• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

ĐIỂN HAY TÍCH LẠ - Nguyễn Tử Quang

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • ĐIỂN HAY TÍCH LẠ - Nguyễn Tử Quang

    Mục Lục



    Hằng Nga và Hậu Nghệ

    Cưỡi rồng, bói phượng

    Đằng Vương Các Tự

    Khúc đàn Thủy Tiên

    Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi

    Đồng Tước Đài

    Chức cẩm hồi văn

    Vành ngoài, vành trong

    Vạn lư t́m chồng

    Khúc phượng cầu hoàng

    Củi đậu đun hột đậu

    Bi ca tán Sở

    Động Bích Đào

    Gấm nàng Ban

    Đông sàng với thiếp Lan Đ́nh

    Khúc trường tương tư

    Giảo thố tam quật

    Đổi mỹ nhân lấy ngựa

    Trường môn phú

    Trúc mai

    Lăo tiều phu hay con hạc đen

    Hà Đông sư tử

    Lá thắm đưa duyên

    Lam Kiều

    Đào yêu

    Động Đào Nguyên

    Mười bài thơ đoạn trường

    Khúc Hậu Đ́nh Hoa

    Gương vỡ lại lành

    Giấm chua

    Cái "gia gia"

    Hồ Than Thở

    Nghiêng nước nghiêng thành

    Khúc Nghê Thường Vũ Y

    Trao tơ, gieo cầu

    Núi Vọng Phu

    Trống cơm

    Kê Khang này khúc Quảng Lăng…

    Con "Quốc quốc"

    Khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan

    Trường Hận Ca

    Hoa đào năm ngoái …

    Tiếng đàn tri âm

    Liễu Chương Đài

    Tuyệt Diệu Hảo Từ

    Nam Tào, Bắc Đẩu

    Bách bộ xuyên dương

    Chắp cánh, liền cành

    Gậy rút đất

    Kết cỏ ngậm vành

    Lá gió, cành chim

    Nàng Ban, ả Tạ

    Mă đầu cầm

    Tiết phụ ngâm

    B́nh Nguyên Quân

    Thấy nhàn luống tưởng thư phong

    Sát thê cầu tướng

    Cử án tề mi

    Tết Hàn Thực

    Giấc Nam Kha

    Ngàn dâu

    Giảm bếp, tăng bếp

    Thao lược

    Tết Trung Thu

    Mật lịnh trong nhưn bánh Trung Thu

    Tết Đoan Dương

    Tết Trùng Cửu

    Lầu Xanh và Thần Mày Trắng

    Can Tương, Mạc Gia

    Giấc Vu Sơn

    Xích Thằng, Nguyệt Lăo

    Duyên nợ ba sinh

    Loan giao

    Bát trân, thập trân

    Xe dê

    Khắc lậu

    Nằm gai, nếm mật

    Điểu tận cung tàng

    Không vào hang hùm sao bắt được cọp con

    Quyển tiểu thuyết tẩm thuốc độc

    Bức họa Dương Quí Phi tắm suối

    Cỏ Ngu Mỹ Nhân

    Tri kỷ

    Hấp tinh đạo khí

    Cỏ đỏ trên mộ Chiêu Quân

    Bạo chúa xem quỳnh hoa

    Đàn ông làm hoàng hậu, trai đẹp làm cung nga

    Giang thần trảo trảo

    Nợ như chúa Chổm

    Tục uống máu ăn thề

    Thiến gà, thiến heo

    Hoạn quan không bị hoạn

    Thượng thư lỗ chó

    Tiền Xích Bích Phú

    Một bộ sử loài người rút ngắn thành một câu

    Mây Tần, mây Hàng...

    Áo gấm mặc đêm

    Ngọc Hoàn Dương Quí Phi

    Ngọc Hoàn Dương Quí Phi

    Tư Mă Thiên, một sử gia danh tiếng bị cung h́nh

    Mười viên "Xuân Khiết Cao"

    Chu Công thổ bộ

    Liệt nữ họ Lư thành Giang Du

    Tung Hoành Gia

    Bán kiên cung kiếm nhứt trạo giang sơn...

    Đêm Lệ Chi Viên

    Kẻ được khen bị tội, người bị chê được thưởng

    Sa nang ủng thủy

    Đạo binh 80 mỹ nhân phá tan nước Lỗ

    Bối thủy trận

    Tiêu Lang

    Người chặt cây quế trong cung trăng

    Mỹ nhân cười người què bị chém đầu

    Loạn Kiêu Binh

    Tào Tháo thèm kỹ nữ

    Chim Việt, ngựa Hồ

    Lễ hôn

    Hỏa ngưu trận

    Tam bành, lục tặc

    Suối vàng hay chín suối

    Suối vàng hay chín suối

    Cơm Phiếu mẫu, trôn Ác Thiểu

    Mấy cành Dương Quan

    Đuốc hoa, hoa đèn

    Ma Rồng gặp Trâu Bồ Tát

    Tái ông thất mă

    Ngọc tỉnh liên phú

    Ngôn quá kỳ hành

    Lễ tang

    Thôi xao

    Tựa cửa, tựa cổng

    Tứ Thư

    Ngũ Kinh

    Lợn người

    Tây Thi, Trịnh Đán

    Nữ Trượng Phu

    Hát Quan Họ

    Điêu Thuyền với kế liên hoàn

    Hát Trống Quân

    Tuyệt Anh Hội

    Đào Hoa Phu Nhân

    Mắt xanh, mắt trắng

    Ninh Thích, người chăn trâu ở Dao Sơn

    Thanh Minh trong tiết tháng ba
    Vạn Xuân

  • #2
    Hằng Nga và Hậu Nghệ




    Trong "Bích Câu kỳ ngộ" của Vô Danh có câu:

    Hay là lỗi sổ Hằng Nga,
    Đêm đông ṿ vơ, bóng tà sao thưa.
    Nghĩ t́nh nên những ngẩn ngơ ...


    Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, đoạn ca tụng sắc đẹp của nàng cung nữ, có câu:

    Hương trời đắm nguyệt say hoa,
    Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật ḿnh.


    Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đời nhà Trần (1225-1400) kêu gọi tướng sĩ, trong một bài hịch có đoạn "Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận như củi lửa, nên giữ ǵn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, th́ mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh."

    Hằng Nga và Hậu Nghệ là hai nhân vật thần thoại được dùng trong Cổ văn Trung Hoa và Việt Nam.

    Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ uống trộm, chạy lên cung trăng.

    Người chặt cây quế trong cung trăng: Theo sách "Dậu dương tạp trở", trong mặt trăng có cây quế cao 500 trượng, dưới gốc cây có một người ngồi chặt măi, nhưng chặt xong, dấu chặt lại liền như cũ. Người ấy tên Ngô Cương, quê ở Tây Hà, tu tiên có lỗi bị phạt chặt cây.

    Con thỏ trong mặt trăng: Theo sách "Ngũ thông kinh nghĩa", trong mặt trăng có con thỏ hay con cóc.

    Ông già dưới trăng: Sách "Tục U quái lục" có chép: đời nhà Đường, Vi Cố đến Nam Điện ở Tống thành, thấy ông già xem sách dưới trăng. Vi Cố hỏi sách ǵ? Ông già đáp: Sổ hôn nhân thiên hạ. Vi Cố hỏi hôn nhân của ḿnh th́ ông lăo bảo: ở chợ có bà già chột mắt bồng đứa bé 3 tuổi; đứa bé ấy sau là vợ. Vi Cố ra chợ bắt gặp người đàn bà như lời ông lăo nên tức giận mướn người giết con bé ấy. May mắn, người đàn bà bồng đứa bé chạy thoát. Đứa bé chỉ bị thương xoàng. Mười bốn năm sau, Thứ Sử đất Dương Châu là Vương Thái gả con cho Vi Cố. Thiếu nữ ấy rất đẹp, nhưng cuối mày có một vết thẹo nhỏ. Cố hỏi nguyên cớ. Nàng trả lời: hồi lên 3 tuổi, người vú họ Trần bồng đi chợ bị một tên côn đồ đâm trúng. Cố hỏi người vú họ Trần có chột mắt không. Nàng nói có rồi kể lại chuyện cũ.


    Tích Hậu Nghệ: Theo "Sơn hải kinh", trên hang Dương phía bắc nước Răng Đen có cây Phù tang to lớn sống ở dưới nước, 9 mặt trời ở cành dưới; 1 mặt trời ở cành trên. Theo sách của Hoài Nam Tử, đời vua Nghiêu, 10 mặt trời cùng mọc một lần làm cây cỏ khô héo, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn 10 mặt trời, có 9 con quạ rớt lông cánh xuống.
    Theo kinh Thư, vua nước Hữu Cùng là Hậu Nghệ v́ dân không phục, nổi lên kháng cự tại sông Hà. Sách "Tả Truyện" có chép: khi nhà Hạ suy, Hậu Nghệ nhờ sức ủng hộ của dân chúng được lên làm vua thay thế nhà Hạ. Về sau, Nghệ ỷ ḿnh bắn giỏi, không lo chính sự, dâm bạo hơn thú dữ, dân oán ghét nổi lên giết chết, lại lóc thịt bắt con của Nghệ ăn. Không nỡ ăn thịt cha, con của Nghệ cũng bị giết luôn.

    Trong bản dịch thần thoại "Lên cung trăng" của nhà văn hào Trung Hoa là Ngô Tổ Quang có chép:

    Một thời đại rất xa xưa ...

    Lúc bấy giờ con người được tự do, không bị áp bức chiến tranh, người hiếp bức người. Ai làm nấy ăn. Mặt trời mọc, đi làm; mặt trời lặn, về nghỉ. Đói có hoa quả; khát có nước suối.

    Con người bấy giờ không có họa người, chỉ có họa trờị Để tránh gió mưa, rét mướt, loài người đốn cây làm nhà, dệt vải may áo ... Ngày tháng trôi qua, con người dùng kinh nghiệm và lao lực để cải thiện đời sống, mưu lấy sự hạnh phúc thanh b́nh.

    Nhưng, một hôm th́nh ĺnh xảy ra một thiên tai dữ dội. Khắp dưới gầm trời đâu đâu cũng bị đại hạn. Nắng như lửa thiêu, đốt cháy tất cả làm cho sinh linh dậm đất kêu trời. Trên đường, thây người, thây thú chồng chất dẫy đầy.
    Nguyên ở g̣ Đất cuối biển Đông có hang Dương. Nơi đây 10 con quạ vàng vâng lệnh Thượng Đế thay nhau ban ánh sáng cho vạn vật. Trên hang có cây Phù tang cao vút tận trời. Chín con quạ ở cành dưới, một con quạ ở cành trên. Từ ngàn xưa chỉ có một con ra khỏi biển hóa thành mặt trời, ngày ngày tháng tháng chiếu ánh sáng xuống mặt đất làm cho mưa ḥa, gió thuận, vạn vật sinh hóa. Nhưng bất ngờ, một hôm bốn biển chuyển động, đất lở núi rung, cây Phù tang quay cuồng, v́ 10 con quạ vàng tranh nhau xuất hiện một lượt.

    Thế là nắng như lửa thiêu, đốt cháy cả vạn vật. Ban đầu, người ta c̣n ngâm ḿnh dưới nước, núp trong hang núi ... nhưng rồi, đầm nước, ḍng suối đều hóa thành những vạc nước sôi. Đất bằng bỗng chốc lửa dậy làm cho nhân dân điêu đứng, đời người biến thành địa ngục.

    Đương lúc tiếng khóc, tiếng kêu gào kinh khủng của nhân dân, bỗng có một vị anh hùng xuất hiện.

    Vị anh hùng đó có tên Hậu Nghệ, sinh ở biển Đông, nước Hữu Cùng. Người vơ nghệ phi thường, sức người có thể bạt núi lấp sông, giỏi nghề kỵ xạ. Hậu Nghệ có lại hai người học tṛ tên Phùng Mông và Ngô Cương đều có tài xuất chúng.
    Trông thấy 10 con quạ vàng hoành hành dữ tợn làm cho nhà cửa tiêu tan, đồng ruộng khô cháy, Nghệ vừa hoảng kinh vừa tức giận, đem ḷng thương xót sinh linh, và nghĩ đến mối liên hệ với thân mạng ḿnh nên mang 10 mũi tên thần, giương cung 10 tạ lên quyết bắn 10 con quạ vàng cho tiêu ra tro bụi.

    Nhưng ánh sáng rạng chói làm cho mắt đổ hào quang, không thể nh́n lên được. Nghệ bực tức, đứng tựa góc biển chân trời không do dự bắn luôn mấy phát. Những nơi có tên của Nghệ bắn tới th́ nóng cháy nguội dần, ánh sáng êm dịu. Những lông cánh sắc màu của lũ quạ đua nhau rớt xuống. Một làn không khí mát mẻ bắt đầu.

    Trông thấy chín con quạ chết, Nghệ lại muốn giương cung bắn nữa, nhưng Phùng Mông ngăn lại:

    - Thưa thầy! Nếu thầy bắn chết cả th́ vũ trụ sẽ trở nên đen tối mất.

    Nghệ "à" một tiếng, hạ cung xuống.

    Bấy giờ núi sông trở lại như xưa, cây cỏ tươi tốt. Đâu đâu cũng vang dậy tiếng ḥ reo hoan lạc. Nhân dân ca tụng công ơn vĩ đại của Hậu Nghệ, tôn thờ Nghệ là một vị cứu tinh, trọng quư Nghệ hơn mẹ cha. Sơn hào hải vị, họ đem dâng cho Nghệ dùng.

    Hậu Nghệ lên làm Hoàng đế.


    Mười năm sau.

    Nhân dân trước kia bị tai ách của 10 con quạ vàng th́ nay lại mang phải tai ách do Hậu Nghệ gieo rắc.
    Nghệ ỷ ḿnh có tài, tự kiêu là cứu dân, vậy dân phải làm tôi mọi mới xứng đáng đền đáp công ơn ấy. Nghệ chiếm hết thịt rừng, tài sản của nhân dân. Cả đến một con gà, một miếng bánh... cũng không thoát qua tay cướp đoạt của Nghệ.

    Nghệ lại tự hào là ḿnh sẽ sống măi v́ có Linh chi dược thảo do ông tiên ban cho.

    Nhân dân bấy giờ sống trong t́nh trạng cực kỳ thảm khốc. Từng đám dân nghèo đói, quần áo rách nát, thân trụi ḿnh trần, mặt mũi hốc hác vàng hoe, gục đầu vào đất kiếm rễ cây ăn. Vài xác người thắt cổ lơ lửng trên cành cây làm mồi cho đàn quạ đương đảo qua lượn lại.

    Bấy giờ núi rừng hoang vu xơ xác, cành khô lá úa, năm ba gốc cây c̣n lại nhưng trơ trọi, cằn cỗi.

    Ngày trước, Nghệ được bá tánh hoan hô vang dậy. Ai ai cũng tŕu mến vâng theo Nghệ đi ra, cả ngàn người chạy theo quỳ lạy chúc tụng. Ngày nay, nhân dân oán ghét căm thù. Nghệ đi đến đâu, bá tánh bỏ chạy đến đó. Nghệ nhục nhă, tức giận ra lệnh cho học tṛ là Ngô Cương tàn sát hàng triệu sinh linh. Bị đói rách, bị giết chóc, nhân dân đau khổ, nỗi uất hận căm hờn ngùn ngụt cao mấy tầng mây.

    Phùng Mông can gián không được, bỏ Nghệ theo đám dân nghèo vơ trang đánh lại thầy.

    Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga.

    Nàng là con nhà nghèo ở một cánh đồng hoang phương Bắc. Nhưng nàng là con chim phượng hoàng, là đóa hoa khôi sắc đẹp tuyệt vời.

    Ngô Cương vâng lệnh thầy đi t́m người làm hoàng hậu. Đến phương Bắc, Ngô Cương bắt Hằng Nga về dâng cho Nghệ. Hằng Nga được Nghệ sủng ái, giao giữ cỏ Linh chi.

    Hằng Nga v́ bị bắt, bỏ cha xa mẹ, quyết liệt đ̣i về. Nghệ sợ Hằng Nga trốn trong khi Nghệ đi săn t́m thịt nên truyền cho Ngô Cương canh gác, không cho Hằng Nga rời khỏi cung. Hằng Nga buồn tủi, ngày ngày chỉ làm bạn cùng con Ngọc thỏ trong cung lạnh.

    Trước sự tàn bạo của chồng, Hằng Nga không khuyên ngăn được; và biết rằng nếu chồng sống măi th́ càng làm nhiều tội ác, nhân dân đau khổ càng nhiều nên nàng nuốt cỏ Linh chi, để Nghệ không c̣n dùng cỏ tiên mà trường sinh nữa.

    Nuốt xong, Hằng Nga mặt mày xây xẩm một lúc, rồi thấy ḿnh nhẹ bổng như không. Một đám mây ngũ sắc dưới chân Hằng Nga từ từ đưa Hằng Nga bay lên, Ngọc thỏ chồm nhảy theo. Hằng Nga đưa tay dắt rồi từ từ bay qua cửa sổ thẳng lên cung trăng.

    Hậu Nghệ đi săn thịt trở về, thấy mất Hằng Nga, tức giận Ngô Cương v́ để Hằng Nga trốn thoát, nên bóp cổ Ngô Cương cho đến chết.

    Nghệ chạy lại cửa sổ trông lên mặt trăng.

    Ánh trăng sáng vằng vặc chiếu vào mặt. H́nh bóng của vợ thấy thấp thoáng trong trăng. Nghệ giương đôi mắt tṛn xoe nh́n. Thốt nhiên, Nghệ thét bọn vệ sĩ mang cung tên lại. Chúng khệ nệ khiêng chiếc cung và ba mũi tên lớn trên tường xuống. Nghệ đứng thẳng người như một trụ đá to, râu tóc dựng ngược, đôi mắt sáng quắc, không khác cảnh ngày xưa Nghệ bắn mặt trờị Nghệ lắp tên căng thẳng dây cung bắn lên.

    Hai phát tên bay ra, mặt trăng lung lay.

    Nhưng mũi tên thứ ba bật khỏi dây cung, mặt trăng vẫn sáng chói như trước, không hề hấn ǵ. Nghệ hạ cung xuống, mặt mày buồn nghiến, im lặng, đau khổ.

    Bỗng một cụ già hiện xuống.

    Hậu Nghệ giựt ḿnh, nh́n ra là ông lăo đă cho ḿnh Linh chi thảo cách mười năm về trước.

    Cụ già liệng 3 mũi tên xuống đất, điềm đạm nói:

    - Già xin hỏi cố nhân. Ngày trước hạnh ngộ, già có nhắn nhủ cố nhân việc trị đời không khó. Phải thực hành nhân chính, quên ḿnh để lo cho người. Ḿnh phải lo trước người lo và chỉ vui sau khi người vui. Dân quư nhứt, nước thứ nh́, vua sau hết. Cố nhân sẵn sàng vâng nghe, nên già thể theo lời yêu cầu tha thiết của cố nhân là muốn sống măi để hoàn thành sự nghiệp, v́ đời sống con người th́ hữu hạn mà sự nghiệp th́ vô cùng, mới cho Linh chi thảo. Vậy mà khi cầm lấy quyền, cố nhân lại quên mất lời. Dân không sợ chết, sao lấy sự chết chóc trị thiên hạ. Bao nhiêu năm trời loạn lạc đau thương, giờ đây ḷng người ly tán, sự nghiệp tan hoang, cố nhân c̣n chưa tỉnh hay sao Ḱa, nghĩa quân đă ḥ reo tứ phía, cố nhân đă nghe chưa?

    Hậu Nghệ hai tay ôm đầu, giọng nói thiểu năo:

    - Nghệ ăn năn, xin cụ chỉ giáo.

    - Việc đă qua rồi, ăn năn không kịp. Chỉ có cách cố nhân bỏ sắc phục hoàng đế, ăn năn hối lỗi th́ mới có cơ cứu văn.
    Hậu Nghệ cả giận, quắc mắt, quát:

    - Lăo già khốn! Thừa lúc hiểm nguy của ta mà sỉ nhục ta sao?

    Vừa nói vừa rút gươm chém ông lăo.

    Cụ già b́nh thản đưa tay hất gươm rạ Hậu Nghệ rùng ḿnh lui lại ngồi xuống. Cụ già mỉm cười:

    - Cố nhân đến nước cùng mà c̣n hiếu sát. Ḱa, cố nhân hăy nh́n xem.

    Giữa lúc ấy ...

    Bên ngoài có tiếng chém giết lẫn tiếng ḥ reo vang dậy. Nghĩa quân bao vây tứ phía dưới sự chỉ huy của Phùng Mông.
    Bóng trăng khuất dần. Cụ già biến mất.

    Lửa cháy khắp nơi.

    Tiếng la vang:

    - Tiến! Tiến!

    Nghệ rút gươm xông tới, Phùng Mông đưa gươm ngăn. Cả hai đánh nhau. Nghĩa quân ào đến. Hậu Nghệ kiệt sức bỏ chạy. Đám dân đói rách cầm hèo gậy chận lại Nh́n qua tứ phía, nơi nào cũng có nghĩa quân. Phùng Mông kêu lên:

    - Hậu Nghệ! Hậu Nghệ! Thầy làm việc bất nghĩa, ngày nay tự xử lấy, đừng để bọn ta ra tay.

    Hậu Nghệ đứng dậy, dậm chân, cất tiếng cười đau đớn rồi đưa gươm đâm mạnh vào cổ. Xác Nghệ ngă xuống giữa tiếng reo ḥ của nghĩa quân.

    Trong cung trăng, bên cây quế cao trăm trượng, sắc vàng, mùi thơm bát ngát, Ngô Cương cầm búa chặt măi cây quế nhưng cây quế không sứt mẻ mà vẫn càng cao càng lớn, càng tươi. Hắn bị đọa v́ tính hiếu sát theo thầy. Cây quế bị chặt nhưng không hề hấn, nhân dân bị tàn sát nhưng nhân dân làm sao hết được.

    Bên cạnh, Hằng Nga ngồi xem Ngọc thố tán thuốc. Thỉnh thoảng, nàng lại thở dài, sa nước mắt. Nàng c̣n luyến tiếc cảnh trần gian. V́ trần gian đă chịu bao tai nạn: lụt lội, hạn hán, nắng lửa mưa dầu, binh đao chém giết, máu chảy thành sông, xương người thành núi; ngày nay nhân dân đă khắc phục được mọi tai ách rồi. Ḱa từng đám người nô nức đương cày cấy, ca hát vui mừng; và xa xa làn khói lam chiều vẩn vơ quyện trên những mái nhà nhỏ ấm cúng, Hằng Nga tưởng nơi đây có lẽ là phương Bắc, quê hương yêu dấu của nàng.

    Ở đây, quanh năm vắng lạnh, chẳng có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Muôn vật không sinh, không hóa. Trăm hoa không nở không tàn. Chán chường cảnh lẻ loi, hiu quạnh quá, Hằng Nga muốn trở về trần thế. Nhưng v́ đă ăn cỏ Linh chi, nàng không bao giờ chết, lại trẻ đẹp măi và muôn năm vẫn sống hoang liêu trong cung Quảng Hàn này.
    Nh́n ra ngoài không thấy thế gian đâu nữa, tư bề lạnh lẽo âm u, Hằng Nga bất giác xót xa đau đớn, nước mắt chảy ṛng.

    Sau tấm b́nh phong bóng đuốc xa,
    Sao mai lặn hết, vắng Ngân Hà.
    Hằng Nga hối cắp Linh chi thảo,
    Sống măi nh́n trời dạ xót xa.
    Vạn Xuân

    Comment


    • #3
      Cưỡi rồng, bói phượng




      Đời Chu Tương Vương (651-617 trước D.L.), Tần Mục Công làm bá chủ các nước ở tây phương. Nhà vua có một người con gái. Lúc mới sinh, gặp có kẻ dâng viên ngọc phác, Tần Mục Công sai thợ giũa, thành một viên ngọc sắc biếc và đẹp lắm.

      Đến khi cô gái đầy tuổi tôi, trong cung bày đồ toái bàn, nàng nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía măi, mới đặt tên nàng là Lộng Ngọc.

      Lớn lên, Lộng Ngọc nhan sắc đẹp tuyệt trần. Tính trời thông minh, nàng có tài thổi ống sinh hay lắm, không học ai mà thành âm điệu. Tần Mục Công sai thợ làm ống sinh bằng ngọc để cho nàng thổị Nàng thổi ống sinh ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng.

      Tần Mục Công cưng lắm, lập cái lầu để cho nàng ở, tên là Phượng Lâu. Trước lầu có xây một đài gọi là Phượng Đài. Năm Lộng Ngọc lên 15, Tần Mục Công muốn t́m một người giai tế, Lộng Ngọc thề: nếu có người nào có tài thổi ống sinh họa được với nàng th́ mới chịu lấy làm chồng.

      Tần Mục Công sai sứ đi t́m, nhưng không có ai cả.

      Một hôm, Lộng Ngọc ngồi trên lầu, vén rèm ngắm cảnh. Bấy giờ trời quang mây tạnh, vừng trăng sáng tỏ như gương, nàng truyền cho thị nữ đốt một ḷ hương rồi đem ống sinh ra thổi. Bỗng nghe tiếng tiêu từ đâu họa lại, lúc gần lúc xa. Lộng Ngọc lấy làm lạ, dừng ống sinh lại không thổi nữa, lắng tai nghe giọng tiêu ấy chỉ c̣n dư âm văng vẳng. Lộng Ngọc ngẩn ngơ, lưỡng lự thao thức canh chầy, đoạn đặt ống sinh ở đầu giường rồi nằm ngủ.

      Giữa lúc ấy, nàng bỗng thấy trên trời về phía tây nam, cửa mở rộng, hào quang ngũ sắc rực rỡ như ban ngày, có một chàng thiếu niên, mũ lông áo bạc, cưỡi con chim phượng từ trên trời sa xuống, đứng trước Phượng Đài. Chàng bảo nàng:

      - Ta đây là chủ núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng Thượng Đế cho ta kết duyên với nàng. Đến ngày Trung Thu này th́ đôi ta gặp nhau. Ấy là duyên số đă định sẵn như vậy.

      Nói xong, chàng đưa tay rút ống ngọc tiêu bên ḿnh, rồi đứng tựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên cũng giương cánh ra vừa hót vừa múa. Tiếng phượng hót cùng với tiếng tiêu xướng họa ḥa nhau như một theo điệu cung thương, nghe rất thâm trầm. Lộng Ngọc mê mẩn tâm thần hỏi: Khúc tiêu này là khúc tiêu ǵ? Chàng thiếu niên đáp: Đây là khúc "Họa sơn ngâm". Nàng lại hỏi: Khúc này có học được không? Chàng đáp: Khi cả hai kết duyên rồi th́ có ǵ không học được. Đoạn chàng bước đến gần đưa tay cầm lấy tay nàng...

      Lộng Ngọc giật ḿnh tỉnh dậy. Sáng lại, nàng thuật lại điềm chiêm bao cho cha nghe. Tần Mục Công liền sai người cứ theo h́nh dáng người trong mộng đó ḍ t́m đến núi Họa Sơn. Có người nông phu chỉ rằng: Từ rằm tháng bảy vừa qua, có một chàng trẻ tuổi lạ mặt đến làm nhà ở đỉnh núi, hằng ngày thường xuống chợ mua rượu uống, chiều lại thổi chơi một khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng rất lấy làm thích.

      Người của Tần Mục Công mừng rỡ t́m đến, trông thấy chàng thiếu niên mũ lông áo bạc, cốt cách thần tiên, vái chào hỏi tên họ. Chàng xưng là Tiêu Sử. Người của nhà vua thuật lại sự t́nh và yêu cầu Tiêu Sử về triềụ Sau mấy lần từ chối không được, Tiêu Sử cùng theo về triều ra mắt Tần Mục Công. Tần Mục Công thấy Tiêu Sử dung mạo thanh nhă, có vẻ bằng ḷng, cho ngồi bên cạnh, hỏi:

      - Ta nghe nhà ngươi có tài thổi ống tiêu tất có tài thổi ống sinh nữa.

      Tiêu Sử đáp:

      - Tôi chỉ biết thổi ống tiêu, chứ không biết thổi ống sinh.

      Vua bảo:

      - Ta định t́m một người có tài thổi ống sinh, nay nhà ngươi chỉ biết thổi ống tiêu, vậy không thể làm rể ta được.

      Đoạn bảo người đưa Tiêu Sử ra.

      Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Tần Mục Công: Tiêu với sinh cũng là một loài, người ta có tài thổi ống tiêu th́ sao không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài.

      Tần Mục Công lấy làm phải, truyền Tiêu Sử thổi nghe.

      Tiêu Sử mới thổi qua một khúc th́ thấy có gió mát hây hẩy. Đến khúc thứ nh́ th́ mây che bốn mặt. Đến khúc thứ ba th́ có đôi bạch hạc múa lượn trên không, đồng thời có đôi khổng tước bay đến rồi các giống chim đua nhau kêu hót..., một lúc mới tan. Tần Mục Công rất lấy làm bằng ḷng. Lộng Ngọc đứng bên rèm trông thấy vui nói: "Người ấy thật đáng làm chồng ta!"

      Tần Mục Công lại hỏi Tiêu Sử:

      - Nhà ngươi có biết ống sinh và ống tiêu có từ đời nào không?

      Tiêu Sử thưa:

      - Ống sinh làm ra từ đời Nữ Oa; ống tiêu làm ra từ đời Phục Hi.

      Tần Mục Công bảo kể rơ nguyên ủỵ Tiêu Sử nói:

      - Nghề tôi vốn ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguồn gốc ống tiêu. Ngày xưa vua Phục Hi ghép ống trúc làm ống tiêu, chế theo h́nh chim phượng. Tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn ghép liền 23 ống, dài 1 thước 4 tấc gọi là Nhă Tiêu; thứ nhỏ ghép liền 16 ống, dài 2 thước 1 tấc gọi là Tụng Tiêu. Cả hai thứ gọi chung là Tiêu Quản. C̣n một thứ không đáy gọi là Đổng Tiêu. Về sau vua Huỳnh Đế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê chế làm ống địch, ống này có 7 lỗ, cầm ngang mà thổi, tiếng cũng giống chim phượng, trông rất giản tiện. Người đời sau thấy ống Tiêu Quản phiền phức quá nên chỉ dùng ống địch. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch. Bởi vậy, ống tiêu ngày nay không giống ống tiêu ngày xưa.

      Tần Mục Công lại hỏi:

      - Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có các giống chim bay đến?

      Tiêu Sử thưa:

      - Ống tiêu dẫu mỗi đời mỗi khác nhưng tiếng thổi bao giờ cũng giống tiếng chim phượng. Chim phượng là chúa các giống chim, vậy khi nghe tiếng chim phượng tất nhiên các giống chim đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc nhạc tiêu thiều mà chim phượng c̣n bay đến, huống chi là các giống chim khác.

      Tiêu Sử ứng đối lưu loát. Tần Mục Công rất lấy làm bằng ḷng, sai quan Thái Sử chọn ngày để làm lễ thành hôn.

      Tiêu Sử kết hôn cùng Lộng Ngọc, được phong làm Trung Đại Phu. Tuy làm quan nhưng Tiêu Sử không dự ǵ đến quyền chính, ngày ngày vui chơi ở Phượng Lâụ Lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu. Lộng Ngọc học được phép tiên của chồng cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy vợ thổi tiêu.

      Ở nhau được non nửa năm, nhân một đêm trăng sáng vằng vặc, vợ chồng đem tiêu ra thổi. Bỗng thấy một con phượng xuống đậu bên tả, và một con rồng xuống phủ phục bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc:

      - Ta vốn là tiên ở thượng giới, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy sử sách trần gian nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống họ Tiêu ở nhà Chu để san định lại. Người nhà Chu thấy ta có công về việc sử sách mới gọi ta là Tiêu Sử, đến nay đă hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn, v́ ta cùng nàng có tiền duyên nhau, nhờ khúc ngọc tiêu mà được cùng nhau tác hợp, nhưng cũng không nên ở măi chốn trần gian này. Nay rồng và phượng đă đến đón, vậy chúng ta cùng nhau đi.

      Lộng Ngọc định vào từ biệt cha. Tiêu Sử ngăn:

      - Không nên! Đă là thần tiên th́ chớ nên v́ chút t́nh riêng mà quyến luyến.

      Đoạn Tiêu Sử cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phượng cùng bay lên trời.

      Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Từ Hải cùng Kiều gặp gỡ, có câu:

      Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
      Phỉ nguyền bói phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.


      "Đẹp duyên cưỡi rồng" là do điển tích trên.

      "Bói phượng" có nghĩa là kén được chồng tốt.

      Sách Tả Truyện có chép: Trần Trọng Kính sang nước Tề, được vua nước này cho coi việc công chính. Quan Đại Phu nước Tề có ư muốn gả con gái cho Trọng Kính. Người vợ liền bói một quẻ, bảo rất nên. V́ quẻ bói nói:

      "Phượng hoàng vu phi, ḥa minh tương tương" nghĩa là phượng hoàng cùng bay, cùng hót vang vang.

      Phượng là tên một giống chim. Theo sách cổ, đó là một trong 4 con thú linh thiêng: Long, Lân, Qui, Phượng, đem lại điềm lành, và chỉ khi nào có đời thái b́nh hay thánh nhân ra đời th́ mới xuất hiện.

      Phượng là chúa loài chim. Con trống là phượng; con mái là hoàng. Loan là một giống chim cùng loại với phượng hoàng. V́ là đồng loại nên người ta hay dùng để ví với vợ chồng. Ca dao có câu:

      Ước ǵ anh được vô pḥng,
      Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan.


      "Bói phượng", "Cưỡi rồng" đều cũng có nghĩa là kén được chồng xứng đáng.
      Vạn Xuân

      Comment


      • #4
        Đằng Vương Các Tự




        Vương Bột tự Tử An, người đất Long Môn. Sáu tuổi đă biết làm văn. Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút nên vần.

        Vương có thói quen, mỗi khi làm văn, mài mực sửa soạn nghiên bút rồi nằm đắp chăn ngủ. Khi tỉnh dậy, cầm ngay bút viết. Vương nổi tiếng là một thi sĩ cao danh thời Sơ Đường (618-713).

        Con của vua Cao Tông nhà Đường bấy giờ làm Thái Sử ở Hồng Châu, được phong là Đằng Vương, có dựng một cái gác bên sông Tầm Dương gọi là "Đằng Vương Các". Lúc Diêm Bá Dư ra giữ chức Đô Đốc Hàng Châu, đặt tiệc tại gác Đằng Vương để thết tân khách. Muốn khoe tài chàng rể, bảo làm trước một bài tự, rồi mời tất cả các nhà quyền quư, các mặc khách tao nhân xa gần đến dự; và yêu cầu mỗi người làm một bài tự ngay bữa tiệc.

        Vương Bột lúc bấy giờ, tuổi vừa 15, 16. Hay tin ấy, nhưng v́ đường xá xa xôi có mấy trăm dặm, không đến họp được, lấy làm tiếc. Một ông già khuyên chàng cứ sửa soạn thuyền buồm, tự nhiên sẽ có gió thổi. Quả nhiên đêm đó có gió lớn. Vương cho thuyền khởi hành, và hôm sau tới Đằng Vương các vừa kịp lúc vào tiệc.

        Thấy Vương Bột, viên Đô Đốc họ Diêm khinh là con nít, miễn cưỡng cấp giấy bút. Nhưng cho người đứng bên cạnh Vương, hễ Vương viết được câu nào th́ chép lại cho ông xem.

        Mới đọc hàng đầu, họ Diêm đă ngạc nhiên v́ lời già giặn. Đến câu:

        Lạc hà dữ cô vụ tề phi,

        Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc


        Nghĩa:

        Ráng chiều với c̣ lẻ cùng bay,

        Nước thu cùng trời dài một sắc


        th́ ông vô cùng khâm phục.

        Bài của họ Vương đặc sắc hơn tất cả. Từ đó, danh càng vang dậy khắp nơi.

        Bài phú "Đằng Vương các" viết theo thể biền ngẫu, dùng nhiều chữ cầu kỳ, nhiều điển khó hiểu nhưng lời th́ cực đẹp nên rất khó dịch. Trong bài, Vương Bột nhắc qua địa lư và nhân vật ở quận, nơi xây gác Đằng Vương, rồi tả chủ khách trong tiệc, phong cảnh chung quanh khi ngồi trong gác trông ra, sau cùng kể cảm tưởng của chính ḿnh.

        Cuối bài thơ, có 8 câu tuyệt diệu, nhất là 4 câu cuối:

        Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,

        Vật hoán tinh di, không độ thu?

        Các trung đế tử kim hà tại?

        Hạm ngoại trường giang không tự lưu.


        Nghĩa:

        Đầm chiếu mây bay, trời lửng lơ,

        Sao dời vật đổi, mấy thu rồi.

        Con vua trong gác nào đâu nhỉ?

        Ḍng nước ngoài hiên vẫn tự trôi.


        Nhưng người có tài như thế mà mạng yểu. Nhân khi đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ, Vương bị đắm thuyền, chết ở giữa biển giữa 29 xuân xanh.

        Tương truyền rằng hai câu thơ:

        Lạc hà dữ cô vụ tề phi,

        Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc.


        tuyệt diệu như thế mà có người cho Vương Bột c̣n dốt, nhưng không chỉ dốt chỗ nào. V́ thế khi chết, hồn c̣n uất ức nên trong đêm khuya thanh vắng thường hiện h́nh trên băi bể, níu áo những văn nhân sĩ tử qua đường, miệng ngâm nga hai câu thơ trên và hỏi dốt chỗ nào, xin chỉ giúp. Nhưng ai nấy đều khen hay. Hồn Vương không bằng ḷng, cho rằng sĩ tử kia c̣n dốt, thi khoa này không thể đậu. Quả thật như thế.

        Rồi, cũng từ đó, giọng ngâm hai câu thơ kia vẫn c̣n văng vẳng bi ai theo h́nh bóng họ Vương thơ thẩn, dật dờ trên băi biển.

        Nhưng một hôm có một văn nhân đi ngang qua đấy, hồn Vương hiện h́nh níu lại hỏi, th́ chàng văn nhân ấy cười bảo:

        - Hai câu thơ ấy không phải sai nhưng nhà ngươi c̣n dốt thật. Đă bao năm có tiếng là tứ kiệt Sơ Đường mà không nhận biết được cái dốt của ḿnh trong hai câu thơ ấy ư?

        Nói xong dứt áo ra đi. Vương tha thiết yêu cầu giải thích. Khách không phụ ḷng, nên bảo:

        - Hai câu thơ thừa chữ "dữ" và chữ "cộng". Nếu bỏ hai chữ th́ thật tuyệt, vừa gọn vừa thanh thoát, lại nhất khí:

        Lạc hà cô vụ tề phi,

        Thu thủy tràng thiên nhất sắc.


        Vương Bột nhận ra, quả c̣n dốt thật, mới bái tạ lănh lời chỉ giáo.

        Từ đó, trong đêm khuya thanh vắng, trên băi biển không c̣n h́nh bóng của nhà thơ tài danh trẻ tuổi hiện ra nữa. Và giọng ngâm hai câu thơ bất hủ bi ai, năo ruột kia cũng ch́m mất trong không gian cao rộng, mịt mờ. Đây là một câu chuyện hoang đường.

        Do câu chuyện gió đưa thuyền Vương Bột đến Đằng Vương các làm cho Vương nổi tiếng tài danh, nên cổ thi có câu: "Thời lai, phong tống Đằng Vương các" (Thời tới th́ gió đưa đến Đằng Vương) để chỉ sự may mắn của kẻ gặp thời. Những từ ngữ: "duyên Đằng", "gió đưa Đằng các" đều có ư nghĩa như thế.

        Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du có câu: "Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa" là do điển tích trên
        Vạn Xuân

        Comment


        • #5
          Khúc đàn Thủy Tiên




          Đất Kim Lăng bên Trung Quốc là nơi phồn hoa đô hội, thường dùng làm kinh đô cho các triều đại lâu đời. Ở đây có nhiều nơi danh thắng, khiến cho mặc khách tao nhân không ai là không muốn lưu liên thưởng ngoạn. Nhất là trên sông Tần Hoài, bên hồ Mặc Sầu, vào khoảng mùa xuân mát mẻ, những cành cây xanh, nước biếc, núi lam cũng đủ cung ngoạn cho các mặt tài tử giai nhân.

          Có một chàng tên Giang Thu San, quê ở An Huy, vốn người phong nhă, tính ưu ngao du sơn thủy. Gặp buổi ngày xuân, chàng liền rủ bạn sang Kim Lăng thưởng xuân. Đến nơi nghe đồn trong vùng có một tuyệt thế giai nhân tên Thủy Tiên Tử, nổi tiếng danh cầm, gần xa ai cũng bái phục. Động ḷng hâm mộ, họ Giang cùng bạn cố t́nh t́m hỏi cho được đến nơi.

          Buổi đầu gặp gỡ, để xin nghe tiếng đàn, Thu San hết sức van nài, mới được nàng chấp thuận. Đoạn, nàng ung dung vặn trục dạo tiếng cho nghe.

          Thoạt khi tay tiên đặt đến tơ đồng, chỉ nghe khoan khoan nhè nhẹ, vẳng xa như có như không. Dần dần thi thấy vẻ người trầm lặng, hai tay thoăn thoắt nhanh nhanh. Rồi tiếng đàn chuyển sang giọng dồn dập sôi nổi như gió gào gió thét, như chen với tiếng muôn quân ngh́n ngựa x́nh xịch đổ tới. Kế đó, lại nổi giọng nỉ non réo rắt như oán, như than, khiến người ngồi nghe mê mẩn tâm thần như phiêu diêu chốn non Bồng, nước Nhược.

          Thật là:

          Trong như tiếng hạc bay qua,

          Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

          Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

          Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.


          "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du)

          Một lúc đàn im, Thu San từ từ định tỉnh và hỏi khúc đàn ǵ? Thủy Tiên Tử đáp:

          - Đây là khúc "Thủy Tiên", tiện thiếp phỏng theo khúc "Thủy Tiên Tháo" của tay danh cầm ngày xưa là Bá Nha mà sáng tạo nên.

          Thu San hỏi nguồn gốc, nàng ung dung kể lại rằng: "Ngày xưa, Bá Nha học đàn của ông Thành Liên. Được ba năm th́ đàn đă hay như chưa nhập điệu. Thành Liên bảo: "Thầy ta là Tử Xuân ở ngoài biển cả, có thể dùng đàn làm thay đổi ḷng người. Vậy ta cho ngươi ra đó để học thêm."

          Đoạn dẫn Bá Nha xuống thuyền ra một ḥn đảo giữa biển khơi, bảo Bá Nha ở đợi, ông sẽ đón thầy đến. Rồi dong thuyền đi thẳng, không thấy trở lại. Bá Nha một ḿnh ở giữa đảo, chỉ thấy núi rừng mờ mịt, tiếng nước biển vỗ dồn dập, réo rắt chung quanh, chim chóc kêu rên bi thiết. Bá Nha cảm thấy buồn lạnh cả người, bất giác thở dài than: "Thầy ta muốn làm thay đổi tính t́nh ta đây ..."

          Đoạn cầm đàn trổi lên một khúc. Vừa dứt khúc, đă thấy Thành Liên quày thuyền trở lại đón. Từ đấy, Bá Nha nổi tiếng là bực danh cầm; và khúc đàn ấy đặt tên là "Thủy Tiên Tháo". Tiện thiếp rất say mê khúc đàn đó nên mới mượn để đặt làm tên".

          Thu San nghe xong, thán phục. Đoạn thở dài, nói với nàng:

          - Trong "Tỳ Bà Hành" của Bạch Cư Dị có câu:

          Đại huyền tao tao như cấp vũ,

          Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.

          Tao tao thiết thiết thác tạp đàn,

          Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn" ...


          Xưa nay, tôi vẫn cho lời thơ ấy diễn tả quá đáng. Nhưng hôm nay, diễm phúc nghe được điệu đàn của quư nương mới nhận thấy lời cổ nhân thật bức thiết chân t́nh.

          Thủy Tiên Tử khiêm tốn từ tạ, đoạn sai thị nữ pha trà thủy tiên ra thết khách.

          Bọn Thu San nâng chén nước uống, nghe thoang thoảng mùi thơm thanh nhă, khác hẳn với các vị hương trà quư thường dùng hằng ngày. Bất giác, ai cũng cảm thấy khoan khoái tinh thần như hiện thân như tiên cảnh.

          Từ tạ ra về nhưng ḷng khách vẫn quyến luyến, nao nao tưởng nhớ. Nơi quê hương, không lúc nào không nhắc nhở đến Thủy Tiên.

          Mùa xuân năm sau, Thu San chạnh ḷng nhớ người năm cũ, lần ṃ t́m đến Kim Lăng, mong lại được nghe tiếng đàn tuyệt diệu của con người ngọc. Nhưng đến nơi th́ khách giai nhân ngày xưa vắng bặt, chỉ thấy cây xanh nước biếc một màu!
          Vạn Xuân

          Comment


          • #6
            Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi



            Nàng tên là Mỵ Ê, người Chiêm Thành, không biết họ ǵ, vốn vương phi vua Chiêm Xạ Đẩu.

            Triều vua Lư Thái Tông (1028-1054) nước Đại Việt, Xạ Đẩu không theo lệ cống, thất lễ phiên thần, vua tự đem binh Nam chinh.

            Xạ Đẩu bày trận ở sông Bồ Chính nhưng bị quân nhà Lư đánh bại. Xạ Đẩu chết tại trận. Vua nhà Lư tiến vào thành Phật Thệ là quốc đô của Chiêm Thành bắt được vương phi Mỵ Ê cùng một số cung nhân, nhạc nữ, đem về nước.

            Khi thuyền đến sông Lư Nhân, giữa đêm, vua nghe Mỵ Ê có sắc đẹp, bèn sai quan Trung Sứ với đến chầu thuyền ngự. Mỵ Ê không dấu được nỗi phẫn uất, từ chối rằng:

            -Vợ phường man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn ngữ thô lỗ, không giống các phi tần Trung Hoa. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thỏa ḷng; nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nỗi làm dơ ḿnh rồng vậy.

            Đoạn, nàng lén lấy chăn lông chiên quấn lấy kín thân ḿnh định phó tính mạng cho ḍng nước chảy. Thế là, đánh ầm một tiếng, mất tăm h́nh bóng người xinh.

            Nhà vua kinh hoảng tự hối, muốn cứu nhưng không sao kịp nữa.

            Tương truyền từ đó, nơi này mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, người ta thường nghe văng vẳng có tiếng phụ nữ khóc kể bi ai. Dân trong vùng cho việc kinh dị, xin lập đền thờ, bấy giờ mới dứt tiếng khóc.

            Một hôm, có dịp, vua Lư Thái Tông đến sông Lư Nhân. Thuyền thả giữa ḍng, đến đấy, nhà vua thấy trên bờ có ngôi đền thờ, lấy làm lạ hỏị Hầu thần đem chuyện Mỵ Ê kể lại. Vua lặng yên hồi lâu, phán rằng:

            - Không ngờ gái rợ lại có kẻ u trinh đến thế, quả là một gái phi thường. Thế nào cũng có sự báo thù.

            Đêm ấy đă canh ba, chợt nghe một trận gió thơm thổi đến, khí lạnh tê người. Nhà vua chợt thấy một người đàn bà yểu điệu, dung nhan đẹp đẽ, uy nghi bước đến, cúi lạy vừa khóc rằng:

            - Thiếp nghe đạo của kẻ phụ nhân là ṭng nhất nhi chung. Quốc vương trước của thiếp tuy chẳng dám so sánh cùng bệ hạ nhưng cũng là bực nam tử kỳ tài riêng cơi. Thiếp từng được lạm dự phần khăn lược, chẳng may gặp phải cảnh nước tan chồng mất, thiếp đêm ngày sầu thương, rầu rĩ, chỉ lo báo bổ. Nhưng quần thoa yếu ớt chẳng biết tính sao? May nhờ hồng ân của bệ hạ sai Trung Sứ tiễn thiếp xuống tuyền đài hội ngộ cùng chồng. Sở nguyện của thiếp thỏa rồi, thế c̣n có linh ǵ mà dám đến đây đường đột!...

            Nói xong, không thấy đâu nữa.

            Vua kinh hăi tỉnh giấc, mới hay là chiêm bao. Đoạn truyền đem lễ vật đến miếu cúng tạ, sắc phong làm Hiệp Chính Nương. Từ đó về sau, dân chúng xa gần cầu đảo đều thấy linh ứng.

            Cảm nỗi chua xót của nàng Mỵ Ê phải tuẫn tiết trong cảnh nước mất nhà tan, thi sĩ Tản Đà có làm bài thơ từ khúc để tả nỗi ḷng của người vương phi bạc mạng:

            Châu giang một giải sông dài,

            Thuyền ai than thở, một người cung phi!

            Đồ Bàn thành phá hủy,

            Ngọa Phật tháp thiên di.

            Thành tan, tháp đổ

            Chàng tử biệt,

            Thiếp sinh ly.

            Sinh kư đau ḷng kẻ tử quy!

            Sóng bạc ngàn trùng

            Âm dương cách trở

            Chiên hồng một tấm,

            Phu thê xướng tùy.

            Ôi mây! Ôi nước! Ôi trời!

            Đũa ngọc, mâm vàng, giọt lụy rơi.

            Nước sông trong đục,

            Lệ thiếp đầy vơi

            Bể bể, dâu dâu, khóc nỗi đời!

            Trời ơi! Nước hỡi! Mây hời!

            Nước chảy, mây bay, trời ở lại,

            Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi! ...
            Vạn Xuân

            Comment


            • #7
              Đồng Tước Đài




              Tào Tháo đời Tam Quốc (220-264) có xây một cái đài bên sông Chương Hà tỉnh Hà Nam, đặt tên là Đồng Tước. Đài này cực kỳ tráng lệ. Tháo sai người trang hoàng tô điểm rất lộng lẫy, rồi tuyển gái đẹp khắp vùng đem chứa vào trong.

              Tào Tháo có đứa con nhỏ tên Tào Thực, tự Tử Kiến có tài hạ bút thành văn. Khi xây xong đài Đồng Tước, Tháo sai con làm bài phú "Đồng Tước đài" để ca tụng công nghiệp của Tào. Bài phú rất đặc sắc:

              Bản dịch của Tử Vi Lang:

              Noi đức sáng thánh quân rực rỡ
              Lên lầu đài hớn hở ḷng xuân.
              Xem công Thái Thú chăn dân,
              Đức cao vời đă thấm nhuần nơi nơi.
              Dựng lên giữa lừng trời xanh ngắt,
              Đài nguy nga bát ngát không trung.
              Mỹ quan nào kém non Bồng,
              Gác cao, tây vực nh́n thông nẻo đoài.
              Ḍng Chương Thủy chảy dài trong suốt
              Tưới nhuần vườn cây tốt quả tươi...
              Hai bên tả hữu hai đài:
              Ngọc Long, Kim Phượng sáng ngời ánh dương.
              Bắc hai cầu tây đông nối lại
              Như cầu vồng sáng chói không gian.
              Ngồi cao nh́n xuống cơi trần,
              Đế đô mây ráng xoay vần nổi trôi...
              Mừng rỡ thấy anh tài qui tụ,
              Ứng mộng hùng chuyện cũ Văn Vương.
              Gió xuân đầm ấm đưa hương,
              Muôn chim đua hót du dương hài ḥa.
              Cao đẹp tựa trời mây muôn thủa,
              Phúc nhà may chất chứa dài lâu.
              Khắp cùng vũ trụ nhiệm mầu,
              Đề cao nhân hóa, kính chầu thượng kinh.
              Noi Tề, Tấn nghĩ ḿnh hưng thịnh,
              Pḥ thánh minh cùng sánh công laọ
              Xinh tươi bền vững biết bao!
              Ơn sâu nước ngấm, đức cao xa đồn.
              Pḥ tá đấng Chí Tôn ǵn giữ
              Xây thái b́nh thịnh trị bốn phương.
              Phép trời khuôn đất đo lường.
              Ánh trăng cùng với ánh dương điều ḥa.
              Tôn quư ấy truyền xa măi măi,
              Thọ vô cùng, thọ với chúa Xuân!
              Ngự long kỳ buổi an nhàn,
              Hoặc khi vội vă, xe loan trở về.
              Ơn giáo hóa tràn trề bốn biển
              Vui mầng thay vật kiện dân khang!
              Đài nầy đứng măi hiên ngang,
              Điểm tô kim cổ, son vàng thắm tươi..."


              Nguyên văn:

              Ṭng minh hậu dĩ h́ du hề,
              Đăng tầng đài, dĩ ngu t́nh.
              Kiến Thái Thủ chi quảng khai hề.
              Quan thánh đức chi sở dinh
              Kiến cao môn chi tha nga hề,
              Phù song Khuyết hồ Thái thanh.
              Lập trung thiên chi hoa quan hề,
              Liên phi các hồ Tây vực.
              Lâm Chương Thủy chi trường lưu hề,
              Vọng viên quả chi tư vinh.
              Lập song đài ư tả hữu hề,
              Hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng
              Liên nhị kiều vu đông tây hề,
              Nhược trường không chi đế đống.
              Phủ hoàng đô chi hoành lệ hề,
              Khám vân hà chi phù động.
              Hán quần tài chi lai tụy hề.
              Hiệp phi hùng chi cát mộng.
              Ngưỡng xuân phong chi ḥa mục hề.
              Thính bách điểu chi bi minh.
              Vân thiên tuyên kỳ kư lập hề,
              Gia nguyện đắc hồ song sinh.
              Dương nhân hóa vu vũ trụ hề,
              Tận túc cung vu thượng kinh.
              Duy hoàn, văn chi duy thịnh hề,
              Khởi túc phương hồ thánh minh.
              Hưu hỹ! mỹ hỹ!
              Huệ trạch viễn dương.
              Dực tá ngă hoàng gia hề.
              Ninh bỉ tứ phương.
              Đồng thiên địa chi qui lượng hề.
              Tề nhật nguyệt chi huy quang.
              Vĩnh quư tôn nhi vô cực hề.
              Đẳng quân thọ ư đông hoàng.
              Ngự long kỳ dĩ ngao du hề
              Hồi loan giá nhi chu chương.
              Tư hóa cập hồ tứ hải hề,
              Gia vật phụ nhi dân khang.
              Nguyện tư đài chi vĩnh cô hề,
              Lạc chung cổ nhi vị hương!


              Bài phú "Đồng Tước đài" được truyền tụng. Tào Thực đáng là đệ nhất thi nhân trong hai đời Tần, Hán và đă mở đường cho lối thơ diễm lệ đời Lục Triều.

              Trong một dịp du thuyền trên sông Trường Giang, rượu ngà say, Tháo cao hứng nói:

              - Ta năm nay đă 54 tuổi. Nếu chiếm xong Giang Nam, ta cũng được chút vui mừng riêng. Số là trước kia ta có quen thân cụ Kiều công, được biết cụ có 2 cô con gái, đều là trang quốc sắc thiên hương. Không ngờ về sau Tôn Sách và Chu Du cưới mất! Nay ta đă xây đài Đồng Tước trên sông Chương, nếu hạ được Giang Nam, ta sẽ đem hai nàng họ Kiều về đấy ở, để vui thú năm tháng về già. Thế là ta măn nguyện!

              Để khích Chu Du là đô đốc Đông Ngô đánh Tào Tháo, Khổng Minh sửa đổi câu thứ 7 của bài phú "Đồng Tước đài" của Tào Thực. Nguyên văn là:

              Liên nhị kiều vu đông tây hề,
              Nhược trường không chi đế đống.


              Nghĩa là:

              Bắc hai cầu tây đông nối lại
              Như cầu vồng sáng chói không gian.


              Đó là nói: hai bên đài Đồng Tước c̣n có hai đài phụ là Ngọc Long, Kim Phượng, và có hai cái cầu bắc nối vào đài giữa như hai cầu vồng trên lưng trời. Tào Thực dùng hai chữ "đế đống" (hay "chuế đống") là có ư so sánh đài Đồng Tước với cung A Pḥng nhà Tần. Trong bài "A Pḥng Cung Phú" của Đỗ Mục đời nhà Đường, có câu: "Trường kiều ngọa ba, vị vân hà long? Phức đạo hành không: bất tễ hà hồng?" (Cầu dài vắt ngang sông: chưa có mây sao có rồng? Hai đường bắc trên không: không phải mưa tạnh, sao có cầu vồng?)

              Nhưng Khổng Minh lại đổi ra:

              Lăm nhị Kiều ư đông nam hề,
              Lạc triêu tịch chi dữ cộng.


              Nghĩa là:

              T́m hai Kiều nam phương về sống,
              Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân ...


              Khổng Minh đem chữ "kiều" (cầu) đổi ra chữ "Kiều" (nàng họ Kiều), đổi chữ "Tây" ra chữ "Nam", đổi chữ "liên" ra chữ "lăm"; c̣n câu sau th́ đổi hoàn toàn khác hẳn, để cố ư trỏ vào hai nàng Kiều.

              Đem chữ "kiều" đổi ra chữ "Kiều", Khổng Minh chủ ư lừa và chọc tức Chu Du.

              Sau Đông Ngô liên minh cùng Tây Thục, nhờ Khổng Minh cầu đông phong, nên Chu Du dùng hỏa công đốt phá binh Tào tại trận Xích Bích. Tháo thua to, mộng chiếm đất Giang Nam để đoạt lấy hai nàng Kiều đẹp hoàn toàn tan vỡ.

              Thi sĩ Đỗ Mục cũng có bài "Xích Bích Hoài Cổ" rằng:

              Kích găy, cát ch́m, sắt chửa tiêu,
              Rửa mài, nhận thấy dấu tiền triều.
              Gió đông chẳng giúp chàng Chu thắng,
              Đồng Tước đài xuân nhốt hai Kiều.


              Nguyên văn:

              Chiết kích trầm sa, thiết vị tiêu
              Tự tương ma tẩy nhận tiền triều.
              Đông phong bất dữ Chu lang tiện,
              Đồng tước xuân thâm tỏa nhị Kiều.


              Trong "Đoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du có câu: "Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều" là do điển tích đó.
              Vạn Xuân

              Comment


              • #8
                Chức cẩm hồi văn





                Đời nhà Tấn (265-419) ở đất Thần Châu có nàng Tô Huệ tự Nhược Lan. Nàng, dung nhan kiều mị, tài đức song toàn, văn chương xuất chúng. Khi Tô được 20 tuổi cha mẹ đính gả cho hàn sĩ Đậu Thao, người cùng quê. Vợ chồng ăn ở đầm ấm. Nàng Tô rất mực chiều chồng, đảm đương tất cả mọi việc gia đ́nh để cho Đậu Thao có đủ th́ giờ theo đuổi trau dồi nghiên bút. Người ở quanh vùng đều cho là hạnh phúc và hết sức ngợi khen nàng.

                Sau Đậu Thao đỗ đạt làm quan, may mắn được nhâm chức tại Thần Châu, không phải đi đâu xa cả. Gia đ́nh đă đầm ấm hạnh phúc lại càng đầm ấm hạnh phúc hơn.

                Nhưng rồi v́ công vụ cần thiết, vua truyền Đậu Thao ra trấn đất Lưu Sa. V́ nơi gian lao hiểm trở nên Đậu Thao đành phải để vợ ở nhà.

                Thời gian qua ...

                Ba năm chờ đợi, nàng Tô ngày càng sức vóc mỏi ṃn, dung nhan tiều tụy. Đêm đêm, bên ngọn đèn khuya, nàng ngồi âm thầm đối bóng, tủi phận hờn duyên, lo ngại thân chồng mà giọt châu tầm tă. Ḷng đau dằng dặc, nỗi nhớ triền miên nên hồn thơ dâng trào lên ngọc bút làm thành 10 bài tứ tuyệt. Nàng lại lấy gấm vuông độ chừng một thước, dùng chỉ ngũ sắc thêu 10 bài tứ tuyệt lên trên theo h́nh trôn ốc, từ ngoài xoáy tṛn vào trung tâm bức gấm.
                Nàng thêu khéo, chữ hay, nên bức gấm trông cực kỳ tuyệt mỹ. Xong nàng tự tay dâng lên nhà vua. Thấy lạ, vua truyền cho quần thần đọc, nhưng cả triều không ai đọc được. Vua đành gọi nàng:

                Đứng giữa triều, Tô cất tiếng ngâm với một giọng năo nùng bi thảm:


                Quân thừa hoàng chiếu an biêu thú,
                Tống quân tống biệt hà kiều lộ.
                Hàm bi yểm lụy tặng quân ngôn
                Mạc vong ân t́nh tiện trường khứ.
                Hà Kỳ nhất khứ âm tín đoạn,
                Ư thiếp b́nh vi xuân bất noăn.
                Quỳnh dao giai hạ bích đài không.
                San hô trướng lư hồng trần măn.
                Thử thời đạo biệt mỗi kinh hồn,
                Tương tâm hà thác cánh phùng quân.
                Nhất tâm nguyện tác thương hải nguyệt
                Nhất tâm nguyện tác lănh đầu vân.
                Lănh vân tuế tuế phùng phu diện,
                Hải nguyệt niên niên chiếu đắc biên.
                Phi lai phi khứ đáo quân bàng
                Thiên lư vạn lư giao tương kiến.
                Thiều thiều lộ viễn quan san cách,
                Hận quân tái ngoại trường vi khách.
                Khứ thời tống biệt lư diệp hoàng
                Thùy kính kỷ kinh mai hoa bạch.
                Bách hoa tán loạn phùng xuân tảo,
                Xuân ư thôi nhân hướng thùy đạo.
                Thùy dương măn địa vị quân phan,
                Lạc hoa măn địa vô nhân tảo.
                Đ́nh tiền xuân tảo chính phân phương,
                Bảo đắc tần tranh hướng họa đường.
                Vị quân đàn đắc Giang Nam khúc,
                Phó kư t́nh thâm đáo sóc phương.
                Sóc phương thiều đệ san hà việt.
                Vạn lư âm thư trường đoạn tuyệt.
                Ngân trang chẩm thượng lệ chiêm y,
                Kim lũ la thường hoa giai liệt.
                Tam xuân hồng nhạn đệ giang thanh,
                Thử thị ly nhân đoạn trường t́nh,
                Tranh huyền vị đoạn trường tiên đoạn,
                Oán kết tiên thành khúc vị thành.
                Quân kim ức thiếp trọng như san,
                Thiếp diệt tư quân bất tạm nhàn.
                Chức tương nhấn bản hiến Thiên Tử,
                Nguyện phóng nhi phu cấp bảo hoàn.



                Bài này có nhiều người dịch. Dưới đây là bản dịch của Hoàng Quang:


                Chàng vâng chiếu ra yên cơi ngoại,
                Thiếp đưa chàng tới lối cầu sông.
                Ngậm sầu gạt lệ nhắn ḷng,
                Chớ tham chốn khác mà vong t́nh này.
                Trông tin tức tới nay thăm thẳm,
                Để buồng hương chẳng ấm hơi xuân.
                Từ ngày đôi ngả cách phân,
                Màn dần bụi bám, thềm dần rêu phong.
                Tưởng ly biệt nỗi ḷng kinh sợ,
                Thiếp với chàng bao thuở gặp nhau.
                Nguyện làm trăng giữa biển sâu,
                Nguyện làm mây phủ trên đầu non cao.
                Trăng giữa biển năm nào cũng thấy,
                Mây đầu non đường mấy cũng thông.
                Bay qua bay lại bên chồng,
                Dầu ngàn muôn dặm xa trông như gần.
                Quan san ấy mấy lần trở cách,
                Hiềm nỗi chàng làm khách rất lâu.
                Chàng đi mới ố bông lau,
                Mà nay mấy độ trắng màu hoa mai.
                Hoa trăm thức xuân vui hớn hở,
                Xuân giục người than thở với ai.
                Dương kia đủ những tơ dài,
                Hoa kia ră cánh không người quét cho.
                Sân xuân sớm thơm tho trăm thức,
                Chốn họa đường lực bận đàn tranh.
                Giang Nam năm khúc rành rành,
                Mượn đầu năm mong gởi t́nh sóc phương.
                Sóc phương ấy đôi đường diệu vợi,
                Âm thư này nhắn gởi khôn thông,
                Gối riêng nước mắt tuôn ḍng,
                Xiêm thêu áo vẽ lâu cùng mục tan.
                Ba xuân tới tiếng nhàn nhắn gởi,
                Xuân giục người bối rối như tơ.
                Năm dây c̣n đón sờ sờ;
                Buồn đà đứt ruột, gảy chưa rồi đàn.
                Chàng thương thiếp c̣n hơn núi nặng,
                Thiếp nhớ chàng t́nh chẳng kém thua.
                Dệt đem bức gấm dâng vua,
                Xét ḷng dạ thiếp tha cho chồng về.



                Ngâm xong, nàng Tô nước mắt đầm đ́a. Nhà vua quá cảm động không dám nh́n nàng, vội hạ chiếu cho Đậu Thao về ngay.

                Mười bài thơ ấy được truyền tụng với bức gấm thêu, ai cũng nước nở khen cho Tô là một bực kỳ tài. Trước họ gọi bức gấm thơ ấy là "Toàn Loa Đồ" (Bức đồ h́nh tṛn trôn ốc), sau lại cho tên không xứng với giá trị của tác phẩm nên đổi là "Hồi Văn Cách" (Bài văn có tác dụng làm cho người đi biên thú được trở về), nhưng cũng vẫn chưa thấy thỏa đáng. Cuối cùng, họ lại đổi và thêm tên tác giả là "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn".

                Thông cảm mối t́nh sâu đậm của nàng Tô, cổ nhạc Việt Nam có người đă dựa theo bài "Chức Cẩm Hồi Văn" mà sáng tác một bài hát điệu Nam Ai, cũng nhan đề là "Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn". Lời lẽ lưu loát, ư t́nh nồng nàn, nhưng không biết tác giả là ai. Bài như thế này:


                Khi vâng chiếu chỉ ra đề cờ,
                Từ chàng đi, thiếp bặt tin đợi chờ.
                Hồng nhạn kêu thu sông Hớn bơ vơ.
                Áo năo nùng khiến dạ ngẩn ngơ.
                Trách bấy ông Tơ gieo chi mối sầu như tóc tơ.
                Nghĩ mấy lời từ hồi ban sơ.
                Nhớ những khi thiếp nguyện trăm năm tam tùng thờ.
                Chàng mần răng ư lẳng lơ.
                Chân đi thăm thẳm, mắt ngóng luống nhớ cách núi ải, biết chừ trao thơ
                Má phấn duyên phai lạt, hồng nhan trông đợi chờ
                Trướng lư để bụi trần nhơ.
                Ḱa cờ ai, nghe tiếng trống vẫn bóng xa xa
                Hay là chiếu triệu chồng ta.
                Chốn giang biên, chàng ôi có hay chăng là
                Để lụy tương tư này như chút phận Hằng Nga.
                Đêm đông quạnh quẽ, tiếng quyên ḥa
                Ǵn ḷng son nỡ để cho trăng già
                Luông tuồng bao nỡ vắng bặt nhạn tin qua.
                Hay là ong bướm đă say đắm mê hoa,
                Chim ô thước qua sông Ngân thường,
                Nỡ nào để cho loan phụng Sâm Thương.
                Chẳng biết no nao cá nước hội một trường,
                Kẻo nặng nề hai chữ uyên ương
                Ong bướm dẫu say mên hoa hường,
                Cũng đoái tưởng chút nghĩa tào khương.
                Chim bao nài bay qua cho tỏ tường.
                Để trông đợi tháng ngày thương.
                Trông tin chàng, đêm nằm mơ màng,
                Tỉnh giấc ḥe trằn trọc thở than.
                Năm canh sầu riêng cho bạn vàng,
                Phận làm trai hiếu nghĩa trung cang.
                Bệ ngọc trên báu kiếm sắc phán.
                Chốn giang biên ra khử trừ đảng gian.
                Nước noan xa cách muôn dặm, da người bọc ḿnh chàng.
                Tuyết sương lạnh nơi chốn Đồng quan
                Chàng trừ mô ra giai đấi khởi ngụy bang,
                Cho rồi, đặng trở về Trường An.
                Kẻo để tương tư này mày xanh sầu vơ vàng.
                Soi đài gương luống thẹn hồng nhan.
                Châu rơi lă chă lệ tuông đôi hàng,
                Hiềm v́ ai xui duyên nợ lỡ làng.
                Ngàn trùng xa cách như khách ở ngoại bang.
                Bao nỡ bỏ cái nghĩa Ngưu lang,
                Thuở ra đi lau lá vàng.
                Bây chừ đă trắng mai rỡ ràng.
                Cung quế xơ rơ bóng nguyệt đă tàn.
                Ơn kia chưa trả oán nọ liền mang.
                Nghe tiếng dế năm canh mơ màng,
                Ngỡ tạc ngựa chàng đă hồi bang.
                Bởi duyên cớ nào bạc đen ḷng phụ phàng.
                Để gió thảm mưa sầu khan.
                Chẳng biết no nao yên gót trở về
                Trên ngai vàng bạc thẻ bêu kia.
                Răng rứa bạn niềm tây nhớ nghĩa, nhớ nghĩa
                Mây bay khói tỏa in cờ ŕa,
                Trống trường thành giục điểm canh khuya.
                Bâng khuâng nhớ chàng như nhạn chít ĺa.
                Thiếp lạy ông Trời: chớ có phân chia.
                Từ chàng ra chốn cung đao,
                Thiếp trông tin chàng tựa cá trông sao.
                Ôm gối phụng chờ trông áo năo, áo năo ...
                Sao quên lời núi hẹn sông giao.
                Ai đi lấp thảm cho khuây má đào
                Tương tư này rằng thấu cung cao.
                Ơn trên tha về đặng tỏ nỗi âm hao.
                Hiệp một nhà mới phỉ ước ao.
                (1)



                ------------------

                (1) V́ không t́m được bản chính, chỉ nghe người ca truyền mà sưu tập lại, hẳn có ít chỗ chưa được ổn đáng. Vậy xin cáo lỗi cùng tác giả và bạn đọc; và mong được bổ chính cho. Nhân đây xin cảm tạ ḷng tốt của ông Ngô Văn Lương (ở Bạc Liêu), người đă giúp một phần cho tài liệu này.
                Vạn Xuân

                Comment


                • #9
                  Vành ngoài, vành trong




                  Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du, đoạn thuật cảnh nàng Kiều sa vào lầu xanh, mụ Tú Bà thong dong dặn ḍ Kiều cách tiếp đăi khách làng chơi, có những câu:

                  Nghề chơi cũng lắm công phu
                  Làng chơi ta phải biết cho đủ điều


                  và:

                  ... ai cũng như ai,
                  Người ta ai mất tiền hoài đến đây?
                  Ở trong c̣n lắm điều hay,
                  Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.
                  Này con thuộc lấy nằm ḷng,
                  Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề.



                  "Vành ngoài" là bề ngoài, cách đối đăi bề ngoài với khách.

                  "Bảy chữ" là bảy việc ghi bằng bảy chữ để dễ nhớ. Bảy việc này là bảy việc làm ở ngoài để khách say mê:


                  1. Khấp là khóc lóc để làm cho khách thương.

                  2. Tiễn là cắt tóc, thề nguyền để làm cho khách tin.

                  3. Thích là thích tên khách vào cánh tay ḿnh để khách yêu thương.

                  4. Thiêu là đốt hương thề nguyền với khách.

                  5. Giá là hẹn ḥ với khách.

                  6. Tẩu là giả rủ khách đi trốn.

                  7. Tử làm ra bộ liều chết để khách thương yêu, tin cẩn.



                  "Tám nghề" là tám cách ân ái với khách:


                  1. Tiếp người bé nhỏ th́ dùng cách kích cô thôi hoa.

                  2. Tiếp người to mập th́ dùng cách kim liên song tỏa.

                  3. Tiếp người nóng tính th́ dùng cách đại xiển kỳ cổ.

                  4. Tiếp người chậm chạp th́ dùng cách mạn đả khinh khao.

                  5. Tiếp người mới vỡ ḷng th́ dùng cách khẩn thuyên tam trật.

                  6. Tiếp người thạo đời th́ dùng cách tả tŕ hữu tŕ.

                  7. Tiếp người si t́nh th́ dùng cách tỏa tâm truy hồn.

                  8. Tiếp người lạnh lùng th́ dùng cách nhiếp thần nhiệm tỏa.



                  Đây là những bí quyết nhà nghề của những ả lăo luyện ở lầu xanh để làm khách làng chơi say mê, khó mà cắt nghĩa rơ rệt được.
                  Vạn Xuân

                  Comment


                  • #10
                    Vạn lư t́m chồng




                    Nhà Tần (306-209 trước D.L.), đời vua Tần Thủy Hoàng (221-209 trước D.L.) có người con gái họ Hứa tên Mạnh Khương. Chồng của nàng họ Phạm tên Thực, người ở miền Quan Trung nước Sở. Vốn con nhà danh giáo, từ nhỏ đă hấp thụ đạo đức, thư hương theo tinh thần gia phiệt.

                    Mạnh Khương kết hôn được ít lâu th́ nhằm lúc vua Tần mưu tính một công cuộc kiến trúc vĩ đại. Nguyên sau khi thôn tính xong sáu nước: Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tề, Sở, Thủy Hoàng muốn bảo vệ ngai vàng và pḥng ngừa cuộc xâm lăng của bọn Hung Nô ở miền Bắc, mới truyền xây Vạn Lư Trường Thành để làm biên giới từ Lũng Tây ở mạn tây đến Liêu Đông ở mạn đông. Thành cao từ 15 đến 30 thước, chân rộng 25 thước, dài 3600 cây số. Cứ từng quăng lại có cửa ải đồ sộ.

                    Thủy Hoàng đặt công tŕnh lớn lao ấy dưới quyền chỉ huy của đại tướng Mông Điềm và dưới sự kiểm soát của Thái Tử Pḥ Tô. Nhà vua truyền huy động đến 30 vạn nông dân để xây trường thành, lại dùng đến 50 vạn người bắt làm binh pḥng giữ miền Lĩnh Nam. Ngoài ra hơn 70 vạn người bị cung h́nh (bị cắt sinh thực khí) chia đi làm cung A Pḥng, hoặc xây lăng ở Ly Sơn.

                    Vua truyền huy động đến hàng triệu thanh niên từ 18 đến 45 tuổi đi sưu dịch. Những người này không biết bao giờ mới trở về hay không chắc có ngày trở về nữa. V́ thế, trong nhân dân, vợ khóc chồng, mẹ khóc con vô cùng thảm năo.

                    Chồng nàng Mạnh Khương phải tuân lịnh nhà vua. Cha chồng đă mất để lại mẹ chồng, Mạnh Khương phải thay thế chồng phụng dưỡng mẹ và dưỡng dục con thơ. Nhà ngày suy sụp, nàng phải giă gạo, quay tơ để mưu sinh. Đối với mẹ chồng, nàng vẫn làm tṛn nhiệm vụ của một người dâu thảo.

                    Phần nỗi già, phần thương nhớ con, bà mẹ phát bịnh nặng rồi qua đời. Mạnh Khương phải lo cư tang báo hiếu. Đằng đẵng mấy năm trường trông đợi chồng nhưng bặt vô âm tín. Nghe được tin đồn ở miền bắc, v́ tuyết sương lạnh lẽo, v́ công việc quá khó nhọc nên có nhiều người ốm chết, Mạnh Khương thương chồng nên nhất định đến tận ải quan, mong t́m chồng để an ủi, giúp đỡ, san xẻ gánh nặng. Nàng gởi con cho người thân rồi ra đi.

                    Nàng theo đường vạn lư. Từ miền hộ Động Đ́nh nước Sở lên phía bắc đến kinh đô Hàm Dương. Nàng lại nghe đồn: bọn người sưu dịch đă lên vùng tây bắc, nên lại đi từ miền sông Hán Thủy đến dăy núi Tần Lĩnh về hướng tây, đoạn theo ḍng sông Tất Xuyên mà đi thẳng lên phía bắc. Trải qua bao cảnh nắng mưa, sương gió, tuyết, nhưng nàng vẫn không nản ḷng. Đến sông Hắc Thủy và bến Mă Lan, bị bùn lầy quá nhiều làm chậm bước tiến. Nàng lại men theo mé trường thành, thẳng về hướng đông. Hỏi han từng người, nhưng nàng vẫn thất vọng, v́ chẳng ai biết được tin chồng của nàng.

                    Cuối cùng, Mạnh Khương đến một băi sa mạc ở miền đông. Giữa lúc ấy, bỗng mây đen vần vũ phủ nhuộm u ám cả bầu trời. Gió bắc thổi giật giọng từng cơn vô cùng lạnh lẽo. Ngựa từ đâu lại cất tiếng hí vang những giọng thảm thê bi đát. Trước mặt nàng lại bày ra một đống xương trắng ngổn ngang, ghê rợn.

                    Trước cảnh tượng, nàng hỏi: "Có lẽ chồng ta đă thác mất rồi mà thác ở đây chăng?" Và, nàng lại, nghĩ thêm: "Có lẽ phần anh linh của chồng báo điềm lạ cho nàng". Nàng bèn khấn vái vong linh của chồng và cầu Hoàng Thiên pḥ hộ: nếu chồng nàng thác rồi th́ xin cho một biểu hiệu để biết. Đoạn, nàng cắn móng tay, nhỏ máu vào những đống xương.

                    Từ đống xương này cho đến đống xương khác, măi đến khi nàng nhỏ một giọt máu vào chiếc đầu lâu nọ, th́ chiếc đầu lâu lại thấm máu và đỏ rực lên. Nàng hiểu ngay đấy là dấu hiệu Trời cho biết đây là hài cốt của chồng. Nàng liền ôm chầm lấy ngay bộ xương, khóc lóc thê thảm suốt cả ba ngày đêm.

                    Câu chuyện này thấu đến tai thái tử Pḥ Tô, con trưởng của Tần Thủy Hoàng và đại tướng Mông Điềm, lúc bấy giờ đương đóng đại bản doanh tại đất Lư Long, một ải quan trong tỉnh Hà Bắc ngày nay. Rồi cả hai cấp tốc sai người đánh xe đến Trác Lộc, chỗ của nàng Mạnh Khương đương khóc. Thái tử Pḥ Tô gọi nàng hỏi chuyện và t́m hiểu căn do nỗi oan ức của nàng. Nàng bây giờ đă kiệt sức, phều phào thưa:

                    - V́ chồng tôi đă chết nơi biên thùy, tôi cũng xin chết theo để được cùng nhau họp mặt ở suối vàng!

                    Nói xong, nàng nghẹn ngào, hấp hối, ngă quỵ rồi tắt thở. Đồng thời một dăy tường mới xây sụp đổ theo!

                    Nghe chuyện bi thảm và xem cảnh hăi hùng, hai người nao nao cảm động. Cả đến tướng sĩ và dân phu đều thương xót mà rưng rưng nước mắt.

                    Thái tử Pḥ Tô hạ lịnh hành lễ mai táng. Lễ truy tặng phẩm hàm Tả Tướng quân cho Phạm Thực và truy phong tước hiệu Trinh Phu Nhân cho Mạnh Khương. Pḥ Tô truyền chôn hai cỗ săng vào một cánh cửa Sơ Hải quan chừng 8 dặm, cách ven Bột Hải chừng một dặm (dặm: 576m).

                    Thấy việc hiển linh lạ lùng, người ta lập gần nơi nầy một miếu đá gọi là "Khương Nữ Tử". Đời sau, tại Cổ Bắc khẩu, tỉnh Hà Bắc và ở Lộ An, tỉnh Sơn Tây, người ta cũng có dựng miếu đặt cùng một tên ấy. V́ sùng mộ nhân đức của nàng, những bá tính xa gần thường đến chiêm bái.

                    Đời nhà Tây Hán (206-25), nhà Đông Hán (25 trước D.L.-220 sau D.L.), nhà Ngụy (220-265), mộ nàng Mạnh Khương được triều đ́nh lập cho nhiều bia đá. Sang đời nhà Minh (1368-1644), miếu của nàng được trùng tu vẻ vang
                    Vạn Xuân

                    Comment


                    • #11
                      Khúc phượng cầu hoàng




                      Tư Mă Tương Như, tự Tràng Khanh, người ở Thành Đô đời nhà Hán. Người rất đa tài, văn hay, đàn giỏi.

                      Khi ĺa quê lên Tràng An để lập công danh, đến con sông đầu làng, Tương Như viết trên cầu một câu: "Bất thừa cao xa tứ mă, bất phục quá thử kiều" (Không ngồi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này nữa).

                      Nhưng vốn con người phóng lăng hào hoa rất mực nên mua được một chức quan nhỏ, làm trong ít lâu, chán, cáo bịnh, qua chơi nước Lương, rồi trở về nước Thục. Đến đâu, Tương Như cũng dùng bút mực và cây đàn để giao thiệp bằng hữu.

                      Trong khi đến đất Lâm Cùng, Tương Như vốn sẵn quen với Vương Cát là quan lệnh ở huyện, nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trạc Vương Tôn, vốn viên ngoại trong huyện. Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu đánh cho một bài.

                      Họ Trác vốn có một người con gái rất đẹp tên Văn Quân, c̣n nhỏ tuổi mà sớm góa chồng, lại thích nghe đàn. Tương Như được biết, định ghẹo nàng, nên vừa gảy đàn vừa hát khúc "Phượng cầu hoàng (Chim phượng trống t́m chim phượng mái).


                      Chim phượng, chim phượng về cố hương,

                      Ngao du bốn bể t́m chim hoàng

                      Thời chưa gặp chừ, luống lỡ làng.

                      Hôm nay bước đến chốn thênh thang.

                      Có cô gái đẹp ở đài trang,

                      Nhà gần người xa năo tâm tràng.

                      Ước ǵ giao kết đôi uyên ương,

                      Bay liệng cùng nhau thỏa mọi đường.



                      Nguyên văn:

                      Phượng hề, phượng hề quy cố hương,

                      Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng,

                      Thời vị ngộ hề vô sở tương,

                      Hà ngộ kim tịch đăng tư đường.

                      Hữu diệm thục nữ tại khuê phường,

                      Thất nhĩ nhân hà sầu ngă trường.

                      Hà duyên giao cảnh vi uyên ương

                      Tương hiệt cương hề cộng cao tường.



                      Trác Văn Quân nghe được tiếng đàn, lấy làm say mê, đương đêm bỏ nhà đi theo chàng. Trác ông tức giận, quyết định từ con.

                      Đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm.

                      Sau Hán Vũ Đế đọc bài "Tử hư phú" của Tương Như, khen tài mới vời vào triều, ban chức tước. Lại sai chàng cầm cờ tiết, thay nhà vua về Ba Thục chiêu an bọn phụ lăo tùng phục nhà Hán. Lần này thỏa chí b́nh sinh, Tương Như áo gấm vinh quy được người đón rước long trọng. Nhưng làm quan ít lâu, lại chán, cáo bịnh lui về quê.

                      Trong "Bích Câu kỳ ngộ" có câu:

                      Cầu hoàng tay lựa nên vần,
                      Tương Như ḷng ấy, Văn Quân ḷng nào.


                      Và, trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du cũng có câu:

                      Khúc đâu Tư Mă phượng cầu,
                      Nghe ra như oán, như sầu phải chăng!


                      đều do điển tích trên.
                      Vạn Xuân

                      Comment


                      • #12
                        Củi đậu đun hột đậu




                        Đời Tam Quốc (220-264), Tào Thực tự Tử Kiến là con thứ ba của Tào Tháo, vốn có tài làm thơ hay, được tiếng là đệ nhất thi nhân đời Tần-Hán nhưng có tính phóng túng. Tào Tháo thương lắm nhưng không thể truyền ngôi cho một chàng giàu tâm hồn nghệ sĩ ấy được.

                        Tháo chết, truyền ngôi cho con cả là Tào Phi. Thực bản tính ngông nghênh bất phục, có ư chống lại ông vua anh. Phi giận lắm, truyền người bắt Thực đến định làm tội. Nhưng v́ yêu tài Thực nên Phi bảo:

                        - Ta với mày tuy t́nh anh em nhưng nghĩa vua tôi, sao dám cậy tài miệt lễ? Ngày tiên quân c̣n, mày thường đem văn chương khoe giỏi ḷe đời. Ta rất nghi, có lẽ mày nhờ người khác làm giúp. Vậy giờ đây ta ra hạn: đi bảy bước phải làm xong một bài thơ. Nếu làm được th́ tha tội chết; bằng không xong, ta quyết chẳng dung.

                        Thực nói:

                        - Xin ra đề cho.

                        Trên điện sẵn có treo bức tranh thủy mặc, vẽ hai con trâu chém nhau bên bức tường đất. Một con rơi xuống giếng chết. Tào Phi trỏ vào bức tranh, bảo:

                        - Hăy lấy bức họa kia làm đề. Nhưng trong thơ cấm phạm vào những chữ "Ngưu", "Đẩu", "Tường", "Trụy", "Tỉnh", "Tử" (Trâu, chọi, tường, rơi, giếng, chết).

                        Thực đi khoan thai. Vừa hết bảy bước, liền cất tiếng ngâm:

                        Hai tấm thân đi đường,

                        Trên đầu bốn khúc xương.

                        Gặp nhau tựa sườn núi.

                        Bỗng đâu nổi chiến trường.

                        Đôi bên đua sức mạnh,

                        Một địch lăn xuống hang.

                        Đâu phải thua kém sức,

                        Chẳng qua sự lỡ làng.



                        Nguyên văn:


                        Lưỡng nhục tề đạo hành,

                        Đầu thượng đới ao cốt.

                        Tương ngô do sơn hạ,

                        Huất khởi tương đường đột.

                        Nhị địch bất câu cương,

                        Nhất nhục ngọa thổ quật.

                        Phi thị lực bất hư,

                        Thịnh khí bất tiết tất.



                        Tào Phi cùng tất cả quần thần đều giựt ḿnh, nức nở khen. Phi lại hỏi:

                        - Bảy bước thành thơ, ta c̣n cho là nhàm. Mày có thể ứng khẩu đọc ngay một bài được chăng?

                        Thực đáp:

                        - Xin ra đề cho.

                        Phi nói:

                        - Ta với mày là anh em. Cứ lấy câu đó làm đầu đề. Nhưng cấm dùng hai chữ "Huynh", "Đệ".

                        Thực chẳng cần nghĩ ngợi một giây, ứng khẩu đọc ngay:

                        Củi đậu đun hột đậu

                        Đậu trong nồi khóc kêu:

                        Cùng sinh trong một gốc,

                        Bức nhau chi đến điều.



                        Nguyên văn:


                        Chữ đậu nhiên đậu cơ,

                        Đậu tại phẩu trung khấp.

                        Bản thị đồng căn sinh,

                        Tương tiễn hà thái cấp.



                        Phi nghe cảm động, sa nước mắt, liền tha cho, nhưng giáng Tào Thực làm An Hương Hầu.

                        Ở Việt Nam trong thời Tây Sơn (1771-1802), hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ xuưt đánh nhau để tranh quyền. Nguyễn Nhạc yếu thế, phải khóc nói với em:

                        - B́ oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?

                        Nghĩa là: nồi da nấu thịt, ḷng em sao nỡ? Nên Nguyễn Huệ cảm động rồi cả hai ḥa nhau.

                        Ở tỉnh B́nh Định, mỗi khi người ta đi săn được hươu nai ǵ th́ lột da ra làm nồi mà nấu thịt. Do đó ca dao B́nh Định có câu:

                        Da nai mà nấu thịt nai,
                        Việc đời như thế không ai động ḷng.
                        Thịt nai mà chín bên trong,
                        Da nai cũng cháy c̣n mong nỗi ǵ!


                        Cảm động lời nói của Nguyễn Nhạc, người B́nh Định đem lời đó diễn bằng câu ca dao:

                        Lỗi lầm anh vẫn là anh,
                        Nồi da xáo thịt sao đành hỡi em?


                        Đời nhà Nguyễn (1802-1945) vua Tự Đức giết anh là Hồng Bảo để củng cố địa vị ngai vàng của ḿnh. Một hôm, trong một buổi chầu, nhà vua vô ư để răng cắn nhằm lưỡi mới khiến quần thần làm bài thơ chơi, nhưng trong thơ cấm dùng tiếng "Răng", "Lưỡi".

                        Đây là bài thơ của cụ Nguyễn Hàm Ninh:

                        Ngă sinh chi sơ nhữ vị sinh,

                        Nhữ sinh chi hậu ngă vi huynh.

                        Bất tư cộng hưởng trân cam vị;

                        Hà nhẫn tương vong cốt nhục t́nh.


                        Tạm dịch:

                        Thuở tớ sinh ra, mày chửa sinh,

                        Mày sinh sau tớ, tớ là anh.

                        Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng nhau hưởng,

                        Xương thịt đành tâm nỡ dứt t́nh.



                        Nhà vua khen hay, thưởng một chữ một nén vàng; nhưng v́ cho bài có ư "móc", nên bắt phạt mỗi chữ đánh một roi.

                        "Củi đậu đun hột đậu", "Nồi da xáo thịt", "Răng cắn lưỡi" thành ngữ điển tích này đều có một ư nghĩa như nhau.
                        Vạn Xuân

                        Comment


                        • #13
                          Bi Ca Tán Sở




                          Bi Ca Tán Sở là một bài hát do Trương Lương đặt ra cho ḥa theo tiếng tiêu thổi để làm tan ră quân đội Sở Bá Vương Hạng Vơ.

                          Trương Lương tự Tử Pḥng, người nước Hán, đời Tần Hán (221 trước - 195 sau Dương lịch), pḥ Hán Bái Công Lưu Bang. Lúc bấy giờ, Hạng Vơ bị tướng soái nhà Hán là Hàn Tín bao vây tại Cửu Lư San ở phía bắc thành Từ Châu. Tuy lâm vào t́nh thế nguy ngập: thiếu lương, nhưng bên cạnh vua c̣n 8 ngàn tử đệ theo từ lúc ban đầu, ở vào lúc cùng, họ quyết tử chiến mở con đường máu, thẳng về Giang Đông tu chỉnh binh mă để tiếp tục cuộc chiến đấu.

                          Như vậy là một mối nguy cho Hán, dù có đại thắng bằng binh lực tất phải trả một giá rất đắt bằng xương máu. V́ thế, Trương Lương hiến kế là t́m cách phân tán 8 ngàn tử đệ để cô lập Hạng Vơ. Có thế mới bắt Hạng Vơ được.

                          Trương Lương liền thừa lúc đêm khuya thanh vắng, trời cuối thu lạnh lẽo, Trương đi qua lại từ Kê Minh san đến Cửu Lư san, vừa thổi tiêu vừa hát:


                          "Tiết trời cuối thu chừ, bốn phía đầy sương.
                          Trời cao nước cạn chừ, tiếng nhạn bi thương
                          Cực người biên thú chừ, ngày đêm bàng hoàng,
                          Thoát gươm mắc tên chừ, sa mạc phơi xương.
                          Mười năm xa quê chừ, cha mẹ đau buồn.
                          Vợ con mong nhớ chừ, gối chiếc chăn đơn.
                          Đồng ruộng bỏ hoang chừ, ai người trông nom.
                          Xóm có rượu ngon chừ, cùng ai thưởng thức,
                          Tóc bạc mong con chừ, tựa cửa sớm hôm,
                          Trẻ khóc gọi cha chừ, nước mắt trào tuôn.
                          Gió bấc kia thổi chừ, ngựa Hồ nhớ chuồng.
                          Người xa quê hương chừ, nỡ quên xóm làng,
                          Một sớm giao phong chừ, thân bỏ sa tràng,
                          Xương thịt như bùn chừ, trên băi trong mương.
                          Hồn phách bơ vơ chừ, không nơi tựa nương,
                          Tráng khí lừng danh chừ, phó trả hoang đường.
                          Đêm trường canh vắng chừ, tự hỏi thiên lương,
                          Mau bỏ Sở tan chừ, tránh chết tha phương,
                          Ta vâng ư trời chừ, soạn ca thành chương,
                          Ai biết mạng trời chừ, xin đừng mờ màng,
                          Hán Vương nhân đức chừ, không giết quân hàng.
                          Ai muốn về quê chừ, tha cho lên đường,
                          Chớ giữ trại không chừ, Sở đă tuyệt lương
                          Khi Vơ bị bắt chừ, ngọc đá khôn lường.
                          Mượn tiếng Sở chừ, khuyên quân Sở hàng,
                          Phổ thành điệu nhạc chừ theo sáu cung.
                          Tiếng tiêu Tử Tư chừ nơi Đan Dương
                          Khúc hát Trâu Diễn chừ tại Yên Đường.
                          Tiếng tiêu vang chừ, chín từng mây.
                          Gió thu về chừ, cuối thu này,
                          Sở kia mất chừ, chạy đâu đây!
                          Thời không đợi chừ, nhanh tựa bay.
                          Lời ca chừ, ba trăm chữ dài
                          Câu câu chữ chữ rơ ràng thay.
                          Khuyên người nghe cho kỹ càng,
                          Chậm tính, uổng đời thân chiến binh.



                          (Dựa theo lời dịch của Hải Âu Tử)


                          Nguyên văn:

                          Cửu ngoạt thâm thu hề tứ dă phi sương,
                          Thiên cao thủy hạt hề hàn nhạn bi thương.
                          Tối khổ thú biên hề nhựt dạ bàng hoàng,
                          Phi kiên chấp nhuệ hề cốt lập sa cương.
                          Ly gia thập niên hề phụ mẫu sinh biệt.
                          Thê tử hà kham hề độc tú cô phường.
                          Tuy hữu du điền hề thục dữ chi thủ,
                          Lân gia tửu thục hề thùy dữ chi thường.
                          Bạch phát ỷ môn hề vọng xuyên thu thủy,
                          Trĩ tử ức niệm hề lụy đoạn can trường.
                          Hồ mă tư phong hề thượng chi luyến thổ,
                          Nhân sinh khách địa hề ninh vong cố hương
                          Nhất đán giao binh hề đạo nhẫn chi tử,
                          Cốt nhục vi nê hề suy thảo hào lương.
                          Hồn phách du du hề vơng tri sở ỷ,
                          Tráng chí liêu liêu hề phó chi hoang đường.
                          Đương thử vĩnh dạ hề truy tư thoái!
                          Cấp tảo tán Sở hề thố tử thù phương.
                          Ngă ca khởi đản hề thiên khiển cáo nhử,
                          Nhữ kỳ tri mạng hề vật vị diêu mang.
                          Hán Vương hữu đức hề hàng quân bất sát,
                          Ai cáo qui t́nh hề pḥng nhữ cao tường.
                          Vật chủ không doanh hề lương đạo dĩ tuyệt,
                          Chỉ nhật cầm Vơ hề ngọc thạch câu thương.
                          Sở chi thanh hề tán Sở tốt.
                          Ngă năng xuy hề hiệp lục luật,
                          Ngă phi Tư hề phẩm Đan Dương.
                          Ngă phi Trâu hề ca Yên Thất
                          Tiên âm triệt hề thông cửu thiên.
                          Thu phong khởi hề Sở vong nhật.
                          Sở kỳ ṿng hề nhữ yên quy
                          Thời bất đăi hề như lôi tật.
                          Ca hề ca hề tam bách tự.
                          Tự cú tự cú hữu thâm ư.
                          Khuyến quân mạc tác đẳng nhàn khan
                          Nhập nhĩ quan tâm đương thục kỳ.



                          Trương Lương tập quân Hán học tiếng Sở hát theo.

                          Canh khuya, đêm vắng, khí trời lạnh lẽo, lá vàng rụng bay lả tả, tiếng tiêu thâm trầm, giọng hát bi thảm đồng vọng vào dinh Sở. Ban đầu, Sở quân chỉ buồn bă than thở, nhưng sau cùng, nghe đến chừng nào th́ càng cảm thấy như ruột gan tan nát, rồi nước mắt đầm đ́a ... đoạn bàn nhau bỏ trốn.

                          Chỉ trong một đêm, tám ngàn tử đệ cùng quân sĩ các dinh, mười phần bỏ trốn hết bảy tám.
                          Binh Sở không đánh mà tự nhiên vỡ tan để Sở Vương phải ôm hận đầy ḷng, buông lời than ai oán:

                          Lực bạt san hề khí cái thế,
                          Thời bất lợi hề chuy bất thệ...


                          Tạm dịch:

                          Sức nhổ núi chừ khí hơn đời,
                          Thời bất lợi chừ ngựa chẳng đi...
                          Vạn Xuân

                          Comment


                          • #14
                            Động Bích Đào




                            Ở xă Trị Nội, huyện Nga Sơn, phía hữu núi Thần Phù có "Bích Đào động" cũng gọi là "Từ Thức động", trong trải rộng răi mà lại thanh hư, cây cối xinh tốt. Trong động có bàn đá, có những viên đá nhỏ la liệt h́nh như con cờ. Những thạch nhũ rũ xuống h́nh như trống chuông, khẽ đánh có tiếng kêu. Lại có những thứ như màn trướng, lọng dù trông rất kỳ xảo, cảnh trí rất xinh đẹp.

                            Muốn vào trong hang động, phải nối đuốc mà đi. Nhưng cũng chưa ai đi cùng đến đáy.

                            Tương truyền trong niên hiệu Quang Thái (1388-1398) đời nhà Trần nước ta có ông Từ Thức là quan huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh). Bên cạnh huyện có một ngôi chùa có trồng một cây hoa mẫu đơn. Mỗi khi nở hoa th́ người người các nơi đổ đến, xe ngựa dập d́u làm thắng hội thưởng hoa.

                            Trong khi mọi người nh́n ngắm hoa đẹp th́ bỗng có một thiếu nữ tuổi độ mười lăm, mười sáu, dung nhan diễm lệ bước đến đưa tay vuốt lấy hoa. Nhưng chẳng may khi vịn lấy một cành th́ cành gịn bị gẫy. Người giữ hoa giữ lại, bắt đền. Nàng không đền mà măi đến tối cũng không có người thân quen đến nhận. Từ Thức thấy vậy động ḷng thương xót, bèn cởi áo bạch cẩm cừu đưa cho nàng chuộc tội để được tha về.

                            Một thời gian sau, v́ không muốn ràng buộc bởi lợi danh, Từ Thức bỏ ấn từ quan về ở huyện Tống Sơn. Rồi ngày ngày, Từ với một bầu rượu, túi thơ, chu du khắp chốn danh lam thắng cảnh. Một hôm nh́n thấy cửa biển Thần Phù có đám mây ngũ sắc kết lại h́nh như hoa sen, Từ vội chèo thuyền đến thấy một ḥn núi rất đẹp, Từ sinh cảm khái, nhân đề một bài thơ:

                            Thiên chương bích thụ quải triêu đôn,

                            Hoa thảo nghinh nhân nhập động môn.

                            Bạng giản dĩ vô tăng thái dược,

                            Lâm lưu thặng hữu khách tầm nguyên.

                            Lữ du tư vị cầm tam lộng,

                            Điếu đỉnh sinh nhai nhất tửu tôn.

                            Nghĩ hướng Vũ Lăng ngư phủ vấn,

                            Tiền lai viễn cận thực đào thôn.



                            Bản nôm:


                            Đầu cành thấp thoáng bóng kim ô,

                            Hoa động vui mừng đón khách vô.

                            Cạnh suối nào là người hái thuốc?

                            Quanh nguồn chỉ có gă bơi đ̣.

                            Xênh xang ghế mát đàn ba khúc,

                            Đủng đỉnh thuyền câu rượu một ṿ.

                            Ướm hỏi Vũ Lăng chàng đánh cá,

                            Làng Đào đâu đó cách chừng mô.



                            Từ đề xong nhưng bỡ ngỡ chưa biết đường nào đi, thoạt thấy vách đá tách mở ra một chỗ tṛn độ một thước. Từ chui vào chưa được vài bước th́ vách đá khép kín lại. Đi được vài dặm, thấy sườn đá đứng cao như vách tường. Lần leo lên, mỗi bước lại thấy càng rộng. Đến chót núi th́ có ánh mặt trời chiếu sáng, nh́n quanh bốn phía thấy một dăy lầu đài thiên nhiên cực kỳ xinh tốt như tranh vẽ.

                            Từ đương lấy làm ngạc nhiên, bỗng thấy có thanh y đồng nữ đến bảo:

                            - Phu nhân tôi xin mời tướng công vào.

                            Từ vâng lời. Thẳng vào th́ thấy một tiên nga đương ngồi trên giường chạm thất bảo, bên cạnh có đặt một chiếc tháp nhỏ bằng đàn hương. Tiên nga mời Từ ngồi, đoạn ung dung bảo:

                            - Đây là hang động thứ sáu trong số 36 động ở Phù Lai. Thiếp đây là Ngụy phu nhân địa tiên Nam Nhạc, nghe nhà ngươi có cao nghĩa hay cứu trợ người khốn đốn, nên mới phiền bước đến đây.

                            Đoạn, phu nhân gọi A Nương đến.

                            Từ liếc nh́n, nhận ra là cô gái làm găy hoa ngày trước. Phu nhân chỉ A Nương mà bảo Từ:

                            - Đó là con ta, tên Giáng Hương, khi trước nhờ người cứu việc làm găy hoa, ơn ấy không quên nên ta muốn kết làm giai ngẫu để trả.

                            Lẽ cố nhiên, Từ rất vui ḷng.

                            Ngay trong đêm ấy, phu nhân truyền thắp đèn mỡ phụng, trải chiếu vũ rồng, làm lễ giao bôi.

                            Thấm thoát đă được một năm.

                            Nhưng cảnh tiên không khuây khỏa được ḷng trần. Từ bỗng động ḷng nhớ cố hương nên ngỏ ư với Giáng Hương. Biết không giữ được, nàng đành thưa với mẹ. Phu nhân biết Từ c̣n nặng ḷng trần tục nên bằng ḷng cho chàng một chiếc cẩm vân xa để đi về. Riêng Giáng Hương th́ giao cho chàng một phong thư, dặn về đến nhà hăy mở ra xem.

                            Đến nhà, cảnh cũ không c̣n như xưa, vật đổi sao dời, thành quách, nhân dân hoàn toàn khác trước; duy cảnh núi sông là c̣n như thuở độ nào. Từ đem tên họ ḿnh mà hỏi thăm người già cả, th́ có người nói:

                            - Thuở tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đă hơn 60 năm.

                            Từ bấy giờ mới hậm hục bùi ngùi, muốn lên xe mây để về lối cũ, nhưng xe đă hóa ra con tường loan bay mất rồi. Từ mở thư của Giáng Hương xem th́ thấy có câu: "Kiết loan lữ ư vân trung, tiền duyên dĩ đoạn; phỏng tiên sơn ư hải thượng, hậu hội vô nhân" (Kết bạn loan ở trong mây, duyên trước đă dứt; t́m núi tiên ở trên biển, hội sau khôn cầu). Ư nói: duyên trước kết đôi loan phụng cùng nhau nay đă đoạn tuyệt rồi; ngày sau muốn t́m lại núi tiên cũng không được.

                            Về sau, Từ Thức mặc áo khinh cừu, đội nón lá, vào núi Hoàng Sơn ở huyện Nông Cống (Thanh Hóa) rồi đi mất.

                            Lê Quí Đôn, đời Hậu Lê, có vịnh bài thơ:

                            Câu chuyện thần tiên rất khó lường,

                            Bích Đào động nọ đă hoang lương.

                            Áo bông gió bụi: thân Từ Thức,

                            Mày liễu xuân tàn: sắc Giáng Hương.

                            Trống đá ngày qua nghe tiếng động,

                            Nhủ diêm sương nhuộm mất mùi thường.

                            Thiên thai mộng tưởng cho thêm khổ,

                            Ai biết thiên thai cũng hí trường.



                            Nguyên văn:


                            Hải thượng quần tiên sự diếu mang,

                            Bích Đào động khẩu thái hoang lương.

                            Kiều khôn nhất cát cùng Từ Thức,

                            Vân thủy song nga lăo Giáng Hương.

                            Thạch cổ hữu thanh xao hiểu nhật,

                            Sa diêm vô vị niết thu xương.

                            Thế nhân khổ tác Thiên thai mộng.

                            Thùy thức Thiên thai diệc hí trường.
                            Vạn Xuân

                            Comment


                            • #15
                              Gấm nàng Ban




                              Nàng họ Ban, không biết tên, vốn là một cung phi của vua Thành Đế nhà Hán (32-8 trước D.L.). Nàng làm nữ quan, chức Tiệp Dư nên thường gọi nàng Ban Tiệp Dư.

                              Nàng đẹp, duyên dáng, được nhà vua sủng ái.

                              Nhưng sau, nhà vua say mê Triệu Phi Yến. Bị nàng này gièm pha, nàng Ban sợ nguy cho thân nên xin vua cho hầu bà Thái Hậu ở cung Trường Tín. Từ đó, sự sủng hạnh của vua đối với nàng ngày càng phai lần.

                              Tủi cho thân phận lâm cảnh phũ phàng, nàng buồn bă, lấy một thứ lụa bát tơ trắng gọi là Tề Hoàn (lục nước Tề) do nàng tự dệt lấy và làm thành một cây quạt tṛn. Trên quạt, nàng đề một bài thơ để tự ví thân phận ḿnh:

                              Mới chế lụa Tề trắng.

                              Trong sạch như sương tuyết.

                              Đem làm quạt Hợp Hoan,

                              Tṛn hin giống mặt nguyệt

                              Ra vào trong tay vua,

                              Lay động sinh gió mát.

                              Thường sợ tiết thu đến,

                              Gió mát cướp nồng nhiệt,

                              Ném cất vào xó rương,

                              Nửa đường ân ái tuyệt.



                              Nguyên văn:


                              Tân chế Tề Hoàn tố,

                              Hạo khuyết như sương tuyết.

                              Tài thành Hợp Hoan phiến,

                              Đoàn đoàn tự minh nguyệt.

                              Xuất nhập quân hoài tụ,

                              Động đạo vi phong phát

                              Thường khủng thu tiết chí

                              Lương viêm đoạt viêm nhiệt.

                              Khí nguyên giáp tư trung,

                              Ân t́nh trung đạo tuyệt.



                              Nàng cung nữ họ Ban ấy tự ví ḿnh như cây quạt Hợp Hoan đă từng được nhà vua nâng niu yêu chuộng. Nhưng rồi lại ném cất vào xó rương, v́ gió thu mát đă cướp mất gió mát của quạt rồi. Thế là mối t́nh nửa đường đoạn tuyệt. Nhà vua nỡ say đắm kẻ khác, nghe lời gièm pha để nàng chịu nỗi duyên phận bẽ bàng.

                              Vương Xương Linh, một thi hào danh tiếng đời Đường (617-907) cảm xúc nỗi duyên phận ghẻ lạnh của nàng cung phi họ Ban, mà đây cũng là số kiếp chung của khách hồng nhan vô phúc sa vào cung cấm, nên có làm 3 bài, đề là "Trường Tín thu từ" để vịnh nàng:

                              I

                              Giếng ngọc cành khô rụng lá vàng,

                              Buông rèm đêm đă lạnh hơi sương.

                              Ḷ hương, gối ngọc vô duyên quá,

                              Lắng giọt đồng rơi xiết đoạn trường.


                              (Bản dịch của Lam Giang)


                              Nguyên văn:

                              Kim tỉnh ngô đồng lạc diệp hoàng,

                              Chu liêm bất quyển dạ lai sương.

                              Huân lung ngọc chẩm vô nhan sắc,

                              Ngọa thích Nam cung xuân lậu trường.


                              II

                              Ban mai quét tước mở đền vàng,

                              Nâng quạt nh́n thôi luống thở than.

                              Mặt ngọc không bằng con quạ rét,

                              Nó c̣n sưởi nắng điện Chiêu Dương.



                              Nguyên văn:


                              Phụng chửu b́nh minh kim điện khai

                              Thả tương đoàn phiến tạm bồi hồi.

                              Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc,

                              Do đái Chiêu Dương nhật ảnh lai.



                              III

                              Đă đành phận bạc, ôi đau đớn,

                              Thấy vua trong mộng, tỉnh nhớ nhung.

                              Tây cung rộn rực đêm yến tiệc,

                              Mơ màng nhớ lúc được vua ban.



                              Nguyên văn:

                              Chân thành bạc mệnh cửa tầm tư,

                              Mộng kiến quân vương giác hậu nghi.

                              Họa chiếu Tây cung tri dạ ấm,

                              Phân minh phức đạo phụng ân th́.


                              Ba bài theo điệu nhạc phủ. Tác giả tả tâm trạng u hoài của Ban Tiệp Dư: nỗi buồn đêm thu, mối buồn sáng thu lại mối sầu đêm thu.

                              Đêm trước u buồn, sáng dậy bâng khuâng, đêm đến sầu năo, cả ba bài đều cực tả một nỗi buồn tha thiết. Mà nỗi buồn ấy măi vương vấn, không bao giờ chịu buông tha người bạc mệnh ở lănh cung.

                              Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, đoạn thuật lời thán oán của nàng cung phi trong cung cấm, có câu:

                              Nụ hoa chưa mỉm miệng cười,

                              Gấm nàng Ban đă nhạt mùi thu dung.


                              "Gấm nàng Ban" lấy ở điển tích trên.
                              Vạn Xuân

                              Comment


                              • #16
                                Đông sàng với thiếp Lan Đ́nh




                                Đời nhà Tấn (265-419) có quan Thái Úy tên Khước Giám muốn chọn một người rể hiền, mới cho người đến trường của Vương Đạo xem trong đám học sinh, có người nào xứng đáng không.

                                Lúc người nhà trở về, Khước Giám hỏi th́ người ấy đáp:

                                - Học sinh giỏi th́ đông, người nào nghe việc kén rể cũng sửa soạn áo quần bảnh bao, ganh đua nhau, ra dáng nề nếp; chỉ có một người không để ư đến, trật áo, tréo chân nằm ở giường phía đông.

                                Khước Giám bảo:

                                - Người ấy mới thật đáng rể ta.

                                Đoạn chọn làm rể. Người đó là Vương Hy Chi, sau làm quan đến chức Hữu quân, có tài viết chữ đẹp hơn cả thiên hạ.

                                "Đông sàng" là giường phía đông, chỉ người rể quư, "rể đông sàng".

                                Trong "Nhị độ mai" có câu:

                                "Có Tây Tử Đô, thiếu đông sàng nào" là do điển tích trên.

                                Vương Hy Chi, tự Dật Thiếu. V́ làm quan đến chức Hữu quân nên thường gọi là Vương Hữu Quân. Tương truyền Vương tập viết chữ bên bờ ao, sau nước ao đen ng̣m những mực.

                                Lối chữ "Khải" của Vương được người đời cho là lối chữ đẹp nhất từ xưa đến nay.

                                Người đời thường khen bút thế của Vương "lướt như mây bay, mạnh như rắn lộn". Trong các bản bút thiếp của Vương để lại có bản "Lan Đ́nh tập tự" viết ngày 3 tháng 3 năm Vĩnh Ḥa thứ 9 đời nhà Tấn (337) được hậu thế quư trọng, cho làm mẫu mực để tập theo. Những bản "Lan Đ́nh tập tự" có lưu hành nhưng có lẽ đó là những bản phỏng theo. Bản chính đă thất lạc từ sau đời nhà Đường (618-907).

                                Ngày nay, trong các lối chữ Hán có lối chữ "Lan Đ́nh"; đó tức là lối chữ phỏng theo chữ viết của Vương Hy Chi trong "Lan đ́nh tập tự".

                                Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du, đoạn nói về Kiều bị Hoạn Thư cho ra tu ở Quán Âm các để chép kinh, Hoạn Thư khen chữ viết của Kiều, có câu:

                                Khen rằng: "Bút pháp đă tinh
                                So vào với thiếp Lan Đ́nh nào thua!


                                Ư nói chữ viết tốt ngang với chữ của Vương Hy Chi.
                                Vạn Xuân

                                Comment


                                • #17
                                  Khúc trường tương tư




                                  Đời Hậu Chu, thời Ngũ Quư (905-955), ở tỉnh Hồ Nam vùng sông Tiêu Tương có nàng Ư Nương, con gái của Lương công. Nàng có sắc đẹp lại hay chữ. Ở trọ nhà có chàng Lư Sinh, một hàn sĩ mỹ mạo tuấn tú.

                                  Nhân một đêm Trung Thu, Ư Nương thưởng trăng bỗng gặp Lư Sinh. Trai tài gái sắc gặp nhau, trao đổi tâm t́nh. Từ đó cả hai thường t́m cách lui tới.

                                  Lương công biết được, tức giận đuổi Lư Sinh đi. Ư Nương lấy làm đau đớn, từ đó sinh ra bịnh tương tư triền miên, mới làm bài khúc "Trường tương tư" mong gởi nguồn tâm sự cho người yêu biết. Trong bài có những câu rất lâm ly ai oán:


                                  Người ta bảo sông Tương rất sâu,

                                  Nhưng chưa bằng nguồn tương tư

                                  Sông sâu c̣n có đáy,

                                  Tương tư không bờ bến.

                                  Chàng ở đầu sông Tương,

                                  Thiếp ở cuối sông Tương.

                                  Tương tư không gặp mặt,

                                  Cùng uống nước sông Tương.

                                  Hồn mơ bay chẳng tới

                                  Chỉ thiếu một điều chết.

                                  Ta vào cửa tương tư,

                                  Mới biết tương tư đau khổ!



                                  Nguyên văn:


                                  Nhân đạo Tương Giang thâm,

                                  Vị để tương tư bán.

                                  Giang thâm chung hữu để;

                                  Tương tư vô biên ngạn.

                                  Quân tại Tương Giang đầu,

                                  Thiếp tại Tương Giang vĩ.

                                  Tương tư bất tương kiến,

                                  Đồng ẩm Tương Giang thủỵ

                                  Mộng hồn phi bất đáo,

                                  Sở khiếm duy nhất tử.

                                  Nhập ngă tương tư môn,

                                  Tri ngă tương tư khổ!



                                  Lư Sinh tiếp được, đọc xong, cảm xót vô cùng, đầm đ́a nước mắt. Chàng chạy nhờ mai mối đến năn nỉ với Lương ông, kể lể mối t́nh đầu, xin hỏi nàng làm vợ. Ông trước c̣n dùng dằng, sau đọc được khúc "Trường tương tư" của con, lấy làm cảm động nên đành vui ḷng cho Sinh thành mối lương duyên.

                                  Trong "Đoạn trường tân thanh" có câu:

                                  Sông Tương một giải nông sờ,

                                  Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.



                                  Và trong "Chinh phụ ngâm", bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm cũng có câu:

                                  Chốn Hàm Dương, chàng c̣n ngoảnh lại,

                                  Bến Tiêu Tương, thiếp hăy trông sang...
                                  Vạn Xuân

                                  Comment


                                  • #18
                                    Giảo thố tam quật




                                    "Giảo thố tam quật" nghĩa là "con thỏ khôn có ba ngách hang". Ư nói: thỏ có ba ngách hang để tránh cho khỏi bị chết; cũng như con người phải có trí mưu tự tồn.

                                    Câu này là do Phùng Huyên bày kế cho Mạnh Thường Quân.

                                    Sách cổ văn có chép:

                                    Phùng Huyên người nước Tề, đời Chiến Quốc (470-221 trước D.L.) làm thực khách ở cửa Mạnh Thường Quân là Tướng quốc nước Tề. Một hôm, Mạnh Thường Quân đưa sổ bộ ra hỏi các thực khách xem có người nào biết về việc kế toán, nhờ qua đất Tiết, là phong ấp của Thường Quân, để thu các mối nợ, th́ xin kư tên vào sổ. Phùng Huyên nhận sổ kư tên. Thường Quân lấy làm lạ hỏi tên họ người kư là ai? Kẻ tả hữu đáp:

                                    - Đó là người thường ca câu "trường hiệp quy lai".
                                    "Trường hiệp" là cán gươm dài, "quy lai" là đi về. Nguyên trước khi ấy, họ Phùng có ba lần ca. Lần thứ nhất là:
                                    "Ở đây không có cá, nên mang gươm dài đi về".
                                    Lần thứ hai ca:
                                    "Ở đây không có xe, nên mang gươm dài đi về".
                                    Lần thứ ba ca:
                                    "Ở đây không có nhà cho cha mẹ ở, nên mang gươm dài đi về".

                                    Họ Mạnh cười, ân hận lỗi ḿnh đă bạc đăi họ Phùng, nên cho người mời Phùng đến tạ:

                                    - Văn này ch́m đắm trong công việc quốc gia rất mỏi mệt, ḷng lo rối loạn mà tính lại ngu đần, không rảnh gặp mặt, xin tạ tội cùng tiên sinh. Tiên sinh đă không lấy làm hổ thẹn, nay lại có ư muốn v́ tôi đi thu nợ ở đất Tiết chăng?

                                    Phùng thưa:

                                    - Huyên nguyện đi.

                                    Khi ra đi, họ Phùng hỏi: thu nợ xong rồi có cần mua vật ǵ? Mạnh bảo: xem trong nhà c̣n thiếu vật ǵ th́ cứ mua về.
                                    Phùng Huyên đến đất Tiết, cho người thuộc lại mời tất cả những người thiếu nợ đến đông đủ, rồi truyền rằng Mạnh Tướng quốc ra lịnh xóa bỏ tất cả số nợ. Và, để cho mọi người tin tưởng, Phùng đem đốt hết những văn khế nợ. Dân đất Tiết vui mừng, tung hô vạn tuế.

                                    Khi họ Phùng trở về, Thường Quân lấy làm lạ cho là đ̣i nợ cách ǵ mà mau chóng thế, mới hỏi:

                                    - Thu nợ xong phải không?

                                    - Thu xong cả.

                                    - Có mua ǵ về không?

                                    - Khi đi, Tướng công có bảo: nên mua những vật ǵ trong nhà c̣n thiếu. Tôi trộm nghĩ trong bụng Tướng công chất chứa những đồ trân bảo, ngoài chuồng nuôi đầy chó ngựa, nhà sau la liệt những mỹ nhân, vậy vật mà Tướng công c̣n thiếu, chưa có là điều Nghĩa, nên tôi trộm lịnh mua điều Nghĩa đem về.

                                    Thường Quân ngạc nhiên hỏi:

                                    - Mua điều nghĩa thế nào?

                                    Họ Phùng đáp:

                                    - Tướng công nguyên trước được phong cho thực ấp ở đất Tiết là đất nhỏ mọn, mà không lo vỗ về thương yêu dân, lại c̣n mưu toan làm lợi. V́ vậy, tôi trộm lịnh xóa cho tất cả các con nợ, nhân đó thiêu hủy cả văn khế, được dân chúng vui mừng tung hô vạn tuế. Ấy là tôi v́ Tướng công mua được điều nghĩa vậy.

                                    Thường Quân nghe nói không bằng ḷng, nhưng phải bỏ qua.

                                    Một năm sau, vua Tề không dùng Mạnh làm Tướng quốc nữa, phải về đất Tiết ở. Bấy giờ bá tính đất Tiết, trai gái già trẻ đua nhau đến đón rước giữa đường, hoan hô nhiệt liệt. Khi ấy, Mạnh quay lại Phùng Huyên mà bảo rằng:

                                    - Tiên sinh v́ Văn này mua điều nghĩa, ngày nay Văn mới trông thấy.

                                    Phùng thưa:
                                    - "Con thỏ khôn có ba cái ngách hang mới khỏi chết", nay Tướng công mới có một ngách hang, chưa được dựa gối nằm yên, tôi xin v́ Tướng công đào thêm hai ngách nữa.

                                    Mạnh nghe nói, liền ban 50 cỗ xe và 50 cân vàng để họ Phùng hoạt động. Họ Phùng liền tây du nước Lương, bảo vua Huệ Vương nước Lương rằng:

                                    - Được người hiền th́ nước mạnh, bỏ người hiền th́ nước yếu. Nước Tề nay bỏ Mạnh Thường Quân, nếu Lương dùng làm tướng th́ Mạnh Thường Quân sẽ đem những việc khả dĩ làm lợi cho Tề được mà làm lợi cho Lương. Như vậy, Lương sẽ hùng mạnh mà Tề nguy mất.

                                    Lương Huệ Vương bằng ḷng khiến sứ giả dem 1000 cân vàng và 100 cỗ xe qua mời Thường Quân. Giữa lúc ấy, Phùng lại sang Tề, vào yết kiến Tề Mân Vương bảo:

                                    - Được người hiền th́ nước mạnh, bỏ người hiền th́ nước yếu. Nay Tề bỏ Mạnh Thường Quân, nếu nước Lương hay một nước nào khác dùng làm tướng th́ Mạnh Thường Quân sẽ đem những việc khả dĩ làm lợi được cho Tề mà làm lợi cho nước khác. Như vậy, nước khác sẽ hùng mạnh. Huống chi Mạnh trước kia ở Tề, những việc bí mật của Tề, Mạnh đều hiểu biết, như vậy dù muốn dù không Mạnh cũng dựa theo đó mà làm nguy Tề.

                                    Mân Vương ngoài miệng tuy khen phải nhưng ḷng c̣n do dự. Bỗng có quân báo nước Lương đương cho xe ngựa đi rước Mạnh Thường Quân về làm Tướng quốc, nên lập tức sai quan Thái Phó đem 1000 cân vàng và văn xa tứ mă (xe có vẽ vời và gác 4 ngựa) cùng một bảo kiếm, một phong thư đến xin lỗi Thường Quân và xin mời về làm tướng như cũ.

                                    Sau khi vua Tề tái dụng Thường Quân, Phùng Huyên lại khuyên Mạnh nên thỉnh cầu cho đủ những đồ tế khí của tiên vương và xin lập nhà tôn miếu ở đất Tiết. V́ Mạnh vốn là ḍng dơi của vua Uy Vương nước Tề, xong lập tôn miếu ở đất Tiết để thờ tiên vương làm căn bản vững vàng, sau này nước Tề chẳng những không dám đoạt đất Tiết, mà phải cứu trợ một khi đất Tiết bị nước khác xâm lăng.

                                    Vua Tề không hiểu được mẹo của Phùng Huyên nên bằng ḷng cho Mạnh thiết lập tôn miếu ở đất Tiết. Khi ấy họ Phùng bảo Mạnh:

                                    - Ngày nay ba ngách hang đă đào xong, Tướng công có thể dựa gối cao mà nằm được yên vậy.

                                    Mạnh Thường Quân làm Tướng quốc hơn vài mươi năm, không xảy ra chút mảy tai họa ǵ là nhờ mưu kế "Giảo thố tam quật" của Phùng Huyên.

                                    "Ba ngách hang" của Phùng Huyên là: mua nghĩa, lập kế cho vua Tề tái dụng làm tướng, lập tôn miếu ở đất Tiết.

                                    Thành ngữ "Giảo thố tam quật" chỉ con người cần phải có trí mưu để tạo nhiều điều kiện, nhiều phương tiện mới tự tồn được.
                                    Vạn Xuân

                                    Comment


                                    • #19
                                      Đổi mỹ nhân lấy ngựa




                                      Tô Đông Pha là một thi hào danh tiếng đời nhà Tống (950-1275). Ông có một cô hầu tuyệt đẹp tên Xuân Nương. V́ bất đồng ư kiến với Tể tướng Vương An Thạch nên bị nhà vua trích đi Hoàng Châu.

                                      Lúc sắp lên đường, có người bạn làm chức quan Vận sứ họ Tưởng đến nhà Tô chơi để tiễn biệt.

                                      Tô Đông Pha bảo Xuân Nương ra mời khách uống vài chén rượu, cảm khái biệt ly. Thấy Xuân Nương đẹp như tiên nga, họ Tưởng giựt ḿnh hỏi:

                                      - Cô bé này có đi theo bác không?

                                      Tô bảo là Xuân Nương không muốn đi theo v́ đường sá xa xôi khó nhọc nên xin trở về nhà nàng. Nhân đó, họ Tưởng nói:

                                      - Vậy th́ bác cho phép tôi đem con ngựa bạch tuyệt hay để đổi lấy cô Xuân được không?

                                      Đông Pha ưng chịu.

                                      Họ Tưởng lấy làm khoan khoái vô cùng, liền ứng khẩu làm bài thơ tứ tuyệt:

                                      Tiếc ǵ con ngựa đẹp như mây,

                                      Ơn bác cho tôi đổi gái này,

                                      Giờ mất nhạt vàng rung bóng nguyệt,

                                      Nhưng thêm má phấn bạn làng say.



                                      Nguyên văn:


                                      Bất tích sương mao vơ tuyết đề,

                                      Đẳng nhân phân phó tặng nga mi.

                                      Tuy vô kim nặc tê minh nguyệt,

                                      Khước hữu giai nhân bỗng ngọc b́.



                                      Tô Đông Pha cũng ứng khẩu đáp lại:


                                      Cô Xuân đi vậy cũng xa xăm,

                                      Dầu chẳng kêu ca chớ giận ngầm.

                                      V́ nỗi non sông nhiều hiểm trở,

                                      Đổi người lấy ngựa phải đành tâm.



                                      Nguyên văn:


                                      Xuân Nương thử khứ thái thông thông,

                                      Bất cảm đề thanh tại hận trung.

                                      Chỉ vị sơn hành đa hiểm trở,

                                      Cố tương hồng phấn hoán truy phong.



                                      Xuân Nương nghe hai người đối đáp nhau và có một hành động khinh thường nàng như thế nên bực tức, đĩnh đạc nói:

                                      - Tôi nghe ngày xưa vua Tề Cảnh Công muốn chém tên giữ chuồng ngựa mà Yến Tử cản ngăn. Chuồng ngựa nhà ḿnh cháy, Khổng Phu Tử chỉ hỏi thăm có ai chết không, chớ không hỏi ngựa chết mất c̣n. Ấy là người ta quư người khinh vật. Nay học sĩ đem người đổi lấy ngựa, th́ ra quư vật mà khinh người.

                                      Đoạn, Xuân Nương cũng ứng khẩu làm một bài thơ:


                                      Chém cha cái kiếp của đàn bà,

                                      Khổ sướng trăm bề há bởi ta.

                                      Giờ mới biết người thua giống vậy,

                                      Sống làm chi nữa trách ai mà.



                                      Nguyên văn:


                                      Vi nhân mạc tác vị nhân thân,

                                      Bá ban khổ lạc do tha nhân.

                                      Kim nhật thủy tri nhân tiện súc,

                                      Thử sinh cẩn hoạt oán thùy sân.



                                      Đọc xong, nàng vội lao ḿnh ra sân đập đầu vào cây mà chết.

                                      Thấy thân xác nàng quằn quại trên vũng máu đào bên cội cây, cả hai vô cùng hối hận, nh́n nhau ngậm ngùi, nhỏ lệ. Nhưng đă muộn rồi
                                      Vạn Xuân

                                      Comment


                                      • #20
                                        Trường môn phú




                                        Tư Mă Tương Như tự Tràng Khanh, người đất Thục đời Tiền Hán (206 trước D.L.-8 sau D.L.), rất đa tài, văn hay, đàn giỏi.

                                        Ông nổi tiếng nhất về phú.

                                        Nguyên Trần hoàng hậu bị vua Hán Vũ đế ghét bỏ đày ra Trường Môn. Sống lẻ loi trong thâm cung, nàng lấy làm đau đớn cho thân phận. Không biết làm thế nào tỏ hết nỗi ḷng để mong nhà vua hồi tâm xe lại mối tơ duyên. Nghe Tư Mă Tương Như có văn tài, nàng nhờ người đem 100 lượng vàng đến, yêu cầu Tương Như viết một bài phú để dâng vua.

                                        Tương Như bằng ḷng.

                                        Bài phú nhan đề là "Trường Môn phú", rất hay, lời lẽ vô cùng ai oán. Bài ấy có đoạn:


                                        Sầu nh́n chung quanh mà rỏ lệ chừ, nước mắt ṛng ṛng chảy dọc ngang.

                                        Ráng thở dài mà thêm thẹn chừ, xỏ giày đứng dậy mà bàng hoàng.

                                        Vung tay áo để che mặt chừ, nhớ ngày xưa lầm lỗi mà sinh tai ương.

                                        Mặt mày coi tiều tụy chừ, buồn ḷng mà lên giường.

                                        Ṿ bông để làm gối chừ, trải cỏ thơm mà ướp hương.

                                        Hốt ngủ quên mà nằm mộng chừ, phách như ở bên quân vương.

                                        Chợt tỉnh mà chẳng thấy chừ, hồn hốt hoảng như mất vật ǵ.

                                        Nghe gà gáy mà ḷng rầu chừ, dậy coi trăng sáng long lanh.

                                        Xem sao bầy hàng chừ, Tất, Măo hiện ở phương đông.

                                        Nh́n ra sân lạnh lẽo chừ, như tháng chín trời gieo sương.

                                        Đêm dằng dặc như năm chừ, ḷng uất ức mà chẳng nguôi.

                                        Lặng lẽ trăn trở đợi sáng chừ, trời hừng hừng đă rạng đông.

                                        Thiếp trộm buồn tủi chừ, cho đến già chẳng dám quên.



                                        Nguyên văn:


                                        Tả hữu bi nhi thùy lệ hề, thế lưu ly nhi tung hoành.

                                        Thư tức ấp nhi tăng hi hề, đồ lư khởi nhi bàng hoàng.

                                        Du trường duệ dĩ tự ế hề, sổ tích nhật chi thiên ương.

                                        Vô diện mục chi khả hiển hề, toại đồi tứ nhi tựu sàng,

                                        Đoàn phân nhược dĩ vi chẩm hề, tịch thuyên lan nhi chi hương.

                                        Hốt tẩm mị nhi mộng tưởng hề, phách nhược quân chi tại bàng.

                                        Dịch ngộ giác nhi vô kiến hề, hồn cuống cuồng nhược hữu vong.

                                        Chúng kê minh nhi sầu dư hề, khỏi thị nguyệt chi tinh quang.

                                        Quan chúng tinh chi hàng liệt hề, tất măo xuất ư đông phương.

                                        Vọng trung đ́nh chi ái ái hề, nhược quí thu chi giáng sương,

                                        Dạ mạn mạn nhước tuế hề, hoài uất uất kỳ bất khả tài canh.

                                        Đạm yển kiển nhi đăi thự hề, khương đ́nh đ́nh nhi phục minh.

                                        Thiếp nhân thiết tự bi hề, cứu niên tuế nhi bất khả cảm vương.



                                        . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                                        Xem qua bài phú, nhà vua cảm động, nghĩ ngợi, xót thương nên đem nàng về phục ngôi hoàng hậu.

                                        Giá trị thay bài phú!

                                        Nhưng bài phú chỉ giá 100 lượng vàng. Một trăm lượng vàng mua lại được ḷng yêu dấu của đấng quân vương.
                                        Trong "Nhị độ mai" của Vô Danh có câu: "Phú Tương Như dễ mấy vàng chuốc nên", là do điển tích trên.
                                        Vạn Xuân

                                        Comment


                                        • #21
                                          Trúc mai




                                          Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn diễn tả lúc nàng Kiều bán ḿnh chuộc cha, đành lỗi ước với Kim Trọng, nàng than thở có câu:

                                          Tái sinh chưa dứt hương thề,

                                          Làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai.

                                          Và, đoạn diễn tả cảnh của Kiều lúc sống đầm ấm với Thúc Sinh:

                                          Một nhà xum họp trúc mai,

                                          Càng sâu nghĩa bể, càng dài t́nh sông.



                                          "Trúc mai" là cây trúc và cây bương.

                                          Trúc thuộc một loại tre nhỏ. Bương là một giống tre to ở rừng. Lá to có thể dùng gói bánh. Thân to dùng làm cột nhà. Cây bương già có hoa, gần giống bông lau nhưng dài hơn, người ta gọi là bông mai, thường bó làm chổi, gọi là chổi bông mai. Mai này không phải cây mơ, nở hoa trắng về mùa xuân.

                                          Măng bương to và mập, người ta gọi là măng mai. Trong ca dao "Lính thú ngày xưa" có câu:

                                          Miệng ăn măng trúc măng mai,
                                          Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng.



                                          "Trúc mai" ở đây chỉ người bạn t́nh chung thủy. V́ trúc và mai là giống cây có đốt thẳng lóng ngay (tiết thẳng); và suốt đời không thay đổi đốt, lóng ấỵ Người ta mượn "trúc mai" để chỉ người bạn suốt đời, giữ được trọn tiết (tiết nghĩa đen là đốt, như đốt trúc), không thay ḷng đổi dạ, không nghĩ quanh co (tre bao giờ cũng thẳng) tức là người giữ trọn được lời thề.

                                          Hai người thề bồi với nhau, người này không giữ được lời thề, tức là mang nợ (lời thền) với người kia. Và, theo thuyết luân hồi của đạo Phật: người mắc nợ kiếp này th́ kiếp sau phải làm trâu ngựa để trả cái nợ cho người chủ nợ, như thế là tức là người giữ trọn lời thề.

                                          H́nh dung bằng cây trúc, cây mai là những người trọn đời giữ vững ḷng ngay tiết thẳng.

                                          Nhưng "Trúc mai" c̣n có một nghĩa khác hơn.

                                          Đây không phải là cây tre và cây mơ (bamboo et abricotier), cũng không phải là cây tre và cây bương. Mà chính do tiếng "Mai trúc" đảo ngược. Nghĩa là Tre làm mai mối.

                                          "Mai trúc" do điển tích chép trong sách "Lưỡng ban thu vũ am tùy bút":

                                          Ở cửa sông Liêu Khê, huyện Long Môn, tỉnh Quảng Đông có một cái đầm (hồ), tên là "Đỗ Phụ đàm" (nghĩa là đầm đánh đố được vợ).

                                          Tương truyền ngày xưa có một cậu và một cô bé trạc tuổi nhau, thường ngồi chơi bên mé đầm. Hai trẻ rất thân. Một hôm cả hai bảo nhau:

                                          - Chúng ta bây giờ chơi thân nhau nhưng không biết có được thân với nhau măi chăng? Đây rồi khi lớn lên, kẻ nơi người ngả.

                                          Hai trẻ đều buồn. Nhưng rồi lại nghĩ ra một cách đánh đố nhau, chẻ một lóng tre ra làm đôi, mỗi người cầm một mảnh liệng xuống gịng nước, nguyền với nhau rằng: hễ hai thanh tre ấy mà trôi khép lại làm một th́ hai bên kết làm vợ chồng. Có thế mối t́nh thân mật, gần gũi nhau được măi măi.

                                          Cả hai thực hành, quả nhiên hai mảnh tre trôi xuôi và khép liền nhau như lóng tre chưa chẻ.

                                          Thế là cô cậu lấy nhau làm vợ chồng. Và, đầm ấy có tên là "Đỗ Phụ đàm". Giống tre mọc ở trên bờ đầm gọi là "Mai trúc" nghĩa là giống tre làm mai mối.

                                          Đời Thanh (1644-1909), thi hào Khuất Ông Sơn có thơ vịnh trúc mai:

                                          Một đôi thanh trúc khép như in

                                          Thanh trúc xe nên duyên bách niên.

                                          Mai trúc trên đầm nay vẫn tốt,

                                          Rườm rà cành nhánh cháu con hiền.


                                          (Bản dịch của Vân Hạc Lê Văn Ḥe.)


                                          Nguyên văn:

                                          Lưỡng biên sinh trúc hợp vô ngần,

                                          Sinh trúc năng thành phu phụ ân.

                                          Đàm thượng chí kim mai trúc mỹ,

                                          Chi chi từ hiếu cánh đa tôn.



                                          "Một nhà xum họp trúc mai" là mai trúc ở chung nhau tức là vợ chồng xum họp, căn cứ vào điển cố trên.
                                          Vạn Xuân

                                          Comment


                                          • #22
                                            Lăo tiều phu hay con hạc đen




                                            Núi Na ở thôn Quần Ngọc, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Trên đỉnh núi có chùa xưa, tục danh là Tiên am. Phía tả có động thâm u. Đời nhà Trần, Hồ (1225-1407) có một tiều phu ẩn cư ở đấy. Người ta gọi là Hoàng My tiên sinh.

                                            Một hôm Hồ Hán Thương đi săn đến đấy, bỗng gặp một lăo tiều phu vừa đi vừa hát:

                                            Na chi sơn hữu thạch toàn ngoan

                                            Thụ thương thương

                                            Yên tịch mịch

                                            Thủy sàn sàn

                                            Triêu hề ngô xuất

                                            Mộ hề ngô hoàn

                                            Hữu y hề chế kỹ,

                                            Hữu bội hề nhận lan

                                            Thát bài thanh hề b́nh hiểu chướng,

                                            Điền hộ lục hề chẩm t́nh than.

                                            Nhậm tha triều thị

                                            Nhậm tha sa mă

                                            Tri trần bất đáo thử giang san,

                                            U thảo Tống triều cung kiếm

                                            Cổ khâu Tấn đại y quan.

                                            Vương Tạ phong lưu

                                            Triệu Tào sự nghiệp,

                                            Toán văng cổ lai kim khanh tướng

                                            Trạch triện đài man

                                            Tranh như ngă trạo đầu nhất giác

                                            Hồng nhật tam can.



                                            Tạm dịch: (Bản dịch của Trúc Khê)


                                            Núi Na đá mọc chênh vênh,

                                            Cây tùm um, nước long lanh khói mờ.

                                            Đi về hôm sớm thẩn thơ,

                                            Ḿnh dư áo lá, cổ thừa chuỗi hoa.

                                            Non xanh bao bọc quanh nhà,

                                            Ruộng đem sắc biếc xa xa diễu ngoài.

                                            Ngựa xe vơng lọng thây ai,

                                            Nước non riêng chiếm, bụi đời khôn vương.

                                            Áo đai đời Tấn g̣ hoang,

                                            Kiếm cung triều Tống dưới làn cỏ xanh

                                            Sự đời bao xiết mong manh,

                                            Phong lưu Vương, Tạ, công danh Triệu, Tào

                                            Từ xưa khanh tướng ngôi cao,

                                            Đá mờ rêu phủ đă bao nhiêu rồi.

                                            Sao bằng ta được thảnh thơi,

                                            Giấc mai bừng tỉnh, mặt trời lưng không.



                                            Hán Thương nghe hát cho đó là một vị ẩn giả, bèn truyền thị thần đi theo vào động. Thấy trên vách đá có đề hai khúc ca "Ái miên" (Thích ngủ) và khúc "Ái kỳ" (Thích đánh cờ), thị thần xin mời tiều phu về triều.

                                            Tiều phu không bằng ḷng nói:

                                            - Nghiêm Tử Lăng không lấy chức Gián nghị ở Đông Đô mà đổi cái thú yên ba sông Đồng Lại. Khương Bá Duy không v́ họa đồ của Thiên tử mà làm nhơ cái cảnh sơn thủy Bành Thành.

                                            Sứ thần về tâu lại, nhưng Hán Thương bảo đi mời một lần nữa, mang theo một cỗ an xa, quyết mời cho kỳ được. Nhưng đến nơi chỉ thấy cửa động rêu mọc phủ cả, gai góc lấp mất đường đi, trên vách đá có hai câu thơ đề bằng nhựa cây:

                                            Kỳ La hải khẩu ngâm hồn đoạn,
                                            Cao Vọng đầu khách tứ sầu


                                            Nghĩa:

                                            Cửa biển Kỳ La hồn sẽ dứt,
                                            Đầu non Cao Vọng khách đeo sầu.


                                            Sứ thần về kể lại; Hán Thương nổi giận, khiến người đến đốt núi ấy. Chỉ thấy một con hạc đen từ trong núi bay bổng lên, liệng múa giữa không trung, mà không thấy giấu tích tiều phu đâu cả.

                                            Về sau, hai cha con họ Hồ là Quư Ly và Hán Thương đều bị xảy ra tai họa đúng như hai câu thơ báo trước của lăo tiều phu.
                                            Vạn Xuân

                                            Comment


                                            • #23
                                              Hà Đông sư tử




                                              Trần Tạo tự Quư Thường, người đời nhà Tống, quê ở Vĩnh Gia. Vợ của Trần họ Liễu vốn có tính ghen dữ ghê gớm. Quư Thường rất sợ vợ nhưng rất có ḷng tôn sùng đạo Phật. Hằng ngày ngồi đọc kinh, vợ lấy làm bực, la hét om ṣm, nhưng Trần vẫn điềm nhiên, không dám cự một tiếng.

                                              Tính của Trần cũng hào hoa, bằng hữu nhiều, nên ở nhà thường có yến tiệc. Để tăng phần hứng thú, long trọng của buổi tiệc, Trần chiều khách, mời kỹ nữ xướng ca. Liễu Thị trong pḥng mượn điều này, điều nọ, quát tháo om ṣm. Trần có lúc hốt hoảng, cầm gậy nơi tay bỏ rơi mất gậy. Bạn thân của Trần là Tô Đông Pha, nhân đó làm một bài thơ đùa cợt:

                                              Thùy tự Long Khâu cư sĩ hiền,

                                              Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.

                                              Hốt văn Hà Đông sư tử hống,

                                              Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên.



                                              Tạm dịch:

                                              Ai hiền bằng thầy đồ Long Khâu,

                                              Đọc kinh thuyết pháp suốt đêm thâu,

                                              Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,

                                              Kinh hoàng bỏ gậy rớt nơi đâu.



                                              "Hà Đông sư tử" chỉ người đàn bà ghen dữ tợn.

                                              Tô Đông Pha dùng hai tiếng "Hà Đông" là mượn câu thơ của Đỗ Phủ: "Hà Đông nữ nhi thân tính Liễu" (cô gái Hà Đông người họ Liễu) v́ vợ của Quư Thường cũng họ Liễu. Và tiếng "Sư tử" do lời trong kinh Phật: sư tử là chúa loài thú, mỗi khi rống lên th́ các thú vật đều khiếp đảm để vừa chỉ tính ghen dữ của Liễu Thị, vừa chỉ Quư Thường là một tín đồ đạo Phật.

                                              Tú Xương trong bài thơ vịnh cảnh lấy lẽ, có câu:

                                              Hậu hạ đă cam phiền cát lũy,
                                              Nhặt khoan c̣n ỏi tiếng Hà Đông.
                                              Vạn Xuân

                                              Comment


                                              • #24
                                                Lá thắm đưa duyên




                                                Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mạng, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.

                                                Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào th́ nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô pḥng giá lạnh.

                                                Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ng̣i nước:

                                                Nước chảy sao mà vội?

                                                Cung sâu suốt buổi nhàn.

                                                Ân cần nhờ lá thắm

                                                Trôi tuốt đến nhân gian.



                                                Nguyên văn:

                                                Lưu thủy hà thái cấp

                                                Cung trung tận nhật nhàn.

                                                Ân cần tạ hồng diệp.

                                                Hảo khứ đáo nhân gian.



                                                Chiếc lá chở bài thơ theo ḍng nước chảy xuôi ra ngoài ṿng cấm lũy. Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm ḍng nước chảy, Hàn bỗng nh́n thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm t́nh chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, đợi ḍng nước xuôi mới thả lá xuống cho trôi trở vào cung.

                                                Nghe oanh thấy liễu chạnh ḷng thương,

                                                Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.

                                                Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,

                                                Gởi cho ai đó nói không tường.


                                                (Bản dịch của Phan Như Xuyên)


                                                Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nh́n ḍng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.

                                                Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ, trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người tṛ chuyện, ư hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.

                                                Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của ḿnh ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của ḿnh vớt được cho vợ xem. Th́ ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.

                                                Cổ thi có bài: (*)

                                                Một đôi thi cú theo ḍng nước

                                                Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.

                                                Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng

                                                Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.



                                                Nguyên văn:

                                                Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,

                                                Thập tải ưu tư măn tố hoài.

                                                Kim nhật khước thành loan phượng lữ,
                                                Phương tri hồng diệp thị lương môi.



                                                Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:

                                                Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
                                                Cạn ḍng lá thắm, dứt đường chim xanh.


                                                hay:

                                                Dù khi lá thắm chỉ hồng,

                                                và:

                                                Nàng rằng hồng diệp xích thằng,
                                                Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.


                                                "Lá thắm", "Hồng diệp" đều do điển tích trên.
                                                Vạn Xuân

                                                Comment


                                                • #25
                                                  Lam Kiều




                                                  Lam Kiều là một cái cầu bắc trên sông Lam, thuộc tỉnh Thiểm Tây bên Tàu, tương truyền là nơi tiên ở.

                                                  Đời nhà Đường, triều Mục Tông (821-825), có một chàng nho sĩ tên Bùi Hàng, lều chơng đi thi bao lần đều hỏng. Một hôm, Bùi thuê đ̣ đi Tương Hán định sang ghé Ngọc Kinh để xem phong cảnh. Cùng đáp một chuyến đ̣ có một mỹ nhân tên Vân Kiều, sắc nước hương trời, con người đoan trang, thùy mị. Bùi sinh cảm mến, mong được giao duyên, mới mượn thơ thay lời, nhờ con nữ tỳ của giai nhân đưa hộ:

                                                  Kẻ Hồ, người Việt c̣n thương nhớ,

                                                  Huống cách người tiên chỉ bức mành.

                                                  Ví được Ngọc Kinh cùng nối gót,

                                                  Xin theo loan hạc đến mây xanh.


                                                  (Bản dịch của Phan Như Xuyên)


                                                  Nguyên văn:

                                                  Đồng vi Hồ Việt do hoài tưởng,

                                                  Huống ngộ thiên tiên cách cẩm b́nh.

                                                  Thắng nhược Ngọc Kinh triều hội khứ,

                                                  Nguyện tùy loan hạc nhập thành vân.



                                                  Vân Kiều xem thơ, vui vẻ mỉm cười.

                                                  Nhưng thơ đi mà tin chẳng lại, Bùi rất lo lắng, băn khoăn. Nhưng khi đ̣ sắp ghé bến, Bùi bỗng tiếp được thơ do con nữ tỳ của giai nhân đưa đến:

                                                  Uống rượu Quỳnh Tương trăm cảnh sinh,

                                                  Huyền Sương giă thuốc thấy Vân Anh.

                                                  Lam Kiều vốn thật nơi tiên ở,

                                                  Hà tất nhọc nhằn đến Ngọc Kinh.



                                                  Nguyên văn:

                                                  Nhất ẩm Quỳnh Tương bách cảnh sinh,

                                                  Huyền Sương đảo tận kiến Vân Anh.

                                                  Lam Kiều tự hữu thần tiên quật,

                                                  Hà tất khí khu thượng Ngọc Kinh.



                                                  Bùi không hiểu ư nghĩa ra sao, định hỏi; nhưng thuyền vừa ghé bến th́ Vân Kiều đă thoáng mất. Nghiền ngẫm hai câu thơ cuối, Bùi không đến Ngọc Kinh, mà hỏi ḍ người, t́m đến Lam Kiều.

                                                  Trời trưa nắng gắt, Bùi mệt mỏi, mồ hôi nhuễ nhoại. Ghé vào hàng nước, nghỉ chân, hỏi nước uống. Bà lăo chủ quán bảo người con gái đem nước ra. Nàng rất đẹp, trông dáng vẻ tựa Vân Kiều. Bùi hỏi, th́ ra nàng là em của Vân Kiều, tên Vân Anh.

                                                  Bùi Hàng mừng rỡ, cho là gặp duyên trời định, mới thuật lại cả hai bài thơ. Bà lăo cười, bảo:

                                                  - Hẳn là con Vân Kiều muốn xe duyên em nó cho cậu đó.

                                                  Bùi nghe nói lấy làm hớn hở. Nhưng bà lăo cho biết là hiện bà có cái cối, song thiếu chiếc chày ngọc để giă thuốc Huyền Sương, nếu Bùi t́m được chày th́ bà sẽ gả Vân Anh cho.

                                                  Bùi Hàng bằng ḷng. Nhưng đi t́m măi khắp nơi mà không biết ở đâu có chày ngọc. Ḷng buồn tha thiết. Tưởng hoàn toàn thất vọng, chàng đi lang thang. May mắn, một hôm, chàng gặp được tiên cho chiếc chày ngọc. Thế là duyên thành.

                                                  Sau cả hai vợ chồng Bùi Hàng đều tu thành tiên cả.

                                                  Những tác phẩm cổ văn của ta có nhiều đoạn dùng điển tích này:

                                                  Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều,
                                                  Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang.


                                                  (Đoạn trường tân thanh)

                                                  Chầy sương chưa nên cầu Lam,
                                                  Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?


                                                  (Đoạn trường tân thanh)

                                                  Chốn Lam Kiều cách nước mây,
                                                  Bùi Hàng chưa dễ biết đây chốn nào?


                                                  "Lam Kiều" chỉ chỗ tiên ở hay người đẹp ở, hoặc chỉ gặp duyên tốt đẹp... như gặp duyên với tiên.
                                                  Vạn Xuân

                                                  Comment


                                                  • #26
                                                    Đào yêu




                                                    Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn thuật cảnh Thúy Kiều sang thư pḥng người yêu là Kim Trọng, khi chàng này sắp sửa không c̣n giữ vẻ đứng đắn, Kiều mới khuyên ư trung nhân, có câu:

                                                    Rẽ cho thưa hết một lời đă nao!

                                                    Vẻ chi một đóa yêu đào!

                                                    Vườn hồng khi dám ngăn rào chim xanh.

                                                    Đă cho vào bực bố kinh,

                                                    Đạo tùng phu lấy chữ trinh làm đầu."

                                                    Thưa rằng: "Đừng lấy làm chơi,



                                                    "Yêu đào" nguyên lấy chữ "Đào yêu" trong Kinh Thi. Thơ "Đào yêu" gồm ba chương:

                                                    I

                                                    Đào chi yêu yêu,

                                                    Thước thước kỳ hoa.

                                                    Chi tử vu qui,

                                                    Nghi kỳ thất gia.



                                                    II

                                                    Đào chi yêu yêu,

                                                    Hữu phần kỳ thật.

                                                    Chi tử vu qui.

                                                    Nghi kỳ gia thất.



                                                    III

                                                    Đào chi yêu yêu,

                                                    Kỳ điệp trăn trăn.

                                                    Chi tử vu qui.

                                                    Nghi kỳ gia nhân.



                                                    Tạm dịch:

                                                    I

                                                    Mơn mởn đào non,

                                                    Rực rỡ nở hoa.

                                                    Cô ấy lấy chồng,

                                                    Êm ấm cửa nhà.



                                                    II

                                                    Mơn mởn đào non,

                                                    Lúc lỉu quả sai.

                                                    Cô ấy lấy chồng,

                                                    Êm ấm nhà ai.



                                                    III

                                                    Mơn mởn đào non,

                                                    Lá xanh rườm rà.

                                                    Cô ấy lấy chồng,

                                                    Thuận với người nhà.


                                                    (Bản dịch của Lê Văn Ḥe)


                                                    "Yêu đào" tức là cây đào non mơn mởn. Người ta ví một người con gái dậy th́ đến tuổi lấy chồng với "Yêu đào".

                                                    Trong "Đoạn trường tân thanh", đoạn Kim Trọng và Thúy Kiều tái hợp, Thúy Vân khuyên chị kết duyên lại cùng Kim Trọng, cũng có câu: "Đào non, sớm liệu, xe tơ kịp th́"
                                                    Vạn Xuân

                                                    Comment


                                                    • #27
                                                      Động Đào Nguyên




                                                      Đào Nguyên c̣n gọi là động Bích.

                                                      Đây là chỗ tiên ở.

                                                      Tương truyền đời nhà Tấn (265-419), có người chài cá ở huyện Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi ngược ven theo bờ suối. Càng đi xa chừng nào th́ thấy có nhiều hoa đào trôi theo ḍng nước đổ xuống. Đến một quăng, bỗng thấy trước mặt hiện ra một rừng đào. Hoa đào đỏ rực rỡ làm cho ngư phủ càng thấy say sưa thích thú. Định co người ở gần đấy nên bỏ thuyền, lên bờ. Vượt qua rừng đào, đến một ngọn núi. Dưới chân núi có một cửa hang nhỏ hẹp, vừa chui được một người. Bên trong thấp thoáng có ánh sáng.

                                                      Gợi tính ṭ ṃ, chàng lách ḿnh vào cửa hang. Lúc đầu, cửa hang c̣n hẹp, sau rộng dần, rồi cả một thế giới hiện ra: ruộng vườn tươi tốt, nhà cửa thôn ấp liên tiếp nhau; tiếng gà, tiếng chó nghe rơ mồn một; thanh niên thiếu nữ đều say sưa công việc đồng áng. Trên mặt mọi người hiện nét vui tươi chất phác hồn nhiên. Người già, con trẻ đều có vẻ ung dung thanh thản.

                                                      Những người ở đây thấy chàng ngư phủ th́ lấy làm kinh ngạc hỏi: làm sao đến được chốn này? Ngư phủ tŕnh bày sự thực. Các bực phụ lăo đem vợ con ra chào mừng khách lạ, dọn cơm rượu đăi khách. Ngư phủ ăn uống lấy làm ngon lạ, v́ tuy cơm rượu mà tính chất khác thường.

                                                      Những bực phụ lăo lại nói:

                                                      - Tổ tiên chúng tôi tránh loạn đời Tần, đem cả gia đ́nh vào ở đây, từ đó cách biệt với bên ngoài. Hiện nay, chúng tôi không c̣n biết nhà Hán, huống hồ là nhà Ngụy, và nhà Tấn.

                                                      Cuối cùng, họ lại dặn ngư phủ: sau khi ra khỏi chốn này, xin đừng cho ai biết có họ ở đây.

                                                      Người đánh cá ở chơi một hôm rồi xin cáo biệt.

                                                      Từ đời nhà Tần (221 trước D.L.) đến nhà Tấn (419 sau Dương lịch) mà họ đến đây tránh nạn kể ra có trên sáu trăm năm. Người đánh cá cho ḿnh may mắn đă được gặp tiên. Nên khi trở về, nhiều người đến thăm hỏi, trước c̣n t́m cách giấu nhưng cuối cùng chuyện thấu đến quan Thái Thú sở tại, ngư phủ đành phải thuật cả việc lại.
                                                      Có tính hiếu kỳ, viên Thái Thú sai người đi theo chàng ngư phủ t́m lại động Đào Nguyên, nhưng hai người bị lạc đường đành phải trở về.

                                                      Trong truyện "Hoa tiên" của Nguyễn Huy Tự có câu: "Nào hay là khách Đào Nguyên đă về".

                                                      Trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du đoạn thuật lại lời Thúy Kiều nói với Kim Trọng trong khi nhà vắng, nàng lén sang chỗ ở của chàng, có câu: "Xắn tay mở khóa động Đào".

                                                      "Động Đào" là động Đào Nguyên, Kiều dùng lối thậm xưng, đề cao chỗ ở của t́nh nhân như một cơi tiên; và nàng cũng vinh hạnh được vào... cơi tiên ấy.

                                                      Trong "Tần cung nữ oán Bái Công văn" của Nguyễn Hữu Chỉnh (?) có câu: "Nếu tuổi xanh chẳng nhuốm bụi hồng, chiếc ngư phủ đă đưa vào động Bích".

                                                      "Động Đào", "Đào Nguyên", "Động Bích" đều do điển tích trên.
                                                      Vạn Xuân

                                                      Comment


                                                      • #28
                                                        Mười bài thơ đoạn trường




                                                        Thúy Kiều, con của viên ngoại họ Vương, người ở Bắc Kinh. Nàng yêu kiều diễm lệ, có một thái độ phong lưu, tính thích hào hoa, thích âm luật, sở trường về hồ cầm. Vốn đa cảm, giàu t́nh, nàng sáng tác bài "Bạc mệnh oán" để hát theo khúc hồ cầm, khi gảy lên nghe rất năo nùng, ai cũng sa nước mắt.

                                                        Một hôm, nhân tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng hai em đi tảo mộ và nhân tiện xem hội Đạp Thanh. Lúc trở vê, Kiều nh́n bên ḍng nước có một nấm mồ hoang cô lạnh, hỏi ra mới biết đó là mồ của nàng ca nhi tên Lưu Đạm Tiên.

                                                        Trước sống mua vui cho khách làng chơi, chết làm ma không chồng trong nấm mồ vô chủ.

                                                        Kiều cảm động, rơi nước mắt, khóc cho kiếp hồng nhan.

                                                        Về nhà, đêm khuya vắng vẻ, nàng cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm cơi ḷng. Nghĩ phận người lại nghĩ phận ḿnh, hay kiếp hồng nhan rồi phải chung mạng bạc!

                                                        Nàng tựa ghế thiu thiu, rồi ngủ say lúc nào không biết. Giữa lúc ấy, thấy một thiếu nữ tiến đến chào và hỏi rằng:

                                                        - Này chị Thúy Kiều, đương lúc ngày xuân phơi phới sao không hỏi liễu t́m hoa, mà lại chịu ngủ ở nhà như vậy?

                                                        Kiều nghe nói, vội vàng đứng dậy, sửa áo đón mời, nh́n thấy thiếu nữ má đào, môi hạnh, dáng điệu như tiên. Sau khi hai bên cùng ngồi, Kiều vội hỏi:

                                                        - Chẳng hay nương tử ở tại cung nào mà xe loan th́nh ĺnh hạ cố đến đây?

                                                        Thiếu nữ tươi cười đáp:

                                                        - Thiếp đây nào phải ai đâu xa lạ, nhà thiếp ở phía tây cầu bên ḍng nước chảy. Chiều nay chị đă văng qua, sao mà mau quên như thế? Hôm nay, thiếp ở trong "Hội đoạn trường", trước mặt Giáo Chủ, thiếp có khen đến tài hoa của chị. Giáo Chủ rất vui mừng và cho biết rằng chị cũng có chân trong hội ấy. Rồi người trao cho thiếp mười cái đầu đề đoạn trường, bảo đem lại cho chị vịnh. Vậy yêu cầu chị thảo ngay để cho thiếp xếp vào tập "Đoạn trường sách".
                                                        Kiều hỏi:

                                                        - Em xin lănh ư, nhưng xin chị cho biết Đoạn Trường Giáo Chủ là ai? Có thể đưa em đến yết kiến được không?

                                                        Thiếu nữ mỉm cười đáp:

                                                        - Lúc này chị không cần hỏi kỹ, một ngày khác, chị sẽ hiểu rơ đấy mà.

                                                        Đoạn, nàng trao tập đầu đề. Kiều tiếp lấy, mở ra xem. Đây là mười đầu đề: Tích đa tài, Liên bạc mạng, Bi kỳ lộ, Ức cố nhân, Niệm nô kiều, Ai thanh xuân, Ta kiển lộ, Khổ linh lạc, Mộng cố viên, Khốc tương tư.

                                                        Kiều xem xong, vui vẻ nói:

                                                        - Đầu đề rất hay, vậy em xin thảo ngay. May bài của em chiếm khôi nguyên trong tập, th́ khỏi phải phụ công chị giới thiệu.

                                                        Vừa nói vừa viết thao thao bất tuyệt. Chỉ trong giây lát, đủ cả mười bài từ khúc theo lối hồi văn:


                                                        I

                                                        Tích đa tài

                                                        Tờ oanh nỡ bỏ hoài,

                                                        Hợp hoan ngày tháng phổ cho ai?

                                                        Tương tư ḿnh gác để ngày mai.

                                                        Để ngày mai!

                                                        Tiếc cho tài!



                                                        II


                                                        Thương bạc mạng

                                                        Đêm đêm một ḿnh lạnh,

                                                        Nhà vàng nghe nói để A Kiều

                                                        Một mặt nghe chừng khó hân hạnh.

                                                        Khó hân hạnh!

                                                        Thương bạc mạng!



                                                        III

                                                        Thương kỳ lộ

                                                        Khúc đường quanh co thật khó đi,

                                                        Đường khổ chưa bằng tâm em khổ!

                                                        Một bước sai thời ngàn bước lỡ!

                                                        Ngàn bước lỡ!

                                                        Thương kỳ lộ.



                                                        IV

                                                        Nhớ cố nhân

                                                        Tóc bạc nhưng t́nh vẫn chưa thân!

                                                        Cần ǵ trước phải lên tận mây xanh!

                                                        Cưỡi xe đội nón mới là chân

                                                        Mới là chân!

                                                        Nhớ cố nhân!



                                                        V

                                                        Nhớ cô hầu!

                                                        Soi gương hồn biến đâu?

                                                        Ta thấy ai vẫn c̣n than thở!

                                                        Son phấn thôi đừng giễu cợt nhau.

                                                        Giễu cợt nhau.

                                                        Nhớ cô hầu!



                                                        VI


                                                        Xót thanh xuân

                                                        Cành hoa giống mỹ nhân,

                                                        Xuân sắc núi rừng, ôi đẹp đẽ!

                                                        Muốn mượn mưa xuân tưới hoa thần.

                                                        Tưới hoa thần!

                                                        Xót thanh xuân!



                                                        VII

                                                        Than cảnh ngộ

                                                        Giấc mơ tỉnh rồi đó,

                                                        Đâu phải gặp ai cũng kêu thương.

                                                        Chỉ v́ lầu son lối cũ chưa tỏ.

                                                        Lối cũ chưa tỏ!

                                                        Than cảnh ngộ!



                                                        VIII

                                                        Khổ linh lạc

                                                        Thân nầy hết đường bước,

                                                        Ĺa cành hoa rụng khắp đông tây.

                                                        Nhạn lạc đàn bay quanh hiên trước.

                                                        Quanh hiên trước!

                                                        Khổ linh lạc!



                                                        IX

                                                        Mơ vườn xưa

                                                        Hồn về cậy ai đưa?

                                                        Cảnh cũ cúc tùng không thấy nữa.

                                                        Bạch vân phương thảo lặng như tờ.

                                                        Lặng như tờ!

                                                        Mơ vườn xưa!



                                                        X

                                                        Khóc tương tư

                                                        Nghẹn ngào đă nhiều khi,

                                                        Ḷng đau không giữ nổi tiếng khóc.

                                                        Đất cũ t́nh thâm luống sầu bi.

                                                        Luống sầu bi!

                                                        Khóc tương tư!



                                                        Thúy Kiều viết xong 10 bài, trao lại thiếu nữ. Xem qua, thiếu nữ tấm tắc khen rằng:

                                                        - Quả thực mỗi chữ khác ǵ ôm mối hận. Nếu đem vào tập "Đoạn trường", chắc rằng sẽ đoạt giải nhất.

                                                        Đoạn thiếu nữ đứng dậy, từ giă. Kiều nói:

                                                        - Hôm nay chị đă có ḷng chiếu cố, đôi ta ắt có tiền duyên, sao lại nỡ vội vàng như vậy? Vả lại lần này ly biệt, biết bao giờ lại được gặp nhau.

                                                        Thiếu nữ nói:

                                                        - Nếu chị t́nh thâm mà thiếp cũng không t́nh bạc, th́ sông Tiền Đường đó, ta sẽ hẹn về sau.

                                                        Nói xong đi thẳng.

                                                        Kiều chạy theo giữ lại th́ bỗng có trận gió làm khua động bức mành. Nàng sực tỉnh, mới hay là giấc chiêm bao.
                                                        Về sau, Kiều phải 15 năm lưu lạc, thân thế lắm nỗi đoạn trường. Cuối cùng trầm ḿnh dưới sông Tiền Đường, ứng như điềm mộng.

                                                        Truyện trên viết theo Thanh Tâm Tài Nhân. Cụ Nguyễn Du dựa theo, viết thành quyển "Đoạn trường tân thanh" bằng thể lục bát. Đoạn này, Nguyễn Du diễn tả:

                                                        Này mười bài mới, mới ra,

                                                        Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.

                                                        Kiều vâng lĩnh ư đề bài,

                                                        Tay tiên vẩy đủ mười khúc ngâm.



                                                        "Mười khúc ngâm" tức 10 bài "đoạn trường" đó.
                                                        Vạn Xuân

                                                        Comment


                                                        • #29
                                                          Khúc Hậu Đ́nh Hoa




                                                          "Hậu Đ́nh Hoa" nghĩa là "Hoa ở sân sau". Đây là một tập thơ chọn lọc rồi phổ thành âm điệu cho các cung nữ, phi tần hát của Trần Hậu chủ đời Hậu Trần, thời Nam Bắc triều (420-587).

                                                          Trần Hậu chủ (583-587) tên Trần Thúc Bảo, là một ông vua nổi tiếng tài tử phong lưu. Hậu cung lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nhân tuyệt sắc. Trong số đó có hai nàng là Khổng Quư Tần và Trương Lệ Hoa được nhà vua sủng ái.
                                                          Hai nàng Quư Tần và Lệ Hoa chẳng những có sắc đẹp lộng lẫy, người mẫn tiệp lại có tài thi phú, thường cùng Hậu chủ cùng các bực thi văn tài danh trong triều xướng họa mỗi khi có yến tiệc linh đ́nh.

                                                          V́ yêu người đẹp tài hoa nên Hậu chủ phải tổn phí nhiều tiền của, cho dựng trước điện Quang Chiếu ba ṭa lầu lớn. Ba ṭa lầu này dùng toàn bằng gỗ trầm hương. Cửa lớn, nhỏ đều dát toàn ngọc ngà, rèm châu, trướng gấm lộng lẫy. Ba lầu ấy đặt tên là Lâm Xuân, Kết Ỷ và Vọng Tiên (có bản chép là Vọng Xuân).

                                                          Dưới lầu, trồng toàn cây quư, hoa lạ, ngào ngạt mùi hương. Lại chất đá xây thành núi gọi là núi Nghinh Phong; tháo nước làm thành hồ gọi là hồ Ngoạn Nguyệt.

                                                          Hằng đêm, Trần Hậu chủ bày yến tiệc, họp các mỹ nhân uống rượu tại lầu Lâm Xuân cùng với các học sĩ ngâm thơ xướng họa. Một khi có những bài thơ hay, thích, nhà vua cho chép lạai thành tập và phổ vào khúc đàn để những cung nữ hát xướng suốt đêm, nên được gọi là Trường Dạ Ẩm.

                                                          Những bài thơ, những khúc nhạc lả lướt ấy được chép thành 3 tập là: Nghinh Xuân nhạc, Ngọc Thu và Hậu Đ́nh Hoa. Riêng tập Hậu Đ́nh Hoa toàn sưu tập những bài bay bướm, bóng bẩy, dâm đăng. Chính Trần Hậu chủ cũng làm một khúc hát Hậu Đ́nh Hoa:

                                                          Nguyên tác là:

                                                          Lệ vũ phương lâm đối cao các

                                                          Trân trang điểm chất bản khuynh thành,

                                                          Ánh hộ ngưng kiều sa bất tiến,

                                                          Xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh.

                                                          Yêu cơ kiểm tự hoa hàm lệ,

                                                          Ngọc thu lưu quang chiếu Hậu Đ́nh.



                                                          Nghĩa:

                                                          Bóng rợp hương thơm chốn lâu các,

                                                          Nghiêng thành vẻ đẹp với mầu tươi.

                                                          Ngoài cửa dịu dàng khoan dạo bước

                                                          Trước màn chào đón mỉm môi cười,

                                                          Má hồng tựa đóa hoa đầy móc

                                                          Cây ngọc sân sau chiến sáng ngời


                                                          (Bản dịch của Phan Thế Roanh)


                                                          Suốt đêm ngày, Trần Hậu chủ bỏ cả việc triều chính, say sưa bên cạnh Trương Lệ Hoa, Khổng Quư Tần và những mỹ nữ ca hát bên tiệc rượu làm cho đất nước càng suy đồi.

                                                          Vua nhà Tùy (589-617) là Văn Đế thừa dịp nhà Hậu Trần suy vi, sai tướng Lư Uyên và Dương Tố đem quân sang vây Đại Thành. Giữa lúc ấy, Trần Hậu chủ c̣n đương say khươt trên lầu Kết Ỷ.

                                                          Quân Tùy đánh phá, đột nhập thành. Quân Hậu Trần chạy tán loạn. Có người phải lấy nước đổ vào mặt Trần Hậu chủ cho tỉnh dậy và yêu cầu ra hàng để cứu quân lính khỏi chết oan. Hậu chủ nói:

                                                          - Sau lầu, trẫm có đào sẵn giếng sâu.

                                                          Đoạn, Hậu chủ dắt Trương Lệ Hoa, Khổng Quư Tần và độ mươi mỹ nhân khác đến giếng, ôm nhau nhảy xuống tránh nạn.

                                                          Quân Tùy lùng t́m nhà vua trong nội cung không thấy, liền ra sau điện Cảnh Dương, thấy có giếng sâu và có tiếng người th́ thầm ở dưới, liền cho thả dây xuống ḍ. Bỗng thấy dây nặng, chúng lấy làm lạ, kéo lên.

                                                          Th́ ra hai nàng tiên tuyệt sắc Khổng Quư Tần và Trương Lệ Hoa nắm đầu dây ấy mà lên. Một tên lính già chỉ hai nàng nói:

                                                          - Trần Hậu chủ chết và mất nước cũng v́ hai ả này ta chẳng nên mó đến.

                                                          Quân Tùy nghe nói liền đâm chết cả hai người đẹp vứt xác xuống giếng, lấp đá lại. Giếng ấy về sau gọi là giếng "Son Phấn".

                                                          Riêng về Trần Hậu chủ, có sách nói là được cứu sống, nhưng sau thấy quân sĩ giết mấy hai nàng Khổng, Trương nên buồn rầu, sinh bịnh nhớ thương mà chết.

                                                          Nhà Hậu Trần bị diệt vong, người ta cho rằng sở dĩ nước mất nhà tan cũng do khúc hát "Hậu Đ́nh Hoa" ấy, v́ có tính cách ủy mỵ, dâm dật. "Hậu Đ́nh Hoa" chỉ về khúc ca vong quốc.

                                                          Đỗ Mục, một thi hào nổi tiếng đời nhà Đường (618-907), nhân một đêm ghé thuyền trên bến Tần Hoài, gần một quán rượu. Đêm đă khuya, hơi sương mù như khói tỏa trên mặt nước. Băi cát chiếu sáng lồng trong ánh trăng xanh. Bấy giờ trong quán, khách c̣n đang say sưa ăn uống, bên cạnh những ả buôn son bán phấn hát xướng để mua vui cho khách. Lắng nghe giọng hát réo rắt bên kia sông đưa sang, Đỗ Mục xúc cảnh sinh t́nh:


                                                          Khói bay, nước lạnh, khói trăng pha,

                                                          Thuyền đậu sông Tần cạnh Tửu gia.

                                                          Hận nước gái buôn không biết rơ,

                                                          Cách sông c̣n hát "Hậu Đ́nh Hoa".


                                                          (Bản dịch của Quốc Ấn)


                                                          Nguyên văn:

                                                          Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,

                                                          Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia.

                                                          Thương nữ bất tri vong quốc hận,

                                                          Cách giang do xướng "Hậu Đ́nh Hoa".



                                                          Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều ở nước ta, cũng có câu:

                                                          Vườn Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,

                                                          Gác Lâm Xuân điệu ngă Đ́nh Hoa.

                                                          Thừa ân một giấc canh tà,

                                                          Tờ mờ nét ngọc, lặp ḷe vẻ son.
                                                          Vạn Xuân

                                                          Comment


                                                          • #30
                                                            Gương vỡ lại lành




                                                            Trung Quốc, đời nhà Trần, người hầu cận Thái Tử là Từ Đức Ngôn có t́nh với Nhạc Xương công chúa.
                                                            Khi nhà Trần suy loạn, Từ bảo công chúa:

                                                            - Nước mất, nàng tất lọt vào nhà quyền quư. Nếu t́nh duyên chưa dứt th́ c̣n có ngày được gặp nhau.
                                                            Đoạn, bẻ tấm gương làm đôi, mỗi người giữ một mảnh hẹn nhau đến ngày thượng nguyên sẽ đem gương đến kinh đô bán để t́m nhau.

                                                            Bấy giờ, giặc đánh vào đế đô. Từ chạy thoát, c̣n công chúa bị tướng giặc là Việt Công bắt ép làm vợ. Đến ngày rằm tháng giêng, Từ đem mảnh gương ra chợ bán, thấy có người cùng bán một mảnh gương giống của ḿnh. Lấy hai mảnh gương ghép lại th́ liền nhau như một. Từ bèn gởi cho người bán gương, nhờ đem về cho chủ mảnh gương ấy và kèm theo một bài thơ:

                                                            Người đi gương cũng đi,

                                                            Gương về người chưa về.

                                                            Chị Hằng đâu chẳng thấy,

                                                            Chỉ thấy ánh trăng ḷe.



                                                            Nguyên văn:

                                                            Cảnh dữ nhơn câu khứ,

                                                            Cảnh quy nhơn vị quy

                                                            Vô phục Hằng Nga ảnh,

                                                            Không lưu minh nguyệt huy.



                                                            Nhạc Xương công chúa đọc thơ khóc rống lên. Việt Công hỏi, công chúa thuật lại cả. Việt công lấy làm cảm động, thương t́nh bèn cho cả hai người tái hợp.

                                                            Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du có câu:

                                                            Bây giờ gương vỡ lại lành,
                                                            Khuôn thiêng lừa lọc đă dành có nơi.
                                                            Vạn Xuân

                                                            Comment


                                                            • #31
                                                              Giấm chua




                                                              "Giấm chua" để chỉ đàn bà ghen.

                                                              Hoàng đế nước Kim rất yêu quư hai nàng cung phi là Lệ Cẩm tây cung và Ngọc Sương ái phi. Hoàng hậu lấy làm ghen tức nhưng v́ thấy nhà vua quá sủng ái hai nàng, nên đành phải câm lặng.

                                                              Khi nhà vua lâm trọng bịnh, trước giờ lâm chung, trối lại với hoàng hậu cùng quần thần là khi nhà vua chết, phải chôn sống hai nàng ái phi theo vua.

                                                              Vài hôm sau, nhà vua chết. Hoàng hậu tuân theo di ngôn của nhà vua, nhưng bà lại nghĩ rằng: nếu chôn hai vị phi tần tuyệt sắc nguyên vẹn này th́ khi xuống âm cung, nhà vua lại cũng âu yếm say sưa hai nàng như trước. Cái cảnh giao hoan này như diễn ra trước mắt hoàng hậu càng làm cho máu ghen thêm sôi sục hơn nữa. Bà quát tháo ầm ĩ, truyền cung phi thị vệ khoét đôi mắt, xẻo mủi, cắt đôi má mơn mởn của hai nàng Lệ Cẩm và Ngọc Sương. Làm như thế cốt để xuống âm cung, nhà vua sẽ ghê tởm mà không dám nh́n đến nữa.

                                                              Nhưng, hoàng hậu ngắm nghía thấy hai nàng c̣n đẹp. Mất mắt, mất mũi, mất má đào nhưng nước da hai nàng vẫn trắng nơn nà, thân h́nh cân đối, diễm lệ làm bà vẫn c̣n ghen. Bà mới nghĩ ra một cách làm hủy hoại tiêu ṃn nhan sắc của hai nàng mới hả ḷng. Bà đem ngâm hai nàng vào chum giấm chua rồi mới cho chôn theo nhà vua. Bấy giờ, hoàng hậu mới yên tâm.

                                                              Trong "Lư phu nhân truyện" có chép:

                                                              Đời nhà Đường (618-907), Pḥng Huyền Linh làm đến chức Tể Tướng, có vợ là Lư Thị. Ông một niềm yêu mến vợ vô cùng, không lấy một t́ thiếp nào cả. Người ngoài cho thế là tại ông sợ vợ ghen.

                                                              Vua Đường Thái Tông muốn thử Lư phu nhân, một hôm cho hoàng hậu gọi nàng vào và bảo:

                                                              - Theo phép thường, các quan to vẫn có t́ thiếp. Quan nhà ta tuổi đă cao, vua muốn ban cho một người mỹ nhân.

                                                              Lư Thị nhất quyết không bằng ḷng. Vua nổi giận, gắt:

                                                              - Nhà ngươi không ghen th́ sống, ghen th́ chết.

                                                              Đoạn sai người đưa cho một chén giấm, giả làm chén thuốc độc, phán rằng:

                                                              - Nếu vậy th́ phải uống chén thuốc độc này.

                                                              Lư Thị không ngần ngại chút nào, cầm chén uống ngay.

                                                              Vua thấy thế, nói:

                                                              - Ta cũng phải sợ, huống chi là Huyền Linh.

                                                              Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn nói về Kiều khi ở với Thúc Sinh, nàng biết chàng đă có vợ nên lấy làm lo cho thân phận ḿnh mà tha thiết nói với Sinh:

                                                              Như chàng có vững tay co,
                                                              Mười phần cũng đắp điếm cho một vài.
                                                              Thế trong dầu lớn hơn ngoài,
                                                              Trước hàm sư tử gửi người đằng la.
                                                              Cúi đầu luồn xuống mái nhà,
                                                              Giấm chua lại tội bằng ba lửa hồng.



                                                              "Giấm chua" chỉ sự ghen tuông của người vợ cả.
                                                              Vạn Xuân

                                                              Comment


                                                              • #32
                                                                Cái "gia gia"




                                                                Cuối đời nhà Thương (1783-1154 trước D.L.) vua Trụ hoang dâm vô đạo, tàn hại lê dân, người người oán giận.

                                                                Văn Vương là Cơ Xương, vốn là một chư hầu của nhà Thương, nhân từ đức hạnh, được các chư hầu và dân chúng kính phục. Văn Vương lại có một người tôi tài giỏi là Khương Tử Nha pḥ tá làm cho chính trị trong nước ngày càng hưng vượng. Văn Vương chết, truyền ngôi cho con là Cơ Phát, lấy hiệu Vơ Vương.

                                                                Sau Vơ Vương nghe lời quần thần, hội chư hầu đem binh phạt Trụ mong cứu dân chúng thoát cảnh lầm than. Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc nghe thấy, ra nắm dây cương ngựa của Vơ Vương, nói rằng:

                                                                - Cha chết chưa chôn mà đă chăm việc chinh chiến, thế có gọi là hiếu được không? Bầy tôi giết vua để cướp nước, th́ có gọi là nhân được không?

                                                                Vơ Vương bảo:

                                                                - Vua Trụ hoang dâm vô đạo, sát hại lê dân làm giận ḷng người, trái ư trời. Nếu ta thủ phận, ngồi nh́n sự hà khắc của vua Trụ th́ muôn dân c̣n trông cậy vào đâu! Hơn nữa, giang san có riêng ǵ của vua Trụ, ngày xưa vua Thành Thang chẳng chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ để dựng nên nhà Thương đó sao?

                                                                Bá Di, Thúc Tề chẳng nghe, cho Vơ Vương là bội chúa. Những cận thần của Vơ Vương tức giận, muốn giết cả hai. Tử Nha can:

                                                                - Không nên. Hai ông là người nghĩa.

                                                                Đoạn, bảo quân lính đẩy hai ông ra.

                                                                Sau Vơ Vương thắng trận, Trụ Vương thiêu ḿnh, lập thành nhà Chu, các chư hầu đều thần phục. Bá Di, Thúc Tề lấy làm hổ thẹn, coi thóc gạo cũng là của nhà Chu mà không ăn nữa. Hai ông lên ẩn ở núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, và làm bài hát "Thái Vi" (hái rau vi) rằng:

                                                                Lên núi Tây Sơn chừ, ta hái rau vi.

                                                                Kẻ bạo thay bạo chừ, biết phải trái ǵ.

                                                                Thần Nông, Ngu, Hạ đă qua chừ ta biết đâu mà quy y.

                                                                Đành chịu vậy chừ, vận mạng ta suy.



                                                                Nguyên văn:

                                                                Đăng bỉ Tây Sơn hề thái kỳ vi hĩ,

                                                                Dĩ bạo dịch bạo hề bất tri kỳ phi hĩ.

                                                                Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một bề ngă an thích quy hĩ.

                                                                Vu ta tồ hề mạng chi suy hĩ.



                                                                Nhưng một hôm có người bảo hai ông:

                                                                - Đất bây giờ là đất của nhà Chu, thiên hạ là thiên hạ của nhà Chu, hai ông đă chê, không ăn cơm gạo nhà Chu mà hái rau vi của giang san nhà Chu th́ có khác ǵ.

                                                                Hai ông cho là có lư nên từ ấy nhịn ăn mà chết.

                                                                Tương truyền, hai ông v́ uất ức, oan hồn chưa tan nên biến thành một loại chim, thường gào thét một giọng bi thảm:

                                                                - "Bất thực Túc Chu gia... Bất thực Túc Chu gia"

                                                                Người ta bảo đó là chim Đa Đa do âm "gia gia" mà ra.

                                                                Trong bài "Qua đèo ngang tức cảnh" của bà Huyện Thanh Quan, có câu:

                                                                Nhớ nước đau ḷng con quốc quốc

                                                                Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.



                                                                Nguyễn Công Trứ có làm bài thơ "Vịnh Di, Tề":

                                                                Danh chẳng màng, lợi cũng chẳng mê.

                                                                Ấy gang hay sắt hỡi Di, Tề?

                                                                Gặp xe vua Vơ tay dừng lại,

                                                                Thấy thóc nhà Chu mặt ngoảnh đi.

                                                                Cô Trúc hồn về sương mịt mịt,

                                                                Thú dương danh tạc đá tri tri.

                                                                Cầu nhân chẳng đặng nhân mà chớ,

                                                                Chẳng trách ai chi, chẳng oán chi
                                                                Vạn Xuân

                                                                Comment


                                                                • #33
                                                                  Hồ Than Thở





                                                                  Hồ nằm về phía đông bắc thành phố Đà Lạt (khoảng 5 cây số). Nơi đây trước kia là một vùng hoang vu, giang sơn của những loài thảo mộc, cầm thú nhưng đă mang một sự tích bi hùng do ḷng ái quốc của đôi trai tài gái sắc nước Việt.

                                                                  Cuối thu năm 1788, quân Thanh lấy cớ ủng hộ ngai vàng vua Lê sang xâm chiếm Việt Nam. Khắp trời Nam, tiếng loa rộn ră thúc giục các chàng trai tráng hiên ngang nhập ngũ dưới bóng cờ Tây Sơn để tiến ra Bắc Hà, quét sạch quân xâm lược.

                                                                  Lời hịch chiêu mộ đă đến tai Hoàng Tùng, chàng tráng sĩ đất Viễn Hương.

                                                                  Hoàng vốn ḍng dơi danh gia thế phiệt. Ông cha trước kia v́ không chịu nổi chế độ hà khắc của quân Minh (đời nhà Hồ) nên đă bồng bế, gồng gánh nhau t́m đường sống tự do. Đến đây, thấy cảnh hoang vu tịch mịch, non xanh, nước biếc, hợp với ḷng phóng khoáng, ẩn dật của ḿnh nên chọn làm nơi di dưỡng. Và, đặt tên Viễn Hương để ghi dấu cho một hoàn cảnh mới, cho con cháu sau này nhớ việc hồi hương.

                                                                  Trước tiếng gọi của núi sông, chàng họ Hoàng cương quyết ra đi. Nhưng trước khi lên đường, Hoàng hẹn gặp người yêu là Mai Nương để cùng đôi câu tiễn biệt. Biết đâu chiến sĩ "một ra đi là không trở về".
                                                                  Mai Nương là con một vị thổ ty sơn cước. Nàng đẹp và duyên dáng; v́ may mắn được Hoàng cứu thoát tai nạn nên người ân trở thành bạn t́nh, rồi nhận lời gá nghĩa kết duyên. Đôi bạn định xuân sang khi hoa đào khoe sắc thắm th́ sẽ xin gia đ́nh cử hành hôn lễ. Nhưng hôm nay ... nơi hẹn của Hoàng được định trong rừng Kỳ Ngộ, bên bờ suối Dịu Hiền.

                                                                  Gặp nhau, sau khi nói qua cho Mai Nương biết ư định của ḿnh, Hoàng Tùng đau đớn ngồi trầm lặng. Bên nước, bên t́nh, dù con người khí khái thế mấy cũng không khỏi quyến luyến, bâng khuâng.

                                                                  Sự trầm lặng của Hoàng làm cho Mai Nương hiểu lầm. Nàng tưởng người yêu hoài nghi ḷng trung trinh của nàng. Dịu dàng, nàng hẹn với chàng là hôm sau cũng giờ này, tại đây, nàng sẽ có quà tặng người bạn t́nh anh dũng trước khi xách kiếm ra đi.

                                                                  Nhưng hôm sau...

                                                                  Mai Nương đến trước giờ hẹn. Nàng ngồi bên ḍng suối than thở cho duyên kiếp bẽ bàng. Rồi muốn cho người yêu hiểu ḷng nàng để dứt mối băn khoăn, nàng thấy chỉ c̣n cái chết mới để cho chàng yên tâm rằng Mai Nương của chàng bao giờ cũng là vợ của chàng, dù sau này chàng vinh quang trở về hay đă ngă gục giữa chiến trường... Nghĩ vậy, nàng khóc lóc một lúc, gọi tên người yêu mấy lần, đoạn nhắm mắt nhảy xuống ḍng nước.

                                                                  Hoàng Tùng đến đúng giờ hẹn. Nhưng lạ thay, chàng ngơ ngác không t́m ra chỗ cũ. Th́ ra, cảm ḷng người liệt nữ, chim muông cây cỏ trong rừng đều khóc, nước chảy xuống nơi Mai Nương tuẫn tiết làm thành một giếng sâu, và hai bên đầu suối bít lại. Nơi Mai Nương trầm ḿnh bỗng biến thành một hồ rộng răi, im lặng bên rừng Kỳ Ngộ.

                                                                  Sau khi xác nàng nổi lên, dân làng hiểu chuyện lấy làm cảm động, đặt tên hồ này là hồ Than Thở để ghi lại phút cuối cùng của người sơn nữ đă hy sinh cuộc đời cho người yêu yên tâm, làm tṛn nghĩa vụ.

                                                                  Một thi sĩ thương xót cho cảnh ngộ của đôi trai tài gái sắc trung trinh, nên diễn thành một bài trường ca nhẹ nhàng, ai oán:


                                                                  Nhớ thuở ấy ḷng đau khôn xiết,
                                                                  Ngó non sông dân Việt lầm than...
                                                                  Cảnh bày: Nước loạn, nhà tan.
                                                                  Giặc Thanh giày xéo tan hoang cơi bờ.
                                                                  Rửa hận nước phất cờ vung kiếm.
                                                                  Đấng anh hùng họ Nguyễn Quang Trung
                                                                  Ra tay ngang dọc vẫy vùng,
                                                                  Thề đâu chịu đội trời chung phen này?
                                                                  Hịch chiêu hiền đó đây rộn rực,
                                                                  Trống mộ quân tập kích quân thù.
                                                                  Một phen giành lại cơi bờ,
                                                                  Một phen dựng lại cơ đồ nhà Nam.
                                                                  Hoàng Tùng vốn trang anh tuấn,
                                                                  Quyết ra đi rửa hận non sông.
                                                                  Tấm thân coi tựa bông hồng,
                                                                  Mong sao một tiếng anh hùng c̣n ghi...
                                                                  Thảm một nỗi biệt ly cắc cớ
                                                                  Cùng Mai Nương đâu nỡ chia tay?
                                                                  Ra đi ngàn dặm nước mây,
                                                                  Biết đâu c̣n lại có ngày thấy nhau?
                                                                  Chàng tần ngần ḷng đau khôn tả,
                                                                  Nàng héo hon tấc dạ khôn khuâỵ
                                                                  Hết nh́n nhau lại cầm tay,
                                                                  Hỡi khuôn thiêng thấu nỗi này chăng?
                                                                  Nàng thổn thức hẹn chàng gặp lại,
                                                                  Suối Dịu Hiền sẽ lại cùng nhau
                                                                  Chân tơ kẽ tóc gót đầu
                                                                  Bên rừng Kỳ Ngộ đôi câu tạ từ.
                                                                  Nào có ngờ xót xa nỗi ấy,
                                                                  Luống e chàng áy náy khôn nguôi.
                                                                  Chiến trường biên ải xa xôi,
                                                                  Chữ trinh thiếp có vẹn mười cho không?
                                                                  Càng canh cánh bên ḷng thắc mắc
                                                                  Thà nén tâm gạt phắt thường t́nh.
                                                                  Cho chàng thỏa chí b́nh sinh,
                                                                  Diệt thù thỏa nguyện tâm t́nh nước non.
                                                                  Bên ḍng nước, Mai Nương lén bước
                                                                  Từ tinh sương, rảo trước bóng chàng.
                                                                  Đoái nh́n rừng thẳm mênh mang
                                                                  Thảm nghe ḍng suối thở than năo nề...
                                                                  Rồi một phút như mê như tỉnh,
                                                                  Gọi Hoàng Tùng lanh lảnh xa đưa.
                                                                  Gọi rồi đôi mắt lệ mờ,
                                                                  Tấm thân gieo nặng dưới hồ nước sâu.
                                                                  Bỗng gió thảm mưa sầu dồn dập,
                                                                  Khắp núi đồi: Chim khóc, muông than
                                                                  Hoa rừng tràn lệ chứa chan,
                                                                  Đất trời như cũng thảm thương năo t́nh.
                                                                  Chàng thất thểu đinh ninh lần tới
                                                                  T́m t́nh nương chân mỏi, mắt mờ.
                                                                  Bốn bên vắng lạnh như tờ,
                                                                  Mênh mông hồ rộng, nước lờ đờ trôi...
                                                                  Đôi hàng lệ: "Mai Nương ơi hỡi!
                                                                  V́ đâu mà chín suối xa chơi?
                                                                  Âm dương cách biệt đôi nơi,
                                                                  Lệ sầu như nước xanh trôi lững lờ.
                                                                  Khôn thiêng em hăy đợi chờ.
                                                                  Mặt hồ Than thở bây giờ là đây
                                                                  Mai Nương nàng hỡi có hay?"
                                                                  Vạn Xuân

                                                                  Comment


                                                                  • #34
                                                                    Nghiêng nước nghiêng thành




                                                                    Đời Vũ Đế nhà Hán (140-86 trước D.L.), có một người phường chèo tên Lư Diên Niên múa hát rất giỏi. Được hầu trong nội điện, cung vi của nhà vua, Lư Diên Niên được nghe vua thường than thở:

                                                                    - Trẫm lập đền Minh Quang, kén hai ngàn mỹ nhân ở vùng Yên Triệu. Nhỏ nhất 15 tuổi, quá 30 tuổi sa thải cho lấy chồng. Thế mà, trong chốn dịch đ́nh có trên 10 ngàn mỹ nhân vẫn chưa thấy ai đẹp cho vừa ḷng trẫm. Thật là thiên hạ thiếu giai nhân tuyệt sắc.

                                                                    Lư Diên Niên có một em gái sắc đẹp tuyệt trần, thường ra vào hầu hạ B́nh Dương công chúa. Một hôm, nhân dịp múa hát chầu Vũ Đế, Lư Diên Niên hát:


                                                                    Phương bắc có giai nhân

                                                                    Tuyệt vời đứng riêng bực,

                                                                    Một liếc, người nghiêng thành.

                                                                    Hai liếc, người nghiêng nước.

                                                                    Lẽ nào không biết được

                                                                    Người đẹp thành nước nghiêng,

                                                                    Người đẹp khó t́m gặp.



                                                                    Nguyên văn:


                                                                    Bắc phương hữu giai nhân

                                                                    Tuyệt thế nhi độc lập.

                                                                    Nhất cố khuynh nhân thành;

                                                                    Tái cố khuynh nhân quốc

                                                                    Khởi bất tri

                                                                    Khuynh thành dữ khuynh quốc

                                                                    Giai nhân nan tái đắc.



                                                                    Nghe hát, Hán Vũ Đế thở dài, than:

                                                                    - Thế gian lại có người đẹp đến thế chăng?

                                                                    B́nh Dương công chúa nhân đứng hầu bên cạnh nhà vua liền tâu:

                                                                    - Diên Niên có người em gái đẹp tuyệt trần, c̣n hơn người trong bài hát ấy nữa.

                                                                    Nhà vua truyền đ̣i người đẹp vào cung, xem mặt. Quả là một bực giai nhân tuyệt sắc, lại giỏi nghề múa hát, làm cho nhà vua càng mê mẩn tâm thần, liền phong làm phu nhân. Từ ấy, nhà vua chỉ say sưa đắm đuối bên ḿnh nàng, không c̣n tha thiết đến một ai nữa. Năm sau, nàng hạ sinh được một con trai.

                                                                    Một hôm, nàng lâm bịnh nặng, Hán Đế đến tận giường bịnh thăm hỏi. Nàng kéo chăn che kín mặt, tâu:

                                                                    - Thiếp đau từ lâu, h́nh dung tiều tụy, không dám đem cái nhan sắc ủ dột tàn phai ra mắt đấng quân vương. Thiếp chỉ xin gởi lại nhà vua một đứa con bé nhỏ và mấy người anh em của thiếp.

                                                                    Hán Đế ngậm ngùi bảo:

                                                                    - Phu nhân bịnh nặng không thể qua khỏi được th́ hăy giở chăn cho ta nh́n mặt, há chẳng làm cho ta được thỏa ḷng sao?

                                                                    Nàng vẫn che kín mặt, từ tạ:

                                                                    - Theo lẽ quân thần, phu phụ, đàn bà mặt không sạch, không được ra mắt quân phụ. Vậy thiếp xin nhà vua tha thứ cho.

                                                                    Nhà vua cố nài nỉ. Nàng vẫn thở dài úp mặt vào trong, không nói năng ǵ, vẫn giữ chặt lấy chăn.

                                                                    Vũ Đế tức quá, đứng phắt dậy ra về.

                                                                    Nhiều người sợ nhà vua giận, nên có ư trách nàng. Nàng trả lời:

                                                                    - Đàn bà là kẻ chỉ hay lấy nhan sắc thờ chồng. Nhan sắc kém, t́nh duyên sẽ phai nhạt, và t́nh yêu sẽ kém. Nhà vua quyến luyến ta chỉ v́ nhan sắc xinh đẹp lúc mạnh. Nay ta đau, nhan sắc suy kém, so với thiên hạ ta là kẻ xấu xa. Nh́n mặt ta, nhà vua sẽ chán th́ khi nào c̣n tưởng nhớ đến ta mà ban ân huệ cho anh em ta nữa.

                                                                    Sau đó nàng chết. Vua Vũ Đế chôn cất nàng rất hậu, lại truyền họa sĩ vẽ h́nh nàng treo ở cung Cam Tuyền, phong cho anh em nàng quan tước cao.

                                                                    Ngày tháng qua nhưng h́nh bóng người đẹp vẫn lởn vởn trước mắt, và mối t́nh thương nhớ vẫn canh cánh bên ḷng... mà nhà vua không t́m thấy thú vui, người đẹp nào bằng người đă khuất.

                                                                    Đời nhà Đường (618-907), vua Đường Minh Hoàng dắt Dương Quí Phi thưởng hoa mẫu đơn ở đ́nh Cẩm Hương, sai người vời Lư Bạch đến bắt dâng ngay ba bài "Thanh B́nh điệu". Lư c̣n say rượu nhưng cầm bút viết luôn ba bài. Bài thứ ba có câu:


                                                                    Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,
                                                                    Thường đắc quân vương đới tiếu khan.



                                                                    Nghĩa:

                                                                    Danh hoa nghiêng nước sánh đôi vui,
                                                                    Để xứng quân vương một nụ cười.



                                                                    Chữ "khuynh quốc" để chỉ cái đẹp tuyệt với của Dương Quí Phi.

                                                                    Trong "Đoạn trường tân thanh", thi hào Nguyễn Du tả sắc đẹp nàng Kiều cũng có câu:

                                                                    Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
                                                                    Sắc đành đ̣i một, tài đành họa hai.


                                                                    "Nghiêng nước, nghiêng thành" xuất sứ ở bài hát của Lư Diên Niên.
                                                                    Vạn Xuân

                                                                    Comment


                                                                    • #35
                                                                      Khúc Nghê Thường Vũ Y




                                                                      Theo truyền thuyết (sách "Dị văn lục") th́ khúc vũ này do Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện về chế ra cho những người cung nữ múa hát.

                                                                      Nguyên một đêm Trung Thu, niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường (713-741), vua Minh Hoàng thấy trăng sáng, mơ ước được đặt chân đến đấy xem chơi. Có đạo sĩ tên La Công Viễn (có sách chép là Diệp Pháp Thiện), người có phép tiên mới dùng giải lụa trắng, hóa thành một chiếc cầu đưa nhà vua đến Nguyệt điện.

                                                                      Trong điện bấy giờ sáng rực. Tiếng nhạc du dương. Những nàng tiên trong những xiêm y xinh tươi, lộng lẫy, uyển chuyển múa hát như đàn bướm đủ màu tha thướt, bay lượn bên hoa.

                                                                      Đường Minh Hoàng càng nh́n càng thấy say mê, quên cả trời gần sáng, nếu không có La Công Viễn nhắc th́ quên trở về.

                                                                      Nhờ ghi nhớ cách điệu nên khi trở về triều, Đường Minh Hoàng chế thành khúc "Nghê Thường vũ y" để tập cung nữ múa hát. Rồi cứ đến đêm rằm tháng tám, Đường Minh Hoàng cùng với Dương Quư Phi uống rượu dưới trăng, ngắm đoàn cung nữ xiêm y rực rỡ, uyển chuyển múa khúc Nghê Thường để tưởng như sống trong cung Quảng Hàn, điện Nguyệt.

                                                                      Truyền thuyết này có tính cách thần thoại.

                                                                      "Đường thư" chép: Đường Minh Hoàng lên chơi Nguyệt điện, thấy các tiên nữ mặc áo cánh chim, xiêm y ngũ sắc, hát bài "Tây Thiên điệu khúc", đến khi trở về trần, c̣n nhớ mang máng. Nhằm lúc có Tiết độ sứ là Trương Kính Thuật từ Tây Lương, đem khúc hát Bà La Môn đến biếu, Minh Hoàng truyền đem san định lại và đổi tên là khúc "Nghê Thường vũ y".

                                                                      Tài liệu này có phần thực tế.

                                                                      "Nghê" là cầu vồng. Tiếng miền Nam gọi là cái mống, do ánh nắng xuyên qua hơi nước trong mây nên phân thành bảy màu. Sách Tàu ngày xưa chỉ nhận có năm màu.

                                                                      "Thường" là xiêm, để che phần hạ thân của người. "Nghê Thường" có nghĩa là xiêm cắt bằng năm màu.

                                                                      "Vũ y" là áo dệt bằng lông chim. Hay có nghĩa là kiểu áo theo h́nh cách chim.

                                                                      "Nghê Thường vũ y", ta có thể cho đó là những vũ nữ mặc áo theo h́nh cánh chim, c̣n quần th́ bằng lụa phất phới ngũ sắc.

                                                                      Những nhà sử học và khảo cổ học đă cho biết: đời Đường (và trước đời Đường), người Tàu đă có một khái niệm rơ rệt về địa dư vùng Tân Cương mà họ thường đến để mua bán và... chinh tây. Mặc dù người Tàu chưa từng chinh phục Ấn Độ nhưng sự bang giao về thương mại và chính trị đă có từ đời Hán (206-196 trước D.L.). Ấn Độ là nơi mà đạo Bà La Môn rất phồn thịnh. Lắm khi người Tàu và người Tân Cương lúc bấy giờ gọi phần đất Ấn Độ là Bà La Môn quốc. Bằng cớ là vào năm 629, lúc nhà sư Trần Huyền Trang (thường gọi là Đường Tam Tạng) đi thỉnh kinh ở Ấn Độ, ghé nước Cao Xương. Vua nước này có viết một bức thư cho vị Khả Hăn Tây Đột Quyết, yêu cầu Khả Hăn hết sức ủng hộ Huyền Trang đi dễ dàng đến "Bà La Môn quốc".

                                                                      Vậy, ta có thể cho khúc "Nghê thường vũ y" là h́nh thức biến chuyển của khúc hát "Bà La Môn" đă có trước tiên ở phần đất Ấn Độ ngày xưa. Nó truyền sang Tàu ở đất Tây Lương do Tiết độ sứ Trương Kính Thuật đem dâng cho Đường Minh Hoàng.

                                                                      Đất Tây Lương chính là huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc ngày nay của nước Tàu. Trước đời nhà Đường, Đôn Hoàng đóng một vai tṛ quan trọng về phương diện văn hóa và thương mại.

                                                                      Về mặt văn hóa, Đôn Hoàng chính là nơi các pháp sư Ấn Độ đến nghỉ ngơi, giảng đạo trước khi đi sâu vào đất Tàu. Về mặt thương mại, Đôn Hoàng là đầu cầu nối liền đường chở tơ lụa từ Tàu sang Ấn Độ, Ba Tư đến Địa Trung Hải. Ở đây là nơi tập trung các đoàn thương gia quốc tế chuyên chở hàng hóa trên lưng lạc đà tấp nập để trao đổi sản phẩm. Các nhà sử học gọi là "Đường tơ lụa" (Route de la soie).

                                                                      Con đường dài xa thẳm ấy phải trải qua nhiều nước nhỏ với những vùng nông nghiệp rải rác ph́ nhiêu. Những nước nhỏ này nay đă bị diệt vong. Nhưng từ đầu công nguyên, những nước này có một nền văn hóa khá cao, chịu ảnh hưởng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Hoa. Nước đáng chú ư nhứt là nước Qui Tư. Nước này giỏi về âm nhạc và vũ khúc. Nhạc công đội khăn đen, mặc y phục bằng lụa đỏ, tay áo thêu. Bản nhạc của họ có nhiều tên thơi mộng "Tṛ chơi giấu kim thoa", "Người ngọc chuyền ly rượu", v.v... Khi ḥa tấu, có bốn người biểu diễn ca vũ. Ở vùng núi nước Qui Tư có những ngọn suối đàn. Nước nhỏ xuống đá từng giọt phát âm bổng trầm. Mỗi năm một lần các nhạc sĩ đến lắng nghe để phổ thành nhạc.

                                                                      Phụ nữ nước Qui Tư rất đẹp. Gương mặt tṛn, đều đặn. Y phục đặc biệt là nhiều kiểu, nhiều màu, thêu thùa khéo léo. Đàn ông mặc áo trắng viền xanh hoặc xanh viền trắng. Đàn bà mặc hai kiểu áo: tay rộng và tay chật. Áo trắng bâu xanh. Áo đen có thêu h́nh màu xanh trắng. Áo dài xanh viền vàng hoặc có sọc vàng. Phải chăng đó là những màu "nghê thường"?

                                                                      Vậy, căn cứ vào khoa khảo cổ và sử học, ta có thể cho khúc "Nghê Thường vũ y" là một ca vũ khúc Ấn Độ truyền sang. Trên con đường phiêu lưu bằng "con đường tơ lụa" trước khi truyền sang Trung Hoa, khúc ca vũ này đă bị các sắc tộc dọc đường biến cải ít nhiều. Và khi đến Trung Hoa th́ nó được chấn chỉnh lại cho hợp với dân tộc tính Trung Hoa do một nhà vua phong lưu tài tử, ăn chơi rất mực.

                                                                      Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, có câu:

                                                                      Dẫu mà tay múa, miệng xang,
                                                                      Thiên tiên cũng ngoảnh Nghê Thường trong trăng.
                                                                      Trong "Bích Câu kỳ ngộ" cũng có câu:
                                                                      Đong đưa khoe thắm, đưa vàng,
                                                                      Vũ y thấp thoáng, Nghê Thường thiết tha.
                                                                      Vạn Xuân

                                                                      Comment


                                                                      • #36
                                                                        Trao tơ, gieo cầu




                                                                        Đời nhà Đường (618-907), Tể Tướng Trương Gia Trinh có năm người con gái. Cả năm đều xấp xỉ ngang nhau. Mỗi người một vẻ, sắc nước hương trời. Họ Trương đương chọn khách đông sàng.

                                                                        Có danh sĩ là Quách Nguyên Chấn xin cầu hôn. Trương thấy là bực tài danh nên rất bằng ḷng, nhưng không biết phải gả đứa nào. Cuối cùng Trương nghĩ ra cách, dạy năm người con gái của ông ngồi sau màn, mỗi người cầm một sợi tơ màu khác nhau.

                                                                        Những sợi tơ ấy lủng lẳng bên ngoài, không ai nh́n được bóng dáng của cô nào cả. Nếu Nguyên Chấn rút sợi tơ nào tất được kết duyên với cô gái ấy.

                                                                        Nh́n tới ngắm lui, Nguyên Chấn liền rút ngay sợi tơ đỏ, nhằm người con gái thứ ba. Người đẹp lộng lẫy và có đức hạnh.

                                                                        Tích gieo cầu:

                                                                        Cũng đời nhà Đường bên Tàu, nước Đại Huyền có công chúa Cửu Hườn, người có sắc đẹp lại văn vơ song toàn. Vua cha đương kén chọn pḥ mă. Nàng tâu với vua:

                                                                        - Nhân duyên là do trời định. Vậy xin cha cho người lập một cái đài cao tại giáo trường, và truyền cho các sắc dân trong nước, bất kỳ xấu, đẹp đều phải dự kén pḥ mă. Riêng con có thêu một quả tú cầu; ngày ấy, con sẽ khấn vái trời đất rồi lên lầu mà quăng quả tú cầu ấy xuống giữa đám đông. Nếu ai lượn được th́ sẽ kết duyên chồng vợ.

                                                                        Nhà vua cưng con, nghe cũng hữu lư nên bằng ḷng.

                                                                        Nghe được tin nhà vua tuyển chọn pḥ mă bằng cách gieo cầu, các chàng trai, không phân biệt giai cấp giàu nghèo, diện mạo tuấn tú hay xấu xa, dốt nát hay hay chữ đều tấp nập đổ xô đến trước đài. Họ hồi hộp, mong ngóng đón chờ...

                                                                        Có chàng Tiết Cường, con thứ tư của Tiết Đinh San, v́ bị nạn tru di ba họ nên lưu lạc đến đấy. Chàng là người mỹ mạo tuấn tú, vơ nghệ siêu quần. Thấy người đông đảo, chàng cũng đứng xem.

                                                                        Đến giờ lành, công chúa lên đài, quỳ trước bàn hương án, khấn vái, đoạn đứng lên, cầm quả tú cầu quăng xuống. Quả cầu nhào lộn trên không mấy ṿng rồi sa trước mặt Tiết Cường. Mọi người đổ xô đến, lấn nhau chụp, làm té lăn sóng soài trên mặt đất. Tiết Cường đưa tay bắt lấy tú cầu, giữ chặt trong tay. Mọi người liền ào đến giựt lại. Chàng tay xô, chân đạp làm té nhào hết mấy người, rồi chen ra mà chạy, lại la lớn:

                                                                        - Ấy là nhân duyên trời định, may ai nấy nhờ, lẽ đâu làm điều vô lễ.

                                                                        Đoàn cấm binh liền đến can thiệp, xin rước pḥ mă. Bấy giờ họ mới tản ra, tiu nghỉu trở về.

                                                                        Cấm binh thấy Tiết Cường mỹ mạo tuấn tú, nức nở khen:

                                                                        - Thật là trời khéo xui vợ xứng chồng hết sức.

                                                                        Thế là ngay hôm ấy, nhà vua truyền cho công chúa cùng Tiết Cường làm lễ giao bôi hợp cẩn.

                                                                        Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, có câu:

                                                                        Dù khi lá thắm chỉ hồng,
                                                                        Nên chăng th́ cũng tại ḷng mẹ cha.


                                                                        và:

                                                                        Nuôi con những ước về sau,
                                                                        Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi.


                                                                        "Chỉ hồng", "Trao tơ", "Gieo cầu" đều có ư nghĩa chỉ duyên vợ chồng, do điển tích trên.
                                                                        Vạn Xuân

                                                                        Comment


                                                                        • #37
                                                                          Núi Vọng Phu





                                                                          Núi Vọng Phu cũng có tên là núi Mẫu Tử, cao 2051 thước, trước kia thuộc tỉnh Darlac. Từ ngày quận Khánh Dương sát nhập vào tỉnh Khánh Ḥa, núi Vọng Phu đă nghiễm nhiên trở nên ngọn núi chúa của quần sơn tỉnh này.

                                                                          Chóp núi Vọng Phu là một khối đá hoa cương khổng lồ, đứng thẳng lên trời; bên cạnh lại có một khối đá khác nhỏ hơn. Hai khối đá này tương tự h́nh người. Đứng xa ngoài 40 cây số vẫn c̣n trông rơ. Và, người ta có cảm tưởng như đó là một người mẹ đang bồng đứa con, phóng tầm mắt ra biển khơi đón chờ một người đi mà không bao giờ trở lại. Và, căn cứ theo truyện cổ tích, dân chúng địa phương mới đặt tên núi này là núi Vọng Phụ Người Thượng gọi là T.Yang-Mten.

                                                                          Tương truyền một thời xa xưa, có hai vợ chồng một bác tiều phu hiếm hoi con, nên bà vợ thường đi cầu tự khắp các đền chùa quanh vùng. May mắn, một ngày kia, bà hạ sinh được một cô con gái; qua năm sau lại hạ sinh được một cậu con trai. Vợ chồng tiều phu rất đỗi vui mừng, cám ơn Trời Phật đă nhỏ ḷng thương đến.

                                                                          Hai chị em lớn lên trong t́nh thương của cha mẹ.

                                                                          Một hôm, hai chị em đang ngồi róc mía ăn. V́ giành nhau nhiều ít, đứa em sẵn có con dao trong tay, giáng một nhát lên đầu chị, máu tuôn xối xả. Kinh sợ và hối hận, đứa em bỏ chạy mất. Cha mẹ t́m khắp nơi vẫn không thấy. V́ nhớ con, hai ông bà ngày càng héo ṃn rồi lần lượt theo nhau qua đời. Đứa con gái sống bơ vơ, không người thân quyến nương dựa, phải bỏ đi nơi khác t́m cách nuôi thân.

                                                                          C̣n đứa em chạy đến bờ biển, gặp chiếc thuyền buôn sắp nhổ neo vào Nam, liền xin đi theo học nghề buôn bán. Thời gian trôi qua, nó khôn lớn lên và làm ăn khá giả. Bấy giờ ḷng chạnh nhớ quê hương, cha mẹ càng nổi dậy nên nhứt định về quê. Nhưng, than ôi, khi về đến th́ cha mẹ đă hóa người thiên cổ, chị th́ bỏ đi biệt tích.

                                                                          Qua cơn xúc động, chàng sang một làng gần đó sinh cợ lập nghiệp. Chàng gặp một cô gái mồ côi, làm ăn lam lũ nhưng tính nết hiền lành. Cảm v́ cùng cảnh ngộ, hai người đem ḷng yêu nhau và thành đôi vợ chồng. Ở với nhau một thời gian trong cảnh gia đ́nh thuận ḥa đầm ấm, người vợ lại sinh được một trai. Không khí gia đ́nh càng thêm mặn nồng.

                                                                          Một hôm, người vợ gội đầu sau nhà, người chồng đi làm về, ra đứng xem. Vô t́nh, chàng thấy ẩn dưới làn tóc vợ có một vết thẹo, lấy làm lạ mới hỏi nguyên do. Người vợ thực t́nh kể lại kỷ niệm buồn mười năm xưa. Người chồng lặng điếng người khi nhận ra đó là người chị ruột của ḿnh.

                                                                          Người chồng hết sức đau khổ v́ chàng vô t́nh đă phạm phải lỗi loạn luân. Nhưng chàng đành chôn sâu nỗi khổ tâm ấy tận đáy ḷng, không dám cho vợ biết.

                                                                          Thế rồi ngày hôm sau, lấy cớ đi buôn chuyến xa, chàng từ giă vợ con, giong buồm ra khơi, hẹn ngày trở lại. Người vợ có ngờ đâu lời hẹn về ấy hóa thành lời vĩnh biệt của chồng.

                                                                          Thời gian năm tháng trôi qua, chồng vẫn không thấy trở về mà âm tín cũng vắng bặt. Buồn rầu, đau khổ, nàng bồng con trèo lên đỉnh núi cao, trông ra ngoài biển cả, mỏi ṃn t́m xem có thấy cánh buồm của chồng xuất hiện đâu không? Nhưng than ôi:

                                                                          Bao năm đâu quản gió mưa,
                                                                          Bồng con đứng đợi vẫn chưa thấy về,
                                                                          Thời gian phai xóa lời thề,
                                                                          Mẹ con hóa đá bên lề tháng năm.


                                                                          (Thơ của B́nh Nguyên Lộc).


                                                                          Từ đấy, những bạn thuyền đi biển, khi qua miền Trung, thấy buồm không căng gió, liền hát lên câu ca dao để mong nàng Vọng Phu giúp đỡ:

                                                                          Lạy bà cho thổi gió nồm,
                                                                          Chồng bà ở Quảng giong buồm theo vô.


                                                                          Hay là:

                                                                          Lạy bà cho thổi gió đông,
                                                                          Cho thuyền tôi chạy cho chồng bà lên.
                                                                          Vạn Xuân

                                                                          Comment


                                                                          • #38
                                                                            Trống cơm




                                                                            Không ai biết trống cơm ra đời từ lúc nào. Chỉ biết đại khái là các cụ ta thường dùng nó trong những dịp tế lễ thần thánh, những buổi hát chèo. Nhất là trong việc đưa ma.

                                                                            Đó là một thứ trống ḿnh dài và nhỏ, một loại trống Việt Nam hoàn toàn từ h́nh dáng, âm thanh cho đến cách biểu diễn. Khi tấu nhạc, nhạc công phải đeo dây trống lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng và vận dụng 10 ngón tay khéo léo của ḿnh trên cả hai mặt trống.

                                                                            Có một điều khác thường là người ta hay đính thêm nắm cơm nếp nhỏ trên mặt trống. Có lẽ cũng v́ vậy mà chiếc trống ấy được mang một danh hiệu nôm na là "Trống cơm" chăng? Tuy vậy có một vài nơi thuộc tỉnh Bắc Ninh như làng Đ́nh Bảng, làng Phù Đổng chẳng hạn, nhạc công không bao giờ đính cơm trên mặt trống.

                                                                            Theo những nhà khảo cứu về nhạc cụ Việt Nam, dưới triều vua Lê Thánh Tông, đời Hồng Đức (1470), ba ông Trần Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh đă dựa trên nền tảng âm nhạc Trung Hoa, lập thành hai bộ nhạc cho triều đ́nh Việt Nam. Đó là bộ Đồng Văn, chuyên đặt ra nhạc phổ, và bộ Nhă Nhạc chuyên dùng tiếng người để ca hát. Hai bộ nhạc này hoạt động dưới sự điều khiển của quan Thái Thường Quản Đốc, và chỉ chuyên dùng trong việc tế lễ ở triều đ́nh. Nhạc cụ có nhiều thứ: một trống lớn, một kèn lớn, một long sinh, một long phách, một cây đàn có thể ba, bốn hay mười lăm dây, một sáo trúc, một trống mảnh một mặt và một cái sinh tiền.

                                                                            Cũng trong thời kỳ này, những giàn nhạc giáo phường của tư nhân ra đời và bắt đầu hoạt động mạnh mẽ trong dân gian đi song song với hệ thống âm nhạc của triều đ́nh. Nhạc cụ gồm có: một dùi nhịp bằng tre thường do bà cụ già đánh nhịp; một ống sáo, một cây nhị quyển, một trống cơm, một cây đàn đáy do bốn, năm nhạc công sử dụng; một phách; một sinh tiền, một trống con một mặt do ba nữ nhạc công trẻ tuổi vừa ca hát vừa giữ nhịp.

                                                                            Ta nhận thấy những nhạc cụ trong hệ thống âm nhạc của giáo phường mới có trống cơm. Vậy có thể nó là một nhạc cụ cổ sơ của dân tộc, chính do hạng b́nh dân khi xưa sáng tạo chăng?

                                                                            H́nh dáng trống cơm mộc mạc bao nhiêu th́ tiết điệu của nó phong phú bấy nhiêu. Nghe "Trống cơm" nhứt định chúng ta không thể lẫn lộn nó với những bài ca ngoại quốc. Nó có giọng u buồn gợi tâm hồn người nhớ đến h́nh ảnh quê hương xa xôi hay nhớ đến một mối t́nh tan vỡ, một niềm tang tóc bi thương của một thành sầu vạn cổ ...

                                                                            Tục truyền rằng: Ngày xưa có một nho sinh rất nghèo, thi măi không đỗ, túng cùng phải đi xin ăn. Hằng ngày, khi sang ngang nhà của một phú hộ th́ có một cô bé ở chực sẵn đem cho cơm trắng canh ngon. Công việc đó cứ theo thời gian trôi qua một cách đều đặn.

                                                                            Suốt năm trời như thế, chàng nho sinh vô cùng cảm động nhưng không khỏi ngượng ngùng. Một hôm, chàng tỏ lời cám ơn cô bé và không nhận lănh của cho nữa. Chàng lại từ giă, đi sang ở làng khác kiếm ăn. Cô bé thực thà cho biết việc làm của cô là vâng theo lời dạy của cô Hai, con gái của chủ nhà mà thôi. Ơn đó là ơn của cô chủ.

                                                                            Chàng cảm động, yêu cầu xin gặp mặt cô chủ để tỏ lời cám ơn và từ giă. Cô bé ở hẹn lại hôm sau, để xem cô chủ có bằng ḷng không, rồi sẽ cho biết. Nếu cô chủ bằng ḷng cho gặp mặt th́ chàng cứ chờ tại chỗ này.

                                                                            Hôm sau, chàng vừa đến th́ đă gặp ngay cô chủ nhà đứng đợi. Nàng rất đẹp. Chàng nho sinh cúi đầu, chấp tay xá nhưng nàng khoát tay vội nói:

                                                                            - Tôi đă hiểu ư chàng muốn nói ǵ rồi. Tôi ở đây lâu rất bất tiện, mà chàng cũng không cần phải nói ân nghĩa ǵ. Sở dĩ, tôi giúp chàng v́ biết chàng lỡ vận và cảm thương người trong bước đường cùng mới ra nông nỗi, không lẽ chí của người con trai chịu cùng nhụt như vậy măi sao?

                                                                            Đoạn, nàng trao cho chàng một cái bọc bằng giấy, nói tiếp:

                                                                            - Nay chàng từ giă đi, tôi xin tặng một số bạc và một cây thoa vàng để chàng t́m cách lập nghiệp. Một ngày nào thành đạt, chàng sẽ trở về quê. Chừng ấy...

                                                                            Nàng bỏ lửng lời nói, lại quày quả thoăn thoắt đi.

                                                                            Chàng nho sinh vô cùng cảm động.

                                                                            Theo lời người ngọc dặn ḍ, chàng cần phải tạo lấy một sự nghiệp, nhưng sự nghiệp ǵ? Chàng không duyên số với đường công hầu danh tướng th́ chàng phải chuyển sang nghê khác. Bất cứ nghề ǵ cũng tốt đẹp cả miễn đừng làm điều ǵ phi nghĩa. Thế là chàng đeo đuổi môn âm nhạc, một nghệ thuật trong 7 nghệ thuật.

                                                                            Thời gian 3 năm, chàng đă thành tài và lănh đạo một giáo phường. Chàng hớn hở, vui tươi vội quay về quê xưa mong gặp mặt người ân nhân yêu quư. Nhưng thảm thay, chàng vừa đặt chân về nhà nàng, th́ gia đ́nh nàng đương làm đám táng cho nàng. Nàng vừa chết trong một cơn bạo bịnh!

                                                                            Chàng nhạc sĩ tài hoa vô cùng đau đớn. Chàng muốn đưa đám táng cho nàng. Chàng muốn khóc kể nàng. Chàng muốn để tang cho nàng. Nhưng phải làm sao để mọi người đừng biết việc làm của chàng đối với con người đă khuất?

                                                                            Chàng liền xin cha nàng cho chàng đem phường nhạc của chàng đến để đưa vong linh người chết. Chàng sáng tạo một cái trống nhỏ dài, hai mặt trống có đính hai nắm cơm nhỏ, để nhắc lại kỷ niệm sâu xa cao đẹp là ngày xưa, nàng đă cho cơm chàng ăn. Sợi dây trống đeo lên cổ bằng vải trắng là chàng để tang nàng.

                                                                            Lúc đưa đám chàng mang trống cơm lên cổ, để trống nằm ngang trước bụng, vận dụng mười ngón tay vỗ trên mặt trống, phát thành tiếng kêu bi ai, tha thiết:

                                                                            - "T́nh tang, tang t́nh! T́nh tang, tang t́nh!..."

                                                                            Đó là tiếng khóc kể kín đáo của chàng đối với người yêu có một tâm t́nh cao thượng, thanh khiết. Đó là tiếng nức nở ở cơi ḷng của một nghệ sĩ đối với mối t́nh đầu đă tan vỡ, mà chàng chỉ c̣n mượn lấy âm thanh của "Trống cơm" để tiễn vong linh nàng.

                                                                            Tục truyền là như thế.

                                                                            Ngày nay, trong những đám tang, người ta vẫn c̣n dùng "Trống cơm". Và, người ta vẫn c̣n hát "Trống cơm", nhứt là ở vài làng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Dưới đây là bài hát "Trống cơm" do ông Lư Tiến Thành, một danh ca quan họ ở làng Bái Uyên, tỉnh Bắc Ninh, hát; và nhạc sĩ Trần Văn Khê ghi lời:


                                                                            "(T́nh bằng có cái) trống cơm (khen ai) khéo vỗ (ố mấy bông) nên bông (ố mấy...)

                                                                            "(Bông nên bông), một bầy (tang t́nh) con nít, (một bầy tang t́nh con nít ố mấy...)

                                                                            "(lội), lội, sông (ố mấy) đi t́m (em nhớ thương ai). (Đôi) con mắt (ố mấy) lim...

                                                                            "Dim, đôi con mắt (ố mấy) lim dim, một bầy (tang t́nh) con nhện (ơ...

                                                                            "(Ơ ố mấy) giăng tơ, giăng tơ (ố mấy) đi t́m (em nhớ) thương ai. Duyên...

                                                                            "Nợ (khách) tang bồng, duyên nợ (khách) tang bồng."
                                                                            Vạn Xuân

                                                                            Comment


                                                                            • #39
                                                                              Kê Khang này khúc Quảng Lăng…





                                                                              Trên đồ sứ Trung Hoa, ta thường thấy vẽ 7 ông cụ già ngồi trong rừng tre, kẻ đánh cờ, gẩy đàn, người uống rượu ngâm thơ. Đó là h́nh ảnh của Trúc Lâm Thất Hiền đời nhà Ngụy (220-264). Kê Khang là một trong bảy người hiền này.

                                                                              Kê Khang (223-262) là một người có khí tiết cao khiết giàu ḷng nghĩa hiệp và cũng là người có biệt tài trong các môn cầm, kỳ, thi, họa ... Một điều lạ hơn hết là mặc dù có tài như thế, nhưng ông không học qua một thầy nào. Từ nhỏ chí lớn, ông cố công tự học, rèn luyện mà nên.

                                                                              Kê Khang vốn họ Khuê, người đất Thượng Ngu, huyện Cối Kê (nay là huyện Thiện Hưng, tỉnh Chiết Giang). V́ một sự thù oán nên ông dời về ở ẩn huyện Hoa Dương, tỉnh An Huy Gần chỗ ông ở có núi Kê Sơn nên lấy núi Kê làm họ.
                                                                              Kê Khang cũng như 6 người bạn kia đều thích an nhàn dật lạc, say mê đạo Lăo Có kẻ nói: "Ba ngày không đọc "Đạo Đức kinh" th́ miệng thấy hôi". Ông làm đến chức Trung Tán đại phu nhưng luôn luôn chê vua Thang, vua Vơ, khinh Văn Vương và Khổng Tử. Thơ của ông có giọng triết lư:


                                                                              Mắt tiễn hồng bay,

                                                                              Tay gẩy năm dây.

                                                                              Cúi ngửa tự đắc,

                                                                              U huyền thích thay


                                                                              (Bản của Nguyễn Hiến Lê)


                                                                              Nguyên văn:


                                                                              Mục tống phi hồng,

                                                                              Thủ huy ngũ huyền.

                                                                              Phủ ngưỡng tự đắc,

                                                                              Du tâm thái huyền.



                                                                              Kê Khang làm quan một thời gian rồi từ quan đi trú ẩn, để hưởng cảnh tiêu diêu lúc về già. Nhưng thảm thay, ông muốn tránh khỏi điều phiền lụy ở cơi trần th́ lại c̣n lận đận v́ trần.

                                                                              Từ quan, Kê Khang sống một cuộc đời ẩn dật, ngày ngày ngao du sơn thủy, hái thuốc, vui say với vần thơ điệu đàn.

                                                                              Bấy giờ, nhà Ngụy suy vi, Tư Mă Chiêu có ư muốn soán ngôi nên t́m mọi cách để trừ khử những kẻ nghịch với ḿnh.

                                                                              Lúc ấy ở huyện Đông B́nh có người tên Lữ An v́ ngưỡng mộ danh tiếng của Kê Khang nên t́m đến ra mắt. Hai người kết bạn tâm giao. Chẳng ngờ Lữ An có một người anh họ tên Lữ Tốn vốn là bộ hạ thân tín của Tư Mă Chiêu, ỷ thế hoành hành, thấy vợ của Lữ An xinh lịch nên chiếm đoạt và bắt Lữ An hạ ngục.

                                                                              V́ t́nh bạn, Kê Khang đứng ra minh oan nhưng rồi cũng bị bọn quyền thần bắt giam. Kê Khang vốn con rể trong tông thất nhà Ngụy, nên họ muốn t́m cách trừ tuyệt. Chúng lại dựng chứng Kê Khang khinh vua Thang, vua Vơ, Khổng Tử là có ư phản loạn nên kết án tử h́nh.

                                                                              Kê Khang vốn có tài đàn. Khúc "Quảng Lăng" do ông sáng tác. Đánh lên khúc đàn nghe lưu loát, thảnh thoát như nước chảy (lưu thủy), mây bay (hành vân).

                                                                              Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn tả tiếng đàn của Kiều khi nàng gẩy cho Kim Trọng nghe buổi sơ ngộ, có câu:

                                                                              Kê Khang này khúc Quảng Lăng,

                                                                              Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân.



                                                                              Có người cho rằng đây là hai bản nhạc Lưu thủy và Hành vân, nhưng so với mạch văn th́ không phải như thế. Lưu thủy, Hành vân đây là giải thích cái điệu lưu loát của khúc Quảng Lăng.
                                                                              Vạn Xuân

                                                                              Comment


                                                                              • #40
                                                                                Con "Quốc quốc"





                                                                                Con "Quốc quốc" vốn là chim Cuốc. Tiếng "quốc quốc" do cách tá âm "cuốc cuốc" mà ra. Trong bài "Qua đèo Ngang" của bà huyện Thanh Quan, có câu:

                                                                                Nhớ nước đau ḷng con quốc quốc
                                                                                Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.


                                                                                Chim Cuốc c̣n có tên là Đỗ Quyên, Tử Quy hay Đỗ Vũ. Giống chim này, đầu mỏ hơi cong, miệng to đuôi dài, lưng màu
                                                                                tro, bụng sắc trắng có một đường đen thẳng ngang. Nó thường lủi trong bụi rậm dưới ao sâu hoặc hồ rộng. Cuối xuân sang hè th́ bắt đầu kêu. Giọng thê thảm khiến khách lữ hành động ḷng nhớ nhà, nhớ quê hương.
                                                                                Chim này không tự làm tổ lấy, đẻ trứng vào ổ chim Oanh. Chim Oanh ấp, nuôi cho đến lớn.

                                                                                Sự tích chim Cuốc có nhiều thuyết.

                                                                                Có điển cho rằng vua nước Thục là Đỗ Vũ thông dâm với vợ một bề tôi là Biết Linh, Biết Linh dấy loạn. Vua Thục thất bại, mất ngôi, chạy trốn vào rừng. Đoạn này sách "Thành đô kư" lại nói: Vua Thục thông dâm với vợ Biết Linh. Biết Linh biết chuyện, bày kế cho vợ nói khích Đỗ Vũ nhường ngôi cho Biết Linh rồi cùng vợ Biết Linh bỏ nước đi, để sống cho trọn t́nh chung. Đỗ Vũ nghe theo, giao nước cho Biết Linh nhưng vợ Biết Linh bây giờ bỏ Đỗ Vũ, trở lại sống cùng chồng.

                                                                                Buồn khổ, nhớ nước, sau thác, Thục đế hóa thành chim Đỗ Quyên, ngày đêm kêu măi không thôi.

                                                                                Trong "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du đoạn tả về khúc đàn của Kiều gảy cho Kim Trọng nghe lúc tái hợp, có câu:

                                                                                Khúc đâu êm ái xuân t́nh,
                                                                                Ấy hồn Thục đế hay ḿnh Đỗ Quyên.


                                                                                Lại cũng có điển chép: Thục đế An Dương Vương của nước ta (207 trước D.L.?), v́ con gái là Mỵ Châu bị lừa, trao nỏ thần cho chồng là Trọng Thủy nên phải thua trận và nhảy xuống biển tự tử. V́ nhớ nước nên hóa thành chim Cuốc, ngày đêm kêu lên những tiếng năo ruột.

                                                                                Thuyết sau này e không đúng. V́ tiếng "Đỗ Quyên", "Đỗ Vũ" nguồn gốc vốn ở Trung Hoa.

                                                                                Thật không có tiếng ǵ kêu bi thảm, năo ruột cho bằng tiếng chim Cuốc. Những buổi trưa hè nắng chang chang hay những đêm hè tịch mịch, tiếng chim Cuốc trong những bụi rậm hay trong bụi niễng dưới đầm vọng lên làm ḷng người cảm thấy bi ai một cách lạ lùng. Nó gợi lên được sự nhớ nhung một thời oanh liệt xa xôi nào; có khi nó thúc giục và làm bừng dậy cái tinh thần ái quốc nồng nàn đương tiềm tàng trong ḷng người dân thời nước mất nhà tan.

                                                                                Thi ca cổ điển Việt Nam dùng rất nhiều điển về chim Cuốc.

                                                                                Trần Danh An, một di thần nhà Lê (1428-1788), nghe tiếng Cuốc kêu cũng cảm xúc, nhớ lại một triều đại hưng thịnh, một công nghiệp dựng nước của Thái Tổ, tài đức Thái Tông... Hôm nay, Chiêu Thống hèn nhát, họ Trịnh chuyên quyền, ḷng ái quốc thiết tha sống động trong tâm hồn thi sĩ; nhưng thi sĩ cảm thấy ḿnh bất lực trước thời cuộc nên đành gói ghém tâm sự di thần của ḿnh trong mấy vần thơ:


                                                                                Giá cô tại giang Nam
                                                                                Đỗ Quyên tại giang Bắc
                                                                                Giá cô minh gia gia
                                                                                Đổ Quyên minh quốc quốc.
                                                                                Vi cầm do hữu quốc gia thanh,
                                                                                Cô thần đối thử t́nh vô cực.


                                                                                Nghĩa:

                                                                                Chim giá cô ở bờ sông Nam,
                                                                                Chim Đỗ Quyên ở bờ sông Bắc,
                                                                                Giá cô kêu gia gia,
                                                                                Đỗ Quyên kêu quốc quốc
                                                                                Chim nhỏ c̣n kêu tiếng nước nhà
                                                                                Cô thần đối cảnh t́nh man mác.



                                                                                Bà huyện Thanh Quan khi qua đèo Ngang đă mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm trạng thầm kín của ḿnh đối với công nghiệp của triều Lê đă mất:

                                                                                Nhớ nước đau ḷng con quốc quốc
                                                                                Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.


                                                                                Nhưng tiếng Cuốc ở đây lại càng lâm ly, năo nùng hơn nữa.

                                                                                Đứng trước thành Cổ Loa, xưa kia nơi đây là cung miếu của vua Thục, nhà thơ Chu Mạnh Trinh bất giác sinh ḷng hoài cổ. Cung miếu đó, xưa kia tráng lệ huy hoàng bao nhiêu th́ ngày nay điêu tàn quạnh quẽ bấy nhiêu. Trong cảnh vắng vẻ lạnh lùng này, dưới ánh trăng mờ nhạt, tiếng cuốc khắc khoải năm canh vọng lên buồn bă.

                                                                                ... Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt,
                                                                                Trăng mờ khắc khoải Cuốc kêu thâu


                                                                                (Bản dịch của Tiền Đàm)

                                                                                Nguyên văn:

                                                                                ... Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,
                                                                                Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.


                                                                                Tiếng Cuốc của quan Án Chu Mạnh Trinh tuy có năo nuột thật nhưng chưa sâu xa thấm thía và bi đát bằng tiếng Cuốc kêu của cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến. Tiếng Cuốc của Cụ Nguyễn là tất cả tiếng nói của ḷng một người dân tha thiết yêu nước bị mất nước. Tiếng Cuốc đó c̣n nói lên một mối đau buồn uất hận của tác giả v́ nỗi bất lực trước cảnh đen tối của thời cuộc. Và, đó cũng là tiếng nói của lương tâm thôi thúc tác giả xông pha vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc:


                                                                                Khắc khoải sâu đưa giọng lửng lơ,
                                                                                Ấy hồn Thục đế thác bao giờ.
                                                                                Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
                                                                                Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
                                                                                Có phải tiếc xuân mà đừng gọi?
                                                                                Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
                                                                                Ban đêm ṛng ră kêu ai đó?
                                                                                Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.



                                                                                Mượn tiếng Cuốc kêu để diễn tả tâm sự của một người dân vong quốc vẫn là một thông lệ trong văn chương Việt Nam.
                                                                                "Thục đế", "Đỗ Quyên", "Quốc quốc" đều do điển tích trên.
                                                                                Vạn Xuân

                                                                                Comment

                                                                                Working...
                                                                                X