• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Thi Tiên- Lư Bạch

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Ngao_0p
    started a topic Thi Tiên- Lư Bạch

    Thi Tiên- Lư Bạch


  • Tri_A^m
    replied

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Vọng Thiên Môn sơn

    Nguyên tác chữ Hán:

    望天門山


    天门中断楚江开,   
    碧水东流至此回。   
    两岸青山相对出,   
    孤帆一片日边来。


    Phiên âm:

    Vọng Thiên Môn sơn

    Thiên Môn trung đoạn Sở giang khai,
    Bích thủy đông lưu chí thử hồi.
    Lưỡng ngạn thanh sơn tương đối xuất,
    Cô phàm nhất phiến nhật biên lai.


    Dịch nghĩa:

    Ngắm núi Thiên Môn

    Núi Thiên Môn đứt đoạn ở giữa, sông Sở mở ra,
    Ḍng nước biếc chảy về đông đến đây quay trở lại.
    Hai bên bờ núi xanh dựng đối nhau,
    Một cánh buồm lẻ loi như đến từ phía mặt trời.



    Các bản dịch thơ:

    Ngắm núi Thiên Môn


    Thiên Môn cắt giữa Sở Giang trôi,
    Nước biếc xuôi đông quay lại rồi.
    Sừng sững hai bờ xanh núi dựng,
    Cánh buồm đâu dạt tựa bên trời.


    Bản diệt: Ngao_0p

    -----
    Thơ Lư Bạch nhiều quá mà Ngáo ko rănh nhiều nên việc sưu tầm và diệt cứ lở đờ măi. Ngáo có sắp xếp thơ Lư Bạch ở trang này khi nào hoàn thành sẽ đem lại về đây . V́ là trang miễn phí nên chịu khó tắt quảng cáo

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Việt Nữ từ ngủ thủ - kỳ 5

    Nguyên tác chữ Hán:

    越女词五首 其五

    镜湖水如月,
    耶溪女如雪。   
    新妆荡新波,
    光景两奇绝。


    Phiên âm:

    Việt Nữ từ - Kỳ 5 *

    Kính hồ thủy như nguyệt,
    Da khê nữ như tuyết.
    Tân trang đăng tân ba,
    Quang cảnh lưỡng ḱ tuyệt.



    Dịch nghĩa:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 5

    Mặt hồ gương nước trong, sáng như ánh trăng,
    Các cô gái ở Nhược Da trắng như tuyết.
    Các cô mới trang điểm (đứng) dưới ánh trăng mới lên chiếu trên sóng
    Khung cảnh người và thiên nhiên thật là tuyệt vời.




    Các bản dịch thơ:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 5


    Nước như trăng, hồ như gương,
    Nhược Da thôn nữ tuyết sương trắng ngần.
    Điểm trang sóng sánh trăng ngân
    Cảnh, người, người, cảnh muôn phần như tranh.



    Bản diệt: Ngao_0p


    --------------------
    *: Mặt hồ như gương, nước hồ sáng đẹp như ánh trăng. Các cô gái ở thôn Nhược Da, da trắng tựa tuyết sương. Các cô mới trang điểm xong, y phục của các cô nói lên sự hiểu biết của ḿnh. Nước hồ sóng sánh dưới bóng trăng vừa lên khiến mặt hồ rực rỡ. Phong cảnh thật là ḱ diệu, đẹp như một bức tranh.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Việt Nữ từ ngủ thủ - kỳ 4

    Nguyên tác chữ Hán:

    越女词五首 其四

    东阳素足女,
    会稽素舸郎。   
    相看月未堕,
    白地断肝肠。


    Phiên âm:

    Việt Nữ từ - Kỳ 4 *

    Đông dương tố túc nữ,
    Hội kê tố khả lang.
    Tương khán nguyệt vị đọa,
    Bạch địa đoạn can tràng. (trường)



    Dịch nghĩa:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 4

    Chân nàng trắng nơn khiến trời đông tươi hẵn,
    Gặp dịp đến chiếc thuyền mộc mạc của chàng.
    Cùng xem ánh trăng vương văi
    Mặt đất sáng khiến người ta đứt cả ruột gan.




    Các bản dịch thơ:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 4


    Chân nàng trắng, trời Đông rực hẵn,
    Lên thuyền chàng ḷng chẳng phân vân.
    Cùng xem trăng văi xa gần,
    Chia tay soi đất đứt từng ruột gan.



    Bản diệt: Ngao_0p


    --------------------
    *: Trời đông huyền ảo khi trông thấy đôi chân trắng nơn của nàng. Gặp dịp nàng vui vẻ quay thuyền nhỏ lại để lên chiếc thuyền mộc mạc của chàng. T́nh nói không hết lời, nh́n nhau say đắm. Bốn mắt không rời nhau, hận không thể cưỡi được ngựa đến thăm nhà nàng khi đêm tối chưa tới. Ánh trăng cứ vương văi măi dưới núi, ánh sáng như những hạt li ti ch́m đắm ...

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Việt Nữ từ ngủ thủ - kỳ 3

    Nguyên tác chữ Hán:

    越女词五首 其三

    耶溪采莲女,
    见客棹歌回。   
    笑入荷花去,
    佯羞不出来。


    Phiên âm:

    Việt Nữ từ - Kỳ 3 *

    Da khê thái liên nữ
    Kiến khách trạo ca hồi
    Tiếu nhập hà hoa khứ
    Dương tu bất xuất lai.



    Dịch nghĩa:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 3

    Cô gái hái sen bên khe suối Nhược Da,
    Nh́n thấy người lạ quay mặt nưng hát rồi đi trốn.
    Cô cười cười núp sau đám hoa sen,
    Thẹn thùng không dám ra lại.




    Các bản dịch thơ:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 3


    Hái sen cô gái Nhược Da,
    Gặp khách sao lại ngưng ca, quay thuyền.
    Trong hoa nhoẻn nụ cười duyên,
    Thẹn thùng chi chẳng ra miền nước trong.



    Bản diệt: Ngao_0p


    --------------------
    *: Nghe tiếng cười, hát của cô gái hái sen ở khe Nhược Da, Lư Bạch đang ngâm thơ trên thuyền nh́n ra thấy một chiếc thuyền nhỏ (xuồng) đang bơi. Người trên thuyền thấy Lư Bạch vội chống sào đẩy thuyền của cô ta trốn vào đám hoa sen dày đặc. Cô nàng giả bộ e thẹn không chịu cho thuyền ra.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Việt Nữ từ ngủ thủ - kỳ 2

    Nguyên tác chữ Hán:

    越女词五首 其二

    吴儿多白皙,
    好为荡舟剧。   
    卖眼掷春心,
    折花调行客。


    Phiên âm:

    Việt Nữ từ - Kỳ 2 *

    Ngô nhân đa bạch tích,
    Hảo vi đăng chu kịch.
    Mại nhăn trịch xuân tâm,
    Chiết hoa điều hành khách.



    Dịch nghĩa:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 2

    Cô gái Ngô ở Trường Can
    Chân mày, khóe mắt sáng đẹp tựa trăng, sao.
    Chân mang đôi guốc mộc (trắng) như sương tuyết
    (Đi) hai chân đều khớp nhau (như không tiếp xúc với mặt đất).




    Các bản dịch thơ:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 2


    [Người Ngô da sắc trắng,
    Măi vui thuyền nghiêng nặng.
    Mắt ngọc át hồn xuân,
    Hoa che, khách thinh lặng.



    Bản diệt: Ngao_0p


    --------------------
    *: Lư Bạch đi thuyền trên sông Chiết Giang, thấy nhiều nam nhân trên thuyền bàn tán, so sánh xem các cô gái đang đập vải trên sông coi da cô nào trắng hơn. Chuyện vui quá nên thuyền bị dao động mạnh. Các cô gái phát hiện ra e thẹn nên hái lá sen che mặt, đây cũng là cách để khách trên thuyền ổn định lại.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Việt Nữ từ ngủ thủ - kỳ 1

    Nguyên tác chữ Hán:

    越女词五首 其一

    长干吴儿女,
    眉目艳星月。   
    屐上足如霜,
    不着鸦头袜。


    Phiên âm:

    Việt Nữ từ - Kỳ 1

    Trường Can Ngô nhân nữ,
    Mi mục diễm tinh nguyệt.   
    Kịch thượng túc như sương,
    Bất trứ nha đầu miệt.



    Dịch nghĩa:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 1

    Cô gái Ngô ở Trường Can
    Chân mày, khóe mắt sáng đẹp tựa trăng, sao.
    Chân mang đôi guốc mộc (trắng) như sương tuyết
    (Đi) hai chân đều khớp nhau (như không tiếp xúc với mặt đất).




    Các bản dịch thơ:

    Khúc hát về người con gái đất Việt - Kỳ 1

    I

    Gái Ngô ở Trường Can,
    Mày, mắt sáng linh lan.
    Guốc mộc khua sương khói
    Chân bước, đất mơ màng.


    II

    Gái Ngô ở đất Trường Can,
    Chân mày, khóe mắt rỡ ràng sao, trăng.
    Guốc nàng khẽ động sương giăng,
    Gót hồng tha thướt phải chăng tiên trời!



    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Vọng Anh Vũ châu hoài Nễ Hành

    Nguyên tác chữ Hán:

    望鸚鵡洲懷禰衡

    魏帝营八极,
    蚁观一祢衡。   
    黄祖斗筲人,
    杀之受恶名。   
    吴江赋鹦鹉,
    落笔超群英。   
    锵锵振金玉,
    句句欲飞鸣。   
    鸷鹗啄孤凤,
    千春伤我情。   
    五岳起方寸,
    隐然讵可平。   
    才高竟何施,
    寡识冒天刑。   
    至今芳洲上,
    兰蕙不忍生。


    Phiên âm:

    Vọng Anh Vũ châu hoài Nễ Hành

    Ngụy đế[1] doanh bát cực,
    Nghĩ quan nhất Nễ Hành.[2]
    Hoàng Tổ[3] đẩu sao nhân,
    Sát chi thụ ác danh.
    Ngô giang phú Anh Vũ,
    Lạc bút siêu quần anh.
    Thương thương chấn kim ngọc,
    Cú cú dục phi minh.
    Chí ngạc[4] trác cô Phượng,
    Thiên xuân thương ngă t́nh.
    Ngũ nhạc[5] khởi phương thốn,
    Ẩn nhiên cự khả b́nh.
    Tài cao cánh hà thi,
    Quả thức mạo thiên h́nh.
    Chí kim phương châu thượng,
    Lan huệ bất nhẫn sanh.


    Dịch nghĩa:

    Trông băi Anh Vũ nhớ Nễ Hành

    Ngụy đế uy danh vượt tám cơi,
    So với Nễ Hành chỉ là con kiến.
    Hoàng Tổ khí cục hèn mọn,
    Giết (Nễ Hành) chi để mang tiếng ác
    Phú Ngô giang giải bày nổi ḷng Anh Vũ,
    Hạ bút vượt tất cả anh tài.
    Từng tiếng khua động vàng ngọc,
    Từng câu thánh thoát tiếng chim ngân.
    Chim Chí ngạc (Thư cưu) mổ con Phượng hoàng lẻ loi,
    Chuyện ngàn xưa làm đau đớn t́nh ta.
    Núi Ngũ Nhạc nổi lên ở phương trời cụt
    Đă ở ẩn há được b́nh yên.
    Tài năng hơn tất cả sao lại bị bêu xác,
    Sự kém hiểu biết (dốt, chỉ Hoàng Tổ) nên chẳng sợ trời phạt.
    Đến nay cỏ thơm đă mọc dày trên băi,
    Hoa lan, hoa huệ không nỡ mọc lên.



    Các bản dịch thơ:

    Trông băi Anh Vũ nhớ Nễ Hành

    Vua Ngụy danh tám cơi,
    Nhưng bé trước Nễ Hành.
    Hoàng Tổ khí hèn mọn,
    Giết hiền, mang ác danh.
    Phú sông Ngô, Anh Vũ
    Bút thần vượt tài anh.
    Lời rung vàng động ngọc,
    Câu thánh thót chim xanh.
    Chí Ngạc hùa cắn Phượng,
    Chuyện ngàn năm nát ḷng.
    Ngũ Nhạc trồi phương hẫng,
    Ở ẩn chẳng yên b́nh.
    Hơn đời lại bêu xác
    Ngu dốt tất trời hành.
    Nay băi xanh hương cỏ,
    Huệ, Lan không nỡ dành.



    Bản diệt: Ngao_0p


    ----------------
    1. Ngụy đế: chỉ Tào Tháo. Tuy nhiên lúc Tào Tháo gặp Nễ Hành th́ Tào Tháo vẫn c̣n là Thừa tướng nhà Hán chứ chưa xưng Ngụy đế.
    2. Nễ Hành: Sống thời Tam quốc, người B́nh Nguyên tự Chính B́nh là một danh sĩ ở ẩn. Khổng Dung tự Văn Cử (mưu sĩ của Tào Tháo) là bạn thân của Nễ Hành đă tiến cử ông. Nhưng khi gặp Tào Tháo, Nễ Hành tính vốn ngông nghênh đă không xem Tháo ra ǵ, Tháo muốn giết nhưng lại sợ mang tiếng bèn đẩy Nễ Hành đến Kinh Châu gặp Lưu Biểu với danh nghĩa dụ hàng. Lưu Biểu biết ư Tháo muốn "mượn đao giết người" liền bảo Nễ Hành sang Giang Hạ gặp Hoàng Tổ. Hoàng Tổ ḷng dạ hẹp ḥi, khi uống rượu nói chuyện với Nễ Hành đă nổi giận giết ông ngay. Lưu Biểu thương xót, cho người lấy xác Nễ Hành về chôn ở băi Anh Vũ.
    3. Hoàng Tổ: người thời Tam Quốc, trấn thủ Giang Hạ. V́ hẹp ḥi khi bị Nễ Hành gọi y là: "Tượng thần trong miếu" (ám chỉ vô dụng), y liền giết Nễ Hành, rồi bêu xác.
    4. Chí ngạc: tên một loài chim, c̣n gọi là Thư cưu.
    5. Ngũ Nhạc: tên núi, có 5 ngọn: Tung Sơn, Thái Sơn, Hoa Sơn, Hành Sơn, Hằng Sơn.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tương phùng hành


    Nguyên tác chữ Hán:

    襄陽歌

    朝騎五花馬,
    謁帝出銀臺。
    秀色誰家子,
    雲車珠箔開。
    金鞭遙指點,
    玉勒近遲回。
    夾轂相借問,
    疑從天上來。
    蹙入青綺門,
    當歌共銜杯。
    銜杯暎歌扇,
    似月雲中見。
    相見不得親,
    不如不相見。
    相見情已深,
    未語可知心。
    胡爲守空閨,
    孤眠愁錦衾。
    錦衾與羅幃,
    纏綿會有時。
    春風正澹蕩,
    暮雨來何遲。
    願因三青鳥,
    更報長相思。
    光景不待人,
    須臾髮成絲。
    當年失行樂,
    老去徒傷悲。
    持此道密意,
    毋令曠佳期。


    Phiên âm:

    Tương phùng hành

    Triêu kị ngũ hoa mă,
    Yết đế xuất Ngân đài.
    Tú sắc thùy gia tử,
    Vân xa châu bạc khai.
    Kim tiên dao chỉ điểm,
    Ngọc lặc cận tŕ hồi.
    Giáp cốc tương tá vấn,
    Nghi ṭng thiên thượng lai.
    Túc nhập thanh ỷ môn,
    Đương ca cộng hàm bôi.
    Hàm bôi ánh ca phiến,
    Tự nguyệt vân trung kiến.
    Tương kiến bất đắc thân,
    Bất như bất tương kiến.
    Tương kiến t́nh dĩ thâm,
    Vị ngữ khả tri tâm.
    Hồ vi thủ không khuê,
    Cô miên sầu cẩm khâm.
    Cẩm khâm dữ la vi,
    Triền miên hội hữu th́.
    Xuân phong chánh đạm đăng,
    Mộ vũ lai hà tŕ.
    Nguyện nhân tam thanh điểu,
    Canh báo trường tương tư.
    Quang cảnh bất đăi nhân,
    Tu du phát thành ti.
    Đương niên thất hành lạc,
    Lăo khu đồ thương bi.
    Tŕ thử đạo mật ư,
    Vô lệnh khoáng giai ḱ.


    Dịch nghĩa:

    Bài hát tương phùng

    Sáng sớm cưỡi con ngựa ngũ hoa
    Rời Ngân đài lên đường gặp đức Vua.
    Người con gái xinh đẹp kia là con nhà ai,
    Rèm châu trên xe mây mở ra.
    Cây roi (đánh ngựa) từ xa chỉ đến
    Dây cương ngọc đến gần quay lại chậm chạp.
    Đến gần bánh xe (ngựa) hỏi thăm nhau,
    Cứ ngỡ tiên nữ trên trời xuất hiện.
    Gấp rút vào nơi cửa rèm xanh (ở ven thành Trường An)
    Tiếng ca ḥa với chén rượu.
    Chén rượu soi bóng cây quạt lời ca
    Tựa như gặp trăng trong mây.
    Gặp nhau không được gần,
    Thà rằng đừng gặp nhau.
    Gặp rồi t́nh nặng măi,
    Không lời nói nào nói cho hết ḷng này.
    Hà tất lại giữ lấy pḥng không
    Ngủ một ḿnh buồn thêm chăn gấm.
    Chăn gấm có khác nào cái màn, lưới giăng chim.
    Giờ gặp nhau quấn quít,
    Gió xuân đúng là lặng lẽ nhẹ nhàng.
    Mưa chiều sao lại đến chậm chạp
    Những muốn cầu (Vương mẫu) cho ba con chim xanh.
    Thay báo (cho ta) biết nổi nhớ dài
    Cảnh vật ở đây không đăi người.
    Trong chốc lát tóc đă thành tơ,
    Đang tuổi (xuân) mà mất niềm vui.
    Ruổi ngựa đă lâu những chỉ đau ḷng thương khóc
    Nàng đi theo con đường cũ với ư nghĩ riêng,
    Đừng có lệnh (gặp vua) th́ ắt không quên kỳ hẹn giai nhân.



    Các bản dịch thơ:

    Bài hát tương phùng

    Ngựa ngũ hoa sớm cưỡi
    Vào kinh rời Ngân đài.
    Nhà ai cô gái đẹp,
    Xe mây, rèm châu lay.
    Cuốn roi, xa chỉ đến.
    Cương ngọc gần chậm quay.
    Ngựa song song, thăm hỏi,
    Ngỡ tiên nữ rời mây.
    Cửa rèm xanh đến gấp,
    Lời ca ḥa rượu cay.
    Chén xinh bóng quạt rợp,
    Tựa gặp trăng trong mây.
    Gặp nhau không gần được
    Biết đừng gặp mà hay!
    Gặp nhau t́nh sâu nặng
    Lời nào hết ḷng đây!
    Pḥng không sao phải giữ?
    Chăn gấm sầu giấc dài.
    Chăn gấm hay màn lưới,
    Giờ quất quít đẹp thay.
    Gió xuân thật lăng đăng
    Mưa chiều lại chậm rơi.
    Ba chim xanh, ước có,
    Báo nỗi nhớ đong đầy.
    Cảnh vật không ch́u người,
    Tóc thành tơ phút giây.
    Tuổi xuân t́nh yêu vuột
    Đau ḷng giục ngựa bay.
    Niềm riêng nàng chậm tiến,
    V́ lệnh, hẹn có ngày ...


    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tương Dương ca

    Nguyên tác chữ Hán:

    襄陽歌

    落日欲没岘山西,
    倒著接蓠花下迷。   
    襄阳小儿齐拍手,
    拦街争唱《白铜鞮》
    旁人借问笑何事,
    笑杀山公醉似泥。   
    鸬鹚杓,鹦鹉杯。
    百年三万六千日,
    一日须倾三百杯。   
    遥看汉水鸭头绿,
    恰似葡萄初酦醅。   
    此江若变作春酒,
    垒曲便筑糟丘台。   
    千金骏马换小妾,
    醉坐雕鞍歌《落梅》。
    车旁侧挂一壶酒,
    凤笙龙管行相催。   
    咸阳市中叹黄犬,
    何如月下倾金罍?   
    君不见
    晋朝羊公一片石,
    龟头剥落生莓苔。   
    泪亦不能为之堕,
    心亦不能为之哀。
    清风朗月不用一钱买,
    玉山自倒非人推。   
    舒州杓,力士铛,
    李白与尔同死生。
    襄王云雨今安在?
    江水东流猿夜声。


    Phiên âm:

    Tương Dương ca

    Lạc nhật dục một Hiện Sơn tây,
    Đảo trứ tiếp li hoa hạ mê.
    Tương Dương tiểu nhân tề phách thủ,
    Lan nhai tranh xướng “Bạch Đồng Đê”[1]
    Bàng nhân tá vấn tiếu hà sự.
    Tiếu sát sơn công túy tự nê.
    Lô từ[2] tiêu, anh vũ bôi.
    Bách niên tam vạn lục thiên nhật,
    Nhất nhật tu khuynh tam bách bôi.
    Dao khán Hán thủy áp đầu lục,
    Kháp tự bồ đào sơ bát phôi.
    Thử giang nhược biến tác xuân tửu,
    Lũy khúc tiện trúc tao khâu đài.
    Thiên kim tuấn mă hoán tiểu thiếp,
    Túy tọa điêu an ca “Lạc mai”.[3]
    Xa bàng trắc quải nhất hồ tửu,
    Phượng sanh long quản hành tương thôi.
    Hàm dương thị trung thán hoàng khuyển,[4]
    Hà như nguyệt hạ khuynh kim lôi?
    Quân bất kiến:
    Tấn triều Dương công nhất phiến thạch,[5]
    Quy đầu bác lạc sanh môi đài.  
    Lệ diệc bất năng vi chi đọa,
    Tâm diệc bất năng vi chi ai.
    Thanh phong lăng nguyệt bất dụng nhất tiền măi,
    Ngọc sơn tự đảo phi nhân thôi.
    Thư châu tiêu, lực sĩ đang,
    Lư Bạch dữ nhĩ đồng tử sanh.
    Tương vương[6] vân vũ kim an tại?
    Giang thủy đông lưu viên dạ thanh.


    Dịch nghĩa:

    Bài ca Tương Dương

    Mặt trời lặn như muốn ch́m vào phía tây núi Hiện Sơn,
    Ngă xuống (cố) bám đứng lên gần hoa như tỉnh như mê.
    Trẻ con Tương Dương (trông thấy) đều vỗ tay
    Ngăn con đường cùng nhau hát bài "Bạch Đồng Đê"
    Người bên cạnh ướm hỏi chuyện ǵ vui thế?
    Cười v́ thấy ông lăo ở núi say bét nhè
    Th́a giống chim lô từ, cái chén giống con chim vẹt
    Một trăm năm là ba vạn sáu ngàn ngày
    Một ngày phải nốc hết ba trăm chén rượu.
    Đứng xa nh́n xem sông Hán Thủy giống h́nh đầu vịt nước xanh biếc
    Mùi rượu mới ngâm chưa lược giống như rượu bồ đào.
    Nước sông cũng biến đổi thành rượu Xuân
    Bờ lũy uốn quanh tiện thể biến thành cái đài ngồi uống rượu
    Đổi cô vợ nhỏ lấy con ngựa ngàn vàng
    Say ngồi trên yên ngựa có điêu khắc hát khúc "Lạc mai"
    Chiếc xe bên cạnh treo một bầu rượu
    Sênh phượng, sáo rồng thúc giục nhau đi
    Giữa chợ Hàm Dương chó vàng than thở.
    Sao lại không cầm chén vàng uống rượu dưới trăng
    Ai có thấy:
    Triều Tấn, Dương Hỗ được dựng bia đá (Đọa lệ bi)
    Đầu rùa bị bóc vỡ ra sinh đài rêu
    Nước mắt cũng không c̣n để chảy
    Cũng chẳng c̣n ḷng nào để thương tiếc
    Trăng thanh gió mát không phải tốn một đồng để mua
    Núi Ngọc Sơn tự đổ đâu phải do người đẩy
    Th́a Tiêu châu, lực sĩ gơ,
    Lư Bạch này quyết cùng sống chết
    Nơi vua Tương vương mây mưa (cùng nữ thần núi Vu Sơn) giờ đâu nhỉ?
    Nước sông chảy về đông, đêm nghe tiếng vượn kêu.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Tương Dương

    Tây Hiện Sơn vầng dương đương lặn
    Ngă, bám hoa chẳng đặng c̣n mê.
    Tương Dương trẻ vổ tay hề,
    Ngăn đường hát "Bạch Đồng Đê" reo ḥ.
    Lại có kẻ ṭ ṃ muốn biết,
    Ra lăo già nét bét hèm say.
    Th́a lô từ, chén vẹt bay,
    Tính ba vạn sáu ngàn ngày: trăm năm.
    Một ngày nốc ba trăm chén rượu
    Hán Thủy xanh, xa ngỡ vịt bầu
    Bồ đào, rượu mới như nhau,
    Nước sông kia cũng nhuộm màu rượu Xuân.
    Đài ăn nhậu dựng tầng theo lũy
    Đổi vợ xinh, thỏa ư ngựa hay.
    Trên yên say hát "Lạc mai"
    Xe bên giắt rượu miệt mài nhâm nhi
    Sáo rồng đâu, giục đi sênh phượng,
    Chó vàng than chi ngượng Hàm Dương
    Trăng thanh sao chẳng chén vàng?
    C̣n ai có thấy miên man quang thiều.
    Như Dương Công, Tấn triều bia dựng
    Rêu đài xanh phủ cứng đầu rùa
    Lệ c̣n đâu nữa cay chua
    Ḷng nào thương tiếc những mùa đă qua.
    Trăng với gió ai đà mua vậy
    Núi Ngọc Sơn ai đẩy như đùa.
    Th́a Tiêu châu, lực sĩ khua
    Tử, sanh Lư Bạch hơn thua quyết cùng.
    Đỉnh Vu Sơn trập trùng trông ngóng
    Chốn mây mưa đâu bóng Tương Vương?
    Về đông sông chảy dặm trường,
    Đêm nghe tiếng vượn bi thương bên trời.


    Bản diệt: Ngao_0p


    ----------------
    1. Bạch Đồng đê: là một bài ca dao xưa có những câu như: "nhật mộ đảo tái quy, mính đính vô sở tri, phục năng kị tuấn mă, đảo trứ bạch tiếp li". (Tối đến ngày lại đi, Say sưa chẳng biết ǵ, Lại hay cưỡi tuấn mă, Giậu hoa, ngă bám th́).
    2. Lô từ: một loài chim nước, lông đen.
    3. Lạc mai: tên đầy đủ là "Mai hoa lạc", Bài hát hoa mơ rụng. Là một bài hát có âm điệu uyển chuyển.
    4. Hoàng khuyển (chó vàng): Truyện Lư Tư thời nhà Tần. Khi bị Tần Nhị Thế bắt đem ra chợ Hàm Dương chém ngang lưng, Lư Tư nói với con: "Ta muốn cùng ngươi lại dắt con chó vàng, ra khỏi cửa Đông ở ấp Thượng Sái đuổi con thỏ khôn, nhưng làm sao được nữa?"
    5. Dương Công tức Dương Hỗ làm quan đời nhà Tấn, trấn thủ Tương Dương. Sau khi chết được người đời lập bia đá để tỏ ḷng thương tiếc. Bia được đặt tên là "Đọa lệ bi" (Bia đầy nước mắt)
    6. Tương Vương: Tức Sở Tương Vương, đời Chiến quốc đến núi Vu sơn du ngoạn. Tối ngủ lại mơ thấy một giai nhân cùng ḿnh ân ái. Khi hỏi th́ giai nhân trả lời: "Muôn tâu thánh thượng! Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn qua chơi đất Cao Đường, vốn cùng nhà vua có tiền duyên, nay được gặp gỡ thật là phỉ nguyền mong ước. Ở Thiên cung, thiếp có nhiệm vụ buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa ở Dương Đài." Sau Sở Tương Vương thương nhớ cho lập miếu thờ gọi là miếu Vu Sơn Thần Nữ hay c̣n gọi là Miếu Triên Viên.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Ṭng Quân Hành [1]

    Nguyên tác chữ Hán:

    從軍行

    百戰沙場碎鐵衣
    城南已合數重圍 。
    突營射殺呼延將
    獨領殘兵千騎歸 。


    Phiên âm:

    Ṭng Quân Hành

    Bách chiến sa trường toái thiết y
    Thành nam dĩ hợp sổ trùng vi.
    Đột doanh sạ sát Hô Duyên[1] tướng
    Độc lĩnh tàn binh thiên kỵ quy.


    Dịch nghĩa:

    Bài hát ṭng quân

    Đă đánh cả trăm trận nơi sa trường, giáp sắt ṃn.
    Địch quân đă vây nhiều lớp ngoài phía nam thành.
    (Tướng quân) đột ngột cho mở cửa, dẫn quân ra bắn chết tướng Hung nô.
    Một ḿnh ông trở về với khoảng một ngàn kỵ binh c̣n sống sót.



    Các bản dịch thơ:

    Bài hát ṭng quân

    Trăm trận chiến trường, giáp chẳng lành
    Nam thành lớp lớp địch vây quanh.
    Mở đường chóng giết Hung nô tướng
    Khinh kỵ ngàn quân hát khải hành.


    Bản diệt: Ngao_0p


    ----------------
    1. Hô Duyên: một trong bốn tộc họ lớn của người Hung Nô.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tống Hạ tân khách quy Việt

    Tống Hạ tân khách quy Việt [1]

    Nguyên tác chữ Hán:

    送贺宾客归越

    镜湖流水漾清波,
    狂客归舟逸兴多。   
    山阴道士如相见,
    应写黄庭换白鹅。


    Phiên âm:

    Tống Hạ tân khách quy Việt

    Kính hồ lưu thuỷ dạng thanh ba
    Cuồng khách[2] quy chu dật hứng đa
    Sơn âm đạo sĩ như tương kiến
    Ưng tả Hoàng đ́nh[3] hoán bạch nga


    Dịch nghĩa:

    Tiễn Hạ Tri Chương về Việt

    Mặt hồ như gương nước chảy gợn sóng xanh sóng sánh,
    Người khách cuồng về thuyền nổi cơn hứng thú.
    Đạo sĩ ở núi phía Bắc cùng đến gặp
    Nói đổi kinh Hoàng đ́nh lấy ngỗng trắng.



    Các bản dịch thơ:

    Tiễn Hạ Tri Chương về Việt

    Nhấp nhô hồ nước tựa gương trong
    Cuồng khách về ghe sóng gợn ḷng.
    Đạo sĩ Âm sơn cùng đến gặp,
    Hoàng đ́nh, ngỗng trắng đổi nhau không?


    Bản diệt: Ngao_0p

    ----------------
    1. Bài thơ này Lư Bạch làm tặng hạ Tri Chương.
    2.Hạ Tri Chương thường tự xưng ḿnh là "Tư Minh cuồng khách".
    3. Tích truyện Vương Hi Chi nhà đại thư pháp thời Đông Tấn, tác già cuốn thư pháp Lan Đ́nh tập tự nổi tiếng đă dùng bút pháp của ḿnh viết kinh Hoàng đ́nh để đổi bầy ngỗng của đạo sĩ.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tống Hạ Giám quy Tứ Minh ứng chế

    Nguyên tác chữ Hán:

    送賀監歸四明應制

    久辞荣禄遂初衣,
    曾向长生说息机。   
    真诀自从茅氏得,
    恩波宁阻洞庭归。   
    瑶台含雾星辰满,
    仙峤浮空岛屿微。   
    借问欲栖珠树鹤,
    何年却向帝城飞


    Phiên âm:

    Tống Hạ Giám quy Tứ Minh ứng chế

    Cửu từ vinh lộc toại sơ y,
    Tằng hướng trường sanh thuyết tức ky.[1]
    Chân quyết tự ṭng Mao thị[2] đắc,
    Ân ba ninh trở Động Đ́nh quy.
    Dao Đài hàm vụ tinh thần măn,
    Tiên kiệu phù không đảo tự vi.
    Tá vấn dục tê châu thụ hạc,
    Hà niên tức hướng Đế thành phi.



    Dịch nghĩa:

    Thơ ứng chế tiễn Hạ Giám về Tư Minh

    Từ lâu đă muốn bỏ vinh hoa lợi lộc khoác áo đơn sơ,
    Bèn học phép trường sinh hướng đến thoát ṿng danh lợi.
    Phép bí truyền chân thật từ theo Mao thị
    Ơn vua về ở hồ Động Đ́nh
    Dao Đài sương phủ trăng sao đầy
    Núi Tiên nổi nhiều băi giữa trời.
    Thử hỏi cành châu chim hạc đậu
    Năm nào mới bay về Đế thành.




    Các bản dịch thơ:

    Thơ ứng chế tiễn Hạ Giám về Tư Minh

    Từ giă vinh hoa, khoác áo tơi
    Trường sinh theo học cốt quên đời
    Bí truyền Mao thị mong ra chốn
    Ân chúa Động Đ́nh được đến nơi.
    Sương phủ đài Dao sao xuống thấp,
    Núi che băi nổi đảo lưng trời.
    Cành châu hạc đậu, cho ta hỏi,
    Thành Đế năm nào mới tới chơi?


    Bản diệt: Ngao_0p

    ----------------
    1. Tức ky: một phương pháp tu hành của Đạo giạ
    2. Tên thật là Mao Mông tự Sơ Thành, một đạo gia đă tu thành tiên.
    Last edited by Ngao_0p; 01-03-2012, 02:17 AM.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 10

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其十

    剑阁重关蜀北门,
    上皇归马若云屯。  
    少帝长安开紫极,
    双悬日月照乾坤。


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 10

    Kiếm Các trọng quan Thục bắc môn,
    Thượng hoàng quy mă nhược vân đồn.
    Thiếu đế Trường an khai Tử cực,
    Song huyền nhật nguyệt chiếu càn khôn.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 10

    Kiếm các là cửa ải quan trọng ở cửa Bắc của đất Thục.
    Thượng hoàng quay ngựa về nơi đóng binh như cưỡi mây.
    Ở Trường An, Thiếu đế xây dựng Tử Cực điện,
    Treo đôi ṿng Nhật nguyệt chiếu trời đất.




    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 10

    Kiếm Các hiểm, ải bắc Thục môn,
    Thượng hoàng quay ngựa lướt mây dồn.
    Trường An, Thiếu đế xây cung điện,
    Nhật nguyệt đôi ṿng chiếu Càn khôn.


    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 9

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其九

    水绿天青不起尘,
    风光和暖胜三秦。   
    万国烟花随玉辇,
    西来添作锦江春。


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 9

    Thủy lục thiên thanh bất khởi trần,
    Phong quang ḥa noăn thắng Tam Tần.
    Vạn quốc yên hoa tùy ngọc liễn
    Tây lai thiêm tác Cẩm giang xuân.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 9

    Trời xanh nước biếc bụi trần yên ả
    Nắng gió ḥa hợp ấm áp hơn cả đất Tam Tần
    Khói hoa vạn nước cùng theo xe vua
    Vào Tây làm tăng thêm vẻ xuân của ḍng Cẩm Giang.




    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 9

    Nước biếc trời xanh chẳng bụi trần
    Nắng ḥa gió hợp vượt Tam Tần.
    Khói hoa vạn nước theo xe Chúa,
    Sông Cẩm rạng ngời thắm sắc xuân.


    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 8

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其八

    秦开蜀道置金牛,
    汉水元通星汉流。   
    天子一行遗圣迹,
    锦城长作帝王州


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 8

    Tần khai Thục đạo trí kim ngưu,
    Hán thủy nguyên thông tinh Hán lưu.
    Thiên tử nhất hành di thánh tích,
    Cẩm thành trường tác Đế vương châu.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 8

    Nhà Tần mở đường vào Thục dựng trâu vàng
    Nước sông Hán thông thoát ḍng nước chảy xuôi
    Thiên tử một lần dời đi để lại thánh tích
    Thành Gấm dựng lên lâu dài là châu của bậc đế vương.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 8

    Tần thông đường Thục dựng trâu vàng,
    Sông Hán khai ḍng nước chảy ngang.
    Thiên tử tuần hành ghi thánh tích,
    Gấm Thành, châu của Đế vương sang.


    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 7

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其七

    锦水东流绕锦城,
    星桥北挂象天星。   
    四海此中朝圣主,
    峨眉山下列仙庭。


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 7

    Cẩm thủy đông lưu nhiễu cẩm thành,[1]
    Tinh Kiều[2] bắc quải tượng thiên tinh.
    Tứ hải thử trung triêu thánh chủ,
    Nga My sơn hạ liệt Tiên đ́nh.


    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 7

    Nước sông Cẩm xuôi về hướng đông quây quanh (như dệt) gấm cho thành (Thành đô),
    Những câu cầu (trên sông Cẩm) như h́nh tượng sao Bắc đẩu trên trời.
    Bốn biển tụ lại chầu nhà vua
    Dưới núi Nga My các vị tiên đứng (chờ) ở dưới sân.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 7

    Sông Cẩm xuôi đông dệt gấm Thành,
    Tinh Kiều, Bắc đẩu cũng sao xanh.
    Bốn biển một ḷng chầu Thánh chúa
    Nga My, Tiên đứng đợi sân đ́nh.


    Bản diệt: Ngao_0p


    -------------------
    1. Ư nói Thành đô.
    2. Trên sông Cẩm giang có bảy chiếc cầu bắc qua xếp vị trí gần giống sao Bắc đẩu nên c̣n c̣n gọi là Tinh Kiều (cầu sao).

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 6

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其六

    濯锦清江万里流,
    云帆龙舸下扬州。
    北地虽夸上林苑,
    南京还有散花楼。

    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 6

    Trạc Cẩm thanh giang vạn lí lưu,
    Vân phàm long khả hạ Dương châu.
    Bắc địa tuy khoa thượng lâm uyển,
    Nam kinh hoàn hữu tán hoa lâu.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 6

    Rửa mặt trên ḍng sông Cẩm trong vắt nước chảy xuôi vạn dặm,
    Thuyền rồng, buồm mây đang xuống Dương Châu.
    Đất Bắc dầu khoe có nhiều rừng,
    Trở lại Nam kinh th́ thấy (như) lầu hoa tan ra.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 6

    Rửa mặt, nước sông trôi vạn dặm
    Thuyền rồng xuôi gió xuống Dương Châu.
    Cây rừng đất Bắc từng khoe lắm,
    Về lại Nam kinh tưởng hoa nhàu.



    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 5

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其五

    万国同风共一时,
    锦江何谢曲江池。   
    石镜更明天上月,
    后宫亲得照蛾眉。

    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 5

    Vạn quốc đồng phong cộng nhất th́,
    Cẩm Giang hà tạ Khúc Giang tŕ.
    Thạch kính canh minh thiên thượng nguyệt,
    Hậu cung thân đắc chiếu nga mi.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 5

    Nhiều nước cùng phong tục, thói quen trong cùng một thời
    Sao sông Cẩm Giang lại từ chối cái ao ở sông Khúc Giang.
    Gương đá thay bầu trời sáng trăng trong,
    Cung phi ở gần (vua) ắt được chiếu sáng mày ngài.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 5

    Nhiều nước cùng thời, thói giống nhau,
    Cẩm Giang sao ngại nước vào ao?
    Trời trăng có lúc nhường gương đá,
    Thân cận mày ngài rạng nét cao.


    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 4

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其四

    谁道君王行路难,
    六龙西幸万人欢。  
    地转锦江成渭水,
    天回玉垒作长安。


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 4

    Thùy đạo quân vương hành lộ nan,
    Lục long[1] tây hạnh vạn nhân hoan.
    Địa chuyển Cẩm giang thành Vị thủy,
    Thiên hồi Ngọc Lũy tác Trường An.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 4

    Ai nói với nhà vua đường đi (vào Thục) khó
    Sáu con long mă (chở vua) vào Tây đem niềm may mắn, vạn người vui mừng.
    Đất chuyển sông Cẩm giang thành sông Vị thủy
    Trời xoay Ngọc lũy nh́n giống Trường an.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 4

    Ai tâu với Vua đường gian nan?
    Sáu ngựa vào Tây, người đón chen.
    Đất chuyển Cẩm Giang thành Vị Thủy,
    Trời xoay Ngọc Lũy biến Trường An.


    Bản diệt: Ngao_0p

    ----------

    1. Ngựa cao trên tám thước Tàu gọi là long.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 3

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其三

    华阳春树号新丰,
    行入新都若旧宫。
    柳色未饶秦地绿,
    花光不减上阳红。


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 3

    Hoa dương xuân thụ hiệu tân phong,
    Hành nhập tân đô nhược cựu cung.
    Liễu sắc vị nhiêu Tần địa lục,
    Hoa quang bất giảm thượng dương hồng.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 3

    Ánh mặt trời rực rỡ, cây cối mang khí xuân báo hiệu sự hưng thịnh mới đến
    Bước vào kinh đô mới như vào cung xưa.
    Màu sắc, hương vị cây liễu tất cả như mang màu xanh đất Tần
    Hoa cỏ rực lên không hề giảm ánh dương hồng ở trên.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 3

    Cây xuân rực báo điềm lành,
    Vào kinh đô mới ngỡ hoàng cung xưa.
    Liễu xanh sánh đất Tần vừa
    Ánh dương hồng thắm vui đùa cỏ hoa.


    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 2

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其二

    九天开出一成都,
    万户千门入画图。   
    草树云山如锦绣,
    秦川得及此间无


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần Nam kinh ca - kỳ 2

    Cửu thiên khai xuất nhất Thành đô,
    Vạn hộ thiên môn nhập họa đồ.
    Thảo thụ vân sơn như cẩm tú,
    Tần xuyên đắc cập thử gian vô.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 2

    Chín tầng trời khai sinh ra một vùng Thành đô
    Vạn hộ dân ngàn cửa ngơ xếp như bức tranh họa đồ.
    Cây cỏ, mây, núi giống như gấm dệt,
    Thử hỏi sông nước đất Tần sánh được không?



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 2

    Chín tầng trời mở một Thành đô,
    Ngàn cửa, vạn dân tựa họa đồ.
    Mây, núi, cỏ, cây như gấm dệt,
    Nước sông Tần ấy sánh sao vô?


    Bản diệt: Ngao_0p

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 1

    Nguyên tác chữ Hán:

    上皇西巡南京歌其一

    胡尘轻拂建章台,
    圣主西巡蜀道来。   
    剑壁门高五千尺,
    石为楼阁九天开。


    Phiên âm:

    Thượng hoàng tây tuần nam kinh ca - kỳ 1

    Hồ[1] trần khinh phất kiến Chương đài,[2]
    Thánh chủ tây tuần Thục đạo lai.
    Kiếm Bích Môn cao ngũ thiên xích,
    Thạch vi lâu các cửu thiên khai.



    Dịch nghĩa:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 1

    Bụi giặc Hồ nhẹ phớt trên đường Chương Đài.
    Nhà vua đi về hướng tây đi tuần ở đất Thục.
    Cửa Kiếm Bích cao những năm ngàn thước,
    Đá tạo thành lầu như mở ra chín tầng trời.



    Các bản dịch thơ:

    Bài ca Thượng hoàng đi tuần phía tây Nam kinh - Kỳ 1

    Giặc Hồ vấy bụi nhiễu Chương Đài
    Thánh chủ tuần tây đường Thục dài.
    Cửa Kiếm Bích cao năm ngàn thước
    Chín tầng trời mở đá ra oai.

    Bản diệt: Ngao_0p


    ----------------------------
    1. Ám chỉ An Lộc Sơn. 10 Bài thơ này viết khi An Lộc Sơn tấn công thành Trường An, Đường Huyền Tông đi tuần phía Tây đến đất Thục tị nạn.
    2. Chương Đài là tên một con đường ở thành Trường An bên Tàu.

    Leave a comment:


  • Co Kiem Hung
    replied
    lamyen xuất chiêu ở trên:

    Đọc bài

    Xin cho tại hạ được thỉnh giáo một chút, vị tướng quân được đề cập trong bài thơ này có phải là Phiêu Kỵ Đại Tướng Quân Hoắc Khứ Bệnh không vậy ?
    Vâng!
    Hoắc Phiêu Diêu chính là Hoắc Khứ Bệnh, một danh tướng thời Tây Hán, đă đánh thắng quân Hung Nô ở núi Kỳ Liên.

    Leave a comment:


  • lamyen
    replied
    Bach Van Phi xuất chiêu ở trên:

    Đọc bài

    III .

    Tuấn mă như phong biều
    Minh tiên xuất Vị Kiều
    Loan cung từ Hán nguyệt
    Sáp vũ phá thiên kiêu
    Trận giải tinh mang tận
    Doanh không hải vụ tiêu
    Công thành họa Lân các
    Độc hữu Hoắc Phiêu Diêu


    Dịch nghĩa :

    Tuấn mă chạy như gió
    Thét ra roi thẳng Vị Kiều
    Giương cung từ tạ trăng Hán
    Mũi tên cắm lông bắn phá giặc trời
    Trận tan , tia sáng trên sao tắt
    Doanh vắng , khói biển tiêu tan
    Lập công được vẽ tượng trên gác Kỳ Lân
    Chỉ có quan Phiêu Diêu họ Hoắc

    Dịch thơ :

    Ngựa bay như gió vút
    Quất roi rời Vị Kiều
    Giương cung biệt trăng Hán
    Tên cứng nhằm giặc liều
    Trận xong , sao trời tắt
    Doanh vắng , khói sương veo
    Gác lân ghi h́nh tích
    Là quan Hoắc Phiêu Diêu

    Ngô Văn Phú dịch
    Xin cho tại hạ được thỉnh giáo một chút, vị tướng quân được đề cập trong bài thơ này có phải là Phiêu Kỵ Đại Tướng Quân Hoắc Khứ Bệnh không vậy ?

    Leave a comment:


  • Tiểu Mĩ Hồ
    replied
    Thu tứ

    Thu phong thanh
    Thu nguyệt minh
    Lạc diệp tụ hoàn tán
    Hàn nha thê phục kinh
    Tương tư tương kiến tri hà nhật
    Thử thời thử dạ nan vi t́nh

    Dịch nghĩa

    Ư thu

    Gió thu mát
    Trăng thu sáng
    Lá vàng rơi chồng chất rồi tan tác
    Quạ lạnh đậu im rồi giật ḿnh
    Nhớ nhau biết ngày nào gặp lại
    Lúc này đêm này t́nh cảm không sao kể xiết

    Dịch thơ

    Ư thu

    Gió thu mát
    Trăng thu sáng
    Lá rụng đầy lại bay
    Quạ lạnh về sợ hăi
    Nhớ nhau biết đâu ngày gặp lại
    Đêm này khi ấy mộng c̣n say

    Nguyễn Văn Nam

    Leave a comment:


  • truongbachlangvan
    replied
    Lư Bạch học kiếm

    Lư Bạch học kiếm


    Lư Bạch được đời ca tụng là thi tiên vốn là một nhà thơ cực lớn đời Đường, Trung Quốc. Từ nhỏ, ông đă có chí lớn quyết tâm báo đền ơn nước nên đă cất công luyện vơ với ư chí và nghị lực của người có thể " mài cây gậy sắt thành mũi kim khâu ". Năm hai mươi sáu tuổi bụng chứa đầy kinh luân, Lư Bạch mang kiếm từ biệt người thân lên đường đi xa lập nghiệp. Chuyến đi này quả thực có tác dụng vô cùng to lớn đối với sự nghiệp sáng tác thơ ca và vơ nghệ sau này của ông.

    Vỡ ḷng học kiếm
    Từ nhỏ Lư Bạch đă học kiếm do bố là Lư Khách dạy, tới năm Bạch mười lăm tuổi được bố đem vàng bạc đón một kiếm sĩ về dạy. Lư Bạch vốn thiên tư thông tuệ, nghị lực hơn người nên chỉ nửa năm học kiếm đă đấu ngang cơ với sư phụ. Trong thư của ông gửi Vĩ Kinh Châu có kể "mười lăm tuổi học kiếm thuật", c̣n trong một thư khác gửi bạn trẻ cũng nói "học kiếm thuật từ bé". Qua đó đủ thấy tố chất vơ học của Lư Bạch không phải là kém và "học kiếm" là một môn học thời thượng đời Đường, cũng được ông say mê luyện tập từ thủa ấu thơ đă có kết quả như bạn ông là Nguỵ Hạo Tăng đă từng khen: "Giỏi từ bé, khối người bị hạ dưới tay Bạch". Bố Lư Bạch lại mời thầy đúc kiếm giỏi ở Thành Đô bỏ công sức ba năm rèn một thanh kiếm báu tuyệt vời đặt tên là "Nhật Nguyệt" cho con.

    Học kiếm ở Khuông Sơn, Mân Sơn
    Năm Khai Nguyên thứ sáu ( năm 719 sau CN, đời Đường Huyền Tôn Lư Long Cơ ), Lư Bạch 18 tuổi lên ở tại Khuông Sơn đọc sách và luyện kiếm. Khuông sơn có một ngôi chùa cổ do hoà thượng Không Linh trụ tŕ. Không Linh đại sư học vấn uyên thâm, tinh thông Phật học, lại giỏi vơ nghệ, về kiếm thuật phải nói là siêu tuyệt. Lư Bạch thờ đại sư làm thầy, học kiếm ở chùa hai năm liền. V́ mẹ bệnh nặng nhắn về nên Lư Bạch phải rời thầy bỏ chùa mà luyến tiếc khôn nguôi.
    Năm Khai Nguyên thứ tám, vừa tṛn 20 tuổi, Lư Bạch lên chơi Mân sơn gặp một nhân vật nổi tiếng đương thời là Đông Nghiêm Tử. Thấy Lư Bạch múa kiếm một ḿnh trong rừng cây khí thế khác thường, Đông Nghiêm Tử bảo: "Ta sẽ nhận cậu làm đệ tử" Thấy Đông Nghiêm Tử nói năng, tỏ vẻ tài giỏi tướng mạo thanh nhă như thần tiên, Lư Bạch theo ông ta lên Mân sơn học văn, học kiếm liền ba năm. Sau đó được sư phụ cho xuống núi cùng sư huynh Ngô Chỉ Nam để mở rộng hiểu biết và trui rèn tài năng.

    Học kiếm ở Sơn Đông
    Năm 36 tuổi, Lư Bạch đă rất nổi tiếng về tài làm thơ được tôn làm "nhất tuyệt". Cùng thời, Phỉ Dực cũng được tôn xưng là "thiên hạ đệ nhất kiếm". Lư Bạch viết thư cho Lư Dực, thư có đoạn: "Tôi tự nguyện làm môn hạ của tướng quân ..." Phỉ Dực thấy Lư Bạch thành khẩn thiết tha lại nghĩ có nhà thơ "nhất tuyệt" vào làm môn hạ khiến ông ta càng thêm vẻ vang bèn đồng ư.
    Lư Bạch theo Phỉ Dực sang Sơn Đông học kiếm ba năm, dù nắng cháy, rét cắt da ông vẫn ngày đêm miệt mài luyện kiếm, kiên tŕ tập luyện không chút lơ là. Chính ở giai đoạn này trong thơ của Lư Bạch có những câu: "Rút kiếm lúc sương sớm, Đêm chạy kiếm quanh nhà, ..." Nhờ kiên tŕ luyện tập như vậy nên Kiếm thuật của Lư Bạch ngày càng điêu luyện. Khi thầy tṛ chia tay, Phỉ Dực đă khen tŕnh độ kiếm thuật của Lư Bạch: "Trong hư có thực, trong mềm có cứng, tiến thoái như chớp, biến hoá khôn lường".

    Nhờ thích kiếm thuật, yêu thích việc học kiếm và giỏi kiếm thuật, không ít bài thơ sau này của Lư Bạch có dính dáng đến kiếm, kiếm thuật và kiếm sĩ. Bài Hiệp Khách Hành là một trong số đó.


    ( Sưu Tầm )

    Leave a comment:


  • Kinh Vo Mang
    replied
    Ngao_0p viết ở trên :
    Thượng Giang Ngâm

    Mộc lan chi duệ sa đường châu .
    Ngọc tiêu kim quản tọa lưỡng đầu .
    Mỹ tửu tôn trung trí thiên hộc ,
    Tái kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu .
    Tiên nhân hữu đăi thừa hoàng hạc .
    Hải khách vô tâm tùy bạch âu .
    Khuất B́nh từ phú huyền nhật nguyệt .
    Sở vương đài tạ không sơn khâu .
    Hứng hàm lạc bút dao ngũ nhạc ,
    Thi thành tiếu ngạo Lăng Thương châu .
    Công danh phú quí nhược trường tại ,
    Hán thủy diệc ưng tây bắc lưu .


    Lư Bạch


    Dịch nghĩa :
    Khúc Ngâm Trên Sông

    Con thuyền bằng gổ sa đường , lái bằng gỗ mộc lan , có tiêu ngọc sáo vàng ở hai đầu . Với ngàn hộc rượu ngon đặt bên trên , thuyền chở kỹ nữ , theo sóng tự do trôi đi .
    Xưa kia có vị tiên chờ cưỡi hạc vàng bay đi , lại có người khách biển vô tâm theo chim âu trắng, c̣n lâu đài của vua Sở ngày nay chỉ c̣n là núi g̣ .
    Khi cảm hứng sau sưa , hạ ngọn bút làm rung chuyển năm ngọn núi lớn; lúc thơ làm xong , tiếng cười cợt , ngạo nghễ vượt qua băi xanh . Nếu như công danh , phú quí mà c̣n tồn tại lâu dài , th́ ḍng sông Hán Thủy hẳn phải chạy lên phía Tây bắc .

    Thương Châu là địa danh,theo truyền thuyêt là nơi tiên ở chứ không phải là băi xanh !

    Giang thượng ngâm - Lí Bạch

    Khúc ngâm trên sông

    Thuyền gỗ sa đường,lái mộc lan
    Hai bên sáo ngọc với tiêu vàng
    Trong b́nh rượu quư dư ngàn hộc
    đầy thuyền ca kỹ mặc sóng mang
    Hững hờ khách biển theo âu trắng
    Ṃn mỏi người tiên đợi hạc vàng
    Ngũ Nhạc lung lay ngọn bút múa
    Thương Châu rung động tiếng cười vang
    Công danh phú quí nếu c̣n măi
    Sóng nước ngược ḍng trên Hán giang

    Leave a comment:


  • Kinh Vo Mang
    replied
    Dat ma su to viết ở trên :
    TU BIÊN

    Khứ niên hà thời lang biệt thiếp
    Nam viên lục thảo phi hồ điệp
    Kim tuế hà thời thiếp ức quân
    Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân
    Ngọc quan khứ thử tam thiên lư
    Dục kư âm thư na khả văn?


    Dịch nghĩa:

    Biên cương nghĩ ngợi

    Năm ngoái vào lúc này, chàng và thiếp ly biệt
    Bên vườn nam, bướm bay vờn cỏ xanh biếc
    Năm nay vào lúc chia biệt ấy, thiếp nhớ tới chàng
    Núi phía tây, tuyết trắng che kín, xám mây Tần
    Ngọc quan nơi chàng đến cách xa ba ngàn dặm
    Muốn gởi lá thư, không biết chàng có nhận được chăng?

    Dịch thơ:

    Năm ngoái: thời gian chảy đôi ngả
    Một ngả ngập ngừng cỏ biếc xanh
    Một ngả đi hoài khôn tới ranh
    Núi tây tuyết trắng - mây Tần xám
    Ngọc quan khắc khoải muốn cầm bút
    Ngại chi: vung tay viết cao xanh?



    (Bản dịch của Lư Minh - trích “Thơ Đường tinh hoa tương tác”)
    ==========================
    *Bài này dịch hơi chán, thí chủ nào có bản dịch hay hơn th́ Post lên
    Mùa nào năm trước ta chia tay
    Vườn nam bướm lượn cỏ mọc dày
    Mùa cũ năm nay em măi nhớ
    Mây Tần Tây Lĩnh tuyết che bay
    Ngọc Quan xa cách ba ngàn dặm
    Muốn gửi thư này chàng có hay...

    Bản tự dịch...Không biết "Tây sơn" có thể hiểu là "Tây Lĩnh" có được không nhỉ ? Tại hạ thấy chữ "thời" đọc là "th́" nghe hay hơn...
    Last edited by Kinh Vo Mang; 12-26-2002, 09:21 AM.

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Giang Hạ Hành



    Ức tịch kiều tiểu tư
    Xuân tâm diệc tự tŕ
    Vi ngôn giá phu tế
    Đắc miễn trường tương tư
    Thùy tri giá thương gia
    Lệnh nhân khước sầu khổ
    Tự ṭng vi phu tế
    Hà hội tại hương thổ
    Khứ niên hạ Dương Châu
    Tương tống Hoàng Hạc lâu
    Nhăn khán phàm khứ viễn
    Tâm trục giang thủy lưu
    Chỉ ngôn kỳ nhất tải
    Thùy vị lịch tam thu
    Sử thiếp trường dục đoạn
    Hận quân t́nh du du
    Đông gia tây xá đồng thời phát
    Bắc khứ nam lai bất du nguyệt
    Vị tri hành lư tại hà phương
    Tác cá âm thư năng đoạn tuyệt
    Thích lai văng Nam Phố
    Dục vấn Tây giang thuyền
    Chính kiến đương lư nữ
    Hồng trang nhị bát niên
    Nhất chủng vi nhân thê
    Độc tự đa bi thê
    Đối kính tiện thùy lệ
    Phùng nhân chỉ dục đề
    Bất như khinh bạc nhi
    Đản mộ trường tương tùy
    Hối tác thương nhân phụ
    Thanh xuân trường biệt ly
    Như kim chính hảo đồng hoan lạc
    Quân khứ dung hoa thùy đắc tri

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Dương Bạn Nhi ca



    Quân ca Dương Bạn Nhi
    Thiếp khuyến Tần Phong tửu
    Hà hứa tối quan nhân
    Điểu đề Bạch môn liễu
    Điểu đề ẩn Dương hoa
    Quân túy lưu thiếp gia
    Bác Sơn lư trung trầm hương hỏa
    Song yên nhất khí lăng tử hà

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Thu Tứ

    I.

    Yên Chi hoàng diệp lạc
    Thiếp vọng tự đăng đài
    Hải thượng bích vân đoạn
    Thiền Vu thu sắc lai
    Hồ binh sa tái hợp
    Hán sứ Ngọc Quan hồi
    Chinh khách vô quy nhật
    Không bi huệ thảo tồi

    Dịch Nghĩa:

    Xứ Yên Chi là vàng rơi rụng
    Thiếp lên đài ngóng trông
    Trên biển đám mây xanh rời rạc
    Nơi Thiền Vu sắc thu đă tới
    Binh Hồ tụ họp ngoài sa mạc
    Sứ Hán từ ải Ngọc Quan trở về
    Chinh nhân không có ngày trở lại
    Chỉ thương cho cỏ huệ úa tàn

    II.

    Thu phong thanh
    Thu nguyệt minh
    Lạc diệp tụ hoàn tán
    Hàn nha thê phục kinh
    Tương tư, tương kiến tri hà nhật
    Thử th́, thử dạ nan vi t́nh


    Dịch Nghĩa:

    Gió thu mát mẻ
    Trăng thu sáng trong
    Lá rơi họp lại rồi tan tác
    Quạ lạnh đang đậu bỗng giật ḿnh
    Nhớ nhau, biết ngày nào gặp mặt
    Lúc này, đêm này t́nh cảm không làm sao được

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Đồng Thượng



    Ái quân phù dung thiền vận chi diễm sắc
    Nhược khả xan hề nan tái đắc
    Lân quân băng ngọc thanh hồi chi minh tâm
    T́nh bất cực hề ư dĩ thâm
    Triêu cộng lang can chi khởi thực
    Dạ đồng uyên ương chi cẩm khâm
    Ân t́nh uyển luyến vật vi biệt
    Sử nhân mạc thác loạn sầu tâm
    Loạn sầu tâm thế như tuyết
    Hàn đăng yếm mộng hồn dục tuyệt
    Giác lai tương tư sinh bạch phát
    Doanh doanh Hán thủy nhược khả việt
    Khả tích lăng ba bộ la vát
    Mỹ nhân mỹ nhân hề quy khứ lai
    Mạc tái triêu vân mộ vũ hề phi Dương đài

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Tặng Mạnh Hạo Nhiên



    Ngô ái Mạnh phu tử
    Phong lưu thiên hạ văn
    Hồng nhan khí hiên miện
    Bạch thủ ngọa tùng vân
    Túy nguyệt tần trung thánh
    Mê hoa bất sự quân
    Cao sơn an khả ngưỡng
    Đồ thử ấp thanh phân.


    Dịch Nghĩa:
    Tôi yêu mến thầy Mạnh, là người nổi tiếng phong lưu trong thiên hạ. Lúc c̣n trẻ, thầy đă từ bỏ xe quan và mũ triều. Khi đầu bạc, thầy ở ẩn trong chốn mây thông. Thầy thường uống rượu say sưa dưới ánh trăng. V́ đam mê hoa cỏ, thầy không phụng sự vua. Thầy giống như ngọn núi cao, người khác làm sao có thể vin tới được? Tôi đành chỉ đứng xa mà ngưỡng mộ làn hương thanh khiết của thầy ở nơi đây.

    Dịch Thơ:
    Tặng Mạnh Hạo Nhiên

    Tôi yêu thày Mạnh Hạo Nhiên
    Tiếng phong lưu đă lan truyền thế gian
    Trẻ th́ mũ áo coi thường
    Bạc đầu nằm giữa mây thông hững hờ
    Thường cùng với nguyệt say sưa
    Cỏ hoa ham thú, việc vua chẳng màng
    Núi cao đâu thể sánh bằng
    Chỉ đành ngưỡng mộ mùi hương tuyệt vời.


    Trần Trọng San

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Tặng Vương Lịch Dương Thi


    Hữu thân mạc phạm phi long lân
    Hữu thủ mạc biện mănh hổ tu
    Quân khán tịch nhật Nhữ Nam phố
    Bạch đầu tiên nhân ẩn Ngọc Khổn


    Dịch nghĩa:

    Có thân không đụng chạm vào vảy của rồng bay trên trời
    Có tay chẳng sờ vào râu cọp
    Bạn có thấy thuở xưa ở phố Nhữ Nam
    Tiên nhân đầu bạc ẩn náu trong cung
    Last edited by Thủy Vân; 11-24-2002, 05:49 PM.

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Hành Lộ Nan I



    Kim tôn thanh tửu đẩu thập thiên
    Ngọc bàn trân tu trị vạn tiền
    Đ́nh bôi đầu trợ bất năng thực
    Bạt kiếm tứ cố tâm mang nhiên
    Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên
    Tương đăng Thái Hàng tuyết ám nhiên
    Nhàn lai thuỷ điếu toạ khê thượng
    Hốt phục thừa chu mộng nhật biên
    Hành lộ nan! Hành lộ nan
    Đa kỳ lộ, kim an tại?
    Trường phong phá lăng hôi hữu th́
    Trực quải vân phàm tế thượng hải.

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Tương Phùng Hành


    Triêu kỵ ngũ hoa mă
    Yết đế xuất Ngân đài
    Tú sắc thùy gia tử
    Vân trung châu bạc khai
    Kim tiên dao chỉ điểm
    Ngọc lặc chẩm tŕ hồi
    Giáp cốc tương tá vấn
    Tri ṭng thiên thượng lai
    Lân trường sầu dục đoạn
    Tà nhật phục tương thôi
    Hạ xa hà khinh doanh
    Phiêu phiêu tự lạc mai
    Kiều tu sơ giải bội
    Ngữ tiếu cộng hàm bôi
    Hàm bôi ánh ca phiến
    Tự vân nguyệt trung kiến
    Tương kiến bất tương thân
    Bất như bất tương kiến
    Tương kiến t́nh dĩ thâm
    Vị ngữ khả tri tâm
    Hồ vi thủ không khuê
    Cô miên sầu cẩm khâm
    Cẩm khâm dử la vi
    Triền miên hội hữu th́
    Xuân phong chính đàm đảng
    Mạc vũ lai hà tŕ
    Nguyện ngôn tam thanh điểu
    Khước kư trường tương tư
    Quang cảnh bất đăi lạc
    Tu du phát thành ty
    Tráng niên bất hành lạc
    Lăo đại đồ thương bi
    Tŕ thử đạo mật ư
    Vô lệnh khoáng giai kỳ

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Dạ Túc Sơn Tự

    Nguy lâu cao bách xích
    Thủ khả trích tinh thần
    Bất cảm cao thanh ngữ
    Khủng kinh thiên thượng nhân.


    Dịch Nghĩa:

    Lầu cao ṿi vọi trăm thước
    Tay có thể hái được trăng sao tinh tú
    Không dám nói lớn tiếng
    Sợ làm kinh động đến người trên trời.

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Phù Phong Hào Sĩ Ca

    Lạc Dương tam nguyệt phi Hồ sa
    Lạc Dương thành trung nhân oán ta
    Thiên Tân lưu thuỷ tam xích huyết
    Bạch cốt tương sanh như loạn ma
    Ngă diệc Đông môn hướng Ngô quốc
    Phù vân tứ tắc đạo lộ xa
    Đông phương nhật xuất đề tảo nha
    Thành môn nhân khai tảo lạc hoa
    Ngô đồng dương liễu phất kim tỉnh
    Lai tuư Phù Phong hào sĩ gia
    Phù Phong hào sỹ thiên hạ kỳ
    Ư khí tương khuynh sơn khả di
    Tác nhân bất ư tướng quân thế
    Ẩm tửu khởi cố thượng thư kỳ
    Điêu bàn ỷ thực hội chứng khách
    Ngô ca Triệu vũ hương phong xuy
    Nguyên, Thường, Xuân, Lăng lục quốc th́
    Khai tâm tả ư quân sở tri
    Đường trung các hữu tam thiên sĩ
    Minh nhật báo ân tri thị thuỳ
    Phủ trường kiếm nhất dương mi
    Thanh thuỷ bạch thạch hà ly ly
    Thoát ngô mạo hướng quân tiếu
    Ẩm quân tửu vị quân ngâm
    Trương Lương vị tuỳ Xích tùng khứ
    Kiều biên Hoàng Thạch tri ngă tâm.



    Dịch Nghĩa:

    Bài ca hào sĩ Phù Phong

    Đất Lạc Dương vào tháng ba cát Hồ bay
    Trong thành Lạc Dương người kêu ca oán thán
    Bến Thiên Tân nước chảy ba lần đỏ máu
    Xương trắng nhiều sát nhau như bụi tầm gai rối
    Ta cũng chạy về đông hướng đất Ngô
    Mây lên che kín bốn phía, đường đi rất xa
    Phía Đông mặt trời mọc tiếng quạ kêu sớm
    Cửa thành người ra quét hoa rơi
    Cây ngô đồng cùng dương liễu chạm vào giếng vàng
    Đến uống say ở nhà hào sĩ Phù Phong
    Hào sĩ Phù Phong là kỳ nhân trong thiên hạ
    Ư chí hợp vào có thể dời ngọn núi
    Làm việc người, không dựa vào thế lực tướng quân
    Uống rượu đâu thèm đến hội thượng thư
    Bàn chạm trổ, thức ăn ngon, họp chúng khách
    Bài hát Ngô, điệu múa Triệu, ngọn gió thơm thổi tới
    B́nh Nguyên, Mạnh Thường, Thân Xuân, Tín Lăng thời lục quốc
    Mở tấm ḷng tỏ ư tứ anh đă biết
    Giữa sảnh đường mỗi người có tới ba ngàn kẻ sĩ
    Ngày sau biết ai sẽ đền ơn
    Vỗ trường kiếm, dương mi lên
    Nước xanh đá trắng sao xa cách
    Bỏ mũ ra, hướng về anh cười
    Uống rượu của anh, v́ anh mà ngâm
    Trương Lương ví như chưa theo Xích Tùng tử
    Bên cầu đă có ông Hoàng Thạch hiểu ư ta

    Leave a comment:

Working...
X