị cao sang mà tân triều đă sẵn sàng mời mọc, Tam Nguyên Yên Đỗ đă chứng tỏ được tiết tháo của nhà Nho . TrưỚc cảnh quốc phá gia vong, là người thâm nho, học cao hiểu rộng, lẽ đâu Nguyễn Khuyến chẳng nhớ câu "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" nhưng một ḿnh không làm sao xoay nổ một thế cờ, ông đành ngậm ngùi, bó tay trước t́nh thế . Qua những bài "Tiếng Cuốc Đêm Hè" "Ông Phỗng Đa" ta c̣n thấy ḷng yêu nước của thi sĩ qua những cảnh vật thiên nhiên của xứ sở, qua những làng mạc, thôn xóm của đất nước thân yêu .

    "Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
    Ấy hồn Thục đế thác bao giờ ?
    Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
    Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ " Nghe Cuốc Kêu .

    Trước cảnh nước mất nhà tan, nhận thấy ḿnh bất lực, đôi tay yếu mềm của một văn nhân không thể làm ǵ hơn được là gởi nỗi niềm tâm sự vào lời thơ . C̣n đâu nữ lúc đem tài trí ra "an bang tế thế" c̣n chăng chỉ là hồn Thục đế mất nước hóa thành đỗ quyên để rồi đêm đêm máu hoà nước mắt khóc nỗi hờn vong quốc .

    Trước cảNh giang san nghiêng ngửa, đất nước bị thôn tính, nhân dân ta lúc bấy giờ có khác chi cảnh gà lạc mẹ, bợO vơ trong sứ tiến thối lưỡng nan . May ra th́ được giữ tṛn tiết tháo, bằng không th́nh thanh danh, sự nghiệp đành chông giữa chống bùn nhơ . Tấm gương kiên trung, ḷng thiết tha yêu nước với một bản ngă vững chắc đă giúp thi sĩ chiến thắng oanh liệt trướcmọi cám dỗ . Ông đă giữ được thái độ thanh cao phóng khoáng, một tinh thần quốc gia thuần tuư . Ông như một hoa sen sống trong bùn nhưng không nhiềm phải mùi vị tanh hôi .

    -----------------------------
    Các bài thơ:
    1. Cảnh Già
    2. Ông Tiến Sĩ Giấy
    3. Nước Lụt Hỏi Thăm Bạn
    4. Đêm Mùa Hạ
    5. Mẹ Mốc
    6. Bạn Đến Chơi Nhà
    7. Lên Lăo
    8. Khóc Dương Khuê
    9. Cuốc Kêu Cảm Hứng
    10. Ngày Xuân Dặn Các Con
    11. Hội Tây
    12. Tổng Vịnh Kiều
    13. Kiều Bán Ḿnh
    14. Thu Điếu
    15. Thu Ẩm
    16. Thu Vịnh
    17. Vịnh Mùa Hè
    18. Tự Trào
    19. Tự Thuật
    20. Chế Ông Đỗ Cự Lộc
    21. Mừng Ông Nghè Mới Đỗ
    22. Hỏi Thăm Quan Tuần Bị Mất Cướp
    23. Tặng Đốc Học Hà Nam
    24. Mừng Đốc Học Hà Nam
    25. Tặng Bà Hậu Cẩm
    26. Thầy Đồ Ve Gái Góa
    27. Lời Gái Góa
    28. Muốn Lấy Chồng
    29. Lấy Tây
    30. Lời Vợ Anh Phường Chèo
    31. Vịnh Sư
    32. Bóng Đè Cô Đău
    33. Anh Giả Điếc
    34. Bồ Tiên Thi
    35. Vịnh Núi An Lăo
    36. Nhớ Cảnh Chùa Đọi
    37. Chơi Chợ Trời Hương Tích
    38. Chơi Núi Non Nước
    39. Chợ Đồng

    -----------------------------
    1. Uống Rượu Ở Vườn Bùi
    2. Trở Về Vườn Cũ
    3. Nghe Hát Đêm Khuya
    4. Hoài Cổ
    5. Chốn Quê
    6. Khai Bút
    7. Cảm Hứng
    8. Về Hay Ở
    9. Ông Phỗng Đá
    10. Than Nợ
    11. Vịnh Lụt
    12. Nước Lụt Hà Nam
    13. mừng Con Dựng Được Nhà
    14. Tạ Lại Người Cho Hoa Trà
    15. Chừa Rượu
    16. Cáo Quan Về Ở Nhà
    17. Phú Đắc
    18. Đại Lăo
    19. Di Chúc
    20. Cua Chơi Trăng
    21. Thế Sự
    22. Chơi Thuyền Hồ Tây



    Last edited by VongHonTienTu; 12-31-2003, 10:10 AM.

  • Ngao_0p
    replied
    Chúc thọ [1]

    I
    Một mừng non nước vùng ta,
    Núi Côi trăm thước, bể Nha ngh́n tầm;
    Mấy khi trăng tối đêm tăm
    Trăm năm để lại tiếng cầm sông Tương.
    Chữ rằng: "thọ khảo vô cương".

    II
    Hai mừng gặp thuở nhiều lo,
    Lo lo trời lại thêm cho tuổi trời;
    Trời cho, nhưng cũng tại người,
    Tấm son c̣n tạc muôn đời chưa quên,
    Chữ rằng: "Vỉnh thủy phất huyên".

    III
    Ba mừng tiệc thọ ngày xuân
    Áo xiêm rạng vẻ, chén thuần[2] hương bay
    Đào tiên cách mấy từng mây,
    Vén tay lên bẻ thứ này là ba.
    Chữ rằng: "Tích thiện chi gia".



    Nguyễn Khuyến
    Bản Văn đàn Bảo giám
    (Nguồn: Khảo luận về Nguyễn Khuyến, Nguyễn Xuân Hiếu - Trần Mộng Chu, NXB Nam Sơn)

    -----------------
    1. Theo quyển "Tam Nguyên Yên Đổ" của ông Hoàng Ư Viên th́ bài này làm nhân dịp mừng thọ bà Hoàng Giáp Tam Đăng. Ông Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị là thầy dạy học của Nguyễn Khuyến.
    2. Chai rượu ngọt
    Last edited by Ngao_0p; 12-28-2012, 01:38 AM.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Nhân sinh thích chí


    Nhân sinh ba vạn sáu ngh́n ngày

    Thích chí cho nên lắm ngón hay;

    Thơ Lư ngâm nga khi mở quyển

    Đàn Nha t́nh tính lúc lần dây.

    Đem cờ vua Thích vui bè bạn,

    Mượn chén ông Lưu học tỉnh say.

    Bốn cảnh phong quang cùng tuế nguyệt,

    Dưới đời tri kỷ mấy mươi tay?



    Nguyễn Khuyến
    (Nguồn: Khảo luận về Nguyễn Khuyến, Nguyễn Xuân Hiếu, Trần Mộng Chu, NXB Nam Sơn)

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Con vịt


    Cũng đủ lông xương, cũng đủ da

    Chẳng ra ngan ngỗng, chẳng ra gà;

    Co chân vùng vẫy miền trăng bạc

    Nghểnh cổ ăn chơi chốn hải hà;

    Đôi đức càn khôn sinh trứng măi

    Nhờ ḷ tạo hóa nở con ra.

    Tiếng tuy rằng thấp, gan không bé,

    Sấm sét ù ầm cũng chẳng xa.



    Nguyễn Khuyến
    (Nguồn: Khảo luận về Nguyễn Khuyến, Nguyễn Xuân Hiếu, Trần Mộng Chu, NXB Nam Sơn)

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Cối xay


    Khen con Tạo hóa cũng tài thay!

    Khéo tạc nên h́nh cái cối xay;

    Tiếng nói ầm ầm như sấm động,

    Miệng cười răng rắc tựa mưa bay;

    Lưng đeo vai bạc trăm vành nặng

    Dạ chứa ḷng vàng một ngơng ngay;

    Lại có hai tai thông sáng cả,

    Gác ngoài danh lợi lắc đầu quay.



    Nguyễn Khuyến
    (Nguồn: Khảo luận về Nguyễn Khuyến, Nguyễn Xuân Hiếu, Trần Mộng Chu, NXB Nam Sơn)

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tiễn Quan án Hà Nam


    Từ khi chân hạc tót qua đèo,

    Lá liễu cành ngô động gió reo;

    Đất Bắc thơm lừng hơi phượng đậu,

    Giời Nam sáng vặc bóng giăng treo;

    Trên cung Tử tiểu đàn râm rả,

    Dưới quận Hà Nam ngục vắng teo;

    Đương buổi xuân ḥa dâng chén biệt,

    Mấy hàng hoa cỏ ghé trông theo.




    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Khuyên người làm lẽ


    Này hăy nín đi, hăy nín đi,

    Lấy chồng làm lẽ có can chi;

    Tôi đ̣i phận trước c̣n nhiều kẻ,

    Hầu hạ duyên sau chẳng một d́;

    Ví được sánh duyên người lịch sự,

    C̣n hơn chính thất kẻ ngu si.

    Dẫu rằng cơm nguội nhà ngoài đó,

    Cũng đủ phong lưu chẳng thiếu ǵ.





    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Chỗ lội làng Ngang


    Đầu làng Ngang có một chỗ lội,
    Có đền ông Cuội cao ṿi vọi;
    Đàn bà qua đấy vén quần lên
    Chỗ th́ đến háng, chỗ đến gối;
    Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười,
    Cái ǵ trăng trắng như câu cúi?
    Đàn bà khép nép đứng liền thưa:
    - Con chót hớ hênh ông xá tội;
    - Thôi, thôi con có tội chi mà,
    Lại đây ông cho giống ông Cuội;
    Từ đấy làng Ngang đẻ ra người
    Đẻ ra rặt những thằng nói dối.




    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Mục hạ vô nhân
    -- Hát xẩm --


    Chúng anh đây mục hạ vô nhân
    Nghe em nhan sắc ḷng xuân anh năo nùng
    Dù em má phấn chỉ hồng
    Dửng dừng dưng anh chẳng thèm trông làm ǵ
    Lấy anh, anh cho đi trước để làm v́
    Tay th́ dắt díu tay th́ quàng vai
    Vén tay sờ chốn em ngồi,
    Em th́ chẳng thấy, anh thời thở than.
    Bâng khuâng như mất lạng vàng,
    Cái sênh, cái trống, cái đàn ai mang?
    Ai ơi thương kẻ dở dang
    Miệng ca tay gẩy khúc đàn tương tư.
    Chẳng yêu chẳng nể chẳng v́
    Cũng liều nhắm mắt bước đi cho đành.
    Một duyên hai nợ ba t́nh
    Chữ duyên chi vướng, mối t́nh ai mang?
    Kẻo c̣n đi nhớ về thương.
    Kẻo c̣n để mối tơ vương bên ḷng.
    Đôi ta chút nghĩa đèo ḅng
    Dẫu ṃn con mắt, tấm ḷng dám sai
    Ngại ngùng những bước chông gai,
    Trần gian nhỡn nhục nào ai biết ǵ.
    Chữ t́nh là chữ chi chi,
    Yêu nhau phải bảo đường đi lối về.
    Đôi ta đă trót lời thề,
    Gần xa dắt díu đi về có đôi.
    Đến đâu người đứng ta ngồi
    Khi đàn khi hát những người chung quanh.
    Tới nơi những chốn thị thành
    Đôi bên hàng phố đắp danh đón mời
    Đố ai biết chốn chợ Trời,
    Dẫu ta lên khoắng một người nàng Tiên.




    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Đưa người làm mối


    Tri âm xin tỏ với tri âm,

    Một tỉnh t́nh tinh miệng lỡ lầm;

    Nhấp nhoáng hạt trai ngờ hổ phách,

    Mơ màng núc nác ngỡ vàng tâm!

    Bắn tin bướm nhạn hoa c̣n đỏ,

    Nghe nói vườn xuân sắc đă thâm.

    Nhắn nhủ bà hàng đừng đóng ghế,

    Bầu non kia đă phải ong châm.





    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Mừng ông Ngũ Sơn làm Đốc học Hưng Yên


    Lâu nay không gặp ngỡ xa đàng!

    Ai biết rằng ra giữ mơ làng;

    In sáo [1] vẽ cho thằng mặt trắng, [2]

    Bẻ c̣[3] tính lại cái lương vàng.

    Chuyện đời hăy đắp tai cài trốc,

    Lộc thánh đừng lừa nạc bỏ xương;

    Cũng muốn ra chơi, chơi chửa được,

    Gió thu hiu hắt đượm màu sương.




    Nguyễn Khuyến
    --------------

    1. In sáo: Pháp tắc về thi văn.
    2. Mặt trắng: bạch diện chỉ học tṛ.
    3. Bẻ c̣: tục ngữ "So c̣ bẻ măng", chỉ sự tính toán chi li.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tặng bạn ra làm quan


    Đầu non chân sóng những phôi pha,

    Túi đẫy năm nay mới gọi là;

    Hầu vợ mấy người con cái nhỏ,

    Bỏ bê một cặp, ruộng vườn ba.

    Dở quan dở khách đâu mà gọi,

    Không tóc không râu thế chửa già;

    Bửa trước nghe rằng ông muốn nghỉ,

    Vội vàng chống gậy giục ông ra.




    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tặng bạn mở Ty rượu


    Rầy xem bác đă thỏa ḷng chưa?

    Chớp mắt làm nên biển với cờ;

    Mùi thế thử chơi không chếnh choáng,

    Giọng t́nh mới nhấp chửa say sưa;

    Chen ṿng tranh cạnh xoay đương tít,

    Gióng cuộc ăn chơi thế cũng vừa.

    Quả đất Hoài Châu tôi mới biết,

    Mừng ông đọc bỡn mấy câu thơ.




    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tặng cô đào Lựu


    Ngày xưa Lựu muốn lấy ông,

    Ông chê Lựu bé, Lưu không biết ǵ.

    Bây giờ Lựu đă đến thời,

    Ông muốn lấy Lựu, Lựu chê ông già

    Ông già ông khác người ta,

    Những cái nhi nhắt, ông ma bằng mười.




    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Trọc đầu


    Trải gió, dầm mưa đă lắm rồi,
    Phen này cắt tóc để làm tôi.
    Trơn tru chẳng có c̣n ai cứ
    Lông lốc tha hồ để mẹ bôi
    Cái lược từ đây khôn lối gỡ,
    Con đen thôi hẳn hết đường chui;
    Cũng toan rắp tiếng làm sư cụ,
    Nghĩ lại, song mà chửa chính ngôi.




    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Mua quan tài


    Ba vua bốn chúa bảy thằng con,
    Thắm thoát xuân thu bảy chục tṛn;
    Ơn nước chưa đền danh cũng hổ,
    Quan tài sẵn có chết th́ chôn;
    Giang hồ lang miếu trời đôi ngả,
    Bị gậy cân đai đất một ḥn;
    Cũng muốn sống thêm mươi tuổi nữa,
    Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn.



    Nguyễn Khuyến

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Châu chấu đá voi


    Châu chấu làm sao dám đá voi,
    Đứng xem ta cũng nực cơn cười.
    Loe xoe sấn lại dương đôi vế
    Ngứa ngáy không hề động nửa đuôi.
    Hay giở cuộc này ba chén rượu
    Được thua chuyện ấy một tṛ chơi.
    Nghĩ ra ta cũng thương ḿnh nhỉ,
    Theo đít c̣n hơn một lũ ruồi!



    Nguyễn Khuyến
    (Nam Phong số 7)

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Hỏi đá


    Bao nả giang sơn một gánh tṛn,

    Ngh́n thu sương tuyết vẫn không ṃn;

    Biết chăng chỉ có ông Hà bá,

    Mỉm mép cười thầm với nước non.

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Về Nghỉ Nhà


    Tóc bạc, ḷng son chửa dám già
    Ơn vua nhờ được nghỉ về nhà
    Nước non cây cỏ c̣n như cũ
    Ghế ga6.y cân đai thế cũng là
    Đất rộng biết thêm đường gốc sậy
    Ngày rồi nghe hết chuyện la-ga
    Ông trời có lẽ cho ta nhỉ
    Có ư sinh ta phải có ta.

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Than Mùa Hè


    Tháng tư đầu mùa hạ
    Tiết trời thực oi ả
    Tiếng dế kêu thiết tha,
    Đàn muỗi bay tơi tả
    Nỗi ấy ngỏ cùng ai
    Cảnh này buồn cả dạ
    Biếng nhắp năm canh chầy
    Gà đă sớm giục giă

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Than Già


    Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay
    Ông gẫm ḿnh ông, nghĩ cũng hay
    Mái tóc cḥm xanh, cḥm lốm đốm
    Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay
    Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
    Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
    C̣n một nỗi này thêm chán ngắt
    Đi đâu giở những cối cùng chày .

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Ngẫu Hứng

    Nghĩ đời mà ngán cho đời
    Co cóp làm sao được với trời
    Chép miệng lớn đầu to cái dại
    Phờ râu chịu đấm mất phần xôi
    Được thua hơn kém lưng bầu rượu
    Hay dở khen chê một trận cười
    Dựa gối bên mành toan hóa bướm
    Gió thu lạnh lẽo, lá vông rơi
    Last edited by Thien Sat Ma Yeu; 12-19-2003, 05:04 PM.

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Mạn Hứng

    Đô Môn nhất xuất toại qui điền
    Bẩn bệnh niên lai độc tự liên
    Song nhật ám di hồng ảnh cận
    Trúc phong bất nhượng bạch đầu tiên
    Bố ương bô lăo tri ḥa cước
    Địch cốc nhân hồi dẫn đấu niên
    Thừa hứng chỉ duy tôn tửu thích
    Nam Sơn bằng diếu chính du nhiên

    Dịch nghĩa:

    Bước ra khỏi cửa kinh đô liền trở về đồng ruộng
    Đă nghèo lại ốm, ít lâu nay ḿnh riêng tự thương ḿnh
    Trước cửa sổ, mặt trời lặng lẽ đưa bóng nắng lại gần
    Trên ngọn tre, làn gió không nhường cho đầu bạc trước
    Người làm ruộng già gieo mạ hiểu biết chân lúa xấu tốt
    Kể đong thóc về tŕnh bày tuổi đấu nhiều ít
    Lúc hứng chỉ có chén rượu là thích thú
    Ngồi nh́n núi Nam Sơn ḷng dường phơi phới

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Chế Ông Đồ Cự Lộc


    Văn hay chữ tốt ra tuồng
    Văn dai như chăo, chữ vuông như ḥm
    Vẻ thấy như vẻ con tôm
    Vẻ tay ngoáy cám, vẻ mồm húp tương
    Vẻ lịch sự ai bằng Cự Lộc
    Vẻ cô đầu nói móc có vài câu:
    Anh chẳng sang, mà cũng chẳng giàu
    Hầu bao ních, rận bâu quanh chiếu
    Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu
    Nón sơn không méo cũng không tṛn
    Quần vải thô, ngại giặt ngả màu son
    Giày cóc gặm, nhặt dây đàn khâu lấy
    Phong lưu ấy mà t́nh tính ấy
    Đến cô đầu, vẫn thấy lả lơi bông
    Xinh thay diện mạo anh hùng !

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Câu Đối Tết





    Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
    Uớc ǵ nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân


    Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
    Sáng mồng một, rượu say tuư luư, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Câu Đối Nguyễn Khuyến






    Thú Quê







    - Quan chẳng quan th́ dân, chiếu trung đ́nh ngất ngưỡng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào ban ba, tiền làm sao đóng góp làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nh́n thấy đà nhẵn mặt;



    - Già chẳng già th́ trẻ, đàn tiểu tử lau nhau đứng trước, này thơ, này phú, này đoạn một, bằng là thế trắc là thế, khuyên điểm là thế, ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoát, con mắt gà đeo kính đă ṃn tai



















    Dán Nhà







    - Người nước Nam, hỏi tiếng Tây chẳng biết tiếng Tây, hỏi tiếng Tàu chẳng biết tiếng Tàu, cho nên phải “minh tiên vương chi đạo dĩ đạo” (1)



    - Nhà hướng Bắc, người chưa rét th́ ḿnh đă rét, người chưa bức th́ ḿnh đă bức, mới gọi là “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” (2)







    (1) “Minh tiên vương chi đạo dĩ đạo”: làm sáng đạo của tiên vương để mà noi theo



    (2) “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu”: lo trước điều lo của thiên hạ











    Dán Cổng







    - Không tham không hăi, không dại không lo, không cứng cổ không to khí tượng (1)



    - Có phúc có phần, có nhân có nở, có lọt ḷng có nợ quân thân (2)







    (1) Khí tượng: tinh thần và h́nh dạng con người



    (2) Quân than: vua và cha mẹ















    Mừng Ông Tiên Chỉ







    - Đám công danh có chí thời nên, ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng, chiếu trung đ́nh ngất ngưỡng ngồi trên, ngôi tiên chỉ cũng rất là đáng;



    - Nhờ phúc ấm sống lâu lên lăo, anh cả bàn năm, anh hai bàn sáu, đoàn tiểu tử xênh xang múa trước, tranh tam đa (1) ai khéo vẽ nên ?







    (1) Tranh tam đa: bức tranh vẽ ba người: người đứng giữa là ông Phúc, tức là ông Quách Tử Nghi; người đứng bên trái là ông Thọ, tức là ông Đông Phương Sóc; người đứng bên phải là ông Lộc, tức là ông Đậu Vũ Quân .











    Mừng Cô Tư Hồng (*)







    - Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh



    - Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người







    (*) Tư Hồng tên thật là Trần thị Lan, quê ở Phủ Lư ( Hà Nam) lấy người Hoa Kiều là chú Hồng ở Hải Pḥng, sau lấy người cố đạo phá giới là Croibier Huguet (c̣n gọi là cố Hồng).



    Cô Tư Hồng đă nhận đứng thầu phá nốt những mảnh tường thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê nhờ thế mà trở nên giàu có . Về sau Tư Hồng buôn gạo lậu thuế bị bắt, nói dối là đem phát chẩn, được bọn thực dân đề nghị với triều đ́nh phong kiến cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân” và cho cả bố thị hàm Thi độc . Tư Hồng về làng ăn khao linh đ́nh, có người mừng câu đối:







    “Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn



    Trăm năm danh tiếng của bà to”



    (tương truyền câu đối của Nguyễn Khuyến)











    Mừng Đám Cưới







    - Giàu có thiếu ǵ tiền, đi một vài quan không phải lẽ;



    - Sang không th́ ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là t́nh











    Tặng Ông Bảng Long (*)







    - Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại



    - Triều đ́nh cử mục, anh hùng chỉ có một người thôi







    (*) Ông này làm quan vơ và bị chột mắt .











    Mừng Tân Ấp của Hoàng Cao Khải (*)







    - Len vai để đệ một làng quan, nào giầy, nào dép, nào ngựa, nào xe, nào nước cờ chén rượu, nào mảnh hát cung đàn, thú tự nhiên đặt sẵn gió trăng này, dẫu tử mạch hồng trần nhưng chẳng tục;



    - Mở mặt giang san trong đất nước, có quán có cầu, có chợ, có chú Khách ông Xiêm, có kẻ thầy người thợ, kho vô tận của chung trời đất cả, lọ hoa viên thú uyển mới là xuân







    (*) Hoàng Cao Khải lập ra ấp Thái Hà, thuộc khu Đống Đa – Hà Nội bây giờ . Khi Hoàng Cao Khải xây dựng ấp, ư kêu gọi một số quan lại cùng làm nhà ở ấp ấy, lập thành một làng .















    Mừng Nhà Mới







    - Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa tích tằng xưng tị ốc; (1)



    - Giàu ở làng, sang ở nước, nhờ trời nay đă vểnh râu tôm







    (1) Xưng tị ốc: do câu “”Đường Ngu chi thời ốc nhi phong”. Ư nói đời Đường Ngu, trong nước có nhiều người hiền, nên nhiều nhà ở liền vách nhau được khen thưởng .



    Tương truyền nhà thơ làm cho vợ chồng anh trưởng chợ (khán thị) làm được nhà mới vừa gần chợ, vừa gần sông . Đặc biệt câu đối này một vế chữ, một vế nôm và đối rất chỉnh











    Viếng Người Làng (*)







    - Vừa mới họp việc làng, mặc áo địa, cầm quạt lông, đủng đỉnh coi như ra dáng nhỉ;



    - Thế mà chết đầu nước, lấp ván thiên, vùi đất thịt, viếng thăm th́ đă đứt đuôi rồi







    (*) Nhà thơ viếng một ông kỳ mục trong làng đi tắm chết đuối .















    Viếng Bà Thông Gia (*)







    - Ôi thương ôi ! Hơn một ngày chẳng ở, kém một ngày chẳng đi, bà năm mươi tám mà bà nhà tôi sáu mươi tư, xuân thu tuổi đă cao rồi, lọ là bon chen bảy tám chín mười mươi, thôi đừng cầu phật cầu trời chín suối không nên ân hận nữa;



    - Ấy quái nhỉ ! Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật, bà tháng năm này mà bà nhà tôi tháng tư trước, ngày tháng cũng không cách mấy, nào có lâu la một năm năm bảy tháng, ví chẳng dâu gia dâu giáo, đường mây sao khéo rủ rê nhau







    (*) Bà này là vợ ông Vũ Văn Báo người làng Vĩnh Trụ (Nam Hà) đỗ phó bảng, làm tổng đốc Nam Định, là “thế huynh” (con trai thầy học) và thông gia của nhà thơ .











    Viếng Người Thợ Rèn







    - Nhà cửa để lầm than, con thơ dại lấy ai rèn cặp ?



    - Cơ đồ đành bỏ bễ, vợ trẻ trung lắm kẻ đe loi (1).







    (1) Tương truyền nhà thơ viếng một người thợ rèn bên láng giềng chết trẻ, để lại vợ trẻ con thơ . Và trong hai vế đối này, nhà thơ đă dùng những tiếng: than, rèn, cặp, bễ, đe, loi …là những dụng cụ cần thiết trong nghề thợ rèn .















    Tặng Người Quen







    - Có hay chi “cơng rắn cắn gà nhà”, phong lưu chú Bát (1), phú quư d́ Tư (2), mây nổi đă từng qua trước mắt .



    - Thôi đừng có “rước voi giày mả tổ”, sự nghiệp bà Bông (3), thơ từ ông Húng (4), gió bay đành lẽ gác ngoài tai .







    (1) Chú Bát: ẩn danh của Nguyễn Trọng Kim, thường gọi là Thương Kim v́ y làm Thương biện Hà Nội, đi lại với Tây, nên chúng cho hàm “bát phẩm bá hộ” có sản nghiệp hàng Khay, tương truyền là bá hộ Kim xây tháp rùa để mả .



    (2) D́ Tư: tức cô Tư Hồng



    (3) Bà Bông: vợ kế của Honàg Cao Khải . Sự nghiệp bà Bông: có người cho là nhà thơ ám chỉ việc Hoàng Cao Khải làm tiểu phủ sứ đánh cụ Đề Thám, mất ấn, sau phải sai vợ đến ở trong trại một lănh tụ là Thân Đức Luận để đánh lừa lấy trộm ấn về .



    (4) Ông Húng: tức là Phạm Văn Toán, người làng Yên Lăng (nay là ngoại thành Hà Nội) sản xuất rau húng, hay làm thơ, nhờ khéo nịnh Tây mà leo lên đến chức tổng đốc Nam Định, (vào khoảng 1900-1904). Khi y làm tuần phủ Hưng Yên, có làm bài vịnh chim bồ câu:







    Bốn cột chênh vênh đứng giữa trời



    Khi th́ bay bổng, lúc bay khơi



    Về sau nó đẻ ra con cháu



    Nướng chả, băm viên, đánh chén chơi







    được các quan dưới quyền khen hay. V́ y dốt mà lại sính làm thơ nên Nguyễn Khuyến mới mỉa là “thơ từ ông Húng” .











    Khóc Con (*)







    - Bảng vàng bia đá ngh́n thu, tiếc cho người ấy



    - Tóc bạc da mồi trăm tuổi, thiệt lắm con ơi !







    (*) Nhà thơ khóc con là Nguyễn Hoan, đỗ phó bảng và làm tri phủ Kiến Xương (Thái B́nh) bị bệnh chết .















    Khóc Chồng và Con (*)







    - Con ơi con ! Những mong con kinh sử dùi mài, ơn phụ mẫu nở dứt t́nh xương thịt;



    - Chàng hỡi chàng ! Sao bội ước hải sơn chan chứa, nghĩa phu thê càng đứt cả ruột gan .







    (*) Tương truyền nhà thơ làm cho một người láng giềng làm nghề bán thịt, khóc chồng và con trai đi chợ bị đắm đ̣ chết cùng một lúc .















    Thờ Bà Trùm (*)







    - Giàu làm kép hẹp làm đơn, tống táng cho yên hồn phách mẹ;



    - Cá kể đầu rau kể mớ, t́nh tang thêm tủi phận đàn con (1)







    (*) Tương truyền nhà thơ làm hộ cho một cô đầu thờ bà Trùm ở trong nhà hát ngày xưa



    (1) Trong 2 vế đối này, nhà thơ đă dùng những tiếng: “ Kép, đầu, tống táng, t́nh tang, phách đàn …” để tả nghề hát ả đào.















    Khóc Chồng (*)







    - Thiếp từ thuở lá thắm xe duyên, khi vận tía lúc cơm đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ;



    - Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh (1)







    (*) Tương truyền nhà thơ làm hộ cho vợ một người thợ nhuộm khóc chồng



    (1) trong hai vế đối này, nhà thơ đă dùng những tiếng: “ thắm, tía, đen, điều, đỏ, vàng, hồng, trắng, tím, xanh …” hầu hết màu sắc để tả nghề thợ nhuộm .

    Leave a comment:


  • Thien Sat Ma Yeu
    replied
    Cảnh Trong Nhà


    Bên thần, bên phật, giữa thời ta,
    Thần phật trong ḷng há phải xa ?
    Nhân nghĩa lọ cầu vua Đế Thích
    Hiếu trung khôn chúc phật Di Đà
    Lầu son phủ tía nhường cho trẻ,
    Nước biếc non xanh bạn với già
    Ai hỏi: nào nhà quan tiến sĩ ?
    Bên thần, bên phật, giữa thời ta

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Vợ Thợ Nhuộm Khóc Chồng

    Nguyễn Khuyến


    Thiếp kể từ lá thắm xe duyên,
    khi vận tía lúc cơn đen,
    điều dại điều khôn nhờ bố đỏ.
    Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại,
    vợ má hồng con răng trắng,
    tím gan tím ruột với ông xanh.

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Văn Tế Ngạc Nhi

    Nguyễn Khuyến


    Than ôi !

    Một phút sa cơ
    Ra người thiên cổ

    Nhớ ông xưa:

    Cái mắt ông xanh,
    Cái da ông đỏ,
    Cái tóc ông quăn,
    Cái mũi ông lơ,
    Đít ông cưỡi lừa
    Miệng ông huưt chó.
    Lưng ông đeo súng lục liên,
    Chân ông đi giầy có mỏ.
    Ông ở bên Tây,
    Ông sang đô hộ.
    Đánh giặc Cờ Đen,
    Để yên con đỏ.

    Nào ngờ:

    Nó bắt được ông,
    Nó chặt mất sỏ.
    Cái đầu ông đây
    Cái ḿnh ông đó.
    Khốn nạn thân ông,
    Đù cha mẹ nó !

    Tôi :

    Vâng lệnh quan trên,
    Cúng ông một cỗ,
    Này chuối một buồng
    Này rượu một hũ,
    Này xôi một mâm,
    Này trứng một rổ,
    Ông có linh thiêng,
    Mời ông xơi hộ,
    ăn uống no say,
    Nằm yên một chỗ.
    ối ông Ngạc Nhi ôi !
    Nói càng thêm khổ.

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Thủy Tiên

    Nguyễn Khuyến


    Biết rằng gốc tích tự đâu ra?
    Cốt cách thiên nhiên vẻ ngọc ngà
    Trước án đặt vào trong bể đá
    Sáng mai bỗng nở mấy chồi hoa.
    Chuyên tay, c̣n kén chi phường lái?
    Ngán nỗi: riêng vui với... lăo già!
    Thơm thối ngàn năm sau vẫn thấy
    Mận đào bên xóm, chớ chua ngoa!

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Tặng Học Tṛ Đi Làm Quan Cho Tây

    Nguyễn Khuyến


    Hay thật là hay đáo để !
    Bảo một đàng quàng một nẻo;
    Thôi thế thời thôi cũng được !
    Phi đằng nọ tắc đằng kia.

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Nước lụt hỏi thăm bạn

    Nguyễn Khuyến


    Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu,
    Lụt lội năm nay bác ở đâu ?
    Mấy ổ lợn con rày lớn bé ?
    Vài gian nếp cái ngập nông sâu ?
    Phận thua suy tính càng thêm thiệt
    Tuổi cả chơi bời hóa sống lâu.
    Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
    Thung thăng chiếc lá rượu lưng bầu.

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Lên lão

    Nguyễn Khuyến


    Ông chẳng hay ông tuổi đă già,
    Năm lăm ông cũng lăo đây mà.
    Anh em làng xóm xin mời cả,
    Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là.
    Chú Đáo bên làng lên với tớ,
    Ông Từ xóm chợ lại cùng ta.
    Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ, (1)
    Có rượu thời ông chống gậy ra.


    (1) ăn dưng: ăn không.

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Khóc Vợ

    Nguyễn Khuyến


    Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm,
    thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng,
    tất tưởi chân nam chân xiêu,
    v́ tớ đỡ đần trong mọi việc.
    Bà đi đâu vội mấy, để cho lăo vất vơ vất vưởng,
    búi tóc củ hành, buông quần lá tọa,
    gật gù tay đũa tay chén,
    cùng ai kể lể chuyện trăm năm ?

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Hoa Cúc

    Nguyễn Khuyến


    Trăm hoa đua nở, vắng ngươi hoài !
    Trăm hoa tàn rồi mới thấy ngươi
    Tháng rét một ḿnh, thưa bóng bạn
    Nhị thơm chẳng rữa, chạnh ḷng ai
    Nhấp nhô lưng giậu xanh chồi trúc
    Óng ả đầu hiên mướt ngọn mai
    Cất chén mỉm cười, vừa ư tớ
    Bơ công vun xới đă lâu ngày.

    Leave a comment:


  • Tieu_long_vuong
    replied
    Duyên Nợ

    Nguyễn Khuyến


    Muốn


    Cái duyên hay cái nợ nần,
    Khi xa xa lắc, khi gần gần ghê.
    Dấu hồng c̣n gửi tuyết nê,
    Khi bay nào biết đông tê bóng hồng (1)

    Nói

    Giai nhân nan tắi đắc (2)
    Mười ba năm một giấc bâng khuâng,
    Động hơi thu chợt nhớ đến vầng trăng,
    Chén non nước tưởng chừng đâu bữa nọ.
    Quá nhăn quan âm quân dĩ ngộ
    Thiếu thời phong độ ngă do liên. (3)
    Lại may mà gió mát đưa duyên
    Mượn thơ thánh, đàn tiên khuây truyện cũ.
    Đối tửu mạc đề ly biệt cú, (4)
    Chốn non Vu vân vũ (5) hăy đi về,
    Cánh hồng nào biết đông tê ?



    (1) Lấy ư từ cổ thi:

    Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
    ưng thị phi hồng đạp tuyết nê
    Nê thượng ngẩu nhiên lưu trảo tích
    Hồng phi na phục kế đông tê


    Người ta đi đến đâu phải như thế nào; Nên như chim hồng bay dẩm lên đám tuyết trên bùn; — trên bùn ngẩu nhiên để lại dấu móng; chim hồng bay đi nào để ǵ bên đông bên tây (nhưng vết móng vẩn c̣n lưu lại).

    (2) Từ bài hát của Lư Diên Niên đời nhà Hán:


    Khởi bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc
    Giai nhân nan tái đắc

    Há không biết (người đẹp) nghiêng thành nghiêng nước đâu, (chỉ thấy) người đẹp khó mà gặp lại được.

    (3) Th́ giờ qua mắt vùn vụt ngươi đă lầm rồi; phong độ lúc thiếu niên ta c̣n tiếc đó.

    (4) Trước chén rượu chớ nên nhắc đến chuyện ly biệt.

    (5) non Vu vân vũ: điển tích vua Sở Tương Vương đi chơi ở đầm Vân Mộng, mơ thấy cùng một người con gái giao hoan. Khi từ biệt vua, nàng nói: "Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn, buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa." Người đời sau từ đó dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc trai gái giao hợp.

    Leave a comment:


  • VongHonTienTu
    replied
    Vịnh Tiến Sĩ Giấy

                    I

    Rơ chú hoa man (1) khéo vẽ tṛ,
    Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
    Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
    Giấy má nhà bay đáng mấy xu ?
    Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
    Bảng vàng bia đá vẩn ngh́n thu.
    Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
    Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.




                  II

    Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
    Cũng gọi ông nghè có kém ai.
    Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (2)
    Nét son điểm rơ mặt văn khôi. (3)
    Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ ?
    Cái giá khoa danh thế mới hời. (4)
    Ghế tréo, lọng xanh, ngồi bảnh chọe,
    Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi

    ----------------------------------
    Chú thích
    (1) hoa man: người thợ làm nghề hàng mă.

    (2) giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ (thi đ́nh) hay cử nhân (thi hương) trở lên. Trái với ất bảng đề tên những người đỗ phó bảng (thi đ́nh) hay tú tài (thi hương).

    (3) văn khôi: đầu làng văn, chỉ người đỗ đạc cao

    Leave a comment:


  • VongHonTienTu
    replied
    Văn Tế Ngạc-Nhi

    Than ôi !

    Một phút sa cơ
    Ra người thiên cổ

    Nhớ ông xưa:

    Cái mắt ông xanh,
    Cái da ông đỏ,
    Cái tóc ông quăn,
    Cái mũi ông lơ,
    Đít ông cưỡi lừa
    Miệng ông huưt chó.
    Lưng ông đeo súng lục liên,
    Chân ông đi giầy có mỏ.
    Ông ở bên Tây,
    Ông sang đô hộ.
    Đánh giặc Cờ Đen,
    Để yên con đỏ.

    Nào ngờ:

    Nó bắt được ông,
    Nó chặt mất sỏ.
    Cái đầu ông đây
    Cái ḿnh ông đó.
    Khốn nạn thân ông,
    Đù cha mẹ nó !

    Tôi :

    Vâng lệnh quan trên,
    Cúng ông một cỗ,
    Này chuối một buồng
    Này rượu một hũ,
    Này xôi một mâm,
    Này trứng một rổ,
    Ông có linh thiêng,
    Mời ông xơi hộ,
    ăn uống no say,
    Nằm yên một chỗ.
    ối ông Ngạc Nhi ôi !
    Nói càng thêm khổ.

    Leave a comment:


  • VongHonTienTu
    replied
    Hỏi Phỗng Đá

    Muốn
    Người đâu tên họ là chi ?
    Hỏi ra trích trích tri tri (1) nực cười.
    Vắt tay ngoảnh mặt trông đời,
    Cũng toan lo tính sự đời chi đây ?

    Nói
    Thấy lăo đá lạ lùng muốn hỏi,
    Cớ sao mà len lỏi đến chi đây ?
    Hay mảng vui hoa cỏ nước non này,
    Chừng cũng muốn dang tay vào hội Lạc (2)
    Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,
    Thương hải thùy tri ngă diệc âu. (3)
    Thôi thôi đừng nghĩ chuyện đâu đâu,
    Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
    Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
    Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
    Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
    Nên chăng đá cũng gật đầu !(4)

    ----------------------------------
    Chú thích
    (1) trích trích tri tri: trơ trơ không chuyển.

    (2) hội Lạc: đời nhà Tống, Tiến sĩ Văn Ngạn Bác, làm quan đến Thái sư, khi về hưu trí nhà ở Lạc Dương, cùng với Tư Mă Quang, Phú Bật và nhiều học giả cao niên khác lập ra Lạc Dương Kỳ Anh Hội để đàm đạo văn chương.

    (3) Núi xanh tự cười đầu sắp trắng như chim hạc; Biển xanh ai biết ta cũng như chim âu (ư ví người ẩn dật). í lấy từ hai câu thơ của Trương Dưỡng Hạo đời nhà Nguyên:
    Vân sơn tự tiếu đầu tương hạc
    Doanh hải thùy tri ngă diệc âu


    (4) Tương truyền Nguyễn Khuyến làm bài ca trù Hỏi Phỗng Đá này trong buổi lễ mừng thọ năm mươi của quan Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải.

    Leave a comment:


  • VongHonTienTu
    replied
    Duyên Nợ


    Muốn
    Cái duyên hay cái nợ nần,
    Khi xa xa lắc, khi gần gần ghê.
    Dấu hồng c̣n gửi tuyết nê,
    Khi bay nào biết đông tê bóng hồng. (1)

    Nói
    Giai nhân nan tắi đắc (2)
    Mười ba năm một giấc bâng khuâng,
    Động hơi thu chợt nhớ đến vầng trăng,
    Chén non nước tưởng chừng đâu bữa nọ.
    Quá nhăn quan âm quân dĩ ngộ
    Thiếu thời phong độ ngă do liên. (3)
    Lại may mà gió mát đưa duyên
    Mượn thơ thánh, đàn tiên khuây truyện cũ.
    Đối tửu mạc đề ly biệt cú, (4)
    Chốn non Vu vân vũ (5) hăy đi về,
    Cánh hồng nào biết đông tê ?

    ---------------------------
    Chú thích
    (1) Lấy ư từ cổ thi:
    Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
    ưng thị phi hồng đạp tuyết nê
    Nê thượng ngẩu nhiên lưu trảo tích
    Hồng phi na phục kế đông tê

    Người ta đi đến đâu phải như thế nào; Nên như chim hồng bay dẩm lên đám tuyết trên bùn; — trên bùn ngẩu nhiên để lại dấu móng; chim hồng bay đi nào để ǵ bên đông bên tây (nhưng vết móng vẩn c̣n lưu lại).

    (2) Từ bài hát của Lư Diên Niên đời nhà Hán:
    Khởi bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc
    Giai nhân nan tái đắc

    Há không biết (người đẹp) nghiêng thành nghiêng nước đâu, (chỉ thấy) người đẹp khó mà gặp lại được.

    3) Th́ giờ qua mắt vùn vụt ngươi đă lầm rồi; phong độ lúc thiếu niên ta c̣n tiếc đó.

    (4) Trước chén rượu chớ nên nhắc đến chuyện ly biệt.

    (5) non Vu vân vũ: điển tích vua Sở Tương Vương đi chơi ở đầm Vân Mộng, mơ thấy cùng một người con gái giao hoan. Khi từ biệt vua, nàng nói: "Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn, buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa." Người đời sau từ đó dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc trai gái giao hợp

    Leave a comment:

Working...
X