• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Phóng sự, kư sự - Nguyễn Văn Vĩnh

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Phóng sự, kư sự - Nguyễn Văn Vĩnh

    Nguyễn Văn Vĩnh (1882–1936)




    Có những bài báo ông viết vào những năm đầu thập niên của thế kỷ trước, vậy mà hôm nay đọc lại vẫn thấy mang tính thời sự đáng suy ngẫm . Đề tài này tập hợp một số bài phóng sự, kư sự của ông. Riêng Thơ ngụ ngôn của La Fontaine do Nguyễn Văn Vĩnh dịch sẽ đưa lên ở Việt Vân Thi Các


    Vài nét về tác giả:

    Nguyễn Văn Vĩnh là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch Việt Nam đầu thế kỷ 20. Khi viết, ông kư nhiều bút hiệu: Tân Nam Tử, Quan Thành, Tông Gia, Lang Gia, Mũi Tẹt Tử, Đào Thị Loan.

    Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15 tháng 6 năm 1882 tại nhà số 46, phố Hàng Giấy, Hà Nội. Nhưng quê gốc của ông là làng Phượng Vũ, xă Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc xă Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội). V́ quá nghèo, cha mẹ ông phải bỏ làng quê ra ở nhờ nhà bà nghè Đại Gia (tức ông nghè Phạm Huy Hổ) ở phố Hàng Giấy kiếm sống, và rồi sinh ông tại đây.

    Năm lên 8 tuổi, ông đi chăn ḅ thuê ngoài băi sông Hồng. Sau đó, ông phát hiện ở đ́nh làng Yên Phụ (nay là Trường phổ thông cơ sở Mạc Đĩnh Chi, Hà Nội) có lớp học do thầy giáo người nước ngoài phụ trách, dạy học sinh trở thành thông ngôn (nhân viên phiên dịch).

    Sau đó, ông về xin phép cha mẹ được thôi nghề chăn ḅ, để làm công việc kéo quạt làm mát cho lớp học này. Ngồi cuối lớp kéo quạt, nhưng ông vẫn chăm chú nghe giảng. Nhờ vậy, mà ông nói và viết được tiếng Pháp.

    Được Hiệu trưởng D’Argence chú ư và nâng đỡ, đến kỳ thi tốt nghiệp, ông được phép dự thi cùng với 40 học sinh khác, và đă đỗ thứ 12 khi mới 11 tuổi. Nhờ được đặc cách là học sinh chính thức của trường, nên ông được cấp học bổng để theo học trường thông ngôn (Collège des Intreprêtes) niên khóa 1893-1895, và đă đỗ thủ khoa.

    Năm 1896, 14 tuổi, ông làm thông ngôn ở Ṭa sứ Lào Cai. Ở đây, ông tự học thêm tiếng Anh và tiếng Hoa.

    Năm 1902-1905, ông chuyển về Ṭa sứ Hải Pḥng và Bắc Giang. Thời gian này ông làm cộng tác viên cho tờ Courrier d’Hai Phong (Thư tín Hải Pḥng) và tờ Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương).

    Được Công sứ Bắc Giang Hauser đánh giá rất cao về tài mẫn tiệp và khả năng nói tiếng Pháp của ông, nên đặc cách cho ông làm Chánh văn pḥng. Khi viên quan này được cử làm Đốc lư Hà Nội, ông cũng được đi theo.

    Dưới thời Toàn quyền Beau, nhờ sự giúp đỡ của Hauser, Nguyễn Văn Vĩnh cùng với các bạn đồng chí hướng, lần lượt làm đơn xin thành lập Hội Trí Tri (Hà Nội), Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp du học, Đông Kinh nghĩa thục (ông là người thảo điều lệ, viết đơn xin phép, và sau đó là giáo viên tiếng Pháp của trường).

    Năm 1906, ông cùng Hauser sang Pháp lo việc tổ chức gian hàng Bắc Kỳ tại Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Được nh́n tận mắt nền văn minh phương Tây, ông trở về nước với quyết tâm truyền bá Quốc ngữ và bài bác hủ tục phong kiến để canh tân đất nước.

    Được Hauser giới thiệu, ông làm quen với Schneider, một chuyên gia nghề in sách và nghề làm báo. Khi đă quen việc, ông xin từ chức ở Phủ Thống sứ để đứng ra làm báo và làm nhà in.

    Tiếp đó, ông được Schneider mời biên soạn và in ấn tờ Đại Nam đồng văn nhật báo (Tờ báo hàng ngày của nước Đại Nam chung một văn tự). Cũng trong năm này, ông là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội nhân quyền Pháp.

    Năm 1907, sau khi ra được 722 số, tờ báo trên đổi tên là Đăng cổ tùng báo (Tập báo khêu đèn gióng trống) do ông làm Chủ bút.

    Lo ngại v́ đường lối hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa trường vào tháng 11 năm 1907. Sau đó, họ c̣n cho bắt giam Phan Chu Trinh, là một trong số giáo viên của trường.

    Lập tức, Nguyễn Văn Vĩnh cùng với bốn người Pháp đồng kư tên đ̣i thả Phan Chu Trinh. Việc làm này cùng với việc cho đăng báo bài Đầu Pháp chính phủ thư của Phan Chu Trinh (dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt, rồi cho đăng ở phụ trương tờ Đăng cổ tùng báo), khiến Nguyễn Văn Vĩnh bị chính quyền thực dân gọi lên đe dọa.

    Sau vụ Kháng thuế Trung Kỳ (tháng 3 năm 1908) và vụ Hà thành đầu độc ở Hà Nội (tháng 6 năm 1908), thực dân Pháp liền cho đóng cửa Đăng cổ tùng báo của ông, đồng thời cấm diễn thuyết, cấm lưu hành và tàng trữ các tác phẩm của trường Đông Kinh nghĩa thục.

    Năm 1908, ông được bầu vào Hội đồng thành phố Hà Nội. Cùng năm này, ông xin ra tờ Notre Journal (Nhật báo của chúng ta). Báo này tồn tại được 2 năm.

    Năm 1910, ông xin ra tờ Notre Revue (Tạp chí của chúng ta). Báo này ra được 12 số. Cùng năm đó, ông Sài G̣n vào làm Chủ bút tờ Lục tỉnh tân văn.

    Năm 1913, ông trở lại Hà Nội làm Chủ bút tờ tuần báo Đông Dương tạp chí (do Schneider sáng lập vào ngày 15 tháng 3 năm 1913). Sau đó, ông được bầu vào Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ (sau đổi làm Viện dân biểu).

    Năm 1914, ông kiêm luôn chức Chủ bút tờ Trung Bắc tân văn do Schneider sáng lập.

    Sau ngày 15 tháng 9 năm 1919, Đông Dương tạp chí ngừng xuất bản. Thay thế nó là tờ Học báo (tờ báo của bậc tiểu học, Trần Trọng Kim lo việc bài vở, Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ nhiệm). Cũng trong năm này, ông Vĩnh mua tờ Trung Bắc tân văn và cho ra hàng ngày (đây là tờ báo hàng ngày đầu tiên ở Bắc Kỳ).

    Năm 1927, ông cùng với Vayrac lập tủ sách Âu Tây tư tưởng (La pensée de l’Occident), rồi tổ chức in các sách do ông dịch thuật.

    Năm 1929, ông được bầu vào Hội đồng Kinh tế và tài chính Đông Dương.

    Năm 1931, ông cho ra tờ An Nam Nouveau (An Nam mới). Ông làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút cho đến năm 1934.

    Năm 1932, ông đi dự họp Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương tại Sài G̣n. Trong một buổi họp, ông đă thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị, v́ có lợi cho ngân hàng Pháp, nhưng lại có hại cho nền kinh tế Đông Dương.

    Đang họp th́ có trát của Ṭa án đ̣i tịch biên gia sản v́ ông thiếu nợ, do vay tiền lập tờ An Nam Nouveau.

    Vỡ nợ, Nguyễn Văn Vĩnh phải sang Lào đào vàng và chết v́ bệnh sốt rét ác tính, trên một con thuyền độc mộc ở sông Sêbăngghi (Lào) với một chiếc quản bút trong tay, đang viết dở thiên kư sự Un mois avec des chercheurs d’or (Một tháng với những người t́m vàng, viết bằng tiếng Pháp đăng tải nhiều kỳ trên báo L’Annam nouveau), ở tuổi 54, vào đúng ngày 2 tháng 5 năm 1936.

    Linh cữu Nguyễn Văn Vĩnh sau đó được đưa về an táng ngày 8 tháng 5 năm 1936 tại Hà Nội. Tại buổi lễ tang, đông đảo giới báo chí của cả ba kỳ đă đến tiễn đưa ông dưới ḍng chữ: Kinh viếng Ông tổ của nghề báo


    Tác phẩm:

    Theo thống kê chưa đầy đủ, những công tŕnh của Nguyễn Văn Vĩnh gồm có:

    Sáng tác

    Những bài luận thuyết và kư sự sau:

    - Xét tật ḿnh (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 6)

    - Phận làm dân (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 48)

    - Chỉnh đốn lại cách cai trị dân xă (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 61)

    - Nhời đàn bà (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 5)

    - Hương Sơn hành tŕnh (Hành tŕnh thăm chùa Hương, đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 41 đến 45)

    - Một tháng với những người t́m vàng (viết dở dang).

    Dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt

    - Thơ ngụ ngôn của La Fontaine (Fable de La Fontaine)

    - Truyện trẻ con của Perrault (Les conte de Charles Perrault).

    - Mai nương Lệ cốt (Manon Lescaut), tiểu thuyết của Abbé Prévost.

    - Ba người ngự lâm pháo thủ (Les trois mouquetaires), tiểu thuyết của Alexandre Dumas.

    - Những kẻ khốn nạn(Les Misérables), tiểu thuyết của Victor Hugo.

    - Miếng da lừa (La peau de chagrin), tiểu thuyết của Honoré de Balzac.

    - Guy-li-ve du kư (Les voyages de Gulliver's), truyện của Jonathan Swift.

    - Tê-lê-mặc phiêu lưu kư (Les aventures de Télémaque), truyện của Fénélon.

    - Bốn vở kịch của Molière: Trưởng giả học làm sang (Le Bourgeois Gentilhomme), Giả đạo đức (Le misanthrope), Người bệnh tưởng (Le malade imaginaire), Người biển lận (L'avare).

    - Tục ca lệ (Turcaret), kịch của Lesage .

    - Truyện các danh nhân Hy lạp và La Mă (Lé vies parallèles des hommes illustres de la Grèce et de Rome)của Plutarque.
    Rabelais của Emile Vayrac.

    - Le parfum des humanités (Sử kư thanh hoa) của Emile Vayrac.

    -Chàng Gil Blax xứ Xăngtizan (Gil Blas de Santillane), tiểu thuyết của Lesage.

    Ngoài ra c̣n những bài dịch về:

    - Luân lư học (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 15) và triết học yếu lược (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 28).

    Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp:

    - Kim Vân Kiều tân dẫn Pháp văn (tức Truyện Kiều của Nguyễn Du). Đăng từng kỳ trên Đông Dương tạp chí' từ số 18 trở đi.

    Dịch từ chữ Hán sang tiếng Pháp:

    - Tiền Xích Bích và Hậu Xích Bích, đăng trên Đông Dương tạp chí, lớp mới, số 66-68.



    Nguồn Internet
    Last edited by Ngao_0p; 10-11-2011, 02:44 AM.
    Vạn Xuân

  • #2
    Thiếu gạo ăn thừa giấy đốt




    Mấy anh em ḿnh bàn duy-tân mấy tiến-bộ măi, ngẫm mà thẹn với thiên-hạ. Cũng may chữ ḿnh tiếng ḿnh, các nước cũng không mấy người học tới, chớ giả thử họ hiểu được cái tṛ ḍng-sơn ḿnh làm độ này, th́ họ cười cho chán.

    Chỗ này bàn cải-lương, chỗ kia luận tân-học, thiên-văn, địa-lư, bác-vật, hóa-học, cơ-khí, kỹ-nghệ, con mănh ở đâu! mà thấy xó nào cũng nói ỏm-tỏi cả lên, thế mà thầy bói vẫn thấy hăi c̣n đắt hàng, Hà-nội c̣n có phố chỉ làm nghề đan, phất đồ giấy bán; Chú tầu mỗi tháng c̣n bán cho ḿnh được hàng ngàn bạc tiền hương với giấy vàng giấy bạc.

    Nhất độ này, phố nào cũng đặc cả, những voi giấy, ngựa giấy, h́nh nhân, bầy la liệt hai bên hè, giấy chăng-kim lập ḷe quáng mắt. Xó này lung-tung, xó kia tiu-cúng, gọi là vào hè mấy cầu mắt.

    Mà chẳng thà mấy bà đàn bà bầy tṛ ra với nhau, cũng là một cách giải buồn. Nhưng mà đàn ông hẳn hoi, râu mày tươm tất, mà sao cũng đứng nghêu ngao được, đầu đường góc phố như thế!

    Khốn nạn! cũng là cái kiếp đàn ông! Hèn hạ là đi gồng thuê gánh mướn, mà cùng quá nữa là đến ngửa tay ăn xin, cũng không đê tiện bằng đi nói láo như thế, để lừa lọc đàn bà, kiếm quan tiền bữa riệu.

    Cái điều cúng-vái thực hư thế nào, nói lắm cũng rườm, chúng tôi tưởng ai đă đọc nổi một chữ, cũng đủ biết rồi.

    Ngẫm ngay cái điều cúng chúng-sinh. Người đi ăn mày từng lũ lượt, th́ chẳng nh́n đến, lại nhớ đến mấy con ma, mà sao lại khéo biết là ma đói? Đến cái bịa đặt ấy, th́ chịu nước Nam, duy chỉ bịa ra máy móc là không biết mà thôi.

    Giời rét đến người trần cũng không có áo mà mặc, lại đi làm áo giấy để cúng các quan, chẳng biết các quan nào. Ḿnh chẳng ra ǵ th́ chớ, lại c̣n tưởng rằng ngoại dương-gian cũng chẳng ra ǵ nữa. Trên trần ta th́ mấy có quan hễ ai lễ th́ mấy binh vực, chớ ở trên giời nếu cũng thế, th́ chẳng hoá ra ông giời đâu đâu cũng chỉ tạo ra điều bất lương dư?

    Làm như thế thực là đùa Thánh Thần đó. Thánh Thần đâu lại hễ ai cúng th́ tha. C̣n như ma đói, ma khát, th́ thực là bịa đặt.

    Sự đói khát là một cái cần riêng của giống súc-sinh ở trần-gian. Gia ngoài xác thịt không c̣n đâu những cái hèn hạ ấy. Nếu không, sao gọi là linh. Nếu có tài làm được điều lành điều dữ cho người ta được, th́ việc chi lại phải cần đến ḿnh cho ăn; một năm cúng một hai lần, c̣n những ngày khác th́ ăn vào đâu?

    Chẳng qua là các cụ ngày xưa ít học, cứ điều ǵ không biết lư, th́ cho là có ma có thần, bây giờ đă được kiến thức hơn xưa, xin đừng tin những điều sằng ấy nữa.

    Các nước bên Âu-châu người ta có thờ ma ở đâu? Sao không thấy ma quấy?

    C̣n như chữ thờ, cũng phải nên hiểu cho rơ mấy được.

    Thờ một ông Thánh, nghĩa là làm để cho lưu cái danh ông ấy lại, chứ không phải triệu hồn ông ấy về, ăn miếng thịt quay, uống ba chén riệu, rồi khấn ông ấy điều ǵ cũng được đâu.

    Xưa nay nước ḿnh hay cúng vái là chỉ v́ bởi hiểu nhầm chữ Sự (là thờ).

    Bây giờ có muốn tiến bộ, th́ trước hết phải bỏ cái hủ đi đă, rồi mấy nói cái hay được; muốn đuổi kịp người mà chân vẫn giữ cùm, th́ chậy làm sao được?

    Tôi thấy có nơi học duy-tân, mà lại c̣n bầy bàn-thờ đức Khổng-tử, rồi đệ vàng hương tế lễ, mất đến vài ba giờ đồng-hồ.

    Sự học-hành nên đem cái hiệu đức Thánh ra, để dục ḷng người ta hay thiết có thầy, có tiên-sư; nhưng tôi thiết tưởng một cái chanh, một trồng sách, hoặc một vài chữ để vào tường, hay là vào tờ giấy, cũng đủ rồi.

    Trong sự thờ là cốt để người sống trông vào, chứ đức Thánh th́ ngài có đâu đấy.



    Tân Nam Tử

    Bài báo này được viết trong "Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo", số 802 ra ngày 30 tháng 5 năm 1907, được viết với bút danh Tân Nam Tử.
    Vạn Xuân

    Comment


    • #3
      Thói tệ




      Mấy năm nay ở Hà-nội tự dưng thành ra một thói tệ, là khi có đám cháy trong thành-phố, th́ nhà nào nhà ấy đóng chặt cửa lại, c̣n người đi qua đi lại th́ chạy trốn. Sự đó bởi sao? Có người nói là tại những lính phút-lít [1] thấy ai đến cứu cháy th́ cứ đánh người ta, bắt người ta làm như cu-li [2]; chớ không để cho người ta được tự do, tùy sức ḿnh mà cứu. C̣n những nhà mà đóng cửa chặt lại, là tại sợ những quân gian-đồ, nhân lúc dộn-dịp, vào cướp phá nhà người ta.

      Tôi tưởng hai điều ấy cũng có thực, nhưng chúng ta không có nhẽ bàn với nhau thế nào, cho khỏi được du? Giá thử bây giờ mỗi một phố bao nhiêu người giai trẻ bàn nhau, bất cứ người Tây, người Khách, hay là người An-nam, hễ động thấy nhà nào cháy th́ đến cả; cắt mấy người vào việc sách nước, mấy người vào việc giữ cho kẻ gian khỏi hôi đồ của chủ nhà, c̣n bao nhiêu các người khác th́ để canh gác cho hàng phố và giữ kẻ gian. Một hai người th́ lính phút-lít có thể bắt nạt được, nhưng nhiều người th́ tôi tưởng không có nhẽ họ dám đánh ḿnh?

      Phải bàn nhau thế mới được, v́ tôi trông thấy cháy mà giai trẻ chạy cả; dù tại cớ làm sao mặc ḷng, cũng lấy làm xấu hổ thay cho người nước ḿnh lắm. Có người đă trốn chánh th́ chớ, lại không giấu mặt đi: như cháy ở hàng Đường th́ đứng một bọn đông, thập tḥ ở đầu hàng Ngang để xem, thấy xe thụt-nước hoặc thấy lính phú-lít đến th́ ồ chạy cả, lại c̣n vừa chạy vừa reo nữa!

      Tôi lấy thế làm hủ lậu lắm, đă rát th́ chớ lại dợ-mọi nữa; cho nên người ngoại quốc họ cười cho, mà họ cười là đáng lắm.

      Việc ấy anh em đồng-bào ḿnh phải bảo nhau, mới được.

      C̣n độ tết, những quân trộm cướp hay có vào nhỏ ra to, cũng v́ thế. Có người kêu mà chẳng thấy ai ra cứu sốt cả, nhà nào nhà ấy chỉ cứ chẹn cửa cho rơ thật chặt, chẳng ai chịu tḥ ra.

      Nhân việc ấy tôi xin bàn với hàng phố một điều này:

      Trong một phố, phàm giai từ 20 tuổi giở lên, đến độ tết phải cắt nhau đi tuần, xin lĩnh Nhà-nước mỗi phố vài ba khẩu súng lục. Thí dụ, mỗi giờ cắt năm ba người đi lại trong phố, mà có sợ lúc quân lính đến bắt nhầm, th́ mấy người đi tuần ấy phải có hiệu riêng.

      Mà việc đi tuần cùng việc đi cứu hỏa, xin đừng cho là việc đê hạ.

      Xưa kia ḿnh có cái tục ăn-mày, thực là tục ăn-mày, cứ quan hay là con quan, cùng người khoa mục, người giầu có, th́ được miễn việc tuần giờ ; cho nên ai ai cũng cứ cho việc tuần giờ là việc đê hạ. Đời nay tôi tưởng nên bỏ cái hủ tục ấy đi. Phàm con giai ai cũng nên coi cái nghĩa vụ với hàng sóm láng giềng, cùng việc binh vực kẻ yếu kẻ khổ, là một việc người anh hùng mới phải.

      Không làm được nghề ǵ, phải đi gánh nước kiếm ăn, th́ là đê tiện thật; nhưng mà đi sách nước để cứu kẻ khổ th́ là việc người anh hùng, không phải là việc đê tiện.

      Sức giai, mà tôi tưởng giời tháng giêng rét mướt tối tăm, ban đêm vác khẩu súng hoặc cầm cái tay thước, đi tuần trong phố một vài giờ cho cha mẹ ḿnh, cha mẹ người, cho vợ con ḿnh, vợ con người ngủ được yên; như thế th́ khi về nhà, tôi tưởng vợ con cha mẹ phải trọng hơn là khi đi đánh tài-bàn hay là đi hát nhà-tṛ về.



      Bài báo này được viết trong "Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo", số 798 ra ngày 2 tháng 5 năm 1907.

      -----------------

      1: phiên âm tiếng Pháp police: cảnh sát
      2: phiên âm tiếng Pháp coolie: phu khuân vác
      Vạn Xuân

      Comment


      • #4
        Ma to dỗ nhớn




        Phong tục An-nam ḿnh, nhiều điều thật không có nghĩa lư ǵ.

        Như có bố mẹ lên lăo, hoặc ḿnh đi thi đỗ, cưới vợ, làm nhà, được làm quan, thăng hàm, mà ăn mừng th́ c̣n có nhẽ; nhưng bố mẹ chết, mà mổ trâu mổ ḅ, mời làng mời nước, biếu-sén hàng sóm láng giềng, th́ c̣n có nghĩa ǵ nữa?

        Có kẻ nói rằng: làm thế để giả nghĩa cha mẹ. Cái điều cha mẹ chết đi, hồn phách có c̣n mà trông thấy những sự dương-gian hay không, th́ đây tôi không dám bàn, nhưng giả thử các cụ có trông thấy, th́ chắc hẳn cũng lắm khi tức cười. Ḱa như: có người, lúc cha mẹ c̣n sống, coi như người ngoài, ra lườm vào nguưt, bon tren từng tí; thế mà lúc cha mẹ vừa mới nhắm mắt lại, đă ḅ ḅ, lợn lợn, cỗ cỗ, bàn bàn, bán mẫu ruộng làm ma to, cầm khu vườn lo dỗ nhớn.

        Tôi nghĩ không giả nghĩa nào bằng: lúc cha mẹ c̣n sống; nhà thường th́ cố làm ăn cho cha mẹ được hiển vinh; nhà có th́ gắng nên tài trí để cha mẹ được danh tiếng.

        Tôi tưởng lúc ông-cụ bà-cụ nằm xuống mà nghĩ được rằng: "ta đă sinh ra được con có tài có đức, cho xă-hội được nhờ; th́ dù ta từ trẻ đến già, không làm nên điều ǵ, song đă để lại được dọt máu tốt, để chuộc lấy cái đời vô ích của ta", th́ chắc hẳn các cụ thỏa ḷng hơn rằng, chết rồi có tư-văn hàng-giáp đến tế-lễ linh-đ́nh.

        Cũng có kẻ nói là nợ miệng: ăn của người th́ lại phải mời người đến ăn.

        Trong một đời người thiếu ǵ dịp tiếp khách, lại phải nhân khi bố mẹ chết mới tưởng đến ơn người cho ta ăn một bữa. Th́ ra khi bố mẹ chết, tưởng đến bố mẹ ít, tưởng đến kẻ cho ăn nhiều.

        Tôi tưởng làm người, thực có hiếu với cha mẹ, th́ lúc cha mẹ thác đi, c̣n có trí nào mà nghĩ đến những điều thiệp-lịch mấy được, c̣n có bụng nào mà để vào những sự tiếp đăi anh em.

        Vả làm ra cỗ bàn lại hóa ra mất cả ḷng thành hàng sóm láng giềng, bạn-bè thân-thích. Thành ra ai cũng mang tiếng, vị có bữa cơm mấy đi đưa bà con tới mồ, chớ không phải thương vị tiếc bà con mà chịu khó nhọc đi đưa đám.

        Sau nữa lại c̣n một nỗi: vừa mất cha mất mẹ lại c̣n vừa hết cơ hết nghiệp, hết tang người rồi lại đến tang của. Có đâu lại làm như thế!

        Những nhẽ tôi nói đây th́ ai cũng biết cả, nhưng tại làm sao xưa nay vẫn biết rằng xấu mà vẫn làm? Ấy là v́ một điều thiên hạ muốn khoe của.

        Lạ quá! Kỳ quá! ở đời bao nhiêu lúc để hách dịch mà chẳng hách cho!

        Ḱa như: ḿnh cũng là người, người ta cũng là người, mà có kẻ vật ḿnh ra, th́ không thấy biết trọng thân. Để giữa khi bố chết hách mấy đời một phen, khánh gia bại sản cũng đành.

        Thôi! thế như mà, có ông quân-tử đă nói rằng: giống người không chữa được ... phải để hách.

        Giả như bây giờ những người quân-tử và đàn anh trong làng nước, nghĩ ra một cách đổi tục lại, phàm ai có cha mẹ mất đi th́ tục lệ phải nộp vào cho dân vài trăm quan tiền để làm tràng học, hoặc mở cơ cục ǵ hay, th́ hàng-giáp hay là tư-văn mấy đền tế-lễ, như thế th́ cái hách của đứa giại không phải chừa, mà tiền của đứa giại vất đi, dùng được làm điều tốt cho người khôn.

        Các ông Cử, ông Tú bây giờ, xin đừng làm việc giời cao bể giộng vội, xin hăng cứ bàn việc ấy thế nào cho thành, th́ là nước được nhờ.



        Thực Trí

        Bài báo này được viết trong "Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo", số 796 ra ngày 18 tháng 4 năm 1907. Được viết dưới bút danh Thực Trí.
        Vạn Xuân

        Comment


        • #5
          Đốt pháo



          Việc này đáng nhẽ để đến tháng chạp hăi bàn th́ phải, nhưng bây giờ là mùa cưới, pháo cũng đă sinh ra nhiều sự nên nói để anh em đồng-bào nhớ lấy, đến khi Bản-báo có luận đến, th́ những sự thực cũng làm cho nặng thêm nhời chúng tôi lên một ít nữa.

          Hôm nọ ở phố hàng Điếu, có đám cưới. Lúc rước dâu về đến cửa, nhà giai sắm sửa đón hai họ vào thực là vui vẻ; giữa lối đi th́ cũng giữ lệ đốt ḷ than để cô dâu bước qua cho sạch viá-van; mẹ chồng cũng theo thói trốn sang láng-giềng để dâu về được hưởng quyền vu-qui một chốc cho khỏi thất-hiếu; ngoài đường th́ xe xe ngựa ngựa sắp hàng; các ông các bà hai họ, ông th́ áo gấm bà th́ áo vóc, đây vài ông duy-tân bận áo nái Trần-văn-Phúc, đội mũ Đông-thành-xương, đi giầy vàng phố Phúc-kiến. Vài ba ông cụ già mặc áo thụng xanh, đi có lọng che cầm hương thơm Quảng-hợp-ích. Đám cưới thực ra một đám cưới duy-tân, và có ư bảo-nghiệp, duy có cái pháo vẫn c̣n giữ lối bắt chước các chú. Lạch-đạch trong nhà trán rồi lại treo thêm một bánh ra mái hiên cửa gọi là làm lệ để dâu vào được đi qua hỉ-khí.

          Bất ngờ đương lạch-đạch tạch-đùng có một cái xe độc-mă đi qua: trên xe một vị thiếu-niên ngồi, chẳng biết ông Phán sở nào. Như người ta thấy pháo th́ hăng đứng lại xa xa một quăng xong rồi hăi đi. Ông phán ta lại vội quá, vả nhân có đám các bà các cô lịch-sự, ta cũng làm ra mặt đánh xe rỏi lấy sĩ-diện chơi. Roi dây đánh đen-đét. Phải con ngựa cũng ác! Vừa tiếng pháo vừa tiếng roi, ngựa sợ lồng phách măi lên, long mất hai cái tay xe với cái ván. Hai bên hàng-phố ai trông thấy cũng bảo: đáng kiếp, và cười ồ cả lên. Nhưng mà ông Phán ta có phải là người chịu hèn đâu, ngài đi t́m ngay một ông Tây đến, chẳng biết ngài nói với ông Tây thế nào, ông Tây đến gọi chủ nhà ra đánh một hồi, rồi cho hai người đội-xếp đến bắt đem lên bóp Hàng-dậu. Lên đó rồi ông Cẩm bắt phải đền 50$, ông chủ nhà lậy van măi phải đền 30$ mà thôi.

          Việc phải đền ấy, phải trái thế nào tôi cũng xin không luận làm chi. Ông phán ấy đi huỳnh xe mượn, cầm cương chẳng nên thân, hoặc cầm tài nhưng bánh-pháo láo thành ra gần đến nơi không tịt lại, cứ cố trí lẹt-đẹt măi để cho ngựa lồng, th́ sự ngày nào chẳng ra như thế, cũng không nên nói.

          Duy có cái điều đốt pháo là thậm giă-man, thậm hay sinh phiền, thậm vô-lư, th́ anh em ta nên bỏ dứt hẳn đi.

          Ngày xưa kia, cáng làm xe, người làm ngựa, th́ cái pháo không sinh ra được những sự phiền-nhiễu như bây giờ. Hai nữa là pháo ḿnh không chế được ra, mỗi một năm vừa cưới xin, mừng rỡ tết nhất mua của chú-khách không biết là bao nhiêu vạn bạc nữa; mà chẳng thà mất đồng tiền nó có to béo ra được chút nào, đốt nó có ra tiếng lưu-thủy huân-phong ǵ, tám hào bạc một bánh pháo Hạnh-hoa, vừa được nửa phút, vừa điếc cả tai, ngạt cả mũi, toét cả mắt, cháy quần cháy áo, cháy chân cháy tay, mà có lúc cháy cả đến cửa nhà hàng-sóm láng-giềng; trẻ con c̣n bé có đứa sợ hăi sinh sài sinh ốm; mất cả câu truyện, không c̣n được việc ǵ; nghĩ đến cái thứ ấy là thậm không có nghĩa-lư ǵ.

          Khốn nhưng mà không có pháo th́ những chú-khách sang đây tay mang dù rách, tay sách chăn-bông làm thế nào mà về Tầu có cửa có nhà có ruộng có nương được? Không có pháo, ai bảo ḿnh rằng giầu có ngàn có vạn? Không có pháo th́ sao thằng ăn-mày ba bữa không được hột cơm nó đến chực cửa, sao nó biết được rằng ḿnh hơn nó nhiều? Sao nó biết được rằng bụng nó lép bao nhiêu ḿnh có thừa tiền đốt ra khói bấy nhiêu? Không có pháo; làm thế nào được cho quan tưởng cướp đem lính về vây làng như quan Thái-Bộc Cử-đá hôm nọ? Lại không nhớ mấy năm trước Hà-nội ta có mấy ông tên đồn lừng lẫy xuốt Bắc-kỳ, v́ ganh nhau đốt pháo lúc đám rước rồng Hội-quản đi qua cửa, ư?

          Đó là mấy nết hay của cái pháo đó! Mà mỗi một ngày cái pháo một khéo. Xưa c̣n Phượng-vĩ một su một bánh, sau có Măn-địa-hồng hào hai; sau mỗi ngày một văn-minh, Măn-địa thêm chữ Toán, rồi đến Ngũ-sắc, rồi đến Bàn-đào, Hạnh-hoa, rồi đến tạch-đùng, pháo nổ hết lại ṣe ra một tờ-giấy bốn chữ "Đinh-tài-lưỡng-vượng". Các chú thực là khéo lo cho nước Nam lắm tiền quá. Âu tiến-bộ, xe-lửa nuốt đường mỗi ngày một nhanh, trước c̣n 10, sau 100, sau nữa 120 kilometres một giờ. Á văn-minh, quả pháo ăn bạc, mỗi ngày một tróng, trước c̣n su, sau hào, sau nữa đồng bạc một phút. Chẳng có thế tiền của nước Nam để đâu cho hết?

          Nước Nam thua người học-hành buôn-bán, nhưng cũng hơn người được cái hách xằng, chớ lại chịu hẳn rằng kém, sao?



          T-N-T

          Bài báo này được viết trong "Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo", số 824 ra ngày 31 tháng 10 năm 1907, viết với bút danh T-N-T.
          Vạn Xuân

          Comment


          • #6
            Lính-tuần, lính-lệ




            Bài này là bài luận để cứu một đàng người, chớ không phải là bài khích bác chi kẻ ngu hèn.

            Ai đă có việc ǵ vào đến quan ta, mấy biết được lính-tuần, lính-lệ là thế nào.

            Ngày xưa tôi nghe nói có hủi quấy các chợ búa, cũng đă lấy làm tệ lắm, bây giờ hủi không được đi quấy nhiễu ai nữa, nhưng hai cái giống lính-tuần, mấy lính-lệ quấy người ta cũng không kém ǵ.

            Dân chưa vào đến huyện, đă mấy thằng lệ đón từ cổng, nằn-nằn ń-ń, cho thằng này th́ thằng kia đ̣i, không có th́ dân nhục với nó, mà không vào được đến thềm công đường.

            Vào đến trước mặt quan, quan nhăn mặt một tí là vài hào, quan hét một tiếng là năm hào. Lạ chưa! quan sai đánh mười roi cũng là năm hào. (Nếu Nhà-nước tưởng là thông sức một lần cấm được quan đánh dân th́ nhầm to).

            Hơi có việc ǵ quan đ̣i đến, bất cứ điều hay điều giở, cậu lệ mang trát thế nào cũng kẻ nhè lấy bữa cơm, bữa thuốc lại đèo thêm vài hào mấy cho về, không có th́ đến mất mặt mấy nó ở chỗ làng nước.

            Lính-lệ đă tệ, lính-tuần lại c̣n tệ hơn nữa.

            Hầu quan trên lại phải quấy nhiễu một cách bề trên. Cái đấm ngực, đấm lưng là cách thường, không những bắt nạt dân mà thôi, bắt nạt cả các quan nữa. Quan Huyện lên lễ tết quan Thượng hai trục th́ cũng phải biếu cậu tuần 1 đồng. Tết đến mỗi cậu vót vài cái tăm-bông, trổ vài tờ giấy trang-kim, đem đi từng nhà hàng-phố, nửa ra mừng năm mới, nửa ra ṿi tiền. Ai không có th́ có khi nó chửi.

            Mà xét ra chúng nó làm như thế, có được phong lưu ǵ đâu. Keo-cúi được đồng nào, vào phiện mất đồng ấy. Càng keo già càng đê tiện.

            Nh́n chúng nó găi đầu găi tai, bẩm bẩm dạ dạ, th́ thực đáng khinh, nhưng cũng đáng thương. V́ chúng nó xấu tại-nghề, chớ không phải tại tính. Nghề th́ nghề không lương, mà quan xưa nay lại thích cái lối bẩm-báo ấy. Vả lính-tuần lính-lệ cắt từng làng. Làng nào đă phải, là sinh ngay ra trong làng có một cái phong lính-tuần. Cha chuyền con nối, học lấy cái nghề hay. Liệt-hại hẳn mất một giống người, cũng là người, cũng có thể làm nghề nọ nghề kia được.

            Bây giờ tôi tính c̣n dùng cái giống lính-tuần lính-lệ, là làm nhiễu dân mà lại làm hư mất một giống người.

            Hầu quan sao không lấy lính-cơ, hay là thuê người như những người chạy giấy các sở. C̣n việc sách điếu cắp tráp, th́ ông nào muốn đài-các phải thuê người nhà, mà người nhà phải cấm không được dự ǵ vào việc quan.

            Ngẫm mà xem, các ông ạ, có một điều nhỏ-nhen thế mà sửa đổi được th́ hay lắm đấy !


            Lư Nhỡ


            Bài báo này được viết trong "Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo", số 803 ra ngày 6 tháng 6 năm 1907, được viết với bút danh Lư Nhỡ.
            Vạn Xuân

            Comment


            • #7
              Chữ nho nên để hay là nên bỏ




              Có một điều ấy, bao nhiêu người nghị–luận, mà nghị–luận măi không ra mối, cũng chỉ v́ thường cứ bàn bạc nên bỏ, hay không nên bỏ, nhưng mà để là để thế nào, để ở đâu; nên bỏ thế nào, nên bỏ ở đâu, không hay bàn cho dứt khoát, cho nên cứ bối–dối măi. Người nói rằng bỏ đi là phải, v́ học chữ Nho mất hàng nửa đời người, mà trăm người học, không được một người hay; học được hay cũng chỉ ích lấy một ḿnh, không đem ra mà dùng cho đời được nhờ cái học vấn của ḿnh chẳng qua là một cái thú rung–đùi mà thôi. Người nói rằng để lại là phải, v́ năo–chất cuả người An–nam đă mấy mươi đời nay nghiền bằng đạo Khổng Mạnh, phong–tục, tính–t́nh, luân–thường, đạo–lư, đều là ở đạo Nho mà ra cả. Vả lại tiếng An–nam ta nói, ước có nửa phần do chữ nho mà ra. Lại nói rằng lối học nho là một lối, tuy không tiện, nhưng mà muốn bỏ đi, th́ phải có lối nào mới, tiện hơn mà đem thế vào. Nay lối mới chưa nghĩ được tuyệt–diệu, mà đă bỏ đ́ thi ra bỏ cái nền cũ, mà chưa có cái ǵ mới thay vào sốt cả.

              Hai bên nói như thế, nghe ra cũng phải cả, thế mà cứ nói măi, th́ ra kéo dài trong trăm năm một câu truyện dằng–co.

              Trước hết tưởng hay nên phân ra hiện việc học của người An–nam, ngày nay có mấy lối, mấy đằng; đằng nào nên để cho học chữ nho, mà đằng nào nên bỏ chữ–nho đi.

              Sau lại nên xét xem chữ–nho bây giờ đối với dân ta, đối với việc học của người An–nam, th́ là thế nào, là cái ǵ?

              Gỉa nhời rằng: chữ–nho là một lối văn–tự cũ cuả nước Tầu, là một nước cho ta mượn văn–minh, phong–tục, tính–t́nh; chữ ấy sang đến nước ta, đổi cả cách đọc, đổi cả lối dùng, mà lại thấm nhiễm vào tiếng–nói của nước ta; lại thành ra một thứ văn riêng cuả đám thượng–lưu ta dùng, tuy là mượn cuả Tầu, mà có điệu riêng, hay dở không giống như hay dở cuả văn Tầu.

              Thế th́ cái địa–vị chữ–nho ở nước ta cũng khác nào như địa–vị chữ la–tinh ở bên nước Đại–pháp.

              Dẫu ra như thế rồi, th́ muốn giải cái vấn–đề: nên để hay nên bỏ chữ–nho? cứ việc xem bên nước Đại–pháp đăi chữ la tinh thế nào, th́ ta nghĩ ra được ngay cách nên đăi chữ nho như thế!

              Bên Đại–pháp, chữ la–tinh là gốc phần nhiều tiếng– nói nước nhà, văn–chương dựa lối la–tinh, cho nên ai học khoa ngôn–ngữ, các bậc vào cao–đẳng học phải học tiếng la–tinh, phải nghiền văn–chương cổ la– tinh, ngôn–ngữ văn–từ bên Tây mà pha tiếng la–tinh vào cũng như bên ta người nói nôm thỉnh–thoảng pha mấy câu chữ–sách. C̣n người làm ăn, đi học qua bậc sơ–đẳng gọi là biết đủ nhân–cách, biết đọc, biết viết, th́ tuy rằng tiếng nói cuả ḿnh do tiếng la–tinh mà ra, nhưng không cần phải biết chi đến gốc rễ xa–xôi ấy. Không ai dám bảo rằng: không học tiếng la–tinh th́ không học được tiếng Đại–pháp bao giờ.

              Thế th́ chữ nho đối với tiếng An–nam ḿnh cũng vậy.

              Ai chuyên học văn–chương, tuy rằng phải gây cho An–nam ḿnh có văn–chương riêng, nhưng mà cũng phải học lấy cái văn cũ, phải biết lịch–sử văn–chương cuả nước ḿnh, phải biết gốc tích tiếng nói ḿnh, th́ mới hay được, th́ mới gây được cho văn ḿnh mỗi ngày mỗi hay lên. Trong tiếng ta nhan nhản những chữ–nho, dùng đến những chữ ấy, mà chẳng sao đừng dùng được, tất phải học tận căn–nguyên nó, mới biết hết nghĩa nó được, về sau có làm tự–vị, tự–điển tiếng An–nam th́ mới có cách biện–nguyên mà cắt nghĩa từng tiếng cho đúng được.

              C̣n những người thường, con nhà làm ăn đến tuổi cho vào tràng sơ–đẳng học (mới định nhưng thực c̣n chưa có) cốt để học lấy biết đọc, biết viết, biết lễ– phép, phong–tục, địa–dư, cách–trí mỗi thứ mỗi người gọi là phải biết qua la một chút, cho người nó khỏi như lũ xá–dại, ngây–ngô chẳng biết chi chi. Hạng ấy th́ cho học chữ–nho mà làm ǵ? Nhân thân hạng sơ–đẳng học c̣n có ba năm giời, mà lại c̣n chiều tục cũ, bắt học thêm chút chữ nho, th́ thực là làm uổng th́–giờ cho trẻ con, không được việc ǵ. Chữ nho không phải là một lối chữ học gọi là được. Đă biết phải biết hẳn, không biết th́ thôi, biết răm ba chữ, học một vài năm, th́ có biết được mấy chữ cũng không được việc ǵ.

              Chớ có nói rằng, trong tiếng nói An–nam có nhiều chữ nho, th́ phải bắt trẻ con học lấy vài ba chữ nho. Phàm chữ nho nào đă lẫn vào với tiếng–nói thông–dụng, th́ là những chữ thành ra tiếng An–nam rồi, dẫu không học sách nho cũng biết nghĩa nó là ǵ.

              Có kẻ bảo rằng nếu không cho trẻ con học chữ nho nữa, th́ nay phải cho học ít nhiều tiếng Đại–pháp. Ấy cũng là một cách làm cho trẻ con mất th́–giờ vô–ích.

              Việc học ta ngày nay nhà– nước đă phân hẳn ra làm hai lối. Một lối Pháp–việt học để cho trẻ con học chữ Pháp, có từ sơ–đẳng cho tới trung–đẳng học. Nhà ai có con muốn học tiếng Đại–pháp, học–thuật Đại–pháp, văn–chương Đại–pháp, th́ đă có tràng Pháp– việt. Tùy gia–tư mà theo học, muốn cho biết gọi là để đi làm việc, hoặc là để buôn–bán giao–thiệp với người Đại–pháp, th́ cho vào các tràng Pháp–việt sơ–đẳng học, xong sơ–đẳng rồi, lại c̣n một khoa học lấy tốt–nghiệp nữa. Ai có của, muốn cho con học theo lối Đại–pháp, cũng được thi tú–tài, th́ đă có tràng trung–đẳng mới mở ra ở Hà–nội, học phải mất tiền, muốn vào hạng học–sinh, một ngày hai buổi đến học cũng được; muốn vào hạng lưu–học–sinh, ăn ngủ ở tràng mà học cũng được.

              Lối thứ hai là lối học riêng cuả dân An–nam đặt ra cho phần nhiều, cho trẻ con các nhà–quê, thực là một lối mới, xưa nay không có, v́ lối học nho ngày xưa, không phải là một lối học phổ–thông, thực là một lối học đi làm quan Tầu, với cũng như lối Pháp–việt học bây giờ là lối học đi làm việc với nhà–nước Đại–pháp. Nhưng ai cũng muốn làm quan cả, cho nên ngày xưa đua nhau học nho thế nào, từ nay giở đi đua nhau học vào lối Pháp–việt cũng thế!

              C̣n lối học riêng mới, cũng đặt ra tiểu–học, trung–học, lấy quốc–ngữ làm gốc, mà học cách–trí, vệ–sinh, địa–dư, phong–tục, mỗi thứ một đôi chút, để gây cho lấy nhân–cách cuả phần nhiều người trong dân An–nam, th́ xét ra thực là một lối nhà–nườc bảo–hộ mới gia ân đặt ra, không tỉ được với lối học nho cũ, mà cũng không tỉ được với lối học Pháp–việt.

              Trong lối học ấy phải có hai bậc, một bậc sơ–đẳng để cho trẻ con mới lớn lên, học lấy biết gọi là mỗi thứ một chút. Trong bậc ấy, học có ba năm, tưởng không nên dạy chữ nho, mà cũng không nên dạy chữ Pháp một tí nào. C̣n bậc trung–đẳng, để đi thi cử, để nên cho những bậc có tài riêng tiếng An–nam ngày sau, chẳng phải hay chữ nho, mà cũng phải thông chữ Pháp, thực là những người thông chữ ta, th́ phải có học chữ Nho và chữ Pháp, chữ nho để mà am–hiểu lịch–sử nước ḿnh, văn–chương nước ḿnh, do ở đó mà ra; chữ Pháp là chữ cuả nước Bảo–hộ ta ngày nay, là chữ cuả ông thầy mới, ḿnh trông mong mà học lấy thuật hay.

              Nhà nước Đại–pháp đặt thêm ra lối học ta ấy, thực đă tỏ ra ḷng ngay thực với ta, muốn cho ta giữ được măi quốc–thúy, v́ nếu nhà–nước cứ bắt ta học chữ Đại–pháp mới được làm quan làm việc, th́ chắc ta cũng phải v́ lợi mà theo học cả, như là ông cha ta ngày xưa v́ lợi, mà theo học nho.

              Nhà–nước định ai có bằng tuyển–sinh mới được vào tràng Pháp–việt ấy là giữ cho dân thế nào cũng phải theo lối học ta làm gốc trước đă, thực là đặt ra lối quốc– học, mà lại khiến cho người trong nước phải học theo quốc–học.

              Trung–đẳng học ta th́ nên bắt học cả chữ nho và chữ Pháp, nhưng Pháp–việt học, th́ lại nên bỏ đứt chữ nho đi. Lối học ta mới, c̣n gần lối học nho ngày trước, cho nên học chữ nho được kỹ. Mà học chữ nho đă không học dối được, ở các tràng Pháp–việt mà đem dạy chữ nho th́ dạy buổi nào, học–tṛ thiệt mất buổi ấy. Phàm trẻ con An–Nnm đă vào học Pháp–việt, toàn là đi học cướp–gạo cả, chỉ muốn chóng thông tiếng Đại–pháp mà đi làm việc hoặc để buôn bán với người Đại–pháp. Họa là mới có một hai người, học tiếng Đại–pháp để mà, tốt nghiệp chi hậu, lại c̣n chăm vào việc học cho quán thông lịch–sử, luân–lư cũ nước Nam. Bởi thế ở các tràng Pháp–việt, cứ hôm nào đến phiên mấy thầy giáo chữ nho dạy, th́ học–tṛ như là một buổi phải nghỉ, ngồi mà ngủ gật, trong khi thầy giáo viết lên bảng những bài học nhỡ– nhàng, dễ quá cho kẻ biết rồi, khó quá cho kẻ chưa biết.

              Tổng kết lại, th́ chữ nho chỉ c̣n nên giữ lại để mà dậy ở khoa trung–đẳng nam–học mà thôi, đợi mai sau khi nào có cả khoa cao–đẳng nam–học, hoặc khoa ngôn–ngữ văn–chương ở cao–đẳng, bấy giờ mới lại có nơi khác phải dùng đến chữ nho.

              Bây giờ trẻ con xin nhất quyết đừng cho học chữ nho nữa, mà các tràng Pháp–việt cũng xin bỏ lối dạy chữ nho đi.



              Nguyễn Văn Vĩnh

              Bài đăng trên Đông Dương Tạp Chí số 31
              Vạn Xuân

              Comment


              • #8
                Ǵ cũng cười



                An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng h́, mà dở cũng h́; quấy cũng h́. Nhăn răng h́ một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang.

                Có kẻ bảo cười hết cả, cũng là một cách của người hiền. Cuộc đời muôn việc chẳng qua là tṛ phường chèo hết thảy không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày mà nghĩ ngợi.

                Ví dù được y như vậy, th́ ra nước An Nam ta cả dân là người hiền. Nếu thế tôi đâu dám đem lời phường chèo mà nhủ người nhếch mép bỏ tính tự nhiên mà làm bộ đứng đắn lại, nghiêm nh́n những cuộc trẻ chơi.

                Nhưng mà xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô t́nh độc ác; có cái láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà gièm trước ư tưởng người ta; không phải nh́n kỹ việc người ta làm mà đă chê sẵn công cuộc người ta.

                Thực không có tức ǵ bằng cái tức phải đối đáp với những kẻ nghe ḿnh nói chỉ lấy tiếng cười h́ h́ mà đáp. Phản đối không tức, kẻ bịt tai chẳng thèm nghe cũng không tức đến thế...

                Ừ, mà ǵ bực ḿnh bằng rát cổ bỏng họng, mỏi lưỡi, tê môi, để mà hỏi ư một người, mà người ấy chỉ đáp bằng một tiếng th́ khen chẳng ơn, mắng chẳng căi, hỏi chẳng thưa, trước sau chỉ có miệng cười h́ h́, th́ ai không phải phát tức.

                Ta phải biết rằng, khi người ta nói với ta, là để hỏi t́nh ư ta thế nào. Ai nói với ḿnh th́ ḿnh phải đáp. Tuỳ ư ḿnh muốn tỏ t́nh ư cho người ta biết th́ nói thực; không hiểu th́ hỏi lại; mà không muốn nói t́nh ư cho người ta biết, th́ khéo lấy lời lịch sự mà tỏ cho người ta hiểu rằng câu hỏi khi phạm đến một điều kín của ḿnh. Hoặc là có khôn th́ lựa lời mà tỏ cho người ta biết những điều ḿnh muốn cho biết mà thôi, và khiến câu chuyện cho người ta không khỏi căn vặn được ḿnh nữa.

                Nhưng phàm người ta hỏi, ḿnh đă lắng tai nghe, là ḿnh nợ người ta câu đáp.



                Nguyễn Văn Vĩnh

                Bài đăng trên Đông Dương Tạp Chí Năm 1913
                Vạn Xuân

                Comment


                • #9
                  Nghề hát bội của ta và nghề diễn kịch của người Âu-châu



                  Vốn nghề hát bội của An-nam ta, th́ là một thể mượn sự trang hoàng, mượn điệu ca-nhạc, mượn lối tỏ mừng, mà ôn lại những việc cũ, hoặc để phô những gương trung nghĩa cho người bắt chước, hoặc để bêu những đứa gian ác cho người ta sỉ nhuốc mà đừng bắt chước. Thể ôn lại ấy là một ước thể, nghĩa là chỉ dùng những cách phác diễn ra cho người ta biết việc thế nào mà thôi, chớ không cần phải tả cho in sự thực. Như núi th́ bày cái bàn cái ghế, sông th́ trả cái mền mà cầm hai đầu rũ; trận đánh nhau th́ hai người cầm hai cái giáo gỗ múa-may, lũ trẻ cầm cờ vừa chạy vừa la, v.v. là đủ hiểu. Chớ nên thấy cách người ta thế kia, thấy cách nhà ḿnh thế ấy mà khinh. Đó cũng là một lối tả, nhưng khác cái tinh-lư mà thôi. Trong lối ấy cũng có cái hay, cái thú riêng. Cũng có khéo, có vụng; có lệ, có phép. Trong tiếng trống oi tai nhức óc người không hiểu, cũng có cái cao-thú động ḷng. Giơ thẳng cánh điểm hai tiếng tùng tùng vào giữa chỗ xuống giọng hay cũng sướng bằng cái lay mũi giày của người Đại-Pháp đứng nghe kèn.

                  Đến như nghề diễn-kịch của người Âu-châu th́ khác lắm. Trước hết nên cắt nghĩa cho rơ chữ một nghề (art) theo lư-tưởng Âu-châu là thế nào. Nghề đây là mỹ-nghệ (beaux arts). Mỹ-nghệ là tổng cả những chước thuật mà người ta dùng để khêu gợi sự cảm giác và cảm t́nh, nhất là cảm t́nh v́ điều đẹp. Lấy mục-đích, th́ mỹ-nghệ là tỏ cái đẹp ra; lấy phương-thuật th́ mỹ-thuật là sự thông-ngôn cho Tạo-hóa. Mỗi người ngắm các sự vật các cảnh tượng trong Tạo-hóa có một cách thấy thấy đẹp, đem cái đẹp ấy tỏ ra cho người khác cũng cảm giác như ḿnh, vị chi là mỹ-nghệ. Cho nên mỹ-nghệ lại có người cắt nghĩa là cách lấy tính của ḿnh (tempérament) mà làm kính cho thiên-hạ soi Tạo-hóa (La nature vue à travers un tempérament). Nghĩa là tuy mỹ-nghệ là thực-tả, nhưng mỗi người thực tả cái cách ḿnh trông thấy đẹp mà thôi, chớ không thực tả được hết cả cái đẹp. Mắt ḿnh trông to hơn sự thực th́ ḿnh tả cũng to; mắt ḿnh trông nhỏ th́ ḿnh tả cũng nhỏ, quí-hồ có thành-thực (nghĩa là mắt trông thấy thế nào là đẹp th́ tả như thế, ḿnh hiểu cảnh thế nào th́ làm thông-ngôn cho Tạo-hóa mà đạt như thế) th́ nghệ được thiện.

                  Diễn-kịch cũng là một mỹ-nghệ. Mục-đích cũng là để tỏ cái đẹp trong tính-t́nh người ta, trong cách người ta cư-xử với nhau trong đoàn thể. Mà phương thuật th́ cũng dùng cách làm thông-ngôn cho Tạo-hóa, nghĩa là mắt người làm kịch trông ở trong nhân-t́nh thế-cố thấy điều ǵ đẹp, điều ǵ kỳ-khôi, th́ cũng diễn ra cho người khác được trông thấy mà cảm-động như ḿnh. Nghề diễn-kịch mượn nhiều nghề thực-tả khác mà diễn ra cho người ta trông thấy, nghe thấy, cho người ta cảm-giác một cái quang cảnh bịa đặt ra, đă y như là sự thật vậy. Nào dùng văn-chương để mà thuật lại những lời người ta nói với nhau; lại dùng âm-nhạc nhảy-múa để tả cái thể và cái nhịp-thước cảm t́nh của người ta; lại dùng đến nghề họa, nghề điêu khắc để bày biện, để tô điểm chỗ sàn hát khiến cho người xem tưởng-tượng như có sự thực trước mắt.



                  Nguyễn Văn Vĩnh
                  Xuất bản trong Đông Dương tạp chí, lớp mới, số 18.
                  Vạn Xuân

                  Comment

                  Working...
                  X