• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Thi Tiên- Lư Bạch

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Thủy Vân
    replied
    Đáp Hồ Châu Ca Diệp Tư Mă Vấn Bạch Thị Hà Nhân

    Thanh Liên cư sĩ Trích Tiên nhân
    Tửu tứ tàng danh tam thập niên
    Hồ Châu Tư Mă hà tu vấn
    Kim Túc Như Lai thị hậu thân



    Dịch nghĩa:

    Cư sĩ làng Thanh Liên người vốn là Tiên bị đày
    Uống rượu thoải mái mai danh đă ba mươi năm
    Tư Mă Hồ Châu hỏi tới làm ǵ
    Kiếp sau sẽ là Kim Túc Như Lai đấy

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Tống Hữu Nhân Nhập Thục

    Kiến thuyết Tàm Tùng lộ
    Khi khu bất dị hành
    Sơn ṭng nhân diện khởi
    Vân bạng mă đầu sinh
    Phương thụ lung Tần sạn
    Xuân lưu nhiễu Thục thành
    Thăng trầm ưng dĩ định
    Bất tất vấn Quân B́nh


    Dịch Thơ:

    Tiễn bạn vào đất Thục

    Mảng nghe bên nước Tàm Tùng,
    Đường đi khấp khểnh khó ḷng buông chân.
    Núi theo trước mặt nổi dần,
    Mây quanh đầu ngựa dần dần mọc ra.
    Đường Tần lát ván rường xa,
    Nước sông ngoắt ngoéo diễn qua Thục thành.
    Việc đời ch́m nổi đă đành,
    Chẳng cần phải hỏi Quân B́nh làm chi.


    Bản dịch: Trần Trọng Kim

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Khách Trung Tác

    Lan Lăng mỹ tửu uất kim hương
    Ngọc uyển thinh lai hổ phách quang
    Đản sử chủ nhân năng túy khách
    Bất tri hà xứ thị tha hương.


    Dịch Nghĩa:
    Rượu ngon đất Lan Lăng thơm mùi hoa uất kim, đựng trong chén ngọc sáng màu hổ phách. Nếu như chủ nhân biết làm cho khách say, th́ c̣n biết nơi nào là tha hương.

    Dịch Thơ

    Thơ làm nơi đất khách

    Trong quán Lan Lăng rượu ngát hương
    Đựng đầy chén ngọc rực hào quang
    Chủ nhân ví biết mời say khách
    Non nước đâu là chẳng cố hương.


    Trần Trọng San

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Nga Mi Sơn Nguyệt Ca

    Nga Mi sơn nguyệt bán luân thu
    Ảnh nhập B́nh Khương giang thủy lưu
    Dạ phát Thanh Khê hướng Tam Giáp
    Tư quân bất kiến hạ Du Châu


    Dịch nghĩa:

    Trăng lên đầu núi Nga Mi nửa vầng thu
    Chiếu xuống sông B́nh Khương lấp lánh gịng nước trôi
    Đi từ Thanh Khê ra hướng Tam Giáp
    Nghĩ đến bạn muốn đến Du Châu thăm

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Chiến Thành Nam

    Khứ niên chiến Tang Càn nguyên
    Kim niên chiến, Thông Hà đạo.
    Tẩy binh Điều Chi hải thượng ba,
    Phóng mă Thiên Sơn tuyết trung thảo.
    Vạn lư trường chinh chiến,
    Tam quân tận suy lăo.
    Hung nô dĩ sát lục vi canh tác ;
    Cổ lai duy kiến bạch cốt hoàng sa điền.
    Tần gia trúc thành bị Hồ Xứ,
    Hán gia hoàn hữu phong hỏa nhiên.
    Phong hỏa nhiên bất tức,
    Chinh chiến vô dĩ th́.
    Dă chiến cách đấu tử,
    Bại mă hào minh hướng thiên bi.
    Ô diên trác nhân trường,
    Hàm phi thướng quải khô thụ chi.
    Sĩ tốt đồ thảo măng,
    Tướng quân không nhĩ vi.
    Năi tri binh giả thị hung khí,
    Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi.


    Dịch nghĩa:

    Năm trước đánh ở đồng bằng Tang Càn
    Năm nay đánh ở miệt Thông Hà
    Sóng đánh trên mặt biển chỗ quân qua Điều Chi
    Cỏ lộ trên tuyết chỗ ngựa qua Thiên Sơn
    Chinh chiến đă lâu năm ngoài vạn dặm
    Ba quân đă kiệt quệ già nua
    Quân Hung Nô giết người cướp của làm sinh hoạt
    Tự xưa đến giờ chỉ thấy xương trắng phơi ngoài ruộng cát
    vàng
    Nhà Tần xây Trường Thành ngăn rợ Hồ
    Nhà Hán dựng Phong hỏa đài làm hiệu
    Phong hỏa đốt lên không ngừng nghỉ
    Chinh chiến măi măi không thôi
    Đánh nhau người chết ngoài hoang dă
    Ngựa của kẻ bại trận ngẩng đầu cất tiếng hí bi ai
    Diều hâu mổ ruột xác chết
    Ngậm bay lên treo trên nhành cây khô
    Sĩ tốt cả đời ngoài hoang dă
    Tướng quân chẳng biết làm nên chuyện ǵ
    Đă biết chiến tranh là chuyện dữ
    Bởi vậy thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến

    Dịch Thơ:

    Năm ngoái trên sông Tang đánh nhau,
    Năm nay dọc sông Thông chém giết.
    Điều Chi, gươm rửa sóng ngoài khơi,
    Thiên Sơn, ngựa ăn cỏ ngập tuyết.
    Muôn dặm chinh chiến hoài,
    Ba quân già ốm hết.
    Hung Nô giết chóc thay cấy cày,
    Cát vàng xương trắng xưa nay đấy !
    Này dăy thành, Tần đắp ngự Hồ,
    Kia lửa trận, Hán đốt đang cháy !
    Lửa trận cháy chẳng tắt,
    Chiến tranh măi không thôi !
    Sa trường đâm nhau chết,
    Ngựa ai ngơ ngác nh́n hư trời !
    Diều quạ rỉa ruột người,
    Tha treo cành khô trông tả tơi.
    Binh lính thây bón cỏ,
    Tướng quân bó tay rồi.
    Mới hay : Gươm đao là vật gở,
    Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng thôi !


    Tương Như

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Bạch Đầu Ngâm

    Ba đăng song uyên ương
    Hùng sào Hán cung thụ
    Thư lộng Tần thảo phương
    Ninh đồng vạn tử toái ỷ dực
    Bất nhẫn vân gian lưỡng phân trương
    Thử thời A Kiều chính kiều đồ
    Độc toạ trường môn sầu nhật mộ
    Đản nguyệt quân ân cố thiếp thâm
    Khởi tích hoàng kim măi từ phú
    Tương Như tác phú đắc hoàng kim
    Trượng phu hiếu tan đa dị tâm
    Nhất triêu tương sinh Mậu Lăng nữ
    Văn quân nhân tặng Bạch đầu ngâm
    Đông lưu bất tác tây quy thuỷ
    Lạc hoa từ điều tu cố lâm
    Thố ti cố vô t́nh
    Tuỳ phong nhiệm khuynh đảo
    Thuỳ sử nữ la chi
    Nhi lai cưỡng oanh băo
    Lưỡng thảo do nhất tâm
    Nhân tâm bất như thảo
    Mạc quyển long tu tịch
    Ṭng tha sinh vơng ty
    Thả lưu hổ phách chẩm
    Hoặc hữu mộng lai th́
    Phúc thuỷ tái thu khởi măn bôi
    Khí thiếp dĩ khứ nan trùng hồi
    Cổ lai đắc ư bất tương phụ
    Chỉ kim duy kiến Thanh Lăng đài


    Dịch Nghĩa:

    Sông Cẩm chảy về phía đông bắc
    Sóng xô dạt đôi chim uyên ương
    Con trống đậu trên cây cung Hán
    Con mái đùa trong đám cỏ thơm đất Tần
    Thà cùng nhau chết vạn lần nát cả lông cánh
    Chứ không chịu chia ĺa nhau giữa mây
    Chính lúc A Kiều trong cơn ghen thủa ấy
    Ngồi một ḿnh ở cung Trường Môn buồn ngày tàn
    Chỉ mong ơn vua đoái đến nàng nồng nàn hơn
    Nào có tiếc chi vàng mua lấy từ phú
    Tương Như làm phú mà được vàng
    Đàn ông ham mới, hay sinh ḷng kia khác
    Một sớm toan cưới cô gái Mậu Lăng
    Văn Quân nhân đó tặng bài Bạch đầu ngâm
    Nước chảy về đông th́ không chảy về tây
    Hoa rụng ĺa cành thẹn với rừng cũ
    Dây thố ti vốn vô t́nh
    Theo gió mặc nghiêng ngả
    Ai khiến cành nữ la
    Đến quấn quưt chặt chẽ
    Hai loài cỏ ấy cùng chung một ḷng
    Ḷng người không bằng loài cỏ
    Đừng cuốn chiếc chiếu long tu
    Mặc cho tơ nhện dăng đầy
    Hăy để lại cái gối hổ phách
    May ra có lúc về trong mơ
    Nước đổ vớt lại, há chẳng đầy chén được sao
    Đă bỏ vợ mà đi, khó trở lại cùng nhau
    Xưa nay đắc ư không phụ rẫy nhau
    Đến bây giờ chỉ thấy đài Thanh Lăng thôi.

    Leave a comment:


  • Thủy Vân
    replied
    Ô Dạ Đề


    Hoàng vân thành biên ô dục thê
    Qui phi á á chi thượng đề
    Cơ trung chức cẩm Tần Xuyên nữ
    Bích sa như yên cách song ngữ
    Đ́nh thoa trướng nhiên tư viễn nhân
    Độc túc cô pḥng lệ như vũ


    Dịch Nghĩa:

    Đám mây vàng bên thành, quạ muốn đậu
    Bay về rền rĩ trên cành cây
    Cô gái Tần Xuyên dệt gấm bên khung cửi
    Vải biếc như làn khói ngoài song cửa, cùng với tiếng nói.
    Dừng thoi, thẫn thờ nhớ người đi xa
    Trong pḥng không một ḿnh, lệ như mưa.

    Dịch Thơ:

    Quạ kêu đêm

    Mây vàng chiếc quạ bên thành
    Nó bay t́m ngủ trên cành nó kêu
    Tần Xuyên cô gái buồng thêu
    Song sa khói toả như khêu chuyện ngoài
    Dừng thoi buồn bă nhớ ai
    Pḥng không gối chiếc giọt dài tuôn rơi.


    Tản Đà dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    Ức Đông Sơn

    Bất hướng Đông Sơn cửu
    Tường vi kỷ độ hoa
    Bạch vân hoàn tự tán
    Minh nguyệt lạc thuỳ gia


    Nhớ Đông Sơn

    Lâu nay không đến Đông sơn
    Cây tường vi đă mấy lần hoa
    Mây xưa tan tác bay xa
    Trăng xưa rơi rụng xuống nhà của ai

    Dịch thơ:

    Đông sơn xa cách bao xuân
    Tường vi đă trải mấy lần nở hoa
    Mây kia bạc xóa tan ra,
    Vầng trăng khuất sáng, bóng sa nhà nào.


    Trần Trọng Kim

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    Tử Dạ Tứ Thời Ca

    I.

    Tần địa La Phu nữ
    Thái tang lục thủy biên
    Tố thủ thanh điều thượng
    Hồng trang bạch nhật tiên
    Tàm cơ thiếp dục khứ
    Ngũ mă mạc lưu liên


    II.

    Kính hồ tam bách lư
    Hạm đảm phát hà hoa
    Ngũ nguyệt Tây Thi thái
    Nhân khan ải nhược da
    Hồi châu bất đăi nguyệt
    Quy khứ Việt vương gia


    III.

    Trường An nhất phiến nguyệt
    Vạn hộ đảo y thanh
    Thu phong xuy bất tận
    Tổng thị Ngọc quan t́nh
    Hà nhật b́nh Hồ lỗ
    Lương nhân băi viễn chinh


    IV.

    Minh triêu dịch sứ phát
    Nhất dạ nhứ chinh bào
    Tố thủ trừu châm lănh
    Na kham bả tiển đao
    Tài phùng kư viễn đạo
    Kỷ nhật đáo Lâm Thao


    Chú thích:

    - Tử Dạ: tên khúc nhạc đời Tấn. Có người con gái đời Tấn, tên Tử Dạ, làm những bài ca rất bi ai
    - La Phu: tên người con gái hái dâu trong khúc hát Mạch thượng tang
    - Ngọc quan: là Ngọc môn quan, giờ là Sa châu, cách Trường An 3600 dặm
    - Hồ lỗ: rợ Hồ
    - Nhược da : lạch (khê) nhỏ, phía đông nam huyện Thiệu hưng, chảy về phía bắc vào Kính hồ

    Dịch nghĩa:

    I.

    Người con gái La Phu đất Tần
    Hái dâu bên gịng nước xanh
    Bàn tay trắng ngần vịn vào nhành cây xanh
    Ánh nắng mặt trời chiếu trên bộ đồ đỏ mới tinh
    Tằm đói rồi thiếp phải chạy về nhà
    Xin ngài (người đi xe năm ngựa kéo) đừng ở lại lâu

    II.

    Hồ rộng ba trặm dặm như gương
    Những cây sen nở hoa đầy
    Tháng năm Tây Thi hái hoa
    Người xem thấy Tây thi hái sen ở trên con lạch hẹp Nhược da
    Chẳng buồn chờ trăng nửa quay thuyền về
    Trở lại cung điện của vua Việt

    III.

    Mảnh trăng mọc trên đầu Trường An
    Nơi nơi nghe tiếng đập áo
    Gió mùa thu thổi không hết
    Rốt cuộc cũng c̣n đâu đó cái nhớ nhung về người miền Ngọc môn quan
    Trời hỡi ngày nào dẹp xong rợ Hồ
    Cho chồng tôi hết phải sống cuộc đời lính thú xa xôi

    IV.

    Ngày mai sứ giả sẽ đi về miền chinh chiến
    Nguyên đêm ngồi may chiếc áo trận
    Bàn tay ngọc cầm kim khâu đă thấy lạnh
    Không biết có cầm nổi cái kéo để cắt áo hay không
    May cho xong để c̣n gởi ra miền xa xôi
    Vài ngày nửa rồi sẽ có áo cho người Lâm Thao

    Dịch thơ

    I.

    Đất Tần gái La Phu
    Bờ xanh nước hái dâu
    Tay trắng vin cành biếc
    Ánh dương ửng má đào
    Thiếp về lo tằm đói
    Ngài chớ đổ xe lâu


    Khương Hữu Dụng

    La Phu cô gái đất Tần
    Hái dâu xanh ở bến gần nước xanh
    Phau phau tay trắng vin cành
    Ánh dương ửng má cô ḿnh đỏ tươi
    Em về tằm đói về thôi
    Hỡi quan thái thú rậm nhời mà chi


    Nguyễn hữu Bông

    III.
    Một vầng trăng chiếu Trường An
    Tiếng châm muôn hộ rộn ràng đêm thanh
    Gió thu thổi măi sao đành
    Hắt hiu hết thảy là t́nh Ngọc quan
    Bao giờ cho giặc kia tan
    Cho thôi chinh chiến cho chàng khỏi đi


    Trần trọng San

    Trường An trăng một mảnh
    Đập áo muôn cửa inh
    Gió thu thổi không dứt
    Ngọc quan một mối t́nh
    Ngày nào giặc Hồ dẹp
    Lương nhân khỏi viễn chinh


    Trần trọng Kim



    Trường An trăng một mảnh
    Đập vải rộn muôn nhà
    Gió thu đưa chẳng ngớt
    T́nh đến Ngọc quan xa
    Bao giờ dẹp hết giặc
    Khỏi trẩy lính chồng ta


    Khương Hữu Dụng

    Trường An trăng một mảnh
    Đập vải rộn muôn nhà
    Gió thu thổi không ngớt
    Ải Ngọc t́nh bao la
    Bao giờ dẹp yên giặc
    Cho chàng khỏi xông pha


    Tương Như

    Lư Bạch viết Tử dạ tứ thời ca để nói lên thời đại ông đang sống từ cảnh thái b́nh thịnh trị chuyển sang cảnh chiến tranh khốc liệt, sinh linh đồ thán.

    Bài thơ mùa xuân

    Nói lên đời thái b́nh thịnh trị khi mà người dân quê được sống đời hái dâu nuôi tằm. Hai câu kết thật ư nhị nhẹ nhàng. Khách đa t́nh thấy ngất ngây trước vẻ đẹp chất phác, mơn mởn (khỏe mạnh), tự nhiên. Thiếu nữ nửa mời mọc, nửa chối từ một cách khéo léo. Thôi thiếp phải về nhà nuôi tằm kẻo chúng đói (ngài có muốn theo không?). Mà thôi ngài là khách hào hoa, phú quí chẳng nên dây dưa ở đây mà làm ǵ . Thiếp thân phận thấp hèn chẳng qua chỉ là bông hoa bên đường. Nếu ngài không thật t́nh th́ chỉ làm thiếp khổ v́ vấn vương mà thôị

    Bài thơ mùa hạ

    Nói đến thời thịnh trị tột bực của triều đại nhà Đường và mượn Tây Thi để nói lên sắc đẹp diễm lệ khuynh quốc khuynh thành của Dương quí phi. Tác giả cảm thương cho những kiếp hồng nhan bạc phận cũng như cảm khái trước những giông tố sắp nổi lên .

    Chúng ta có thể hiểu vẻ đẹp của Tây Thi làm người người cảm thương. Nhưng người đẹp vẫn vô t́nh quay thuyền trở về nhà đâu biết được số kiếp hồng nhan ba ch́m bảy nổi sắp sửa xảy tới cho ḿnh.

    Hồi châu bất đăi nguyệt
    Qui khứ Việt vương gia

    Tả cuộc sống c̣n hồn nhiên của Tây Thi (thong dong tự tại hái sen trên hồ, trở thuyền về nhà ḿnh sớm v́ tâm tư vẫn c̣n hồn nhiên, chưa bị chuyện đời, chưa chứa đựng h́nh bóng ai) trước khi bị tuyển lựa để đem cống cho Ngô Phù sai, dùng nàng làm mỹ nhân kế để thực hiện giấc mông tranh bá đồ vương của Câu Tiễn.

    Với chế độ phong kiến, đất đai nào mà chẳng phải của vua (mạc phi vương thổ). Việt vương gia : quay trở về nhà ḿnh (ở đất Việt). Nếu đă bị tuyển vào cung cấm rồi th́ đi đâu xe ngựa rộn ràng làm sao mà có chuyện hái hoa sen, làm sao mà về sớm được, c̣n phải ở cạnh quân vương để mà xem hoa ngắm nguyệt.

    Bài ca mùa thu

    Đây là bài nổi tiếng nhất trong bốn bàị Nói lên cảnh từ thanh b́nh thịnh trị (2 câu đầu) chuyển sang cảnh chiến tranh (2 câu kế). Hai câu chót nói lên t́nh cảm của người đương thời, c̣n tràn đầy hy vọng chiến tranh sẽ sớm chấm dứt. Bút pháp đơn giản nhưng khéo diễn đạt tâm t́nh cũng như nếp sống của thời đó .

    Bài ca mùa đông

    Nói lên cái khổ của chiến tranh. Cuộc chiến đă dính liền với nếp sống thường ngàỵ Nói lên sư thiếu thốn cơ cực của kiếp sống cũnh như h́nh ảnh phụ nữ Á đông vẫn ngàn đời hy sinh nhịn ăn nhịn mặc để lo cho chồng cho con.

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    Trường Tương Tư II

    Nhật sắc dĩ (dục) tận hoa hàm yên
    Nguyệt minh như tố sầu bất miên
    Triệu sắt sơ đ́nh phụng hoàng trụ
    Thục cầm dục tấu uyên ương huyền
    Thử khúc hữu ư vô nhân truyền
    Nguyện tùy xuân phong kư Yên Nhiên
    Ức quân điều điều cách thanh thiên
    Tịch nhật (thời) hoành ba mục
    Kim thành lưu lệ tuyền
    Bất tín thiếp trường đoạn
    Quy lai khán thủ minh kính tiền


    Dịch nghĩa :

    Ánh mặt trời sắp hết hoa ngậm khói sương
    Trăng sáng như lụa buồn không ngủ được
    Tiếng đàn sắt nước Triệu vừa ngưng ở trụ phượng hoàng
    Cây cầm đất Thục lại muốn tạo nên khúc trên dây uyên ương
    Khúc nhạc này có t́nh ư mà không có ai để truyền đi
    Xin cho gió xuân thổi đến núi Yên Nhiên
    Nhớ ḿnh xa cách phương trời xanh thẳm
    Ngày xưa ánh mắt c̣n liếc
    Bây giờ làm thành suối lệ
    Không tin em buồn đứt ruột
    Hăy về mà nh́n gương em đang cầm trước mặt

    Dịch thơ:

    Hoa lồng khói biếc tắt tà dương
    Trăng trong như lụa tơ sầu vương
    Đàn Triệu vừa ngơi trụ phượng hoàng
    Đàn Thục toan găy dây uyên ương
    Khúc này có ư không ai truyền
    Mong gởi gió xuân đến Yên Nhiên
    Xa cách trời xanh nhớ khó quên
    Ngày xưa mắt gợn sóng
    Nay thành suối lệ phiền
    Đoạn trường ai chẳng tin ḷng thiếp
    Hăy về mà ngắm bóng gương in


    Trần Trọng San

    Lặn ánh tà dương
    Hoa ngậm khói sương
    Bóng thiềm vằng vặc
    Bâng khuâng canh trường
    Dừng trụ phượng hoàng
    Nắn dây uyên ương
    Cung đàn ngụ ư
    Ai gửi cùng chàng
    Theo làn gió xuân
    Núi Yên gởi sang
    Nhớ người xa xa
    Xa cách trời xanh
    Xưa mắt đưa t́nh
    Như sóng long lanh
    Rầy sao giọt lệ
    Như suối chảy quanh


    (khuyết danh)

    Bóng chiều sắp tắt hoa ngậm sương
    Trăng cao không ngủ sầu c̣n vương
    Đàn sắt vừa buông trụ phượng hoàng
    Chiếc cầm toan găy dây uyên ương
    Khúc này có ư ai đưa hộ
    Yên Nhiên mong gởi gió xuân sang
    Xa cách trời xanh thiếp nhớ chàng
    Thuở nào sóng mắt liếc
    Bây giờ suối lệ chan
    Không tin thiếp đoạn tràng
    Ngày về xin hăy trông vào gương


    (khuyết danh)

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thính Thục Tăng Tuấn Đàn Cầm

    Thục tăng băo Lục Ỷ
    Tây hạ Nga Mi phong
    Vị ngă nhất huy thủ ,
    Như thinh vạn hác tùng .
    Khách tâm tẩy Lưu thủy ,
    Dư hưởng nhập sương chung .
    Bất giác bích sơn mộ ,
    Thu vân ám kỷ trùng .

    Lư Bạch

    Dịch nghĩa :

    Nghe nhà sư đất Thục tên là Tuấn gảy đàn

    Nhà sư đất Thục ôm cây đàn Lục Ỷ , từ ngọn núi Nga Mi đi xuống phía tây . Khi ông v́ tôi mà vẫy tay ( gảy đàn ), tôi dường như nghe thấy tiếng thông reo bên muôn suối nước . Ḷng khách được gột rửa bằng khúc Lưu Thủy ( nước chảy ); tiếng vang c̣n lại của tiếng đàn hoà lẫn với tiếng chuông trong sương . Không biết rằng trên núi xanh trờI đă tốI , đă có bao nhiêu đợt mây thu tối tăm .


    Nghe nhà sư đất Thục tên là Tuấn gảy đàn



    Nhà sư ôm một cây đàn ,
    Từ Nga Mi xuống , đi sang nơi này .
    V́ ta một bận vẫy tay ,
    Dường như muôn suối vang đầy tiếng thông .
    “ Nước trôi “ rửa sạch cơi ḷng ,
    Dư âm hoà lẫn tiếng chuông sương mờ .
    Núi xanh , chiếu đến không ngờ ,
    Tối tăm bốn phía mây thu chập chùng .

    Bản dịch Trần Trọng San


    Lục Ỷ : tên cây đàn nổi tiếng của Tư Mă Tương Như đời Hán
    Lưu thủy : khúc đàn do Bá Nha gảy cho Chung Tử Kỳ nghe .

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thục Đạo Nan

    Y hu hy , nguy hồ , cao tai .
    Thục đạo chi nan , nan ư thướng thanh thiên .
    Tàm Tùng cập Ngư Phù .
    Khai quốc hà mang nhiên .
    Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế ,
    Thủy sữ Tần tái thông nhân yên .
    Tây đang Thái Bạch hữu điểu đạo ,
    Khả dĩ hoành tuyệt Nga Mi điên .
    Địa băng sơn tồi tráng sĩ tử .
    Nhiên hậu thiên thê , thạch sạn phương câu liên .
    Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu .
    Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên .
    Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc .
    Viên nhứu dục độ sầu phan viên .
    Thanh Nê hà bân bân .
    Bách bộ cửu chiết oanh nham loan .
    Mô Sâm lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức .
    Dĩ thủ phủ ưng tọa trường than .
    Vấn quân tây du hà thời hoàn ,
    Úy đồ sàm nham bất khả phan .
    Đản kiến bi điểu hào cổ mộc .
    Hùng phi ṭng thư nhiễu lâm gian .
    Hữu văn tử qui đề da nguyệt ,
    Sầu Không san .
    Thục đạo chi nan , nan ư thướng thanh thiên .
    Sử nhân thính thử điêu chu nhan .
    Liên phong khứ thiên bất doanh xích .
    Khô tùng đảo quái ỷ tuyệt bích .
    Phi suyền bộc lưu tranh huyên hôi .
    Phanh nhai chuyển thạch vạn hác lôi .
    Kỳ hiểm dă nhược thử .
    Ta nhĩ viễn đạo chi nhân .
    Hồ vi hồ lai tai .
    Kiếm Các tranh vanh nhi thôi ngôi .
    Nhất phu đang quan ,
    Vạn phu mạc khai .
    Sở thủ hoặc phi thân ,
    Hóa vi lạng dữ sài .
    Triều ty mănh hổ .
    Tịch ty trường sà .
    Ma nha duận huyết ,
    Sát nhân như ma .
    Cẩm thành tuy vân lạc .
    Bất như tảo hoàn gia .
    Thục đạo chi nan , nan ư hướng thanh thiên .
    Trắc thân tây vọng trường tư ta .

    Lư Bạch



    Dịch nghĩa :
    Đường Thục Khó
    Ôi , nguy hiểm thay , cao thay ! Đường Thục khó , khó hơn lên trời xanh . Các vua Tàm Tùng và Ngư Phù ở chốn xa xôi biết bao ! Từ đó đến nay , đă bốn vạn tám ngh́n năm , mớI thông suốt với chổ có khói người ở ải Tần .
    Phía tây là núi Thái Bạch có đường chim bay , có thể vắt ngang đến tận đỉnh núi Nga Mi . Đất lở , núi sập , tráng sĩ chết , rối mới có thang trời , đường đá móc nối liền nhau . Phía trên có ngọn cao sáu rồng lượn quanh mặt trời . Phía dưới có ḍng sông uốn khúc sóng xô rẽ ngược . Hạc vàng c̣n không bay qua được ; vượn khỉ muốn vượt qua , cũng buồn khi vin tới , leo trèo .
    Rặng núi Thanh Nê khuất khúc biết bao ! Cứ trăm bước lại có chín khúc quặt ṿng quanh núi non hiểm trở . Đứng trên cao , tưởng chứng như mó được sao Sâm , lướt qua sao Tỉnh ngẩng trông nín thở , đưa tay vổ bụng , ngồi than thở hoài .
    Hỏi bạn đi chơi phía Tây , bao giờ trở lại ? Đường đi cheo leo , nguy hiểm , không với tớI được . Chỉ nghe thấy tiếng chim kêu đau thương trong hàng cây cổ thụ , con trống bay theo con mái , lượn quanh trong rừng . Lại nghe thấy tiếng chim tứ quí kêu dưới bóng trăng đêm , buồn trong núi vắng .
    Đường Thục khó , khó hơn lên trời xanh . Khiến người ta nghe nói đến cảnh đó , phải héo hắt vẻ mặt trẻ trung . Các ngọn núi liền nhau , cách trời không đầy một thước . Cây thông khô vắt vẻo tựa vào vách đá cao ngất . Nước bay , thác chảy đua tiếng ào ào . Đập vào sườn núi , rung động đá , muôn khe suối vang ầm như sấm . Đường Thục hiểm trở là như thế ! Thương thay cho các bạn , những người đi đường xa , tại sao đến nơi đây ? Miền Kiếm Các cheo leo , chót vót !
    Chỉ một người canh giữ ải , đến muôn người cũng không mở nổi . Những kẻ giữ ải có thể không phải là người thân , lại biến đổi thành ra làoi sài lang . C̣n những người đi đường th́ ban sáng phải lánh cọp dữ , buổi tối phải tránh rắn dài ; bọn chúng mài nanh , hút máu , giết hại người nhiều như cây gai . Thành Cẩm Quan tuy rằng có vui , nhưng sao bằng sớm trở về nhà . Đường Thục khó , khó hơn lên trời xanh . Nghiêng ḿnh trông sang phía tây , than thở hoài .



    Đường Thục Khó

    Ôi , chao ôi ! Nguy hề , cao thay !
    Đường Thục khó , khó hơn lên trời xanh .
    Tàm Tùng và Ngư Phù
    Mở nước bao xa xôi !
    Đến nay bốn vạn tám ngàn năm ,
    MớI cùng ải Tần liền khói người .
    Phía tây núi Thái Bạch có đường chim ,
    Vắt ngang đến tận đỉnh Nga Mi ,
    Đất long , núi lở , tráng sĩ chết ,
    Rồi sau thang trời , lối đá mới nối liền .
    Trên đỉnh có sáu rồng , lượn quanh vầng nhật ;
    Dưới có ḍng sâu rẽ ngược , sóng cả đua chen .
    Hạc vàng bay qua c̣n chẳng được ;
    Vượn khỉ toan vượt , buồn với vin .
    Rặng Thanh Nê quanh co !
    Trăm bước , chín ṿng núi nhấp nhô .
    Ngẩng trông Sâm Tỉnh , không dám thở ,
    Lấy tay vổ bụng ngồi thở dài .
    Hỏi bạn sang tây , bao giờ trở lại ?
    Đường hiểm núi cao , khó lắm thay ;
    Chỉ thấy chim buồn gào cổ thụ ,
    Trống bay theo mái lượn rừng cây .
    Lại nghe tiếng cuốc kêu trăng tối ,
    Buồn tênh , núi vắng người !
    Đường Thục khó , khó hơn lên trời xanh ;
    Khiến người nghe nói héo mặt son .
    Núi liền cách trời chẳng đầy thước ;
    Thông khô vắt vẻo vách cao ngất .
    Thác đổ dồn mau tiếng rộn ràng ,
    Vổ bờ , tung đá , muôn khe vang .
    Hiểm nghèo là như vậy ,
    Đường xa , thương cho ai ,
    V́ sao lại đến đây ?
    Kiếm Các cheo leo cao ngất mây .
    Một người giữ cửa quan
    Muôn người khôn mở ải
    Chẳng phải là người thân ,
    Biến thành ra sài lang .
    Sớm lánh hổ dữ ,
    TốI tránh rắn dài ;
    Mài nanh , hút máu ,
    Giết người như gai .
    Cẩm thành tuy vui thú ,
    Đâu bằng sớm về nhà .
    Đường Thục khó , khó hơn lên trời xanh ;
    Nghiêng trông sang tây , măi thở than .

    Bản dịch Trần Trọng San


    Thục : nay là tỉnh Tứ Xuyên
    Y hu hy : người Thục mỗI khi sửng sốt , kinh hăi thường thốt ra ba tiếng này .
    TàmTù ng , Ngư Phù : tên hai vua đầu tiên mở mang đất Thục
    Tần : nay là tỉnh Thiểm Tây
    Thái Bạch : tên núi , ở huyện Mi , tỉnh Thiểm Tây
    Điểu đạo : đường chim bay
    Nga Mi : tên núi , ở huyện Mi , tỉnh Tứ Xuyên .
    Thanh Nê : tên núi , ở Hưng Châu , trên đường đi từ Tần vào Thục , sao Tỉnh thuộc phận dă đất Tần .
    Hiệp tức : nín thở .
    Tử qui c̣n có tên đỗ quyên hay đỗ vũ .
    Kiếm Các : tên nơi hiểm trở ở quận Tử Đồng , tỉnh Tứ Xuyên .
    Cẩm Thành : thành Cẩm Quan , ở phía nam Thành Đô , tỉnh Tứ Xuyên .

    Leave a comment:


  • Dat ma su to
    replied
    LAO LAO Đ̀NH

    Phiên âm:

    Thiên hạ thương tâm xứ
    Lao lao tống khách đ́nh
    Xuân phong tri biệt khổ
    Bất khiến liễu điều thanh


    Dịch nghĩa:

    Chốn thương tâm trong trời đất này
    Chính là nơi tiễn khách ở đ́nh Lao lao.
    Gió xuân như cũng biết nỗi khổ tâm khi ly biệt
    Không cho cành liễu đổi màu xanh

    Dịch thơ:

    Đ́nh Lao Lao

    Chốn thương tâm hỏi nơi nào?
    Bằng nơi tiễn khách ở Lao Lao đ́nh.
    Gió xuân như cũng hay t́nh,
    Không cho cành liễu buông xanh ghẹo người.
    (Hoài Anh dịch)
    Last edited by Dat ma su to; 08-26-2002, 09:21 PM.

    Leave a comment:


  • Dat ma su to
    replied
    TU BIÊN

    Khứ niên hà thời lang biệt thiếp
    Nam viên lục thảo phi hồ điệp
    Kim tuế hà thời thiếp ức quân
    Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân
    Ngọc quan khứ thử tam thiên lư
    Dục kư âm thư na khả văn?


    Dịch nghĩa:

    Biên cương nghĩ ngợi

    Năm ngoái vào lúc này, chàng và thiếp ly biệt
    Bên vườn nam, bướm bay vờn cỏ xanh biếc
    Năm nay vào lúc chia biệt ấy, thiếp nhớ tới chàng
    Núi phía tây, tuyết trắng che kín, xám mây Tần
    Ngọc quan nơi chàng đến cách xa ba ngàn dặm
    Muốn gởi lá thư, không biết chàng có nhận được chăng?

    Dịch thơ:

    Năm ngoái: thời gian chảy đôi ngả
    Một ngả ngập ngừng cỏ biếc xanh
    Một ngả đi hoài khôn tới ranh
    Núi tây tuyết trắng - mây Tần xám
    Ngọc quan khắc khoải muốn cầm bút
    Ngại chi: vung tay viết cao xanh?



    (Bản dịch của Lư Minh - trích “Thơ Đường tinh hoa tương tác”)
    ==========================
    *Bài này dịch hơi chán, thí chủ nào có bản dịch hay hơn th́ Post lên

    Leave a comment:


  • Dat ma su to
    replied
    ĐỘC TỌA KÍNH Đ̀NH SAN

    Phiên âm:

    Chúng điểu cao phi tận
    Cô vân độc khứ nhàn
    Tương khán lưỡng bất yến
    Chỉ hữu Kính đ́nh san

    Dịch nghĩa:

    Trên từng cao, bầy chim bay đi hết
    C̣n lại áng mây lẻ bạn lững lờ trôi
    Chỉ hai kẻ nh́n theo không biết chán
    Đó là ngọn núi Kính đ́nh và ta

    Dịch thơ:

    Ngồi một ḿnh trên núi Kính đ́nh


    Trên cao bay hết bầy chim
    Áng mây lẻ bạn bay t́m lửng lơ
    Kính đ́nh - ngọn núi - nằm trơ ...
    Hai ta không chán nh́n hùa, hư không!

    (Bản dịch của Lư Minh - trích “Thơ Đường tinh hoa tương tác”)

    Chim muông bay hết, t́m sao?
    Để mây lẻ bạn, nao nao thẫn thờ
    Kính đ́nh san, đứng trơ vơ
    Đôi ta bạn hữu ngẩn ngơ cơi ḷng

    (Bản dịch của Đạt Ma sư tổ)



    ------------------------------------
    * Nếu bằng hữu nào biết bản dịch hay hơn thi xin Post lên Để mọi người cùng thưởng thức

    Last edited by Dat ma su to; 08-26-2002, 09:35 PM.

    Leave a comment:


  • Guest's Avatar
    Guest replied
    Ức Tần Nga- Bản dịch

    Ức Tần Nga

    Tiêu thanh yết
    Tần Nga mộng đoạn Tần lâu nguyệt
    Tần lâu nguyệt
    Niên niên liễu sắc
    Bá Lăng thương biệt
    Lạc du nguyên thượng thanh thu tiết
    Hàm Dương cổ đạo âm trần tuyệt
    Âm trần tuyệt
    Tây phong tàn chiếu
    Hán gia lăng khuyết .


    Dịch nghĩa

    Điệu Ức Tần Nga

    Tiếng tiêu dứt
    Nàng Tần Nga tỉnh mộng dưới ánh trăng lầu Tần
    Trăng lầu Tần
    Mỗi năm liễu lại xanh
    Nhớ lần chia biệt nơi cầu Bá Lăng
    Trong tiết trời thu dạo chơi trên thảo nguyên
    Nh́n về đường cũ Hàm Dương không thấy tin tức
    Không tin tức
    Gió Tây thổi qua nắng chiều tà
    Qua cung điện xưa nhà Hán

    Dịch thơ

    Ức Tần Nga

    Tiêu bặt tiếng
    Tần Nga tỉnh mộng Tần lâu nguyệt
    Tần lâu nguyệt
    Mỗi năm liễu thắm
    Bá Lăng tiễn biệt
    Thả bước dạo chơi thu trong mát
    Hàm Dương lối cũ không tin nhạn
    Không tin nhạn
    Nắng gió xiên xiên
    Lâu đài nhà Hán


    (Bản dịch của Nam Trân)

    Leave a comment:


  • Tieu Dieu Khach
    replied
    Bach Van Phi viết ở trên :
    Kư Viễn

    Mỹ nhân tại thời hoa măn đường
    Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng
    Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
    Chi kim tam tải văn dư hương
    Hương diệc cánh bất diệt
    Nhân diệc cánh bất lai
    Tương tư hoàng diệp tận
    Bạch lộ thấp thanh đài


    Gửi Phương Xa

    Người đẹp c̣n đây, hoa thắm tươi
    Người đi, giường trống, lá hoa rơi
    Trên giường chăn gấm y nguyên nếp
    Xuân Hạ ba lần hương chửa phai
    Hương thơm phảng phất c̣n đây măi
    Người đẹp đi xa chẳng trở về
    Móc trắng, rêu canh cùng đẫm ướt
    Lá vàng lác đác nhớ thương hoài...
    Gửi Phương Xa

    Người đẹp c̣n đây, nhà đầy bông,
    Người đẹp đi rồi, giường bỏ không.
    Giường không, đệm cuốn, nào ai ngủ,
    Nay đă ba năm, hương c̣n xông.
    Hương thơm, thơm không dứt,
    Người đi, đi không về ?
    Nhớ nhau lá vàng rụng,
    Rêu biếc sương dầm dề.

    Nguyễn Hữu Bổng dịch

    Leave a comment:


  • Tieu Dieu Khach
    replied
    Bach Van Phi viết ở trên :
    XUÂN TỨ

    Yến thảo như bích ty
    Tần tang đê lục chi
    Đương quân hoài quy nhật
    Thị thiếp đoạn trường th́
    Xuân phong bất tương thức
    Hà sự nhập la vi ?


    Dịch nghĩa

    Cỏ đất Yên như sợi tơ xanh biếc
    Dâu đất Tần cành xum xuê lá xanh
    Chính lúc chàng nhớ đến ngày trở về quê
    Cũng là lúc thiếp đă nhớ đứt từng khúc ruột
    Gió xuân nào có hay biết
    Việc chi mà lọt vào màn the

    Dịch thơ

    Ư NGHĨA MÙA XUÂN

    Cỏ Yên biếc tựa tơ xanh
    Dâu Tần tươi thắm rủ cành lê thê
    Ngày chàng nghĩ đến trở về
    Là khi ḷng thiếp ê chề quặn đau
    Gió xuân quen biết chi nhau
    Cớ sao lại đến thổi vào màn the


    Trần Trọng San

    Cỏ Yên dường sợi tơ xanh
    Dâu Tần cũng năy những cành le te
    Đương khi chàng muốn về quê
    Chính là khi thiếp đau tê tấm ḷng
    Gió xuân đâu có quen cùng
    Cớ chi lại cứ vào trong màn là


    Trần Trọng Kim

    Cỏ Yên như tơ biếc
    Dâu Tần lả lướt xanh
    Lúc chàng mong trở lại
    Thiếp đang thắt ruột gan
    Gió xuân nào có biết
    Cớ chi vào trong màn ?


    Ngô Văn Phú

    Tứ Xuân

    Cỏ Yên (1) như sợi tơ xanh,
    Dầu Tần (2) xanh ngắt rủ cành xum xuê.
    KHi chàng tưởng nhớ ngày về,
    Chính là khi thiếp tái tê nỗi ḷng.
    Gió xuân, ai biết chi cùng,
    Cớ sao len lỏi vào trong màn là ?

    Khuyết Danh dịch

    ________________________
    (1)(2): Đất Yên ở phía Bắc Trung Quốc,
    Đất Tân ở trung tâm Trung Quốc,
    Đất Yên: tiết trời lạnh lẽo, nên cây cối sinh nở
    chậm: lúc ở đất Tân, dâu đă đầy lá trĩu cành th́ ở đất Yên
    mới nẩy mầm non.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Xuân Nhật Độc Chước


    Xuân phong phiến thục khí ,
    Thủy mộc vinh xuân huy .
    Bạch Nhật chiếu lục thảo ,
    Lạc hoat án thả phi .
    Cô vân hoàn không sơn ,
    Chúng điểu các dĩ qui .
    Bỉ vật giai hữu thác ,
    Ngô sinh độc vô y .
    Đối thử thạch thượng nguyện ,
    Trường túy ca phương phi .

    Lư Bạch

    Dịch nghĩa : Bổ sung sau

    Ngày Xuân Uống Rượu Một Ḿnh

    Gió đông thổi khí huyên ḥa ,
    Nước cây tươi đẹp , đậm đà nắng xuân .
    Màu đương sắc cỏ đượm nhuần ,
    Hoa tàn cành rữa rụng dần bay tung .
    Đám mây về núi thung dung,
    Chim bay về tổ , đều cùng thảnh thơi
    Vật kia y thác có nơi ,
    Thân ta riêng chịu cái đời lẻ loi .
    Ngắm trăng trên đá bồi hồi ,
    Rượu rồi say tít , hát bài phương phi .

    Bản dịch Trần Trọng Kim

    Leave a comment:


  • Dat ma su to
    replied
    Cổ phong (*)

    Tác giả: Lư Bạch

    Đăng cao vọng tứ hải
    Thiên địa hà mạn mạn
    Sương bị quần vật thu
    Phong phiêu đại hoang hàn
    Vinh hoa đông lưu thủy
    Vạn sự giai ba lan
    Bạch nhật yểm tà huy
    Phù vân vô định đoan
    Ngô đồng sào yến tước
    Chi cức thê uyên loan
    Thả phục quy khứ lai
    Kiếm ca hành lộ nan


    Dịch nghĩa:

    Lên cao ngắm bốn biển
    Trời đất ngỡ như đầy tràn
    Sương thu phủ lên cảnh vật
    Gió lớn thổi lạnh khắp miền hoang
    Giàu sang như ḍng nước chảy về đông
    Muôn vạn sự việc lan đi theo làn sóng nước
    Ánh chiều lên, khép lại ngày trắng
    Cầm như mây trôi lang thang vô định
    Tổ yến, tổ sẻ trên nhánh ngô đồng
    Chim uyên, chim loan đậu trên cành gai
    Ḱa, con đường quay trở lại
    Vỗ kiếm, ca lên gian nan

    Phỏng dịch thơ:

    Lên cao ngắm bốn biển
    Trời đất ngỡ đầy tràn
    Sương thu mờ bóng phủ
    Gió lớn lạnh miền hoang
    Giàu sang như ḍng nước
    Muôn sự lớp sóng lan
    Ánh chiều khép ngày trắng
    Làn mây trôi lang thang
    Nhành ngô: tổ yến, sẻ
    Cành gai: chim uyên, loan
    Ḱa, đường quay trở lại
    Vỗ kiếm ca gian nan...



    ---------------------------
    (*): Bài này ít xuất hiện trong các tuyển tập thơ Đường, thí chủ nào có bản dịch hay hơn th́ xin chỉ giao...
    Lăo Nạp xin cảm tạ!!!
    Last edited by Dat ma su to; 08-05-2002, 01:50 AM.

    Leave a comment:


  • NhuY
    replied
    Sơn Trung Vấn Đáp

    Vấn quan hà sự thê bích san
    Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn
    Đào hoa lưu thuỷ yểu nhiên khứ
    Biệt hữa thiên địa phi nhân gian.


    Dịch:

    Lời hỏi đáp trong núi

    Có người hỏi ta, tại sao lại vào ở trong núi xanh ?
    Ta cười không đáp, ḷng tự thanh nhàn .
    Hoa đào theo ḍng nước chảy lặng lẽ trôi đi;
    Có một cơi trời đất khác, không phải là cơi người.



    Lời hỏi đáp trong núi

    Hỏi sao núi biếc nhương thân ?
    Cười mà không đáp, thư nhàn ḷng ta.
    Đào trôi, nước chảy đi xa;
    Có riêng trời đất, chẳng là nhân gian.

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thanh B́nh Điệu
    III

    Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan ,
    Trường đắc quân vương đới tiếu khan .
    Giải thích xuân phong vô hạn hận ,
    Trầm Hương đ́nh bắc ỷ lan can .

    Lư Bạch


    Dịch nghĩa :
    Điệu Hát Thanh B́nh III


    Đóa hoa nổi tiếng và người đẹp nghiêng nước nghiêng thành , cả hai điều vui vẽ , v́ luôn luôn được vua tươi cười trông ngắm . Khuây khỏa hết nổi hận vô hạn của gió xuân , nàng đứng tựa lan can ở phía bắc đ́nh Trầm Hương .

    Thanh B́nh Điệu
    III

    Hoa trời , sắc nước , thảy đều vui ,
    Luôn được vua trông với nụ cười .
    Mối hận gió xuân bay thoảng hết ;
    Bên đ́nh , thơ thẩn tựa hiên chơi .


    Bản dịch Trần Trọng San

    * Thái Chân ngoại truyện chép rằng :
    Trong thời Khai Nguyên , nhân lúc hoa thược dược nở nhiều , Đường Minh Hoàng cùng Dương Quí Phi họp một số tử đệ của Lê viên lại để đàn hát thưởng hoa . Khi Lư Qui Niên toan hát , vua nói :" Thưởng danh hoa , trước Phi tử , dùng chi đến lời nhạc cũ này ?" Rồi sai họ Lư đi triệu Hàn lâm học sĩ Lư Bạch tới . Lư Bạch tức th́ làm xong ba chương Thanh B́nh điệu , trong lúc vẫn c̣n chưa tỉnh rượu .

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thanh B́nh Điệu
    II


    Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương .
    Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường ,
    Ta’ vấn Hán cung thùy đắc tự ,
    Khả lân Phi Yến ỷ tân trang .

    Lư Bạch


    Dịch nghĩa :
    Điệu Hát Thanh B́nh .
    II

    Nàng trông giống như một cành hồng đẹp , phủ móc đọng hương , khiến cho thần nữ làm mây mưa ở Vu Sơn kia cũng phải đau khổ mà chẳng ích ǵ . Thử hỏi trong cung Hán ,ai là người giống được nàng ? Thương thay nàng Triệu Phi Yến vẫn c̣n phải nhờ vừa mới điểm trang .


    Dịch Thơ :

    Thanh B́nh Điệu
    II

    Một nhánh hồng tươi , móc đọng sương ;
    Mây mưa Vu Giáp uổng sầu thương .
    Hỏi nơi cung Hán ai người giống ?
    Phi Yến c̣n nhờ mới điểm trang .


    Bản dịch Trần Trọng San

    * Vu Sơn : tương truyền Sở Tương vương đi chơi đến đất Cao Đường , nằm mơ thấy một thiếu phụ nói rằng :" Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn , sớm làm mây tối làm mưa ở Dương Đài ".
    * Phi Yến : Triệu Phi Yến là cung nữ của vua Hán Thành Đế , được vua sủng ái một thời gian rồi bị thất sủng .

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thanh B́nh Điệu
    I


    Vân tưởng y thường hoa tưởng dung ,
    Xuân phong phất hạm nộ hoa nùng .
    Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến ,
    Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng

    Lư Bạch


    Dịch nghĩa :

    Điệu Hát Thanh B́nh .
    Trông mây , tưởng đó là xiêm áo nàng ; thấy hoa , ngỡ đó là vẻ mặt nàng . Gió xuân thổi chạm hiên , đọng nhiều sương móc . Nếu như không gặp nàng trên đầu núi Quấn Ngọc , th́ cũng sẽ đến gặp nàng dưới bóng trăng ở Dao Đài .

    Dịch thơ :

    Thanh B́nh Điệu
    I

    Mặt tưởng là hoa , áo ngỡ mây ;
    Hiên sương phơ phất gió xuân bay .
    Nếu không gặp gỡ trên Quần Ngọc ,
    Dưới nguyệt Dao Đài sẽ gặp ai .


    Bản dịch Trần Trọng San

    Quần Ngọc , Dao Đài : nơi ở Tây Vương Mẫu

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Tuyên Châu tạ Thiếu Lâu Tiễn Biệt Hiệu Thư Thúc Vân

    Khí ngă khứ giả tạc nhật chi nhật bất khả lưu
    Loạn ngă tâm giả, kim nhật chi nhật đa phiền ưu .
    Trường phong vạn lư tống thu nhạn
    Đối thử khả dĩ hàm cao lâu
    Bồng Lai văn chương Kiến An cốt
    Trung gian Tiểu Tạ hựu thanh phát
    Câu hoài dật hứng tráng tứ phi .
    Dục thướng thanh thiên lăm minh nguyệt .
    Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu .
    Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu .
    Nhân sinh lai thế bất xứng ư
    Minh triêu tản phát lộng biên châu .

    Lư Bạch


    Dịch nghĩa :
    Trên Lầu Tạ Thiếu Ở Tuyên Châu Tiễn Biệt Quan Hiệu Thư Thúc Vân

    Bỏ ta ra đi ,đó là ngày hôm qua, không thể giữ lại được . Làm rối loạn ḷng ta, là ngày hôm nay , nhiều nỗi lo u phiền . Trận gió dài muôn dặm đưa tiễn chim nhạn mùa thu . Trước cảnh ấy ta có thể say sưa trên ḷng cao .
    Quan hiệu thư Thúc Vân có văn chương sánh bằng văn chương của cung Bồng Lai , có cốt cách giống như cốt cách của thời Kiến An . Trong khoảng từ Hán đến Đường , Tiểu Tạ lại nổi lên với ư thơ trong sáng . Chúng tôi đều có hứng phiêu dật , tứ hùng mạnh bay cao, muốn lên trời xanh , nắm vầng trăng sáng .
    Lấy đao chém xuống nước , nước càng trôi đi ; nâng chén khuây sầu , sầu lại thêm sầu .Người ta ở đời mà không hợp ư , th́ sáng mai , hăy xoă tóc , bơi thuyền đi chơi .


    Trên Lầu Tạ Thiếu Ở Tuyên Châu Tiễn Biệt Quan Hiệu Thư Thúc Vân



    Hôm qua khôn giữ ngày đi ;
    Hôm nay , nghĩ nỗi chia ly mà sầu .
    Gió dài đưa cánh nhạn thâu ,
    Cảnh này giục khách lên lầu mà say .
    Cốt Kiến An , văn Bồng Lai ;
    Lại thêm Tiểu Tạ thi tài lừng danh .
    Tứ hùng , hứng nhẹ bay nhanh,
    Muốn lên cao , nắm trăng thanh trên trời .
    Cầm đao chém nước , nước trôi ;
    T́nh buồn , dẫu rượu say người , khôn quên .
    Ở đời gặp chuyện lo phiền ,
    Sớm mai xơa tóc , bơi thuyền mà chơi .

    Bản dịch Trần Trọng San

    Ghi chú :

    * Tuyên Châu : nay là huyện Tuyên Thành tỉnh An Huy .
    *Tạ Thiếu : nhà văn nổi tiếng thời Nam Bắc triều , từng làm thái thú tại Tuyên Thành .
    *Bồng Lai : tên cung đời Đường , tức cung Đại Minh .
    *Kiến An cốt : cốt cách 7 danh sĩ thời Kiến An , đời Đông Hán : Khổng Dung , Trần Lâm , Vương Sán , Từ Cán , Nguyễn Vũ , Ưng Tích và Lưu Trinh ( Kiến An thất tử ) .
    *Tiểu Tạ : tức Tạ Huệ Liên , em họ của nhà thơ Tạ Linh Vân đời Tấn .
    Last edited by Ngao_0p; 06-18-2002, 11:50 AM.

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    ĐINH ĐÔ HỘ CA


    Vân Dương thướng chính khứ
    Lưỡng ngạn nhiêu thương cổ
    Ngô ngưu suyễn nguyệt th́
    Đà thuyền nhất hà khổ
    Thủy trọc bất khả ẩm
    Hồ tương bán thành thổ
    Nhất xướng Đô hộ ca
    Tâm tồi lệ như vũ
    Vạn nhân tạc bàn thạch
    Vô do đạt giang hử
    Quân khan thạch Mang , Đăng
    Yểm lệ bi thiên cổ


    Dịch nghĩa :

    Ở Vân Dương , ngược ḍng lên phía trên
    Hai bên bờ bán buôn tấp nập
    Trong lúc trâu đất Ngô ph́ hơi dưới ánh trăng
    Kéo thuyền xiết bao khó nhọc !
    Nước sông đục , không uống được
    Thức uống trong ṿ nửa lắng thành đất
    Mỗi lần hát khúc ca " đô hộ "
    Ḷng tan nát , lệ trào như mưa
    Muôn người đục tảng đá lớn
    Không làm sao vần đến bờ sông
    Anh hăy nh́n hai núi đá Mang , Đăng
    Giấu giọt lệ muôn thuở đau ḷng !

    Dịch thơ :

    BÀI CA ĐINH ĐÔ HỘ

    Đường ngược lên Vân Dương
    Đôi bờ buôn trù mật
    Tiết trêu Ngô thở trăng
    Người kéo thuyền khổ thật
    Nước đục uống không trôi
    Nửa bầu đọng thành đất
    Khúc "đô hộ " cất lên
    Lệ trào đau thắt ruột
    Muôn người cột vào đá
    Cách ǵ tới được bờ
    Mang , Đăng ḱa nh́n lên
    Muôn thuở buồn lệ nuốt


    Khương Hữu Dụng dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TRÀO LỖ NHO

    Lỗ tẩu đàm ngũ kinh
    Bạch phát tử chương cú
    Vấn dĩ kinh tế sách
    Mang nhiên trụy yên vụ
    Túc trước viễn du lư
    Thủ đới phương sơn cân
    Hoăn bộ ṭng trực đạo
    Vị hành tiên khởi trần
    Tần gia Thừ Tướng phủ
    Bất trọng bao y nhân
    Quân phi Thúc Tôn Thông
    dữ ngă bản thù luân
    Thời sự thả vị đạt
    Quy canh Vấn thủy tân


    Dịch nghĩa :

    Ông già nước Lỗ bàn chuyện năm kinh
    Tóc bạc vùi trong những từ chương đă chết
    Hỏi ông cách giúp đời gúp nước
    Ông ngơ ngác như từ mây mù rơi xuống
    Chân ông đi giày " viễn du"
    Đầu ông chít khăn kiểu " phương sơn "
    Khệnh khạng ông bước trên đường thẳng
    Chưa đi đă thấy bụi bay mù
    Phủ Thừa tướng nhà Tần
    Không ưa những người áo dài lụng thụng
    Ông không phải là Thúc Tôn Thông
    So với tôi , ông cũng không giống
    Chuyện đời ông c̣n chưa thông tỏ
    Nên về bờ sông Vấn đi cày

    Dịch thơ :

    GIỄU ÔNG ĐỒ NƯỚC LỖ

    Ông đồ nước Lỗ học ngũ kinh
    Bạc đầu nhai chết từng chương cú
    Hỏi ông giúp đời thế nào đây ?
    Mờ mịt như người mây khói phủ !
    Chân đi đôi giày " viễn du lư "
    Đầu đội chiếc khăn " phương sơn cân "
    Khệnh khạng ông bước theo đường thẳng
    Chưa đi bụi đă như mây vần
    Này , phủ thừa tướng đời nhà Tần
    Không trọng những người áo lụng thụng
    Ông không phải hạng Thúc Tôn Thông
    Ông so với tôi cũng không giống !
    Việc đời đă chẳng hiểu chi chi
    Bến Vấn liệu về cày cho chóng !


    Hoàng Tạo dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    ĐẢO Y THIÊN


    Khuê lư giai nhân niên thập dư
    Tần nga đối ảnh hận ly cư
    Hốt phùng giang thượng xuân qui yến
    Hàm đắc vân trung xích tố thư
    Ngọc thủ khai giam trường thán tức :
    Cuồng phu do thú Giao Hà bắc !
    Vạn lư Giao Hà thủy bắc lưu
    Nguyện vi song điểu phiếm trung châu
    Quân biên vân ủng thanh ty kỵ
    Thiếp xứ đài sinh hồng phấn lâu
    Lâu thượng xuân phong nhật tương yết
    Thùy năng lăm kính khan sầu phát ?
    Hiểu xuy huân quản tùy lạc hoa
    Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt
    Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường
    Trân châu liêm bạc yểm lan đường
    Hoành thùy bảo ác đồng tâm kết
    Bán phất quỳnh diên tô hợp hương
    Quỳnh diên , bảo ác liên chi cẩm
    Đăng chúc huỳnh huỳnh chiếu cô tẩm
    Hữu sứ bằng tương kim tiễn đao
    Vị quân lưu hạ tương tư chẩm
    Trích tận đ́nh lan bất kiến quân
    Hồng cân thức lệ sinh nhân uân
    Minh niên cánh nhược chinh biên tái
    Nguyện tác Dương đài nhất đoạn văn


    Dịch nghĩa

    Người đẹp ở pḥng khuê đă hơn mười năm
    Đổi bóng chau mày giận phải sống một ḿnh
    Bỗng gặp én xuân bay về trên sông
    Trong mây ngậm bức thư trên lụa trắng
    Tay ngọc mở phong thư , miệng thở dài
    Anh chồng cuồng c̣n đi thú ở phía bắc sông Giao
    Muôn dặm sông Giao nước chảy về phương Bắc
    Nguyện làm đôi chim , cùng bay quanh băi giữa sông
    Bên ḿnh chàng , mây bao phủ , ngựa rủ tơ xanh
    Nơi thiếp ở , rêu mọc trên lầu son phấn
    Gió xuân thổi trên lầu , ngày đà sắp hết
    Ai ḷng nào cầm gương , nh́n mái tóc sầu thương
    Sớm thổi sáo trúc theo cánh hoa rơi
    Đê, giặt áo binh nhung , ngẩng nh́n trăng sáng
    Trăng sáng cao vời , giọt đồng hồ kéo dài
    Bức rèm trân châu rủ che kín nhà lan
    Rủ ngang màn báu kết giải đồng tâm
    Pháng phất trên nửa chiếu quỳnh ngát hương tô hợp
    Chiếu ngọc màn báu gấm thêu đôi cánh liền nhau
    Đèn nến sáng ngời chiếu chỗ nằm trơ trọi
    Nếu có người nhắn tin , thiếp sẽ lấy kéo vàng
    V́ chàng may để lại chiếc gối tương tư
    Hái hết hoa lan trong sân mà chưa thấy chàng
    Khăn hồng lau lệ những hoa mờ đôi mắt
    Năm sau nếu chàng vẫn lại đi nơi biên tái
    Thiếp nguyện làm một đóa mây trôi ở chống Dương Đài

    Dịch thơ

    BÀI CA ĐẬP ÁO

    Mười mấy buồng xuân gái liễu thơ
    Xa chồng ngắm bóng ủ mây tơ
    Chợt trông đầu bến xuân về yến
    Xa ngậm tin mây lụa một tờ
    Mở thơ , năo ruột than dài :
    Chồng ta đóng măi đóng hoài sông Giao !
    Muôn dặm sông Giao nước ngược chiều
    Làm đôi chim băi lượn ṿng theo
    Chàng bên cương ngựa lồng mây khói
    Thiếp bóng lầu son dấu cỏ rêu

    Bóng xế trên lầu thoáng gió xuân
    Tóc sầu ai dám ngắm gương chăng ?
    Tiếng tiêu buổi sớm theo hoa rụng
    Chiếc áo đêm trường đập bóng trăng

    Trăng sáng cao vời , giọt điểm canh
    Nhà lan châu ngọc thấp buông mành
    Đồng tâm giái kết ngang màn liễu
    Tô hợp hương chia nửa chiếu quỳnh

    Bằng gấm cành giao chiếu lẫn màn
    Giường đơn hiu hắt ngọn đèn tàn !
    Có ai trao kéo giùm nhau với
    Cắt gối tương tư để nhớ chàng

    Lan sân hái sạch thấy chàng đâu !
    Nước mắt khăn lau đă ố màu
    Ngoài ải năm sau c̣n đóng nữa
    Mây thần xin hiện núi chiêm bao


    Khương Hữu Dụng dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TẢO PHÁT BẠCH ĐẾ THÀNH

    Triêu từ Bạch đế thái vân gian
    Thiên lư Giang Lăng nhất nhật hoàn
    Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú
    Khinh chu dĩ quá vạn trùng san


    Dịch nghĩa :

    Sáng từ biệt thành Bạch Đế trong sắc mây rực rỡ
    Một ngày vượt ngàn dặm về đến Giang Lăng
    Hai bên bờ tiếng vượn kêu không dứt
    Thuyền nhẹ tênh tênh đă vượt núi non muôn trùng

    Dịch thơ :
    RA ĐI SỚM TỪ THÀNH BẠCH ĐẾ

    Bạch đế xuôi thuyền mây chói chang
    Một ngày ngàn dặm đến Giang Lăng
    Bên bờ tiếng vượn kêu không dứt
    Rừng núi muôn trùng thuyền nhẹ băng


    Ngô Văn Phú dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    Tái Hạ Khúc

    VI .

    Phong hoả động sa mạc
    Liên chiếu Cam Tuyền vân
    Hán hoàng án kiếm khởi
    Hoàn triệu Lư tướng quân
    Binh khí thiên thượng hợp
    Cổ thanh lũng để văn
    Hoành hành phụ dũng khí
    Nhất chiếm tĩnh yêu phấ


    Dịch nghĩa :

    Khói lửa rung động ngoài sa mạc
    Soi đến tận mây Cam Tuyền
    Vua Hán chống kiếm dậy
    Lại với Lư tướng quân
    Khí quân tụ cả trên trời
    Tiếng trống vang dậy ngoài cơi
    Tung hoành đầy khí thế
    Yêu quái một trận dẹp tan

    Dịch thơ :

    Khói lửa động biển cát
    Đỏ rực mây Cam Tuyền
    Vua Hán chống kiếm dậy
    Vời vội Lư tướng quân
    Gươm đao ngất khí phách
    Trống trận nổi rền vang
    Tung hoành đầy thanh thế
    Một trận yêu quái tan


    Ngô Văn Phú dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TÁI HẠ KHÚC

    V .

    Tái lỗ thừa thu há
    Thiên binh xuất Hán gia
    Tướng quân phân hổ trúc
    Chiến sĩ ngọa Long Sa
    Biên nguyệt tùy cung ảnh
    Hồ sương phất kiếm hoa
    Ngọc Quan thù vị nhập
    Thiếu phụ mạc trường ta


    Dịch nghĩa

    Gặp tiết thu , giặc ngoài ải tràn xuống
    Binh trời ra từ nhà Hán
    Tướng quân chi ấn hổ trúc
    Binh sĩ nằm lăn trên băi Bạch Lonh Đôi
    Trăng ngoài ải theo lẩn bóng cung
    Sương đất Hồ thấm ướt lưỡi kiếm
    Ngọc Quan chưa vào được
    Vợ trẻ chớ nên than dài

    Dịch thơ :

    Thu sang , giặc tràn xuống
    Binh nhà Hán tung ra
    Tướng nhận ấn hổ trúc
    Quân đóng vùng Long Sa
    Bóng cung , trăng ải dọi
    Kiếm sắc , sương Hồ pha
    Ngọc Quan chưa vượt nổi !
    Đừng trách người đi xa !

    Ngô Văn Phú dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TÁI HẠ KHÚC

    IV .

    Bạch mă Hoàng Kim tái
    Vân sa nhiễu mộng tư
    Na kham sầu khổ tiết
    Viễn ức biên thành nhi
    Huỳnh phi thu song măn
    Nguyệt độ sương khuê tŕ
    Tồi tàn ngô đồng diệp
    Tiêu táp sa đường chi
    Vô thời độc bất kiến
    Lệ lưu không tự tri


    Dịch nghĩa :

    Ngựa trắng phi trên ải Hoàng Kim
    Mây cát cuốn theo giấc mộng
    Sá kể chi nỗi đau khổ
    Xa nhớ trẻ ngoài biên cương
    Mùa thu , đom đóm bay đầu cửa sổ
    Sương lạnh , trăng chầm chậm qua buồng the
    Lá ngô đồng tàn rụng , cành sa -đường xác xơ
    Trông ngóng luôn nhưng nào có thấy
    Một ḿnh tuôn lệ âm thầm

    Dịch thơ

    Ngựa trắng phi ải Vàng
    Mộng theo làn mây cát
    Trời xấu , mấy gian nan
    Ải ngoài thương trẻ nít
    Thu về đom đóm bay
    Buồng khuê trăng quấn quít
    Tàn rụng lá ngô đồng
    Cây găy cành xơ xác
    Trông ngóng , tin thường bặt
    Một ḿnh , lệ lặng tuôn

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TÁI HẠ KHÚC

    III .

    Tuấn mă như phong biều
    Minh tiên xuất Vị Kiều
    Loan cung từ Hán nguyệt
    Sáp vũ phá thiên kiêu
    Trận giải tinh mang tận
    Doanh không hải vụ tiêu
    Công thành họa Lân các
    Độc hữu Hoắc Phiêu Diêu


    Dịch nghĩa :

    Tuấn mă chạy như gió
    Thét ra roi thẳng Vị Kiều
    Giương cung từ tạ trăng Hán
    Mũi tên cắm lông bắn phá giặc trời
    Trận tan , tia sáng trên sao tắt
    Doanh vắng , khói biển tiêu tan
    Lập công được vẽ tượng trên gác Kỳ Lân
    Chỉ có quan Phiêu Diêu họ Hoắc

    Dịch thơ :

    Ngựa bay như gió vút
    Quất roi rời Vị Kiều
    Giương cung biệt trăng Hán
    Tên cứng nhằm giặc liều
    Trận xong , sao trời tắt
    Doanh vắng , khói sương veo
    Gác lân ghi h́nh tích
    Là quan Hoắc Phiêu Diêu

    Ngô Văn Phú dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TÁI HẠ KHÚC

    II .

    Thiên binh há bắc hoang
    Hồ mă dục nam ẩm
    Hoành qua ṭng bách chiến
    Trực vị hàm ân thậm
    Ác tuyết hải thượng xan
    Phất sa lũng đầu tẩm
    Hà đương phá Nguyệt Chi
    Nhiên hậu phương cao chẩm


    Dịch nghĩa :

    Binh trời xuống cơi Bắc
    Ngựa Hồ muốn uống nước bờ Nam
    Ngáng giáo xông pha trăm trận
    Chỉ v́ được đội ơn sâu
    Trên bể , vốc tuyết ăn
    Bên ruộng , phủi cát ngủ
    Bao giờ đánh tan được Nguyệt Chi
    Mới nằm gối cao yên giấc

    Dịch thơ
    Binh trời sang cơi Bắc
    Ngựa Hồ uống sông Nam
    Cầm dáo , đánh trăm trận
    Ơn dầy vua đă ban
    Tuyết lạnh , tay vốc uống
    Bới cát ngủ làm chăn
    Giặc dữ khi nào phá
    Gối cao , yên chí nằm


    Ngô Văn Phú dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TÁI HẠ KHÚC

    I .
    Ngũ nguyệt thiên sơn tuyết
    Vô hoa chỉ hữu hàn
    Địch trung văn Chiết Liễu
    Xuân sắc vị tằng khan
    Hiểu chiến tùy kim cổ
    Tiêu miên băo ngọc an
    Nguyện tương yêu hạ kiếm
    Trực vị trảm Lâu Lan


    Dịch nghĩa :

    Tháng năm , núi Thiên Sơn vẫn c̣n tuyết phủ
    Chẳng thấy hoa , chỉ giá rét lạnh lùng
    Tiếng sáo thổi nghe bài " Chiết Liễu "
    Chưa từng thấy cảnh sắc mùa xuân
    Buổi sớm đánh nhau nghe theo hiệu trống
    Ban đêm nằm ngủ ôm chiếc yên ngọc
    Muốn tuốt gươm bên lưng
    Thẳng chém chúa Lâu Lan

    - Thiên sơn : tức núi Kỳ Liên , rất cao , tháng năm vẫn c̣n tuyết
    - Lâu Lan : một nước thời Tây Hán , hay ngăn cản không cho sứ giả nhà Hán qua Tây Vực . Phó Giới Tử được lệnh đến Lâu Lan dùng mưu giết được vua nước đó

    Dịch thơ :
    KHÚC HÁT DƯỚI ẢI

    Thiên Sơn , tháng năm tuyết
    Không hoa , rét cóng người
    Sáo thổi bài Chiết Liễu
    Mùa xuân chưa tới nơi
    Trận sớm theo hiệu trống
    Đêm ngủ ôm yên ngồi
    Xin vung thanh gươm quí
    Lâu Lan chém chết tươi !


    Ngô Văn Phú dịch

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    SONG YẾN LY

    Song yến phục song yến
    Song phi linh nhân tiễn
    Ngọc lâu châu các bất độc thê
    Kim song tú hộ trường tương kiến
    Bách Lương thất hỏa khứ
    Nhân nhập Ngô vương cung
    Ngô cung hựu phần đăng
    Sồ tận , sào diệc không
    Tiều tụy nhất thân tại
    Sương thư tư cố hùng
    Song phi nan phục đắc
    Thương ngă thốn tâm trung


    Dịch nghĩa :

    Đôi én lại đôi én
    Bay đôi khiến người ta trầm trồ
    Lầu ngọc gác tía không chịu đậu một ḿnh
    Bên cửa sổ dát vàng và khung cửa màn thêu , lâu dài có nhau
    Lâu đài Bách Lương bị lửa đốt cháy
    Bèn bay vào cung vua Ngô
    Cung vua Ngô lại bị thiêu hủy
    Chim non chết hết , tổ cũng tan
    Rớt lại chiếc thân tiều tụy
    Chim mái góa nhớ chim trống xưa
    Muốn cùng bay đôi không được nữa
    Đau thương thay tấc ḷng ta !

    Dịch thơ :

    ĐÔI ÉN RỜI NHAU

    Nhởn nhơ cặp én bay đôi
    Bay đôi quấn quít cho người mến yêu
    Lầu vàng gác ngọc song thêu
    Khi mai chắp cánh , khi chiều sóng vai
    Lửa đâu cháy Bách Lương đài
    Cung Ngô tưởng được là nơi ở bền
    Lửa Ngô phút lại bừng lên
    Con tan , tổ vỡ biến thiên chẳng ngờ
    Chiếc thân én góa bơ vơ
    Nhớ chồng biết đến bao giờ cho khuây ?
    Mong chi chắp cánh cùng bay
    Ḷng ta ảo năo thương mày , én ơi


    Trúc Khê dịch

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Trường Can Hành
    ( kỳ nh́)



    Ức thiếp thâm khuê lư ,
    Yên trần bất tằng thức .
    Giá dữ Trường Can nhân,
    Sơn đầu hậu phong sắc .
    Ngũ nguyệt nam phong hưng ,
    Tư quân há Ba Lăng .
    Bát nguyệt tây phong khởi ,
    Tưởng quân phát Dương Tử .
    Khứ lai bi như hà ,
    Kiến thiểu biệt ly đa .
    Tương đàm kỷ nhâ,t đáo ,
    Thiếp mộng việt phong ba .
    Tạc dạ cuồng phong độ ,
    Xuy chiếc giang đầu thụ .
    Diểu diểu án phong biên ,
    Hành nhân tại hà xứ .
    Hảo thừa phù vân thông ,
    Giai kỳ lan chử đông .
    Uyên ương lục bồ thượng ,
    Phỉ thúy cẩm b́nh trung .
    Tự lân thập ngũ dư ,
    Nhan sắc đào hoa hồng .
    Na tác thương nhân phụ ,
    Sầu thủy phục sầu phong .

    Lư Bạch


    Dịch nghĩa :

    Bài Hát Trường Canh ( bài hai )

    Nhớ lại lúc c̣n ở trong pḥng khuê sâu kín chưa từng biết cảnh gió bụi ; từ khi lấy chồng người Trường Can , thường lên đầu núi , chờ đợi sắc gió .
    Tháng năm khi gió nam thổi , thiếp đang nghĩ chàng dang đi xuống huyện Ba lăng . Tháng tám khi gió tây thổi, thiếp nghĩ đến chàng đang từ sông Dương Tử ra đi .
    Từ trước đến nay đau thương đến như thế nào ? Gặp nhau th́ ít mà ly biệt th́ nhiều . Biết bao nhiêu ngày mới được huyện Tương Đàm ? Thiếp nằm mơ thấy vượt qua sóng gió .
    Đêm qua cơn gió thổi mạnh qua , làm găy cây cối ở đầu sông . Bên gió tối mịt mùng , người đi bây giờ đang ở đâu ?
    Thiếp mong được cỡi con ngựa là đám mây nổi kia , để đến gặp chàng ở phía đông băi lan .Chim uyên ương nằm trên lớp cỏ bồ xanh ; chim phỉ thúy thêu trên bức b́nh phong gấm .
    Trông thấy cảnh đó , thiếp tự thương ḿnh , mới hơn mười lăm tuổi , nhan sắc đỏ thắm như hoa đào , mà sao lại làm vợ người lái buôn , hết buồn v́ nước lại buồn v́ gió .


    Trường Can Hành ( Bài hai )


    Nhớ xưa trong pḥng khuê ,
    Chẳng từng biết gió bụi .
    Lấy chồng người Trường Can ,
    Đợi gió trên đầu núi .
    Tháng năm gió nam nổi
    Chàng đang xuống Ba Lăng .
    Tháng tám gió tây thổi ,
    Chàng đang qua sông Dương .
    Bấy nay buồn biết mấy ,
    Ít gặp , nhiều chia xa .
    Tương Đàm bao ngày tới ?
    Thiếp mộng vượt phong ba .
    Trận cuồng phong đêm trước ,
    Bẻ gẫy cây đầu sông .
    Mịt mùng bên gió tối ,
    Người đi biết đâu vùng .
    Mong cưỡi ngựa mây nổi ,
    Hẹn nhau tại bến đông .
    Uyên ương trên cỏ biếc ,
    Phỉ thúy trong b́nh phong .
    Thương thay mười lăm tuổi ,
    Nhan sắc thắm hoa đào .
    Nay thành người thương phụ ,
    Gió nước gợi sầu đau .

    Bản dịch Trần Trọng San

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    TRƯỜNG TƯƠNG TƯ I

    Trường tương tư , tại Tràng An
    Lạc vi thu đề kim tỉnh lan
    Vi phong thê thê đàm sắc hàn
    Cô đăng bất minh tứ dục tuyệt
    Quyển duy vọng nguyệt không trường thán
    Mỹ nhân như hoa cách vân đoan
    Thượng hữu thanh mạc chi trường thiên
    Hạ hữu lục thủy chi ba lan
    Thiên trường địa viễn hồn phi khổ
    Mộng hồn bất đáo quan san san
    Trường tương tư , tồi tâm can


    Dịch nghĩa :

    Nhớ nhau hoài ở Trường An
    Sẹt sành kêu thu bên giếng vàng
    Sương mỏng lạnh lẽo , sắc chiếu lạnh
    Đèn lẻ loi không sáng ,nỗi nhớ càng nung nấu
    Cuốn rèm ngắm trăng , ngửa mặt lên trời than dài
    Người đẹp như hoa hiện lên sau sắc mây
    Trên có giải xanh trời cao thăm thẳm
    Dước có nước xanh sóng nhẹ đưa
    Trời cao đất rộng hồn thêm khổ
    Mộng hồn bay đến nơi Quan San kia cũng khó
    Nhớ nhau hoài , đứt ruột gan

    Dịch thơ

    TRƯỜNG TƯƠNG TƯ I

    Nhớ nhau hoài , ở Tràng An
    Sẹt sành kêu thu ran giếng vàng
    Sương mỏng buốt giá chiếu hoa lạnh
    Đèn lẻ hắt hiu ḷng trống vắng
    Cuốn rèm nh́n trăng , buột thở than
    Người đẹp hiện lên sau mây ngàn
    Trên có tầng xanh , trời mênh mang
    Dưới có nước biếc , sóng hồ lan
    Trời cao đất rộng hồn bay nhọc
    Mộng hồn khôn đến được Quan san
    Nhớ nhau hoài , nẫu ruột gan


    Ngô Văn Phú dịch

    Leave a comment:


  • Ngao_0p
    replied
    Thượng Giang Ngâm

    Mộc lan chi duệ sa đường châu .
    Ngọc tiêu kim quản tọa lưỡng đầu .
    Mỹ tửu tôn trung trí thiên hộc ,
    Tái kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu .
    Tiên nhân hữu đăi thừa hoàng hạc .
    Hải khách vô tâm tùy bạch âu .
    Khuất B́nh từ phú huyền nhật nguyệt .
    Sở vương đài tạ không sơn khâu .
    Hứng hàm lạc bút dao ngũ nhạc ,
    Thi thành tiếu ngạo Lăng Thương châu .
    Công danh phú quí nhược trường tại ,
    Hán thủy diệc ưng tây bắc lưu .


    Lư Bạch


    Dịch nghĩa :
    Khúc Ngâm Trên Sông

    Con thuyền bằng gổ sa đường , lái bằng gỗ mộc lan , có tiêu ngọc sáo vàng ở hai đầu . Với ngàn hộc rượu ngon đặt bên trên , thuyền chở kỹ nữ , theo sóng tự do trôi đi .
    Xưa kia có vị tiên chờ cưỡi hạc vàng bay đi , lại có người khách biển vô tâm theo chim âu trắng, c̣n lâu đài của vua Sở ngày nay chỉ c̣n là núi g̣ .
    Khi cảm hứng sau sưa , hạ ngọn bút làm rung chuyển năm ngọn núi lớn; lúc thơ làm xong , tiếng cười cợt , ngạo nghễ vượt qua băi xanh . Nếu như công danh , phú quí mà c̣n tồn tại lâu dài , th́ ḍng sông Hán Thủy hẳn phải chạy lên phía Tây bắc .


    ** Hoàng hạc : tương truyền tiên nhân Tử An cưỡi hạc qua chơi ghềnh đá Hoàng Hộc ở huyện Vũ Xương ,tỉnh Hồ Bắc ; về sau có lầu Hoàng hạc ở đây .
    ** Khuất B́nh : tức Khuất Nguyên , người nước Sở, thời chiến quốc, là tác giả bài phú Ly tao .
    **Ngũ nhạc : năm núi lớn : Thái Sơn , Hoa Sơn , Hành Sơn , Hằng Sơn và Tung Sơn .
    ** Hán Thủy : tên sông , phát nguyên tại tỉnh Thiểm Tây , chảy vào sông Trường Giang ở tỉnh Hoài Bắc .

    Khúc Ngâm Trên Sông

    Chèo lan , thuyền gỗ sa đường ,
    Hai đầu , sáo ngọc , tiêu vàng giúp vui .
    Ngàn b́nh rượu đă sẵn rồi ,
    Chở theo kỹ nữ , mặc trôi con thuyền .
    Có người cỡi hạc lên tiên ;
    Vô tâm , khách biển theo chim quên dời .
    Khuất B́nh văn rực gương trời ,
    Lâu đài vua Sở chôn vùi cổ khâu .
    Hứng say , bút chuyển núi cao ;
    Thơ xong , cười cợt rạt rào băi sông .
    Giàu sang c̣n măi không cùng ,
    Th́ sông Hán hẳn ngược ḍng mà trôi .

    Bản dịch Trần Trọng San

    Leave a comment:


  • Bach Van Phi
    replied
    THÁI LIÊN KHÚC

    Nhược gia khê bàng thái liên nữ
    Tiếu cách hà hoa cộng nhân ngữ
    Nhật chiếu tân trang thủy để minh
    Phong phiêu hương duệ không trung cử
    Ngạn thượng thùy gia du dă lang
    Tam tam ngũ ngũ ánh thùy dương
    Tử lưu tế nhập lạc hoa khứ
    Kiến thử tŕ trù không đoạn trường


    Dịch nghĩa:

    Cô gái hái sen bên khe Nhược Gia
    Cách làn hoa sen đang tươi cười tṛ chuyện
    Mặt trời soi vẻ đẹp vừa điểm trang , sáng ngời cả đáy nước
    Gió thổi nhẹ bay vạt áo đượm hương thơm phơ phất trong khoảng không
    Trên bờ có anh chàng lẳng lơ chẳng biết con cái nhà ai
    Thấp thoáng dưới cây dương liễu rũ mành
    Ngựa tuấn mă tía hí vang dong ruổi trên đường hoa rụng
    Nhác trông thấy cô nàng , chàng ta chần chừ như đứt từng khúc ruột

    Dịch thơ :
    KHÚC HÁT HÁI SEN

    Có cô con gái nhà ai
    Hái sen , chơi ở bên ng̣i Nhược Gia
    Mặt hoa cười cách đóa hoa
    Cùng ai cười nói mặn mà thêm xinh
    Áo quần mặc mới sáng tinh
    Nắng soi đáy nước lung linh bóng lồng
    Thơm tho vạt áo gió tung
    Bay lên phất phới trong không ngạt ngào
    Năm ba chàng trẻ nhà nào
    Đoái trông ai đó ngậm ngùi tiếc thương


    Tản Đà dịch

    Leave a comment:

Working...
X