• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

HÀN MẶC TỬ TRONG RIÊNG TƯ

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • HÀN MẶC TỬ TRONG RIÊNG TƯ

    Những năm qua, v́ lẽ riêng, gia đ́nh Hàn Mặc Tử phải giữ im lặng, đành để cho những bạn yêu mến Hàn, những nhà khảo cứu văn học chấp nhận miễn cưỡng những ǵ huyền hoặc, suy diễn với những sản phẩm tưởng tượng của những người tự coi là hiểu biết về Hàn.


    MỤC LỤC

    LỜI NÓI ĐẦU

    PHẦN I. MỘNG LỚN

    CÂU CHUYỆN XƯA CỦA BÀ MẸ

    CẬU THÔNG OANH VỚI ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

    NHÀ CHÍ SĨ PHAN BỘI CHÂU

    T̀M MỘT ĐỊNH HƯỚNG



    PHẦN II. HUẾ, KHÓ QUÊN…

    CHUYẾN Đ̉ NGANG

    CHỊ TRÀ


    PHẦN III. ÔI! KIẾP TÀI HOA!

    CÔ GÁI ĐỒNG TRINH

    NHỚ NHUNG

    VANG BÓNG

    BỨC THƯ XANH


    PHẦN IV. NHỮNG RIÊNG TƯ KỲ DỊ

    CHỈ MỘT ƯỚC MƠ

    CHỈ MỘT NIỀM TIN


    PHẦN V. PHỤ THÊM: CHUNG QUANH CÁI CHẾT VÀ MỘ HÀN


    PHẦN VI. ĐIỀU CHỈNH LẠI Ư NGHĨA

    AVE MARIA

    Ở ĐÂY THÔN VỸ DẠ


    PHẦN VII. SAO LỤC


    LÊ THANH THI TẬP

    LỜI BẠT
    Vạn Xuân

  • #2
    LỜI NÓI ĐẦU



    Những năm qua, v́ lẽ riêng, gia đ́nh Hàn Mặc Tử phải giữ im lặng, đành để cho những bạn yêu mến Hàn, những nhà khảo cứu văn học chấp nhận miễn cưỡng những ǵ huyền hoặc, suy diễn với những sản phẩm tưởng tượng của những người tự coi là hiểu biết về Hàn.

    Những nhận xét sai, hoặc chưa đúng sự thật về Hàn đă làm cho giới văn học bỡ ngỡ, hoang mang khi đọc Hồi kư Hàn Mặc Tử anh tôi xuất bản tháng 3/1991 tại Việt Nam và tại Pháp.

    Đó là một tai nạn đă qua đi, làm thiệt tḥi cho lịch sử văn học từ 50 năm nay. Chỉ v́ Di cảo của Anh tôi đă bị mất sạch toàn bộ.

    Hôm nay, viết thêm tập Hàn Mặc Tử trong riêng tư, tôi cũng muốn nhân cơ hội, cố gắng đính chính một ít sai lầm có tính cách tôn giáo và văn học, ghi lại những câu chuyện xa xưa của ḍng họ, những mối t́nh kỳ ngộ thoáng bay, nhất là những biến đổi tâm trạng trong những ngày anh đau nặng đến tuyệt vọng, để t́m hiểu riêng tư anh, qua những bài thơ anh viết ra.

    Thơ Hàn rất trung thực, từ thơ Đường luật đến thơ mới, anh luôn luôn phản ánh những ǵ con tim anh tiết lộ, cảm nghĩ anh rất chân thành, có thể dẫn dắt đến những riêng tư thầm kín mà, tuy chưa đọc đến nội dung, đầu đề bài thơ cũng đă cho người đọc thấy trước. Như bài AVE MARIA, bị bỏ mất chữ AVE, ư chính của bài thơ, mà vốn là Kinh Kính Mừng.

    Một bài khác, Ở đây thôn Vỹ Dạ chữ “Ở” bị một ít bạn bè nặng óc giáo khoa, bỏ chữ “ở” cho gọn ghẽ hơn. Tôi sẽ có dịp tŕnh bày lại trong bài này.

    Một riêng tư lớn của anh là ảnh hưởng tinh thần Cách mạng của ông cậu ruột, mà mẹ tôi kể lại cuộc đời mạo hiểm sống chết đi qua, h́nh ảnh cậu đă in sâu đậm vào trí óc anh, khiến anh toan ngă theo chí hướng Cụ Sào Nam mà cơ duyên gặp gỡ đă đưa anh vào giấc mộng lớn đời anh.

    Dù vậy, riêng tư anh không hề tiết lộ với ai trong bạn bè, mà chỉ qua những bài thơ đăng trên báo Tràng An những ngày c̣n đi học.

    Anh Chế Lan Viên viết về anh trong tập “Thơ Hàn Mặc Tử”, đă thổ lộ: Tử rất kín đáo, thời kỳ quen nhau với chúng tôi, nhất là với anh Nguyễn Minh Vỹ (tức Tôn Thất Vỹ trong Hồi kư Hàn Mặc Tử anh tôi) vốn là một đảng viên Cộng sản vừa ra tù, tuyệt nhiên, Tử không hề khoe khoang đến riêng tư của anh.

    Tôi cũng không dám tiết lộ v́ tôn trọng bản tánh khiêm cung của anh, mà một thời anh được chút tiếng tăm và được bạn bè kính nể.

    Trong riêng tư thầm kín nầy, Hàn đă gặp được cơ duyên hi hữu với nhà Cách mạng lăo thành, cụ Phan Bội Châu, được cụ san sẻ cho một ít t́nh yêu Đất nước, Dân tộc trên con đ̣ cô độc ở bờ sông Bến Ngự, tuy vắn vỏi, chớp nhoáng nhưng sâu đậm lâu dài.

    Cơ duyên này, chính Cụ Sào Nam đă bắt gặp được trong một bài thơ, bài Thức Khuya, bộc lộ cả tấm ḷng yêu nước trong lời thơ xót xa, thương tiếc giùm thân thế Cụ, như người bạn trên đường đấu tranh.

    Cụ không dấu nổi vui vừng như t́m lại được tri âm tri kỷ chờ đợi quá lâu, từ ngày trở về nước, mà hương vị c̣n đọng lại trong chén trà thơm buổi sáng trên con đ̣ cấm cố.

    Một vinh hạnh lớn nhất trong đời anh, khi Cụ Sào Nam viết trên tờ Mộng Du thi xă:

    Từ ngày về nước đến nay, được xem nhiều bài thơ Quốc âm, nhưng chưa được đọc bài nào hay đến như thế. Hồng Nam, nhạn Bắc, ước ao có ngày gặp gỡ bắt tay cười to một tiếng cho thoả hồn thơ.

    Cuộc gặp gỡ duyên số đó, đă mở đầu vào giấc Mộng lớn như anh đă ước mơ.

    Sự nghiệp gọi là Cách mạng ít ỏi đó, có lẽ đă kết thúc sau một năm sống ở Sài G̣n, không có ǵ hồ hởi, để rồi mở rộng cơi ḷng cho hồn thơ vào ngự trị suốt cả cuộc đời Anh.

    Một riêng tư khác về một ước ao quá lớn ngoài kích thước mà Thế gian không thể đo lường được, mà ngày càng trưởng thành trong tâm trí anh. Đó là Giấc mộng lớn nhất của cuộc đời bệnh hoạn Anh, khi anh đứng trước một tuyệt vọng mênh mông mà chỉ có cái Chết mới giải thoát anh được.

    Những ngày dài, anh sống trong trầm tư mặc tưởng, tôi t́m hết mọi cách để hướng anh về một hy vọng cao siêu hơn. Quả t́nh anh đă trông thấy hy vọng đó rơ ràng hơn tôi, khi tôi trao cho anh tập sách bỏ túi Imitation de Jésus Christ của L.M.Lamennais, để suy gẫm về gương nhân đức theo Chúa Giêsu. Thời ấy tập sách này được nhiều người thích suy niệm (về sau, Lamennais bị vạ tuyệt thông của La Mă). Tôi thấy anh Trí nghiền ngẫm câu:

    Dieu seul sait le temps et la manière de vous délivrer. (Nói về sự cứu giải thiêng liêng mà Thiên Chúa đă định)

    Câu suy niệm nầy nói về sự giải thoát thiêng liêng mà chỉ có Thiên Chúa mới biết lúc nào và bằng cách nào. Tuy nhiên trong hoàn cảnh tuyệt vọng của anh, anh tin tưởng đến một phép lạ mà quyền năng Thiên Chúa có thể cứu giải một cách dễ dàng. Cũng như Kinh thánh đă chép lại khi Chúa xuống thế, cứu chữa lành mạnh bao nhiêu người mắc bệnh phong mà chỉ cần nói một câu: Bệnh con đă lành.

    Từ đó anh chờ đợi một phép lạ và tin chắc sẽ có phép lạ. Ư nghĩ thật táo bạo, nhưng tin tưởng lại càng mănh liệt hơn. Chẳng hạn câu chuyện Cam Phượng Tŕ dùng vũ thuật bay lên cao như trong phim Hỏa thiêu hồng liên tự (đă nói trong tập Hàn Mặc Tử anh tôi). Anh cũng tin là có thể lên trời được. Anh viết trong bài Ave Maria, ước ao về Trời gặp Đức Mẹ cũng thể hiện được. Một câu hát trong Cantiques de la Jeunesse: “Au ciel, au ciel, Oui, j’irai voir Marie” đă từng làm cho anh mơ ước có ngày sẽ lên trời gặp Mẹ, Anh viết:

    Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu

    Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.


    Đă có một thời đau nặng, những bài thơ anh xót xa cay đắng bỗng nhiên ít thấy xuất hiện, thay vào đó những bài đầy màu sắc, đầy âm thanh xa lạ chưa hề thấy trong thơ anh xâm nhập vào vừơn thơ anh.

    Không kể những lúc gần như hôn mê trong trạng thái xuất thần, và tỉnh lại anh viết những ǵ siêu thoát, những ǵ ngoài vũ trụ anh vừa đi qua, gặp được nhiều người, nghe nhiều âm thanh lạ, Anh c̣n có những bài thơ diễn tả những cảnh vật bên ngoài bờ không gian, hoặc nói một cơi Trời mới lập, một Mùa Xuân đầu tiên chưa hề có trên Thế gian, như những bài Ra Đời, Nguồn Thơm. Ư thơ lạ lùng nhưng có vẻ như quen thuộc gần gũi với anh.

    T́m hiểu anh bằng cách định nghĩa theo phương pháp tự kỷ ám thị, tôi thấy anh càng ngày càng tin tưởng vào một phép lạ nào đó. Anh càng đọc kinh cầu nguyện nhiều hơn, kiên nhẫn hơn không dám xao lăng.

    Trong bài Bức thư Xanh, Hàn viết về một t́nh thương đột ngột đến với anh làm cho anh rất xúc động, nhưng anh không đeo đuổi, sợ xao lăng sự cầu nguyện. Bài thơ nầy đă chứng minh niềm tin của anh trong Thiên Chúa, và cũng là bài mở đầu tập Xuân Như ư rất đạo hạnh của anh.

    … A Thanh Huy, Thanh Huy Thanh Huy,

    Ta cắp nàng bay cao hơn tiếng nhạc

    Cho nàng hớp đầy môi hương khoái lạc…

    (Bức thư xanh)


    Năm mươi năm về trước, nếu có xảy ra hiện tượng say ma tuư, th́ ai đă đọc thơ của Hàn đều có thể ngờ là ảnh hưởng những cơn say ma tuư. V́ những h́nh bóng, những màu sắc, anh trông thấy hồi đó, đều đă xảy ra hôm nay cho những người nghiện ma tuư. Hăy đọc bài thơ Ra Đời dưới đây:

    Một chiều xanh, một chiều xanh huyền hoặc

    Sáng bao la vây lút cả Thiên Đàng

    Muôn ư tứ say ch́m nơi bất giác…


    May thay! Cám ơn Chúa, Anh c̣n rất minh mẫn và sâu sắc trong những năm tháng cuối đời. Hàn đă viết được những bài thơ bất hủ: Ở đây thôn Vỹ Dạ và Cẩm châu duyên là những áng văn chương trác tuyệt, suy cảm rất phong phú thần tiên.

    Nếu nói những bài thơ anh viết ra do một thứ bệnh hoạn nào đó, nên giọng thơ có phần huyền hoặc, khó tin, th́ những bài: Ở đây thôn Vỹ Dạ, tập Duyên Kỳ Ngộ (Cẩm châu duyên) lại chứng minh những sáng tác của trí tuệ, suy cảm phong phú của con tim t́nh yêu gắn bó.

    Điều làm cho tôi kinh ngạc là nguồn thơ tuôn chảy mănh liệt tưởng chừng khó chấm dứt, vậy mà anh trở lại b́nh thường và rất b́nh tĩnh, khi anh bị bắt buộc phải dừng lại với một thái độ hơi mỉa mai trong bài: Nói tiên tri đă tỏ ra sắc sảo tuyệt vời (trong câu chuyện Thương Thương).

    Ta muốn làm quen phong vị mới

    Sao người Trưởng Thượng nói tiên tri

    Chơi cho rất mực tài hoa ấy

    Để thấu tai người áo Cổ y (ư nói quan lớn).


    Thật không ai tế nhị và cao ngạo bằng. Những trường hợp sáng tác thơ huyền hoặc, đều ước mơ đến một mùa xuân mới, một mùa xuân khó kiếm thấy ở Thế gian, cho nên tập thơ mang tên Xuân như ư mà tôi sẽ giới thiệu một ít bài sau đây để độc giả có dịp so sánh, cân nhắc để đánh giá một thứ riêng tư kỳ lạ chưa hề được nhận ra đúng mức.


    Nha Trang mùa thu Nhâm thân

    Tác giả Nguyễn Bá Tín
    Vạn Xuân

    Comment


    • #3
      PHẦN 1

      1. CÂU CHUYỆN XƯA CỦA BÀ MẸ


      Khác với bên Nội, những câu chuyện có liên quan đến lịch sử Đất Nước mà Nội tổ cấm nhặt không được ai nhắc đến quá khứ Cần Vương, cũng như thành tích trong quá tŕnh binh nghiệp của Cụ, th́ bên Ngoại, mẹ tôi thường hay kể lại những biến cố, những thảm họa mà ḍng họ đă trải qua trong một thời kỳ ly loạn cuối triều Tự Đức.

      Chẳng những Bà không dấu diếm, không e dè, Bà c̣n kể lại tỉ mỉ, buộc con cái phải ghi nhớ như những vinh quang đáng được hănh diện. V́ đó không phải là điều bất hạnh cho ḍng họ.

      Mẹ tôi là con gái út, trong khi các anh chị trưởng thành gia thất. Lúc bấy giờ vào khoảng trên dưới 10 tuổi, mà trí nhớ của Bà không hề bỏ sót một chi tiết nào.

      Bà thường theo Bà Ngoại vào Đại nội chữa bệnh cho các phi tần cung nữ, cùng ngồi chung một vơng với Bà Ngoại v́ lệnh rất nghiêm, cấm không được ai vào nếu không có nội thị hướng dẫn. Và cũng không được tiếp xúc riêng tư với các phi tần cung nữ.

      Bà Ngoại rất am tường khoa chẩn mạch đông y. Mẹ tôi kể lại, nhiều bệnh khó, Thái ư và Ngự y phải mời Bà Ngoại vào tham khảo tranh luận. V́ vậy rất được tin cẩn. Chính Ông Ngoại là Ngự y mà cũng không giỏi hơn Bà Ngoại.

      Nhờ vậy, Bà Ngoại được phép tiếp xúc riêng tư với các phi tần bằng phương pháp chẩn mạch: Vọng, văn, vấn, thiết (nh́n, nghe, hỏi và gần gũi) được nghe nhiều chuyện trong thâm cung ghê sợ.

      Nguyên nhân mắc bệnh trong cung phần đông do những thiếu thốn về sinh lư, tâm bệnh ṃn mỏi. Và cũng là do những tṛ chơi quái nghịch của vua chúa xem mạng người như cỏ rác.

      Câu chuyện toán nữ binh lơa thể tập trận, dưới triều vua Thành Thái, một ông vua điên loạn mà hoàng cung giải thích như kế hoạch đánh lừa chính phủ Pháp để chờ phen nổi dậy là một ví dụ.

      Không có người nào trong đám nữ binh, không mang nhiều thương tích, thậm chí thành tật v́ đao kiếm.

      Những cái chết rùng rợn của các vị vua con nít: Hiệp Ḥa, Kiến Phước cũng được nghe kể lại chi tiết. Hiệp Ḥa mới 10 tuổi bắt lên ngôi báu rồi phải nhận tam ban Triều Điển (gươm, thuốc độc và giải lụa).

      Nghe kể lại ông vua trẻ con đó, khóc la không chịu làm vua, chạy trốn ẩn trong cầu tiêu, bị lôi ra chận họng đến ḷi cả mắt ra để đổ thuốc. Kiến Phước cũng chết như vậy.

      Vua Dục Đức biết trước số phận, đă xé chíêc áo địa xanh (một thứ gấm mỏng) nuốt hết mà chết trong ngục.

      Đó là thời lộng hành của các gian thần, loạn tướng để lại cho lịch sử nước nhà những chiếc khăn tang và nước mắt đẫm máu.

      Những câu chuyện trong thâm cung, tuy bị bưng bít ra ngoài bá tánh nhưng người nào có cơ hội kể lại, vẫn tự xem như nhẹ bớt nỗi buồn phiền của chính họ.

      Cái chết của nàng cung nữ bất hạnh này, chỉ v́ ước mơ được gần vua một lần, dù chết cũng can tâm. Đó là một cung nữ trẻ đẹp trong số mấy ngàn người trong Tam cung, Lục viện sống ṃn mỏi không hề có mùa xuân thắm.

      Cung nữ này, được nghe kể lại, xuất thân nhà nghèo, được tiến vào cung nhưng không có tiền lo lót cho nội giám, nên chỉ được quét dọn ở bên ngoài nội tầm.

      Một lần trông thấy vua (Minh Mạng) một “Ngài Ngự” trẻ đẹp, đem ḷng say đắm, mong mỏi được gần gũi một lần thôi, mà chết cũng chịu.

      Vua Minh Mạng nổi tiếng hiếu sắc và hiếu sát tàn nhẫn hơn hết các v́ vua Nguyễn triều, không kém Dương Quảng (Tuỳ Đế nước Trung Hoa).

      Một hôm, người cung nữ đẹp mà vắn số này, không biết làm thế nào vào được long sàng, gặp lúc vua đang ngủ. Nh́n sững sờ một hồi, không cầm được nỗi ước mơ, rón rén hôn nhẹ má vua.

      Vua giựt ḿnh tỉnh dậy, nàng hoảng sợ vội vàng bỏ chạy. C̣n chưa tỉnh, vua thét nội thị t́m bắt và đem chém. (Có người nói là vua la lên: thích khách). Minh Mạng độc ác nên luôn luôn sợ kẻ ám sát.

      Cung nữ bị đem ra chém. Theo kể lại, nàng bị chém ngang lưng (yêu trảm) không khóc than, chỉ hướng về nội tẩm lạy mấy lạy rồi b́nh tĩnh thụ h́nh pháp.

      Trong nội cung nghe nói đều gạt lệ thầm nhưng không ai dám hở môi.

      Hàn Mặc Tử nghe câu chuyện bị xúc động mănh liệt, anh có làm một bài thơ nhắc lại thảm kịch đó bằng một giọng tuy oán trách nhẹ nhàng nhưng không thiếu phần xót xa đau đớn.


      NHỚ THƯƠNG

      Trầm ngán nghe bay trong lănh cung

      Xuân thơm bối rối ngọt vô cùng

      Ôi chao, thánh thượng vô tâm quá

      Ḷng thiếp buồn như một tấm nhung



      Ở đây châu báu vô tri hết

      Pho sách quần phương lộ ư nhiều

      Hăy t́m cho được Hoa cung cấm

      Xem thử tên Hoa có mỹ miều



      Ngoài kia Xuân đă thắm duyên chưa

      Trời ở trong đây chẳng có mùa

      Không có niềm trăng và ư nhạc

      Có người cung nữ nhớ thương vua.



      Đừng ai nhắc nhở đến xuân trong

      Vô sô là xuân chiếm mọi ḷng

      Mỗi người đều có xuân riêng cả

      Thiếp viết xuân trên mảnh lụa hồng.



      Trong bài thơ này, Hàn Mặc Tử mượn cuộc đời cô quạnh khao khát yêu đương trong cung cấm, để diễn tả nỗi ḷng người Cung nữ bất hạnh đă chết v́ thương yêu Vua.

      Các phi tần cung nữ trong Đại Nội, mỗi người một vẻ như bó hoa trăm sắc trăm hương (quần phương) t́m cách phô bày vẻ thướt tha kiều diễm, tươi mát để mong được Ngài ngự lưu ư.

      Nhưng vua chúa (châu báu) vô t́nh bước qua đi, dẫm chân lên nỗi ḷng buồn thảm của họ, tuy ân ái dịu dàng như tấm thảm nhưng, nhưng biết bao cay đắng xót xa.

      Ôi chao! Thánh thượng vô tâm quá.

      Vậy th́ ai là người đẹp nhất, có phúc được vua đoái hoài?

      Ngoài kia bá tánh, đă có bao mùa xuân nên duyên thắm, mà sao nơi đây không hề biết mùa Xuân (yêu đương). Không có trăng không có nhạc, chỉ có Vua là ước mơ thầm lặng của mỗi người trong cuộc đời khép kín.

      Người cung nữ nào đây đă phải trả Mùa Xuân bằng giá màu hồng. (Thiếp viết Xuân trên mảnh lụa hồng).

      Nếu không biết câu chuyện thương tâm này trong thâm cung bưng bít th́ bài thơ Nhớ Thương này là một trong những bài thơ kỳ lạ khó hiểu nhất từ xưa nay của Hàn Mặc Tử.

      Những ngày c̣n học ở Huế, anh Trí thường về làng Kim Long, vốn cùng là quê ngoại, để t́m hiểu tông tích người cung nữ đẹp và vắn số này. Ḷng thương xót và hiếu kỳ thúc đẩy anh ra sức t́m hiểu luôn mấy tháng trời vẫn không biết ǵ hơn.

      Kim Long là một làng nổi tiếng có nhiều người đẹp. Phần lớn cung nữ trong Đại Nội đều có thân nhân tại đây.

      Mẹ tôi kể chuyện bà d́ ruột con thứ hai ông bà Ngoại tôi, cũng nổi tiếng đẹp nhất Kim Long. Bà tên là Nguyễn Thị Hườn.

      Vua Dục Đức, thưở c̣n là ông Hoàng, nghe tiếng bà đẹp, mượn cớ đến ông Ngự y (ngoại tổ) dấu thuyền một nơi kín cho lính lùng bắt bà Hườn. Đêm nào cũng ŕnh rập, ông Ngoại tôi lo lắng gởi bà lên trốn trên An Vân. Cuối cùng phải gả chồng gấp. Nhưng số bà yểu, sinh được hai người con th́ Bà mất, Dượng tôi thương tiếc thành bệnh cũng mất sau đó không lâu.

      Mẹ tôi kể lại cái chết bất đắc kỳ tử, mở đầu thảm họa cho ḍng họ, mà ông Ngoại tôi đă thọ h́nh ngay trước mặt bà.

      Đêm ấy, vừa đọc kinh xong, nghe có tiếng phá rào, chó sủa, rồi một đoàn người đeo gươm vác giáo xông vào nhà, lôi ông Ngoại ra sân bắt quỳ xuống. Đích thân tướng Trấn Soạn rút kiếm chém. Bà Ngoại cũng bị dẫn đi. Không ai hiểu v́ sao cả. Cậu cả kư Bích may mắn chạy thoát, đang đêm đi bộ vào Quảng Nam và không dám trở về nhà nữa.

      Bà con trong họ xúm lại tẩm liệm thi thể ông Ngoại và đưa luôn về trên làng An Vân thuộc họ ngoại chôn cất tại đó. Phải chăng v́ bà Ngoại hay ra vào cung cấm, liên quan với Hoàng tộc? Bà Ngoại bị giữ lại bên Pháp Ty gần một tháng tra khảo rồi tha về, bên má trái có thích hai chữ Tả đạo. Bà Ngoại giữ im lặng không hề thổ lộ những ǵ đă trải qua bên Pháp Ty, cho đến khi qua đời. (Ông Ngoại thuộc thành phần phái đoán sang Pháp cầu ḥa do Cụ Phan Thanh Giản lănh đạo).

      Trong gia đ́nh chỉ đoán v́ bà Nguyễn Thị Hườn, chị ruột của mẹ tôi được Vua Dục Đức, thưở c̣n là ông Hoàng rất mê say, v́ vậy bị liên luỵ.

      Người cậu, anh thứ hai mẹ tôi bỏ nhà đi theo hoạt động Cách Mạng do Đông Kinh Nghĩa Thục từ ngày xảy ra biến cố, và đă tạo ít nhiều huyền thoại trong ḍng họ, tác động mạnh tinh thần Hàn Mặc Tử thưở c̣n bé.

      Mẹ tôi là em út được Cậu rất thương, dạy mẹ tôi học làm thơ, dạy đàn. Về ông, chúng tôi sẽ kể câu chuyện sau đây:

      (Câu chuyện mà tôi kể lại, từng được nghe từ thưở bé, đă thành văn trong trí nhớ. V́ vậy chưa bao giờ nghĩ đến tra cứu sử sách. Nếu có những sai lầm nào đó về không gian về thời gian, xin quư độc giả lượng t́nh bỏ qua và xem như huyền thoại vậy).



      Tác giả Nguyễn Bá Tín
      Vạn Xuân

      Comment


      • #4
        PHẦN 1

        CẬU THÔNG OANH (VÀ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC)



        Cậu Nguyễn Văn Oanh từng làm thông dịch viên nên thường được gọi là Thông Oanh. Một con người kỳ lạ trong ḍng họ, ít ai hiểu được rơ ràng.

        Chỉ biết là con người tài hoa, thơ hay đàn giỏi, phong lưu rất mực và đa t́nh như cánh bướm xuân.

        Theo mẹ tôi kể lại th́ ông xấu trai, hơi rỗ hoa mè nhưng ăn nói rất hấp dẫn, chinh phục được hầu hết những ai nghe cậu tôi tṛ chuyện.

        Cha tôi khi đổi vào ṭa sứ Hội An, Cậu khuyên ông bỏ ṭa sứ qua Thương Chánh, để hoạt động cho Đông Kinh Nghĩa Thục. V́ Thương Chánh, tức Hải quan có nhiều cơ hội liên lạc với Cách mạng hải ngoại.

        Mẹ tôi nghe được chuyện này hơi lo, nhưng rất tin ở cậu Thông Oanh. Theo Bà kể lại, việc cậu làm nghe rất nguy hiểm, vào sinh ra tử mà cậu xem như dự một cuộc ḥa đàn, một buổi ngâm thơ. Rượu uống tràn như nước. Những lúc cao hứng th́ ngâm bài thơ Đường mà mẹ tôi thuộc ḷng.

        Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

        Dục ẩm tỳ bà mă thượng thôi

        Tuư ngọa sa trường quân mạc tiếu

        Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.


        Lại ngă ra ngủ say. Lúc tỉnh dậy, xách dù ra đi không ai biết. Cậu tôi đi về Quảng Châu Loan – Hội An như đi chơi, không bao giờ có hành trang, thoắt đi, thoắt đến không báo trước.

        Năm cha tôi đổi về Quảng B́nh, cậu tôi ở hải ngoại về, thỉnh thoảng ra thăm tṛ chuyện rất tương đắc.

        Một hôm cậu tôi ra thăm, trông thấy anh Trí vừa được 3 tuổi, cậu xem tướng khen: “Thằng ni được lắm, Cô Dượng cho tôi đem nó đi với tôi”. Mẹ tôi nói: “Anh chưa có nơi định trú chắc chắn, đem nó về ở đâu”. Cậu cười: “Trong thiên hạ không có chỗ nào là không ở được. Hai năm nữa tôi về đem đi”.

        Lúc bấy giờ mẹ tôi dự trữ cá khô, mắm để cậu tôi đem đi. H́nh như trong làng chú ư nhiều lần rồi.

        Bỗng một hôm th́nh ĺnh cậu đến lúc nửa đêm, nói chuyện rất lâu với cha tôi, gần sáng lại ra đi. Cha tôi vội vào pḥng đem tất cả giấy tờ đốt sạch. Sau lần này, cậu biệt tích luôn. Anh Trí nghe chuyện cậu, lấy làm thích chí, xem Cậu như thần tượng. Anh làm bài thơ tả ư chí ngang tàng của Cậu:

        ĐỜI PHIÊU LĂNG

        Mây trắng ngang trời bay vẩn vơ

        Đời anh nào có khác chi mô

        Đi đi đi măi nơi vô định

        T́m cái phi thường, cái ước mơ

        Ở chốn xa xôi em có hay

        Nắng mưa đă trải biết bao ngày

        Nụ cười ư chí như mai mỉa

        Mỉa cái nhân t́nh lúc đổi thay.

        Trên đ̣i gió bụi anh lang thang

        Bụng đói như cào, lạnh khớp răng

        Không có nhà ai cho nghỉ bước

        V́ anh là kẻ chẳng giàu sang.

        Ban đêm anh ngủ túp lều tranh

        Chỗ tạm dừng chân khách bộ hành

        Đến sáng hôm sau anh cất bước

        Ra đi với cái mộng chưa thành.


        Luôn mấy năm về sau, t́m hỏi các bạn thân của Câu. Chẳng ai biết ǵ, nhưng một người Tàu ở Hội An cho hay: Sau một cuộc biến động ở Quảng Châu Loan nhiều người Việt bị bắt đem đi mất tích, không nghe nói ǵ. Trong số đó chắc có Cậu Thông Oanh tôi. Đúng như Cậu đă tiên tri:

        Tuư ngọa sa trường quân mạc tiếu

        Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.


        Cuộc chiến cậu đă tham dự có lẽ âm thầm, cũng có thể đă nổ bùng trong một biến động không biết là trong hay ngoài nước.

        Hàn Mặc Tử thương tiếc Cậu, so sánh khí phách ngang tàng, xem cái chết nhẹ như lông hồng của Cậu với Cao Bá Quát, khi nghe truyền tụng câu nói họ Cao lúc đưa ra pháp trường v́ tội phản loạn theo giặc Châu Chấu. Câu nói vừa chua chát đùa cợt, ngạo nghễ.

        Ba hồi trống giục mồ cha kiếp

        Một lát gươm đưa bỏ mẹ đời.


        Hàn chê vua Tự Đức hẹp ḥi, đối xử với một thiên tài đất nước không bằng Đường Minh Hoàng tha chết cho Lư Bạch, nhà thơ bất hủ đời Đường đă theo phản loạn An Lộc Sơn. Vậy mà vua Tự Đức cũng đă từng khen:

        Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán

        Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường.


        Phải chăng vua Tự Đức muốn đề cao văn chương hai ông hoàng, Tùng Thiện Vương và Tuy Lư Vương lên ngang các thiên tài Siêu, Quát?

        Giặc Châu Chấu so với giặc An Lộc Sơn chỉ là một thứ tép riu mà nhà vua Tự Đức cũng sợ hăi phải giết Quát đi th́ thật là tồi tệ, nếu không muốn nói là mượn cớ giết người tài.

        Cha tôi mất mấy năm, mẹ tôi về Qui Nhơn buôn đồ cổ. Mợ Thông Oanh cũng ra vào mấy lần đem đồ cổ của ḍng họ nhờ mẹ tôi bán cho Trường Bác Cổ Viễn Đông.

        Chúng tôi đều được trông thấy mợ. Người đàn bà lấy chồng từ thưở 17 tuổi đến nay, mà cuộc sống lứa đôi chỉ đến đuợc có tháng, ngày. Vậy mà bà vẫn vui vẻ an phận không hề oán trách Cậu. Vẫn cô đơn không nghĩ đi bước nữa, mà trông mợ trẻ như mới trên 30 tuổi thôi.

        Anh Trí xót xa cho mợ, mượn câu thơ Phan Thanh Giản đọc cho mợ nghe:

        Đường mây cười tớ ham dong ruỗi

        Trướng Liễu thương ai chịu lạnh lùng.


        Mợ vẫn cười vui vẻ, vô tư.

        Mợ Thông Oanh vốn là con gái của một ông Thông nh́ ở huyện Điện Bàn. Ông Thông nh́ cũng là tay lăng mạn, thích ngâm thơ uống rượu, thấy được khí phách ngang tàng của Cậu Thông Oanh, rất qúi trọng. Nghe nói Cậu không chịu lấy vợ, ông đem con gái cưng mới 17 tuổi gả cho Câu. Ông nói: “Mi đừng lo, con gái tao cũng như tao vậy. Tao thích là nó thích”.

        Vậy là Cậu tôi có vợ và bà vợ nầy chịu đựng thầm lặng cái tánh “bất cần đàn bà” của Cậu. Bà vợ thuỳ mị, dễ bảo, kỳ lạ nầy cũng vẫn thế cho đến ngày nay.

        Hàn Mặc Tử rất quí trọng mợ. Anh làm bài thơ Ḷng quê mượn câu chuyện một nhà Cách Mạng thất bại bị tống giam nhận được thơ vợ ở quê nhà, để tặng cho mợ:

        Từ khi trong quán khách

        Anh bứt áo ra đi

        Nước mắt em ràn rụa

        Ḷng anh xiết sầu bi

        Đạp chân lên đường máu

        Anh gây chuyện ly kỳ

        Rồi nước mây lưu lạc

        Rồi anh ôm t́nh si

        Âm thầm cùng ngày tháng

        Không biết ở thôn quê

        Em có gầy như liễu

        Hay buồn như đám mây

        Thương em không dám nghĩ

        Đương lúc nước nhà nguy

        Mối thù tràn như sóng

        Ḷng nào anh nỡ si

        Cách nhau ngàn sông núi

        C̣n thấy rơ dung nghi

        Phảng phất luôn trước mắt

        Dường mới gặp hôm tê

        Yêu nhau đành thú thật

        Sống thác có hề chi

        Trong lúc ngồi tưởng tượng

        Lệ em tưới bài thi

        Yêu đương cầm đọc măi

        Dưới ngọn đèn vô tri

        Xét thân anh vô dụng

        Ung huỷ kiếp nam nhi

        Sống chung cùng kẻ nghịch

        Hổ thẹn đến ngàn cây

        Có em anh sống gượng

        Hồn anh về thôn quê

        Theo em trong giấc ngủ.

        Theo em bên bánh xe.

        Nước mây c̣n lưu luyến

        Tiếng ḷng c̣n lân ly

        Tả xong niềm tâm sự

        Ruột gan đều tái tê…




        Tác giả Nguyễn Bá Tín
        Vạn Xuân

        Comment


        • #5
          PHẦN 1

          3. NHÀ CHÍ SĨ PHAN BỘI CHÂU



          Câu chuyện Cậu Thông Oanh đă vẽ lên trong đầu Hàn Mặc Tử h́nh ảnh một nghệ sĩ tài ba lăng mạn với nếp sống bên ngoài, mà bên trong khí phách ngang tàng như một anh hùng Cách Mạng.

          Những năm c̣n học Pellerin Huế, anh ở Bến Ngự trọ nhà cụ Nghè Tuần, không cách xa bao nhiêu con đ̣ “cấm cố” của Cụ Sào Nam.

          Từ nhà trọ anh có thể trông thấy Cụ mỗi buổi sáng uống trà trên mạn thuyền. Chắc anh nghĩ Cụ đang làm thơ để sống lại những ngày sống xa quê hương, dấn thân vào một cuộc đời cách mạng nguy hiểm. Lại một thần tượng nữa, đáng được tôn thờ của anh.

          Ở vào lứa tuổi 18, 19 hoàn cảnh đất nước cũng giúp anh ít nhiều thi hứng yêu nước thương ṇi.

          H́nh ảnh Cụ Sào Nam, mỗi ngày anh trông thấy lạc lơng cô đơn, khiến anh cảm thương con người chí lớn không thành, mà cuộc đời oanh liệt chỉ c̣n đẹp ngắn ngủi trong ráng mây buổi hoàng hôn.

          Tịch dương vô hạn hảo

          Chỉ thị cận hoàng hôn.



          Anh làm bài thơ Thức Khuya để tỏ nỗi ḷng chia sẻ với Cụ:

          Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

          Thức chi ḿnh ta dạ chẳng an

          Bóng nguyệt leo sang rờ rẩm gối

          Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

          Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ

          Buồn giúp công danh dế dạo đàn

          Chỗi dậy nôm na vài điệu cũ

          Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.



          Bài thơ đăng trên báo Tràng An, được Cụ Sào Nam khen ngợi chân t́nh làm cho anh cảm động đến rơi lệ, và anh bỗng nổi tiếng.

          Những lời thơ già dặn, ư thơ nồng nàn, nhất là bút hiệu Phong trần, khoác lên cho anh bóng dáng một con người từng đi vào trong cuộc đời gió bụi, gần gũi với đấu tranh của Cụ Phan.

          Cụ Phan đă đánh giá bài thơ anh ngang với những bài thơ lỗi lạc, bày tỏ chí lớn của hạng người nặng nợ non sông.

          Những câu…

          Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ

          Buồn giúp công danh dế dạo đàn.


          Nghe như tâm sự xót xa “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, xui ḷng náo nức, mong được cùng nhau hội ngộ.

          Trong cung cách xưng hô, Cụ gọi anh là “Tiên sinh”, khiến nhiều người bỡ ngỡ với một cái tên chưa hề thấy xuất hiện. Có ai biết đấy là anh chàng học sinh mới có 19 tuổi.

          Sở mật thám Pháp nghe được tin vội vàng điều tra, biết anh đang có tên trong danh sách những người được Hội Như Tây du học bảo trợ. Họ rút mất giấy phép vừa được bổ túc hồ sơ cho qua Pháp.

          Chủ mật thám Huế, Sogny, gởi hồ sơ anh Trí vào điều tra ngay tại Qui Nhơn.

          Hai chuyên viên “đánh hơi” của Sở Mật thám Qui Nhơn, Dung và Viễn không có ngày nào là không qua lại ḍm ngó căn nhà bên cạnh Bà Phán hạc trên đường Khải Định.

          Nh́n vào thường thấy anh chàng Bùi Tuân, gác chân lên chiếc bàn mây, tay ôm cuốn sách ngủ gà ngủ gật.

          Tan giờ học, giờ làm việc, thỉnh thoảng mới thấy xuất hiện anh học tṛ trắng trẻo nhỏ bé, áo dài đen, mang đôi guốc gỗ, quai bố lốp xe hơi, khệ nệ ôm cái nón B́nh Định bằng tre đan nặng và to như cái sàng phơi lúa, rụt rè nh́n vào nhà, chờ măi cho đến khi thấy anh Trí xuất hiện. Hoàng Diệp chậm răi lơ đễnh như đang t́m một vần thơ, đến trước cửa gọi vào: “Anh Trí ơi, có anh Trí ở nhà không bác?

          Đó là những h́nh ảnh quen thuộc mà hai tên “đánh hơi” của Sở Mật thám Qui Nhơn làm “ráp bo” cho tên chủ Véran về t́nh h́nh tên “t́nh nghi Nguyễn Trọng Trí tức Phong Trần”.

          Mặc dầu bị gọi mấy lần xuống sở Mật thám để khai rơ về các bạn hữu anh, anh vẫn không hề bối rối khi kể chuyện những anh học tṛ hiền lành nhút nhát, những anh thư kư đạc điền rất an phận như chiếc lá thu vàng.

          Thái độ tự nhiên không sợ hăi của anh không giúp ích ǵ thêm cho cuộc điều tra của sở Mật thám, nên cuối cùng phải bỏ qua không đ̣i hỏi ǵ nữa. Anh vẫn b́nh tĩnh nhưng cả nhà đều hoảng sợ. Anh Mộng Châu phải viết thư ra Huế cho Cụ Bài nhờ can thiệp. Mọi người đều lo lắng.

          Có lẽ nhờ thế mà anh ung dung đi lại không ai lưu ư nữa. Và rồi anh lại ṃ mẫm ra Huế, khi Cụ Phan đăng bài anh với bài họa của Cụ lên báo của Mộng Du thi xă do Cụ Phan chủ xướng.


          BÀI HỌA CỤ PHAN

          Chợ lợi trường danh tớ chẳng màng

          Sao ăn không ngọt, ngủ không an

          Trăm năm ngăn đó tuồng dâu bể

          Muôn họ nhờ ai kẻ chiếu chăn

          Cửa sấm gớm ghê người đánh trống

          Tai trâu mỏi mệt khách đưa đàn

          Ḷng sen đằng đẵng tơ sen vướng

          Mưa gió bao phen gộc chữa tàn.


          SÀO NAM


          Bài thơ họa của Cụ Phan có phần yếu thế, làm cho tôi vơ vẽ mới biết làm thơ, cũng cao hứng họa lại ư Cụ, yểm trợ cho tinh thần của anh. Anh Mộng Châu bắt gặp bức thơ để trên bàn gởi cho báo Tràng An, giở ra xem biết là của tôi, anh nổi giận: “Đă có thằng Trí làm cho tao sợ gần chết, bây giờ c̣n mi nữa sao”. Anh giận xé thơ và cấm tôi không được là thơ nữa. Bài thơ đó như thế này mà tôi xem không có ǵ quan trọng:

          Danh lợi dù cho chí chẳng màng

          Nghĩ sao Quốc thái với dân an?

          Thuyền con vượt phá không người lái

          Đàn nghé qua truông thiếu kẻ chăn

          Cứ thử bưng tai vào cửa sấm

          Để xem trâu có biết nghe đàn

          Ḱnh ngư c̣n ngại tơ sen vướng?

          Khắc khoải năm canh trống điểm tàn.


          Kể ra th́ anh em tôi đều là “điếc đạn súng” cả. Không có anh Mộng Châu, không biết ra thế nào đây.

          Phần anh Trí vẫn tỉnh bơ tiếp tục xướng họa với Cụ Phan, sau một vài lần lén lút đến thăm Cụ. Được Cụ bày tỏ ư chí, kinh nghiệm cách mạng trước những cuộc đấu tranh mà phần thua thiệt khó tránh được. Có lẽ anh chưa thấy những điều quan trọng đă bắt buộc Cụ phải dừng chân lại trên con đ̣ cấm cố đó. Anh viết một bài khích lệ.


          GÁI Ở CHÙA

          Rừng Thiền thấp thoáng dạng quần thoa

          Khuê các trâm anh cũng rứa à

          Mùi tục chưa chi đà vội chán

          Tṛ đời mới rứa đă lo xa

          Lạt mùi son phấn say mùi đạo

          Chán cảnh phồn hoa mến cảnh chùa

          D́ nguyệt trớ trêu ḷng dạ thiểm

          Xuân xanh nỡ để thiệt tḥi hoa.


          Bài thơ này cho thấy anh Trí đă để lộ cái tuổi háo thắng trẻ con mười tám đôi mươi của anh, không che đậy cái hào khí của bài Thức Khuya trước đây mà Cụ Phan đă bắt gặp:

          Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

          Thức chi ḿnh ta dạ chẳng an…


          Cụ Phan họa lại như sau để thanh minh cái “Lăo giả an chi” của Cụ đă trở thành bất lực:

          Băi lai không viết cậy ǵ thoa

          Hóa gặp đâu th́ cũng thế à

          Một chữ đă đành thân quí trọng

          Trăm năm phải tính cuộc gần xa

          Tủi v́ cái kiếp con không mẹ

          Hổ cũng như ai sải có chùa

          Khuya sớm hương trầm nguyền với Phật

          Nhành dương mưa rưới vạn ngh́n hoa.


          Cuộc xướng họa cứ như thế cho đến ngày anh t́m được ở Sài G̣n một địa bàn rộng lớn hơn để nối lại chí Cách mạng của Cậu Thông Oanh, của Cụ Sào Nam mà hoàn cảnh Đất Nước buộc phải bỏ dở.



          Tác giả Nguyễn Bá Tín
          Vạn Xuân

          Comment


          • #6
            PHẦN 1

            4. T̀M ĐỊNH HƯỚNG



            Mất cơ hội đi Pháp, mộng viễn du không thành, ư đồ Cách mạng mà anh chưa thấy được rơ ràng nên chưa t́m được địa bàn để hoạt động, anh trở về Qui Nhơn sống với gia đ́nh, rồi tiếp tục làm thơ viết báo.

            Bạn bè ngày càng kết giao nhiều, xa cũng như gần nhờ tiếng tăm anh được Mộng Du thi xă nhắc đến trang trọng, khi đăng những bài thơ anh xướng họa với Cụ Phan.

            Trong thời gian này, t́nh h́nh kinh tế của thời hậu chiến rất trầm trọng v́ không theo kịp đà tiến triển mới. Nạn thất nghiệp ở các nước và ngay cả trong nước đe dọa một cuộc sống khó khăn. Các báo đăng tải tin Hoa Kỳ phải đổ xuống biển hàng triệu tấn cà phê, mễ cốc để giữ giá cho các nhà trồng tỉa và b́nh thường sinh hoạt của thợ thuyền. Người dân Việt bắt đầu ư thức đến vận mệnh quốc gia. Tinh thần trách nhiệm bừng lên như sau một cơn mê ngủ.

            Nhiều thanh niên trong nước phải bỏ học, chưa t́m được định hướng cho cuộc đời, nên phần lớn đổ dồn vào Sài G̣n kiếm việc để sống tạm bợ.

            Các bạn hữu của Hàn, những kẻ c̣n lại ở nhà, đều rủ nhau vào làm việc cho ông Đỗ Phong, nhà thầu, lănh làm trích lục địa chánh cho sở Đạc Điền.

            Hoàng Điệp, Hoàng Tùng Ngâm đều đă có chỗ, họ rủ anh vào đó tạm sống. Lương tháng rất thấp, mỗi tháng từ 6 đến 12 đồng.

            Hàn làm cái việc dễ nhất, nhàn nhất và ít tiền nhất là ngồi biên chép các tờ trích lục đă cũ, lănh lương về chỉ đủ để anh trả tiền mua báo, mua giấy và tem thư. Thỉnh thoảng, viết một vài bài báo, c̣n th́ làm thơ để có dịp bạn bè hội họp ngâm nga. Cho đến cái ngày quyết định, anh phải rời bỏ Qui Nhơn để vào Sài G̣n một cách bỡ ngỡ.

            Hồi đó, một trận băo lớn chưa từng có, năm 1934 làm sập gần hết những ngôi nhà cũ kỹ, trong đó có căn nhà mẹ tôi ở đường Philastre bên cạnh sở Đạc Điền. Một sự nghiệp đồ cổ mẹ tôi tích trữ để bán cho trường Bác Cổ Viễn Đông đều nát vụn như ngói gạch, trị giá thời ấy phải 4.000 đồng. Một món nợ trả măi không hết.

            Biến cố này thúc đẩy Hàn bỏ Qui Nhơn đi Sài G̣n.

            Trước đó Trọng Quỵ và Trọng Miên đă có lần khuyên anh vào chung sức làm tờ báo. Thúc Tề ở Sài G̣n cũng ra góp phần thúc giục. Thúc Tề tả Sài G̣n như thiên đường địa giới.

            Tháng 7 năm ấy, “Anh khăn gói gió đưa” mà ḷng hoang mang trước viễn ảnh chưa hé mở cho một định hướng rơ ràng nào. Những lời tâm sự của cụ Phan vẫn c̣n ám ảnh anh trong nhiều hoài băo. Ra đi đến một hoàn cảnh lạ lùng bỡ ngỡ, không bà con thân thuộc. Người dân Sài G̣n sống vội vàng mạnh ai nấy lo, chỉ biết làm cho ra tiền để tận hưởng thôi.

            Những ngày c̣n lang thang trên đường phố, nhớ lại t́nh mẹ hiền, anh đă làm bài thơ đầu tiên khi đặt chân đến Sài G̣n:


            GIANG HỒ NHỚ MẸ

            Ḿnh không ḥ hẹn bước giang hồ

            Lưu lạc quê người mới khổ cho

            Nước chảy thương thân bèo bọt nổi

            Mây bay nhớ mẹ sớm hôm chờ

            Thằng con bất hiếu đi đành đoạn

            Trời đất vô t́nh lại đắn đo

            Muôn dặm non tần xa thăm thẳm

            Ư chừng chim nhạn biếng đưa thư.



            Lang thang ở Sài G̣n ít hôm, anh được Thúc Tề, Trọng Miên giới thiệu vớ Hồng Tiêu, em sao đó của bà Bút Trà, tay kinh doanh nghề báo chí. Trọng Quỵ và Trọng Miên đang viết cho tờ trong khuê pḥng của bà Bút Trà, mời anh phụ trách trang văn chương.

            Anh vừa viết bài vừa chữa bài và các bản in, nên họ gọi anh là “thầy c̣” (correcteur).

            Chẳng mấy lúc anh được nhiều người biết đến tên, biết đến văn thơ anh và c̣n biết cả nhăn hiệu “Đông Kinh Nghĩa Thục” của anh mà Sài G̣n nghe như một vang bóng, mặc dầu anh c̣n trẻ. Họ kháo nhau về những bài anh đăng trên Mộng Du thi xă, thường bày tỏ thiện cảm và kính nể. Bài Thức Khuya được nói đến rất nhiều với lời tán thưởng nồng nhiệt của cụ Phan, mà bạn bè anh khai triển thêm cho uy tín anh, tạo cho anh thế đứng khá vững. Bây giờ th́ anh cảm thấy thích thú, khi tiếp xúc với nhiều nhóm chính trị ở Sài G̣n một cách ngang ngửa.

            Anh bắt đầu có dịp học hỏi, so sánh trong tương quan với điều mà anh đă được truyền thụ chớp nhoáng cái gọi là tư tưởng cách mạng, những ngày về Huế ghé thăm cụ Phan.

            Dù sao anh cũng được nhiều người kính nể với thành tích tiếp xúc với nhà cách mạng lăo thành, mà ở Sài G̣n xem đó là điều không ai dám nghĩ đến. Lại nữa, anh c̣n hy sinh cả giấy phép du học Pháp mà mật thám Pháp đă thu hồi. “Giá trị lắm đó chớ”, anh thường loè với tôi như thế.

            Công việc ở ṭa soạn không lấy ǵ là bận rộn. Do đó anh cộng tác với nhiều tờ báo khác. Thỉnh thoảng cũng viết cho vài tờ báo Pháp như Impartial, Opinion và các tờ báo đấu tranh như La Lutte, L’abeille của nhiều nhà cách mạng Việt được nhà nước Pháp cho lưu hành- nghe đâu nhờ Tổng trưởng thuộc địa Moutet của chính phủ b́nh dân Pháp (Léon Blum) bảo trợ.

            Không khí ở Sài G̣n có vẻ dễ thở, thậm chí người ta c̣n dám bày tỏ ít nhiều quan điểm chống đối.

            Anh Trí quen với nghị sĩ Pháp lai da màu De Lachevrotière vốn cũng là nhà báo. Anh có vẻ thích gặp gỡ chuyện tṛ với ông nghị này. Qua De Lachevrotière anh được biết nhiều nhóm chính trị tiếng tăm, đang hoạt động hăng hái, đôi khi cả hàng ba nữa, dưới con mắt bao dung của chính phủ Pháp.

            Đường Catinat luôn luôn có nhiều tin tức giựt gân để gây xúc động mạnh (ngay cả trước sở Cảnh sát Pháp). Nhà báo thường ḥ hẹn nhau gặp gỡ, chia sẻ tin tức, chia sẻ luôn quan điểm chính trị. Thậm chí c̣n cổ động cho một vài khuynh hướng cách mạng khác nhau.

            Ở Sài G̣n người ta xem việc hoạt động úp mở chống Pháp là điều đáng hănh diện, không cần phải che đậy.

            Có lẽ Hàn Mặc Tử nhận xét phần nào phiến diện chăng?

            Tuy nhiên với góc cạnh anh trông thấy rơ ràng hơn hết, ít nữa là bên ngoài, anh có cảm nghĩ một cách khá chủ quan là có bàn tay Pháp hướng dẫn đâu đó. Cho nên không ai tin ai, v́ vậy ḍ xét lẫn nhau, đi đến tố cáo nhau.

            Điều này không làm cho anh lo ngại, nhưng chỉ buồn thảm và thất vọng thôi, khi anh tiếp xúc với một vài nhân vật anh tin tưởng.

            Anh nhận ra rằng, nhóm cách mạng ở miền Nam này tuy cũng một chủ trương quốc gia dân tộc, nhưng lại “đồng sàng dị mộng”.

            Từ đó anh mất đi cái hào hứng buổi ban đầu. Trong một vài bài thơ đăng trên báo Tân thời, anh viết bài tỏ nỗi ngao ngán.


            CẢM TÁC

            Thường thường trâu cột ghét trâu ăn

            Vạch lá t́m sâu ngó dữ dằn

            Nhát khỉ rung cây cho bỏ ghét

            Úp voi lấy thúng quyết làm hăng

            Chờ con nước đục c̣ đi rảo

            Đợi lúc canh khuya chó sủa rân

            Thù oán nhau chi gà một mẹ

            Rồi đây vẽ rắn lại thêm chân



            THANH NHÀN

            Kiếp người nghĩ lại có là bao

            Phú quư mây bay chẳng khác nào

            Chi dụng từng vay kho tạo hóa

            B́nh sinh đă nhiễm thói phong lưu

            Sóng dồi mặt đá phơi đầu bạc

            Nắng dọi lưng cây suốt động đào

            Ba vạn công danh ừ cũng bỏ

            Thoát trần ta thử hát ngêu ngao.



            Mặc dù không c̣n hào hứng đeo đuổi sự nghiệp cách mạng, nhưng h́nh bóng cụ Phan trên con đ̣ vẫn c̣n làm cho anh ray rứt.

            Đầu năm 1935 anh về Huế, lang thang trên bờ sông Hương trong một đêm nhiều kư ức, anh viết tặng cụ một bài (đăng trên Công luận 2-3-1935)


            ĐÊM KHUYA TỰ T̀NH VỚI SÔNG HƯƠNG

            Bây giờ chỉ có đôi ta

            Bao nhiêu tâm sự Hằng Nga biết rồi

            Thủa nước non đến hồi non nước

            Sông Hương đành xuôi ngược đông tây

            Soi ḷng chỉ có đám mây

            Đám mây phú quư những ngày lao đao

            Sao mặt sông xanh xao ra dáng

            Sao t́nh sông lai láng khôn ngăn?

            V́ ai lắm nỗi chứa chan

            Hay c̣n đợi khách quá giang một lần

            Này thử hỏi thuyền nan thả lá

            Thuyền ai đây nấn ná bấy lâu?

            Mặc ai khanh tướng công hầu

            Không thèm chung đỉnh, lưng bầu gió trăng

            Sao trời đất đăi đằng ra thế

            Sao mưa nguồn chớp bể luôn đêm

            Trong thành yến ẩm vui thêm

            Tiếng ca lanh lảnh lọt rèm rèm thưa

            Sông Hương hỡi, xuân vừa tơ liễu

            Cả trăm hoa hàm tiếu nhởn nhơ

            V́ đâu nước chảy lững lờ

            Hay cho thế sự cuộc cờ chiêm bao

            Ghét xa mă nao nao uốn khúc

            Giận thời gian những lứa xuân xanh

            Nhà ai khiêu vũ năm canh

            Hơi men sực nức dưới thành đô xưa

            Sao tức tối trôi bừa đi măi

            Chẳng buồn nghe cô lái thở than

            “Thuyền em đậu bến Hương Giang

            Chờ người quân tử lỡ làng t́nh duyên”.

            Thuyền lặng lẽ nằm yên với bóng

            Nước sống xuôi dợn sóng bến thuyền

            Trong thành ngủ chết con đen

            Khoá xuân bỏ lỏng đến then chẳng gài

            Hăy trông thử đền đài dinh thự

            Dấu xưa, xưa t́nh tứ làm sao

            Ô hay! Sóng chảy dạt dào

            Chiếc thuyền vô định lạc vào bến mê

            Sao trai gái đi về trong mộng

            Mà sông Hương chẳng động niềm riêng

            Trong thành để lạnh hương nguyền

            Tiếng gà gáy nguyệt láng giềng c̣n say.

            -- Huế, Mồng hai Tết Ất Hợi --



            Có lẽ đây là bài thơ cuối cùng Hàn Mặc Tử viết về Cụ Sào Nam

            Tuy nhiên về phần anh, trong một phạm vi hạn hẹp, anh vẫn t́m mọi cách để trung thành giúp đỡ bạn bè, những người lỡ bước mà anh cũng như họ từng vất vả thiếu thốn ở Sài G̣n.

            Chủ thuyết kiêm ái của Mặc Địch, một đại triết gia thời Chiến Quốc, được anh vẫn đeo đuổi chân thành sốt sắng. Bút hiệu Hàn Mặc Tử cũng mang ư nghĩa kiêm ái đó.

            Ở Sài G̣n, nhờ anh viết cho nhiều tờ báo, nhuận bút rộng răi. Có tháng anh kiếm được gần trăm đồng, nhưng sắm sửa cho nhu cầu riêng anh, ngoại trừ bộ “tuưt xo” tơ Delignon, cái mũ Panama cố hữu và đôi giày “Vécni” đen, anh không sắm sửa ǵ hơn nữa, năm ba cái sơ mi, áo lót quần đùi là đủ.

            Chỉ thỉnh thoảng mới mua bộ đồ ngủ, bị tiệm giặt xiết khi phải trả thiếu tiền, mà không có tháng nào anh trả đủ được. Chẳng những đồ của anh mà c̣n của mọi người.

            Ngoài ra bao nhiêu tiền, bạn bè kéo nhau đi ăn nhậu cả. Không có khi nào trong túi được 2 đồng bạc. Họa hiếm mới có, th́ cũng chưa nóng túi đă tiêu đi mất.

            Anh cũng biết bạn bè tiêu hoang nhưng không nỡ nói. Anh rất thương họa sĩ Hồ Viết Tự. Tự thiệt thà, không hoang đàng như Thúc Tề. Tự cũng vẽ được, nhưng không theo kịp các họa sĩ đă có cơ sở. Anh chỉ c̣n vẽ biếm họa trên một vài tờ báo. Một lần anh hí họa thế nào động chạm đến tay tổ ở Sài G̣n, bị rượt đánh hoảng hồn. Sống rất thiếu thốn, tương lai rất mù mờ.

            V́ vậy áo quần anh phải để cho Tự và Tề dùng chung v́ cả ba đều thấp bé như ngang với nhau thôi. Chật hẹp không kể, thế cũng vui vẻ cả.

            Bạn bè ở Qui Nhơn đều biết anh sống cho thiên hạ nhiều hơn cho anh. Mẹ tôi hay phàn nàn áo quần anh bị thất lạc. Cái va-li mỗi lần về thăm nhà, “thu h́nh” lại chỉ bằng cái hộp máy đan của mấy anh “cúp dạo” (thợ hớt tóc dạo).

            Gần một năm đi về của anh, cuộc sống t́nh cảm không có ǵ thay đổi.

            Ngoài việc tiếp xúc văn thơ với các bạn gái trên tờ báo, độc giả của tờ Trong Khuê Pḥng, anh vẫn không có bạn gái. Những mối t́nh kỳ ngộ vắn vỏi ở Huế như “chuyến đ̣ ngang”, mà anh đă lỡ bước, để đ̣ sang ngang mất, thỉnh thoảng lại làm cho anh nhớ tiếc.

            Trong bài thơ Bước giang hồ gởi đăng ở báo Tràng An, Huế, có ư nhắn tin người cũ, anh kể lại ở một vài kỷ niệm của những con đ̣ bến cũ…


            BƯỚC GIANG HỒ

            Suốt đời phiêu lăng mặc tiêu dao

            Non nước từng phen tự thưở nào

            Đúc lại can tràng nhờ hạo khí

            Rồi ra thân thế được thanh cao

            “Chút t́nh bến cũ c̣n đeo đẳng

            “Hụt chuyến đ̣ đưa nghĩ nghẹn ngào

            Gặp gỡ cố nhân rằm tháng trước (1)

            Cầm tay thuật lại nỗi lao đao.

            -----
            (1) Có lẽ nhắc đến cô Thu Hà (NBT)



            Tuy anh có đọc một vài bài của Mộng Cầm mà Thúc Tề mối mai cho anh, nhưng mối t́nh đó vẫn c̣n trong mơ màng, chưa ngă ngũ ra sao cả.

            Bạn bè hay rủ rê vào nếp sống buông thả, nhưng anh vẫn từ chối, hoặc né tránh những cơ hội tiếp xúc với đàn bà, đến nỗi họ chê cười anh là quê mùa, ngốc nghếch.

            Đă có một lần anh nổi xung, tính chuyện bỏ Sài G̣n về Qui Nhơn, chỉ v́ một bài báo xiên xỏ dung tục quá đáng (điều này ở Sài G̣n thỉnh thoảng lại xảy ra).

            Nguyên do, hai anh Trọng Miên và Thúc Tề được nổi tiếng về phóng sự xă hội. Hai cây bút sắc bén nhất hồi đó. Không biết các anh bươi móc đời tư không đẹp của một nhân vật nào đó mà thế lực và “nha trảo” (đồ đệ) rất mạnh. Họ phản ứng thật tồi tệ, gây nên trêu cợt thiếu lễ độ với nhóm nhà viết báo Trong Khuê Pḥng.

            Trên một tờ báo ở Sài G̣n, mục “câu chuyện tầm phào” có người nói mỉa mai đến những trang nam tử trí thức, lập sự nghiệp trong pḥng the, ngụ ư trong khuê pḥng. Lại c̣n đùa cợt những anh chàng chạy theo gái bằng câu tiếng Pháp: Courir après les jupes. (jupes nghĩa đen là cái váy).

            Bài này châm biếm bằng nhiều câu dung tục, khiến anh cảm thấy hổ thẹn không đến ṭa soạn nữa, nhà báo phải cho người đến nhà lấy bài. Anh chán nản muốn bỏ Sài G̣n về Qui Nhơn. Bà Bút Trà muốn xoa dịu, hứa với anh sẽ xin giấy phép ra một tờ Phụ Nữ Tân Văn, để anh làm chủ biên. Anh có vẻ bằng ḷng, và chịu ở lại Sài G̣n.

            Hồng Tiên, nhà văn, vốn là em bà Bút Trà, rất có cảm t́nh với anh, lại cũng có bà con sao đó với Mộng Cầm, cho nên đây cũng là dịp để giúp Hàn làm quen với Mộng Cầm. Vốn họ muốn kéo anh Trí vào nhóm nhà thơ theo môn phái thác loạn Baudelaire, mà Bích Khê cậu ruột của chị Mộng Cầm đang thai nghén tập thơ Tinh Huyết, cũng muốn Hàn đề tựa cho tập thơ của anh ấy.

            Mối t́nh anh và Mộng Cầm cũng chỉ là các cuộc gặp gỡ du ngoạn ở Phan Thiết, ở Mũi Né. Nhưng tại Sài G̣n, th́ theo tôi được biết, hai người vẫn không có dịp tâm sự. Chắc là Hàn hổ ngươi, v́ có đông đảo bạn bè trêu chọc.

            Cuộc t́nh kéo dài đến nửa năm 1936 th́ gián đoạn, đến phải giải ước cho nhau, v́ Hàn đă bắt đầu đau phong có triệu chứng.

            Anh cũng bỏ cả lời hứa với bà Bút Trà không trở vào Sài G̣n nhận chủ biên tờ Phụ Nữ Tân Văn, mà giấy phép xuất bản vừa được cấp.

            Dù sao th́ năm 1936 vẫn là năm anh được măn nguyện với tập thơ Gái Quê, tập thơ đầu tay của anh đă được xuất bản tốt đẹp.

            Ước mơ trước hết của anh là những bài thơ nỗi ḷng riêng tư của anh, như T́nh Quê, Buồn Thu, Chuyến Đ̣ Ngang, sẽ được trao đến tay những người đẹp, những giấc mộng con mà anh khó quên.

            Mặc dầu, chị Cúc e ngại không dám nhận tập thơ Gái Quê anh trao tặng trong dịp Hội Chợ Huế, nhưng chị cũng đă đọc hết mối t́nh của anh qua tay các em chị mà Hàn lưu ư trao tặng hết.

            Mộng Cầm, tuy giải ước với anh, nhưng vẫn thỉnh thoảng ghé Qui Nhơn thăm anh. Có lần mang cả con theo nữa: cho nên trong những bạn gái được anh yêu, Mộng Cầm là người vẫn c̣n may mắn được lắng nghe tâm sự anh qua nhiều bài thơ ràn rụa nức nở, đến bây giờ vẫn c̣n nóng hổi như bài Phan Thiết, Say chết đêm nay

            Và cuối cùng cũng v́ Mộng Cầm, mà Hàn đă “rộng răi”, đề tựa cho tập thơ Tinh Huyết của Bích Khê. Cử chỉ này làm cho nhiều nhà văn đạo đức ở Huế phải ngạc nhiên với nhiều luận điệu ngờ vực không tốt đẹp lắm cho Hàn.

            Đành vậy thôi. Đó là riêng tư của Hàn.



            Tác giả Nguyễn Bá Tín
            Vạn Xuân

            Comment


            • #7
              PHẦN II. HUẾ, KHÓ QUÊN…

              1. CHUYẾN Đ̉ NGANG



              Những lần về Huế để chạy lo giấy tờ bổ túc hồ sơ du học Pháp, anh Trí thường hay trọ lại nhà cụ Nghè Tuần, nơi đây anh quen biết từ hồi c̣n đi học Pellerin.

              Bà chị con cậu Cả Bích, mỗi lần anh đến thăm chị ở Kim Long là chị giận hờn bắt anh phải ở lại với chị, nhưng anh từ chối v́ phải cần tiếp xúc nhiều, đi lại xa xôi. (Điều nầy sau khi gặp được chị Trà, nói ở sau đây, làm cho anh hối tiếc ân hạn).

              Hai tiếng Bến Ngự như mê hoặc anh, nghe vừa hay vừa trang trọng. Vả lại Bến Ngự cũng là nơi người ta nói nhiều về chí sĩ Phan Bội Châu mà anh thường trông thấy con thuyền “cầm cố” của cụ.

              Thỉnh thoảng, hôm nào dậy sớm, cụ ngồi trầm ngâm uống trà trước mạn thuyền, làm cho anh vừa thương yêu vừa kính trọng. Anh vẫn ước ao được hầu chuyện cụ một lần trước khi qua Pháp.

              Cũng trong thời gian này, nhiều cuộc gặp gỡ kỳ thú khác đă chi phối đi một phần nào tâm sự yêu nước, yêu ṇi của anh. Đó là những “chuyến đ̣ ngang” thật dễ thương, đă đem đến cho anh những mối t́nh sơ ngộ lạ lùng và thích thú.

              Anh không muốn qua phố bằng ngả cầu Trường Tiền v́ phải chen lấn nguy hiểm. Không có ǵ thích thú bằng ngồi trên chiếc đ̣ ngang, lững lờ trôi trên sông Hương êm đẹp, mơ màng t́m một vần thơ, một bóng dáng nào đó gây xúc động một cách dễ chịu.

              Anh thường theo bến đ̣ Ḷ Vôi qua Bạch Hổ, những khi về chợ Kẻ Vạn thăm bà chị, hoặc về Đập Đá ăn bánh bèo, một món ăn nổi tiếng, rồi thong thả xuống đ̣ về Gia Hội.

              Trong bài thơ Chuyến đ̣ ngang anh tả mối t́nh sơ ngộ lạ lùng trên con đ̣ về Gia Hội. Đúng là anh có số đào hoa, như cậu Bá tôi xem số cho anh, tiên đoán rất nặng nợ đào hoa.

              Hôm ấy anh có hẹn phải qua Đập Đá để gặp một người bạn học cũ. Không gặp, anh lên đ̣ sớm hơn dự định. Những buổi sáng sớm, đ̣ thường đông khách. Trên đ̣ khách đă lên nhiều. Anh t́m được một chỗ ngồi thật tốt đàng mũi đó, trên cái băng ngang.

              Đang lúc thích thú, khách đi trễ lên sau, cố t́m chen một chỗ trống đứng trước mũi đ̣. Một bàn chân nhỏ nhắn cố sức đưa lên trước, chưa t́m được chỗ để chân, chạm vào chân anh. Nh́n lên, một thiếu nữ, áo tím than, xinh đẹp, đă tiến lên sát bên anh.

              Anh bối rối, nhưng lịch sự đứng dậy, hơi rụt rè, như toan nói ǵ đó (chắc là muốn nhường chỗ).

              Bỗng có tiếng la lớn đằng lái: “Thầy nớ ngồi xuống đi, đứng làm chi, bổ chừ (ngă đó)”. Anh có vẻ ngượng nghịu, lại vụng về ngồi xuống, làm cho chiếc đ̣ cḥng chành. Mọi người quay lại nh́n hơi soi mói một chút.

              Xấu hổ anh lén nh́n qua thiếu nữ, nàng đang nh́n anh cười, vẻ như trêu đùa thiện cảm. Anh chàng xấu hổ, cúi mặt xuống bỗng chợt nh́n thấy trên mặt nước, nụ cười duyên dáng của nàng c̣n đuổi theo hóm hỉnh.

              Bất giác, anh bật cười ra tiếng, thú vị. Thế là họ quen nhau, thật dễ dàng.

              Tôi vốn biết anh có cái răng hơi khểnh, làm cho anh lúc nào cũng như cười nửa miệng. Cái răng đó quả là cái tật có lợi cho anh vô cùng. Khi th́ vui vẻ giảng ḥa, khi th́ đồng t́nh thỏa hiệp. Tôi nghĩ anh có số đào hoa là nhờ cái răng đó.

              Câu chuyện chỉ được anh kể đến đó. Về sau mới biết một vài chi tiết trong bài thơ.


              CHUYẾN Đ̉ NGANG

              Chẳng hẹn ḥ sao gặp gỡ đây

              Người th́ như tỉnh kẻ như say

              Trong veo làn nước soi đôi mặt

              Xa tít quê nhà trở một tay

              Tâm sự mới trao, bờ đă đến

              Nỗi niềm chưa cạn khách về ngay

              Ba sinh duyên nợ âu là thế

              Một chuyến đ̣ đưa nghĩa một ngày.



              Những tháng sau đó, bạn lo công việc th́ t́nh cờ một hôm, qua ṭa soạn báo V́ Chúa, gặp Hồ Lư, cái anh chàng lém lỉnh, cùng viết báo lại hay trêu chọc, vỗ vai anh: “Nè có người hỏi thăm cậu đó”… Anh cho là Hồ Lư đùa, nên không để ư. Ra về, trở lên Kim Long thăm bà chị. Chị lại đi vắng, anh lên chuyến đ̣ Bạch Hổ về Bồ Ghè.

              Bỗng anh sửng sốt, một thiếu nữ tuyệt đẹp, anh không biết đă gặp ở đâu, cúi đầu chào anh. Anh bối rối chào lại, lí nhí, ngượng ngập không nói ra được lời nào.

              Về Bến Ngự vẫn c̣n băn khoăn măi, nghĩ không ra, không biết là ai mà đẹp lạ lùng. Khiến anh ngẩn ngơ quên cả ăn. Cụ Nghè tưởng anh lo lắng giấy tờ nên không để ư.

              Anh quyết tâm ḍ cho ra người đẹp ở đâu.

              Luôn mấy hôm, anh lảng vảng bên bến Ḷ Vôi, có khi theo đ̣ qua Bạch Hổ rồi trở về vẫn không gặp lại người đẹp. May mắn làm sao, th́nh ĺnh không tính ḍ t́m th́ lại gặp lần nữa tại chợ Kẻ Vạn đi với bà chị Phu. Th́ ra anh cũng gặp một lần tại đây, nhưng v́ mắc cỡ không dám nh́n rơ người đẹp nên không nhận ra chị.

              H́nh ảnh lộng lẫy tươi mát người con gái nầy đă làm mờ đi ít nhiều bóng giáng con đ̣ Gia Hội, tuy nụ cười dưới nước vẫn c̣n nhiều hứa hẹn, anh không thể nào bỏ qua được.

              Nửa năm sau đó, anh bỗng nhận được một bức thư do ṭa soạn báo V́ Chúa gởi cho anh. Mở ra xem chỉ có một tấm ảnh bán thân, chiếc nón bài thơ che nghiêng như úp mở với một câu thơ đề sau tấm ảnh:

              Ai về Gia Hội nghe gà gáy

              Hăy sớm sang sống kẻo lỡ đ̣.


              Nh́n tấm ảnh, người trong ảnh thật duyên dáng. Hàn khen: “C̣n đẹp hơn ở ngoài. Có lẽ nhờ thợ chụp khéo”.

              Theo dơi anh, trông vẻ như mềm nhũn đi. Ôi chuyến đ̣ ngang mơ ước lại trở về. Anh vội vàng làm bài thơ mượn ư họa bài Gởi nhạn của anh Mộng Châu:

              Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây

              Chậm chậm cho ḿnh gởi mối dây

              Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đă

              Ghé miền Gia Hội tỏ t́nh ngay

              Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi

              Chỉ một ḷng son muốn giăi bày

              Này nhạn, ta c̣n quên chút nữa

              Trái tim non nớt tặng ai đây.


              Đọc bài thơ nầy, th́ ra anh chị chưa trao đổi tâm sự bao nhiêu. Cấu kết vẫn c̣n ẫm ờ, ḍ xét:

              Trái tim non nớt tặng ai đây.

              H́nh như có ai sửa lại “tặng nàng đây”. Tôi có đọc bài nầy khi mới viết ra cho nên tôi biết anh chưa dám nói rơ. Vả lại bấy giờ đă có bóng dáng chị Trà đang đứng đâu gần đó, nên cái lững khững do dự của anh cũng cản trở ít nhiều.

              Nh́n lại tấm ảnh, đọc mấy câu sau tấm ảnh, tôi dọa anh: “Coi chừng, họ thúc hối anh rồi đó. Liệu mà nhanh chân lên, chậm chạp là hút mất chuyến đ̣.

              Vốn Gia Hội là bến đ̣ hoạt động rất sớm, so với nhiều nơi khác. Gà gáy đầu đă nổi đèn, nổi lửa. Hàng quán đă dọn ra, khách ăn đă thấy lục tục kéo đến bên cạnh nồi xáo ḅ thơm phức mùi sả, bốc hơi nghi ngút mà c̣n trông thấy rơ lớp váng ớt mỡ vô cùng hấp dẫn…

              Giai Hội nổi tiếng bún ḅ rất ngon, lại rẻ tiền. C̣n cơm hến nữa. Ai về Huế mà không biết thưởng thức cơm hến ở đó th́ thật là đáng trách.

              Họ bảo nhau, con ruốc Huế nấu chi cũng ngon. À, mà c̣n bắp luộc bến Cồn gần đó thật tuyệt vời. Ngọt và thơm đến ngậm mà nghe.

              Cái điều quan trọng hơn hết cho anh Trí, mà tôi cũng phải lo ngại giùm cho anh, là con gái Huế đi lấy chồng rất sớm. Từ 20 tuổi trở lên là đă sợ bị chê “tra” (già). Họ nói: Thôi, hâm đi hâm lại rồi, c̣n chi nữa mà nói. Ối, tội nghiệp quá, mới 22, 23 (hăm hai, hăm ba) mà cũng cho là hâm đi hâm lại. Khổ chưa tề!

              Thật là: “Hiếu kính dăn sầu vân mấn cải”.

              Anh thường hỏi thăm có thư từ ǵ ở Huế gởi cho anh không? Tôi biết anh băn khoăn chờ đợi một tin tức ở Huế, bèn lấy bài Gởi nhạn anh họa với anh Mộng Châu, đem ra đọc rồi viết một bài khác:

              Trông vời bóng nhạn lẫn theo mây

              Thấp thỏm chờ mong đến phút giây

              Mấy đoạn t́nh thơ chưa cạn nghĩa

              Vài hàng tâm sự rơ ḷng ngay

              Ngăn sông cách núi t́nh trao để

              Đối diện nh́n nhau ư ngại bày

              Cánh thiệp nhờ chim may khỏi lạc

              Hồi âm đừng để phụ ḷng đây.


              Tôi bảo anh: “Sao không gởi thơ nói thật với Hồ Lư nhờ anh ấy liên lạc giùm. Địa chỉ của anh chắc Hồ Lư tiết lộ đó, việc ǵ mà sợ?” Anh chỉ cười ḥa giải rồi im lặng suy tư. Anh đang nghĩ đến con đ̣ Bạch Hổ chăng?

              Quả thật về sau anh lỡ đ̣, v́ đ̣ qua sông quá sớm.

              Gặp lại Hồ Lư trong một chuyến hành hương La Vang, mới biết bức ảnh của Thu Hà, em cô cậu với Hồ Lư, một cựu Nữ Tu Ḍng Kim Đôi, thảo nào mà mặc áo màu tím than, màu áo mà các nữ tu hoàn tục v́ sức khoẻ, có thể trở lại Ḍng. Thu Hà trông tin anh mà không thấy. Chỉ gặp nhau một lần trên chuyến đ̣ ngang. Hồ Lư có nhắc khéo anh một lần mà Hàn ngốc nghếch chẳng hiểu ǵ. Liên lạc v́ vậy mà gián đoạn. Âu là duyên số!

              Con gà Gia Hội thật quái ác, gáy chi mà sớm rứa!

              Lỗi cũng một phần tại anh, vốn đă lừng khừng chậm chạp, mà c̣n đuổi theo hai con thỏ cùng một lúc. Thế là chẳng bắt được con nào cả.



              Tác giả Nguyễn Bá Tín
              Vạn Xuân

              Comment


              • #8
                PHẦN II. HUẾ, KHÓ QUÊN…

                2. CHỊ TRÀ



                Chị tên Trà v́ sinh ở Trà Kiệu, tên nhà trường là Thu Yến, con gái út của ông cậu họ, anh mẹ tôi ở bên Phường Đức (Huế).

                Cái tai hại là chúng tôi phải gọi bằng chị. Hàn đă gặp mấy lần bên nhà bà chị con cậu cả tôi, gọi là mệ Phu, góa phụ một người thuộc hoàng tộc từ 25 tuổi, tánh vui vẻ thương yêu các em.

                Lần đầu gặp chị Trà, anh Trí hơi nghễnh ngăng, lại bị con đ̣ Gia Hội che lấp cái khôn đi, nên không để ư đến ai cả. Mấy lần có dịp chuyện tṛ, chị Phu cho biết là bà con, nhưng chị Phu vốn thích “xe tơ kết tóc” cho nhiều lứa đôi nên chị thêm rằng: “Bà con cũng giống như với nhà d́ Thị vậy” (ư nói có thể kết hôn được, không trở ngại t́nh bà con).

                Anh Trí th́ không thạo lễ nghĩa bà con, phải xưng hô thế nào cho đúng. Cho nên mỗi lân gặp chị Trà th́ ấp a ấp úng không biết nên gọi bằng chị hay nói thế nào cho phải cách. V́ chị c̣n nhỏ tuổi. Mà chị Trà tự xét c̣n nhỏ tuổi nên gọi anh bằng anh một cách tự nhiên thân t́nh. Thế th́ anh đắn đo, có nên gọi chị bằng em không? Khó cho anh quá!

                Sự giao thiệp v́ thế mất tự nhiên, trở thành lạt lẽo. Chị Trà vẫn dịu hiền không tỏ vẻ ǵ khó chịu. Chị nhắc lại có gặp anh bên ṭa báo Đức Mẹ (chỗ này anh hơi hoảng v́ cái tính rụt rè mắc cỡ nên anh không nhớ ra) vả lại ở chỗ đông người, anh không dám nh́n ai kỹ, nhất là người đẹp.

                Anh đă đế mất đi cái dịp có thể bắt chuyện văn thơ, bắt chuyện về tờ báo Đức Mẹ mà anh cũng có viết bài. Chị cũng rất thích văn. Chị thường viết bài về thiếu nhi, đạo binh Đức Mẹ. Chị xấu hổ không dám nhắc với anh, chị là trưởng đoàn thiếu nhi, thường kư tên T.Y (về sau anh mới biết). Chị học xong bậc tiểu học, nhưng cậu tôi không cho học thêm, v́ chị đẹp, rất nhiều nơi đă dạm ướm, mà tiếp xúc nhiều bạn bè ở trường, có thể bị mang tiếng cho gia đ́nh đạo đức.

                V́ vậy, chị ở nhà đi học nữ công, thỉnh thoảng đến giúp việc xếp báo, gởi báo cho ṭa soạn báo Đức Mẹ.

                Chị Trà là mối t́nh yên lặng nhất của anh, đến đỗi nhiều lúc chịu không nổi, cũng có úp mở với tôi cho vơi đi nỗi tiếc nhớ.

                Dù cái răng khểnh của anh vẫn cứ tỏ vẻ “khách quan” nhưng cái cười đó không che giấu tối được nỗi đau nhất của anh, v́ “t́nh trong như đă mặt ngoài c̣n e”…

                Anh không dám t́m cách nào để tỏ t́nh. Giả như anh làm một vài bài thơ nào đó để tặng chị th́ đâu đến nỗi nào.

                T́nh yêu âm thầm thổn thức kéo dài cho đến tháng chạp năm ấy.

                Bà chị Phu đột ngột vào thăm mẹ tôi. Cả nhà đều vui mừng, ai cũng yêu mến chị. Tính chị mau mắn, anh Trí rất thương chị. Mỗi lần ra Huế đều lên Kim Long thăm chị.

                Lần nầy chắc anh phải oán chị, v́ mang đến cho anh một tin ră rời, thất vọng.

                Mẹ tôi gặp lại chị, vồn vă chưa kịp hỏi han ǵ th́ chị đă oang oang:

                O ơi, con tiếc quá, phải chi thằng Trí mà ưng con Trà th́ hay biết mấy. Con nó thật đẹp, thuỳ mị dễ thương quá. Con đă để bụng cho thằng Trí rồi.. Rứa mà…

                Anh Trí yên lặng lắng tai nghe.

                Mẹ tôi hỏi: “Mà chừ th́ ra răng rồi?” Chị vội nói: “Bác Chí (chị gọi bố chị Trà bằng bắc) nhờ con về mời O ra đám cưới con Trà”. Chị quay lại nh́n anh. “Con Trà em biết rồi đó, hắn sắp lấy chồng. Chao! Chị tiếc quá, phải chi em nói một tiếng th́ dễ quá”. Chị nói nhỏ với tôi: “Con Trà có vẻ thương thằng Trí. Hỏi thăm luôn”.

                Tôi nghe nói mà c̣n muốn rụng tim giùm cho anh. Huống chi mà anh không sững sờ như phỗng đá.

                Vẫn cái răng khểnh cười, anh lặng lẽ đi vào pḥng.

                Thế là hết. Gịng sông Hương vẫn lững lờ. Các chuyền đ̣ ngang vẫn đi lại để thương để giúp những cơ hội tốt cho các cô gái tươi như hoa, thướt tha như liễu, mà ḷng vẫn luôn lo lắng sợ hăi những cái “hâm” từ từ đến lúc nào không biết. Buồn chưa!

                Mối t́nh câm với chị Trà (Thu Yến) thầm lặng đến và thầm lặng đi, để lại trong ḷng Hàn Mặc Tử một hối hận riêng tư lâu dài mà mỗi lần đọc bài Buồn Thu, vẫn c̣n xót thương cái ấp a ấp úng của tuổi 19, 20 khờ khạo rụt rè đă làm cho cuộc đời phải ngỡ ngàng, trước trớ trêu của định mệnh.


                BUỒN THU

                Ấp úng không ra được nửa lời

                T́nh thu bi thiết lắm thu ơi

                Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt

                Buồn bă hơi mây thoáng lại rồi

                Nằm gắng đă không thành được mộng

                Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi

                Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt

                Cảnh sắp về đông mắt sẽ vơi.



                Bài thơ này Hàn Mặc Tử mượn cảnh buồn thu để tự thú nỗi ḷng. Chỉ v́ anh e ngại ấp úng không dám tỏ t́nh mà c̣n yến mùa thu (Thu Yến) đă vội vàng bay đi trớt, để lại bao nhiêu buồn bă của gió heo may lạnh.

                Từ trước đến nay, bài Buồn Thu được xem là bài thơ đẹp nhất trong Lệ Thanh Thi tập. Nhưng chưa ai biết được nỗi ḷng riêng tư của con người nghệ sĩ tài ba chưa đến tuổi 20 đó.

                Năm 1936, khi ḷng đă lắng xuống, anh trở thành quen thuộc với những mối t́nh dang dở, anh cho xuất bản tập Gái Quê. Ra Huế t́m lại những “đám mây hồng” ngày trước và mây trắng ngang trời đă xóa hết kỷ niệm bốn năm rồi, không c̣n gặp được ai anh trao cho bà chị Phu một tập Gái Quê, nhờ t́m trao tặng chị Trà. Đến Hồ Lư mới biết Thu Hà đă vào Nam, nghe nói có t́m thăm Hàn Mặc Tử nhưng không gặp được.

                Anh bùi ngùi nghe đến những kỷ niệm đẹp. Hồ Lư vui vẻ nói: “T́nh chỉ đẹp khi c̣n dang dở”. Anh cũng cười với cái răng khểnh đào hoa đó, nhưng ḷng anh th́ lại nghĩ khác, v́ anh chẳng có mối t́nh nào suông sẻ cả, thế mà có t́nh nào đẹp đâu…

                Sau một năm sống ở Sài G̣n, chung quanh anh có rất nhiều thiếu nữ, nhà văn có, nữ sinh có, thỉnh hoảng đến gặp anh nói chuyện thơ văn. Ḷng vẫn dửng dưng, anh không c̣n t́m đâu được những bóng dáng yêu kiều đă ghi đậm trong ḷng anh, những ngày đầu biết yêu, biết thưởng thức vẻ đẹp của gịng sông Hương, của những chuyến đ̣ ngang. Những h́nh bóng đă đem lại cho anh những ước mơ và hứa hẹn, dùa chỉ là đám mây hồng trôi ngang qua.

                Nếp sống xô bồ rộn rịp của Sài G̣n vẫn không áp đảo được những kỷ niệm mơ màng với Thu Hà, với Thu Yến mà hai câu thơ trong Bước Giang hồ

                … Chút t́nh bến cũ c̣n đeo đẳng

                Hụt chuyến đ̣ đưa nghĩ nghẹn ngào


                Vẫn đeo đuổi anh trên gác trọ 107 đường Espagne Sài G̣n, những đêm buồn cô quạnh, giữa cái thành phố mà anh cho là ô hợp. Anh đang bị lạc lơng.

                Ở Pháp, trong dịp kỷ niệm 50 năm Hàn Mặc Tử qua đời, những người Việt ái mộ Hàn đă tổ chức một buổi góp chuyện nhắc đến anh, con người tài hoa bạc số đó.

                Trong nhiều người lên tiếng, có một vài cô “mà nay đă thành bà cụ” vẫn c̣n nức nở khi kể đến những ngày, những cơ hội được săn sóc Hàn lúc đau yếu, xoa dầu cạo gió cho Hàn để được nghe Hàn ngâm thơ.

                Viết lại đoạn văn này, để mong được đến tay những người đă 50 năm rồi mà c̣n nặng t́nh tri kỷ với Hàn, ngơ hầu đền đáp trong muôn một, cho những ai từng yêu mến anh tôi.


                Tác giả Nguyễn Bá Tín
                Vạn Xuân

                Comment


                • #9
                  PHẦN III. ÔI! KIẾP TÀI HOA!

                  1. CÔ GÁI ĐỒNG TRINH



                  Khi Hàn Mặc Tử đă thực sự biết ḿnh mắc bệnh nan y, anh vẫn không hề tỏ vẻ sợ hăi lo lắng bên ngoài, nhưng có nhiều hiện tượng cho thấy anh tự đè nén nỗi lo âu từng giây từng phút.

                  Mặc dù mọi người trong gia đ́nh vẫn t́m cách bưng bít dư luận xôn xao bên ngoài cái thành phố bé nhỏ nầy, mà mỗi một gia đ́nh, mỗi một người dân đều như thông cảm nhau, hiểu biết lặng lẽ với nhau, như qua cả hơi thở. V́ vậy, cái truyền thống cảm nhận đó cũng đă đến với anh được.

                  Anh Trí vẫn biết cả: Từ con đường Khải Định, con đường Jules Perry cho đến Gia Long, những ai đă có triệu chứng mắc bệnh phong, anh đếm được cả trên đầu ngón tay. Câu chuyện Giang Đông Nhị Kiều ở Gia Long bỗng nhiên mất tích, vắng bóng từ một năm nay cả mùa hè trên bờ biển, càng làm cho anh xót xa hơn.

                  Nỗi đau buồn càng dồn dập cho anh, từ khi Hoàng Hoa về Huế, Mộng Cầm giải ước, khiến cho anh phải nhiều đêm thao thức, bồi hồi tâm sự nhiều tam canh, và tiếng đàn tranh của “Nàng” trước kia nghe sao dịu dàng, say đắm bao nhiêu th́ nay trở nên dày ṿ ray rứt anh bấy nhiêu.

                  “Nàng” là Mỹ Thiện, ở cách nhà chúng tôi độ 30 mét thôi, một thiếu nữ người Huế, con gái nhà giáo họ Cung, vốn là một cây đàn tỳ bà lỗi lạc, lại c̣n nổi tiếng đàn đủ năm cây (tranh, tỳ, nhị, nguyệt, bầu).

                  Cho nên, cây đàn tranh dưới bàn tay tuyệt kỹ của nàng đă làm cho bao nhiêu con tim xao xuyến một vùng trời Khải Định.

                  Nàng đẹp như bức tranh thuỷ mặc tàu mà vẻ kiều mỵ t́nh tứ như ẩn như hiện dưới nét đan thanh mờ ảo.

                  H́nh như con người nàng có nhiều tâm sự, mà chỉ bộc lộ vào những đêm khuya thanh vắng qua tiếng đàn tranh nỉ non như than thở, như bơ vơ t́m kiếm, đuổi theo vào tận cùng giấc cô miên trằn trọc, những tâm hồn nghệ sĩ, lẻ loi.

                  Tiếng đàn đó làm cho anh Trí vừa sợ hăi vừa lo lắng đợi chờ, những đêm dài tuyệt vọng v́ biết ḿnh mắc phải chứng nan y ghê gớm.

                  Anh thường đánh thức tôi dậy để cho có bạn, để cùng theo dơi tiếng đàn ma quái đó.

                  Có đôi khi bảo tôi gióng dây tơ cây đàn nguyệt, so phím cách không ḥa điệu, khiến nhiều căn phố kế cận vang nhẹ tiếng động của ṭ ṃ.

                  Có phải v́ thế mà nhiều bà đạo đức lên giọng nặng nề phê phán lẳng lơ mất nết. Nhất là bà kế mầu nàng, vốn không lớn tuổi hơn nàng bao nhiêu, theo dơi hằn học, chỉ v́ bà cũng rất đẹp.

                  Tôi thỉnh thoảng có dịp đến ḥa đàn với ông giáo, đôi khi cũng có nàng dự ḥa, v́ ông giáo rất nghệ sĩ và phóng khoáng, trẻ trung.

                  Anh Trí chỉ nghe danh nàng nhưng chưa biết mặt. Có lần anh hỏi tôi về nàng, tôi cười, đọc cho anh nghe mấy câu:

                  … Và đôi mắt ai rười rượi buồn

                  Ngón tay trên phiếm nhẹ sầu buông

                  Trễ tràng mái tóc gây thương nhớ

                  Chỉ bấy nhiêu thôi đủ vấn vương.


                  Quả thật là tai họa “bạc số”. Chỉ có cách bảy tháng sau đó, khi tôi lên Đà Lạt, bỗng được tin nàng quyên sinh trong một giấc ngủ dài với 10 viên thuốc Véronal để từ giă cơi đời khắt khe độc ác.

                  Nàng đă mất, một buổi sáng cuối thu buồn thảm.

                  Nhà thương đă ra công chạy chữa. Họ không phục hồi được mạng sống nàng, nhưng đă phục hồi được tiếng thơm trinh bạch nàng, mà phương pháp chạy chữa đă có dịp chứng minh ngược lại những gi gièm siễm thị phi về nàng.

                  Mọi người đều ứa lệ. Vậy mà trước đó chỉ mấy tiếng đồng hồ, khi nghe Mỹ Thiện quyên sinh, đă có xôn xao luận điệu hoang thai. Ôi xót xa chưa!

                  Anh Trí khi nghe anh Bửu Ḍng, từ nhà thương chạy về vội vă báo tin buồn cho cả xóm đang chờ đợi, bỗng sững sờ ngơ ngác.

                  Anh ngậm ngùi hồi lâu rồi lặng lẽ đi vào pḥng riêng đóng cửa lại viết ngay bài thơ:


                  CÔ GÁI ĐỒNG TRINH

                  Ôi chao, ghê quá, ôi ghê quá

                  Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi

                  Đêm qua tranh vướng trên cành trúc

                  Cô láng giềng bên chết thiệt rồi

                  Trinh tiết vẫn c̣n nguyên vẹn mới

                  Chưa hề âu yếm ở trên môi.

                  Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc

                  Cả một mùa xuân đă hiện h́nh

                  Thinh sắc cơ hồ lưu luyến măi

                  Chết rồi xiêm áo trắng như tinh

                  Có tôi đây, hồn phách tôi đây

                  Tôi nhập vào trong xác thịt này

                  Cốt để ḍ xem t́nh ư lạ

                  Trong ḷng bí mật ả thơ ngây

                  Biết rồi, biết rồi, thôi biết cả

                  Té ra nàng sắp sửa yêu ta

                  Bao nhiêu mơ ước trong tim ấy

                  Như chục xuân về thổ lộ ra.



                  Mấy tháng sau đó tôi về Qui Nhơn nghỉ tết. Anh Trí đem bài thơ trao cho tôi, giọng nghẹn ngào anh nói: Tao giải oan cho Mỹ Thiện đó. Rồi anh hỏi: “Sao, mi có khóc cho nàng được câu nào không?

                  Tôi nói: Bận công việc quá, đầu óc không c̣n minh mẫn, chỉ làm được mấy câu trên chuyến xe Đà Lạt về đây:

                  … Ôi! Nhớ bàn tay, nhớ những đêm

                  Trăng sao mờ nhạt gió ngàn êm

                  Tim ai thổn thức trên đầu ngón

                  Xao xuyến ḷng ta thập lục huyền

                  Ḥa âm buổi ấy dưới trăng thâu

                  Thánh thót đàn ai nhỏ lệ sầu

                  Sao em không nói câu ân ái

                  Nỡ để nàng gieo xuống mộ sâu.


                  Anh xem xong nói “được lắm, Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu."

                  Mỹ Thiện mất đi, Hàn Mặc Tử cảm thấy thiếu vắng tiếng đàn tranh vẩn vơ quen thuộc mà hàng đêm anh hồi hộp đợi chờ đến với anh, như một nỗi xót xa, xa không thể nào tránh được. Bây giờ xót xa đó càng ray rứt hơn, dày ṿ hơn, bởi v́ anh lại vừa mất đi cái giây phút đợi chờ một cuộc hẹn ḥ, vừa lo lắng bồn chồn, vừa thích thú say sưa…

                  Tiếng đàn tranh huyền hoặc này trở thành thói quen của anh.

                  Ông Trần Thanh Mại viết về anh đă nói: Hàn Mặc Tử có một nguồn cảm thụ rất mạnh khiến anh ḥa nhập dễ dàng vào tiếng đàn, như chính anh cũng là giây đàn, cũng run rẩy, cũng quằn quại mỗi khi bàn tay nghệ sĩ bấm vào cung bậc giây đàn.

                  Có nhiều khi anh thét lên, nức nở như tiếng đàn bị uốn nắn mà anh cảm thụ qua âm thanh. Tiếng đàn có vẻ như ma quái ám ảnh anh suốt thời kỳ đau nặng. Cũng có khi an ủi, khi th́ dằn vặt không buông tha anh:

                  Nàng lạy Nàng, hăy nghe tôi cầu khấn

                  Hăy khoan tay cầm lại trí tương tư

                  Đang chờn vờn trong nguồn sáng ngất ngư

                  Đang lướt rướt ở trong màu hoa lệ


                  Đó là những lời than văn năn nỉ, mà anh đang cảm thụ nỗi đau nhức.

                  Và cũng có khi anh say sưa mê mẩn khoan khoái:

                  Bằng trăm tiếng vẽ nên trăm màu sắc

                  Với đôi tay Nàng trút hết đê mê

                  Dạ lan hương bừng mở cánh e dè

                  Trong khúc nhạc rên đều hơi gió tới.


                  Những câu thơ vừa nhức nhối vừa say mê này đă được Hàn viết lên trong bài thơ sau:


                  ĐÀN NGỌC

                  Điện Hàm Chương mai hoa c̣n rất ngọc

                  Xiêm nghê nàng ven vén để hương lay

                  Nốc đi cho làn phấn điểm màu say

                  Cho ứ đọng toàn thân người rớm khóc

                  Rồi muôn xuân đă nư chiều thổn thức

                  Đều run rên như thể tâm hồn mơ

                  Ai gieo chi thương tiếc giữa đường tơ

                  Cho lỡ dở vang lên từng tiếng nấc

                  Nguồn ánh sáng lờ đi trong sự thật

                  Trong ăo huyền và trong cả mê ly

                  Ai nỡ nào cắt nghĩa tới hàng mi

                  Là ứ lại, là trào ra nước mắt

                  Bằng trăm tiếng vẽ nên trăm màu sắc

                  Với đôi tay Nàng trút hết đê mê

                  Dạ lan hương bừng mở cảnh e dè

                  Trong khúc nhạc rên đều hơi gió tớt

                  Đàn ngọc đă rít lên chiều nă nớt

                  Tôi kêu rên van khóc lạy nàng thôi

                  Hăy uống đi cốc rượu ngấm đầy hơi

                  Chan chứa vị nồng cay đêm hợp cẩn

                  Nàng lạy Nàng hăy nghe tôi cầu khẩn

                  Hăy khoan tay cầm lại trí tương tư

                  Đang chờn vờn trong nguồn sáng ngất ngư

                  Đang lướt mướt ở trong màu hoa lệ

                  Trên cung bực hăm mau niềm ngọc kể

                  Với ḷng run ngưng hết cả thanh âm

                  Cho lửng lơ chới với điệu phong cầm

                  Cho tôi bớt bồi hồi trong một phút.



                  Bài Đàn Ngọc trên đây, Hàn thú nhận sự yếu đuối của anh trước ảnh hưởng huyền hoặc của tiếng đàn tranh mà anh hoàn toàn bị chế ngự.

                  Cô Gái Đồng Trinh từ đó trở thành một hiện tượng kỳ lạ, một Nàng thơ, dẫn dắt anh vào những nhớ thương bàng bạc bâng quơ, hoặc ḥa nhập vào những lời thơ quằn quại xót xa mà cuộc đời nàng đă đi qua ngắn ngủi.

                  Những năm Hàn đau nặng, nỗi u buồn tuyệt vọng đă đưa Nàng đến giấc ngủ vĩnh viễn, cũng đă được Nàng san sẻ cho anh trong những đêm cô quạnh trên bờ biển xa xôi.

                  Ta trút linh hồn giữa lúc đây

                  Gió sầu vô hạn nuối trong cây

                  C̣n em sao chẳng hay ǵ cả

                  Xin để tang anh đến vạn ngày


                  Bất cứ lúc nào bóng Nàng cũng mơ hồ chập chờn hiện ra trong tầm mơ ước của anh.

                  Muốn gởi thương về người cổ độ

                  Mà sao t́nh chẳng nói cho nhau…

                  Chiều xưa khúc nhạc nóng ran lên

                  Không có ai đi để lỗi nguyền

                  Nguồn thơ ứa mắt hai hàng lệ

                  Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm.


                  Có những khi anh h́nh dung Nàng như một bóng ma ghê rợn trên băi cô liêu.

                  Tôi ngồi dưới băi đợi Nường Mơ

                  Tiếng rú ban đêm rạng bóng mờ

                  Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng

                  Rung từng không khí bạt vi lô

                  Ai ai lẳng lặng trên làn nước

                  Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

                  Mơ sao ngậm cứng tơ đầy miệng

                  Không nói không rằng nín cả hơi

                  Ôi chao, ghê quá trong tư tưởng

                  Một vũng cô liêu cũ vạn đời.


                  Hiện tượng Mỹ Thiện là một sự tiếc nuối bâng quơ dông dài, cô đọng lại từ những cuộc t́nh dang dở xa xưa.


                  NHỮNG GIỌT LỆ

                  Người đi một nửa hồn tôi mất

                  Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.


                  Mỹ Thiện đă giam hăm tâm tư anh một thời gian khá lâu, cho đến khi anh gặp lại con trăng cũ, con trăng lăng mạn nằm sóng soài trên cành me, bên cửa sổ cái gác trọ con đường Espagne Sài G̣n.

                  Nhưng càng về lâu dài, anh rất thích thú sống với trăng, nào là đi chơi với Trăng, ngủ với Trăng, như chính thân anh ḥa lẫn với trăng (tôi đă từng kể lại trong tập hồi kư Hàn Mặc Tử-anh tôi) trong nhiều trạng thái xuất thần.

                  Những trường hợp xuất thần ngày càng xảy ra nhiều.

                  Khi anh Trần Thanh Địch giới thiệu Thương Thương với anh, Thương Thương chiếm ngay chỗ của Trăng dễ dàng, và trở thành thật sự một Nàng Tiên bằng xương bằng thịt, có thể giao thiệp với anh bằng thơ văn. Thật tuyệt vời.

                  Anh bỗng nhiên suy cảm phong phú lạ lùng, mọi vật đều trở thành một cơi Bồng Lai. Chim hoa lá đều hiểu anh và anh đă sáng tác Cẩm Châu duyên, Quần tiên hội, những vần thơ trác tuyệt c̣n lưu lại đến ngày nay như những viên ngọc quí của nền văn học.

                  Đó là hương vị chót, những ngày cuối đời, mà định mệnh dành cho anh như để đền bù những gian khổ mà anh đă trải qua.



                  Tác giả Nguyễn Bá Tín
                  Vạn Xuân

                  Comment


                  • #10
                    PHẦN III. ÔI! KIẾP TÀI HOA!

                    2. NHỚ NHUNG



                    Từ ngày Mỹ Thiện mất đi, âm hưởng tiếng đàn tranh nức nở tủi hờn, nghe như ma quái của nàng vẫn c̣n chập chờn ám ảnh Hàn Mặc Tử cả năm trời, mà anh không có cơ hội nói lên nỗi ḷng bứt rứt đó.

                    Đối với anh Trí, thơ là phương tiện để phát ngôn thật thà các mối t́nh như lâu nay, mà anh không thể nói ra bằng lời được cho ai hết.

                    Ở đây th́ anh lại không thể viết ra được những lời thơ chân t́nh nói lên hoàn cảnh bệnh hoạn, cô đơn trong dày ṿ mà tiếng đàn Mỹ Thiện là niềm an ủi duy nhất cho anh.

                    Anh Trí mê tiếng đàn rồi, từ đó, bóng dáng mơ ước về nàng cũng trở nên một ám ảnh cho anh nữa, tuy không thể bộc lộ được mà thôi. Chỉ v́ Hồ Tùng Ngâm, bạn thân của anh hồi đó, lại cũng say đắm Mỹ Thiện mà chị Cúc tiết lộ: “Mỗi tuần Ngâm đều đến, để vọng về căn nhà đối diện lặng lẽ ngắm nàng”.

                    Cái nghĩa bạn bè nặng nề đến nỗi Hàn Mặc Tử phải nhận sâu mối t́nh anh trong đáy ḷng thầm kín không hề tiết lộ cho ai.

                    Bài Nhớ Nhung tôi kể đây là một công tŕnh nguỵ trang đặc biệt cho mối t́nh anh đối với Mỹ Thiện. Cho nên ít ai hiểu được bài thơ này Hàn viết về ai. Có người cho là anh tặng Hoàng Hoa, khi anh đi Sài G̣n là báo. Điều này không thể đúng đuợc với Hoàng Hoa.

                    Bài thơ, nói về một cuộc chia ly mà chủ yếu là cây đàn tranh: nào là tiếng dương cầm, cánh cô nhạn, những ngôn từ ám chỉ tiếng đàn tranh mà anh nhớ nhung đến khô héo.

                    Trong giới cổ nhạc hồi đó, người ta nói “phiếm nhạn” là đàn tranh, c̣n “phiếm trúc” là đàn nguyệt, chỉ v́ bộ phiếm gỗ 16 con có h́nh dáng con chim nhạn chạy dài trên mặt đàn. Đàn tranh c̣n được gọi là Thập Lục Huyền Cầm.

                    Hàn Mặc Tử nói trong bài thơ, nghe như chính anh chủ động. Nếu ta đặt chữ “em” ngôi thứ nhất trong bài thơ bằng tiếng “anh” ngôi thứ hai th́ tâm sự Hàn thật quá rơ ràng, không c̣n dấu giếm được:

                    Từ ấy em ra đi

                    Ngoài hiên không gió thoáng

                    Hoa đào vắng mùi hương

                    Ḷng anh xuân hờ hững


                    Từ ấy em ra đi

                    Bóng trăng vàng giải cát

                    Cánh cô nhạn bơ vơ (tiếng đàn tranh bơ vơ)

                    Liệng dưới trời xanh ngắt



                    Từ ấy em ra đi

                    Tiếng dương cầm vắng bặt

                    Dường tan trong đám sương

                    Thoáng về nơi hoàng hạc (trở về cơi huyền hoặc)



                    Từ ấy em ra đi

                    Anh gầy hơn gốc liễu (Hàn bắt đầu đau nặng)

                    Anh buồn như đám mây

                    Những đêm vừng trăng thiếu. (Đêm cả trăng cũng không có với anh)



                    Cứ bên ngoài bài thơ, th́ chị Cúc cũng có thể được nhắm vào. Nhưng có lần tôi hỏi th́ chị cười: “Cậu có nghe tôi đàn tranh bao giờ chưa? Tôi chỉ biết đàn nguyệt c̣n đàn tranh tôi mới học. Khi dọn về ở trước mặt nhà Mỹ Thiện và cả ông giáo nữa, tôi đâm ra mặc cảm, không dám lên tiếng”. Chị lại cười: “Chỉ có cậu mới dám so tài thôi”.

                    Một luận điệu khác ở Huế cho rằng: bài Nhớ Nhung là anh Trí nhớ một người bạn, cô giáo ở An Cựu tên Nhung. Tôi cũng đă t́m hiểu: ở Huế, hẳn có một mối t́nh sơ ngộ với một cô gái tên là Thu Hà mà bài thơ Chuyến Đ̣ Ngang là gạch nối, nhưng Hàn bận lo giấy tờ để du học Pháp nên lăng quên và có lần bị “nhắc khéo” tôi đă nói trong bài Chuyến Đ̣ Ngang.

                    Anh Trí không hẳn đă yêu Mỹ Thiện, như thông thường, mà chỉ bị ám ảnh v́ tài sắc được nghe nói về nàng.

                    Anh hay hỏi han về “t́nh h́nh” Mỹ Thiện như trước kia, khi Hoàng Tùng Ngâm c̣n ở Qui Nhơn, hay tâm sự với anh. Có lẽ anh cũng có làm một vài bài thơ nào đó, nhưng kín đáo xem rồi xé đi.

                    Tôi cũng có dịp tả h́nh dáng nàng cho anh nghe. Anh trầm ngâm thích thú như câu:

                    Trễ tràng mái tóc gây thương nhớ

                    Chỉ bấy nhiêu thôi đủ vấn vương…
                    (đă chép trong bài Mỹ Thiện)

                    Những câu đó để tạo cảm nghĩ cho anh làm thơ, nhưng anh lại không dám làm. Có lẽ anh lại ngần ngại v́ tôi chăng?

                    Khi vắng Ngâm, anh nuối tiếc cái mối liên cảm trong tinh thần với Ngâm nên anh kéo tôi vào thay thế chỗ trống của Ngâm. Anh đặt bút hiệu cho tôi là Thiện Nam. Tôi hỏi nghĩa là sao? Anh cười lớn: “Thiện nam tín nữ”. Chúng tôi cùng cười cho anh vui.

                    Với Mỹ Thiện, anh có vẻ như tôn thờ một thần tượng, một h́nh bóng mơ hồ dễ tan biến.

                    Những đêm mà v́ lẽ nào đó, Mỹ Thiện không đàn, anh xao xuyến kỳ lạ, đứng lên nằm xuống, gần như không ngủ, suốt đêm chờ đợi.

                    Cuộc đời t́nh cảm của anh, đă hai lần thất bại với Hoàng Hoa với Mộng Cầm. Hai lần đó đă để lại cho anh nhiều tiếc nuối những ǵ anh được hưởng ít oi. Nhưng với Mỹ Thiên, anh chưa hề được ǵ hết, ngay cả chưa trông thấy được dung nhan kiều diễm Nàng, mà chỉ nghe tả lại thôi.

                    Nhưng tiếng đàn tranh đă nói hết về nàng, làm cho anh nhớ nhung nuối tiếc như mất đi những ǵ tuyệt đẹp mà anh đă có.

                    Bởi vậy, sự chờ đợi hằng đêm tuy xót xa nhức nhối với anh là một điều thua thiệt, mà anh sẵn sàng chấp nhận để trao đổi một chút say sưa huyền hảo trong mơ màng thôi.

                    Anh không hề nghĩ cái ân huệ tối thiểu đó lại cũng mất đi dễ dàng quá trong một giấc ngủ dài, chẳng khác ǵ mọi giấc ngủ. Nàng đă từng sống, mà anh ngờ vực c̣n vói nắm cuộc đời anh.

                    Tôi rất thấm thía với câu anh than thở:

                    … Cô láng giềng bên chết thiệt rồi.

                    Từ đó:

                    Ngoài hiên không gió thoảng

                    Hoa đào vắng mùi hương

                    Ḷng anh xuân hờ hững…


                    Từ đó:

                    Tiếng dương cầm vắng bặt…

                    Cánh cổ nhạn bơ vơ…


                    Xứ Huế, cái xứ có nhiều liên quan đến anh từ thời biết yêu vừa mất đi một tài hoa, một thần tượng của anh.

                    Tôi vẫn c̣n nghe anh thỉnh thoảng ngâm một câu thơ cũ mà lâu ngày không nhớ tác giả là ai, đă nói lên nỗi nhớ thương của xứ Huế về một vị Phế Đế bị lưu đày:

                    Khô héo lá gan cây Đỉnh Ngự

                    Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương.


                    Lại một lần nữa, anh tôi nguỵ trang đến tâm tư rồi.



                    Tác giả Nguyễn Bá Tín
                    Vạn Xuân

                    Comment


                    • #11
                      PHẦN III. ÔI! KIẾP TÀI HOA!

                      3. VẮNG BÓNG



                      Đi về cánh nhạn vương thơ ư

                      Khép mở pḥng khuê thoảng tiếng tơ.


                      Qui Nhơn, cái thành phố nhỏ bé, tôi đă từng sống từ thưở 10 tuổi, bỗng dưng thay đổi nếp sống văn nghệ một cách kỳ diệu.

                      Người dân B́nh Định nổi tiếng, không biết từ thời nào về bộ môn hát bộ và hát bài cḥi.

                      Triều đ́nh Huế đă tuyển lựa hết tài hoa, đưa về thành lập ban hát bộ của nhà vua. Điều này làm cho dân B́nh Định rất hănh diện.

                      V́ vậy, các môn cải lương, ca Huế, khó t́m được chỗ đứng trong cái tỉnh nhỏ này. Ca Huế th́ lại càng khó khăn để được B́nh Định thích nghi.

                      Những lễ hội, Kỳ yên, tại các Phủ, Huyện, Làng, Tổng đều tổ chức hát bộ mà dân địa phương gọi là bát đ́nh. Dân chúng mỗi khi nghe có hát Đ́nh là cơm đùm, cơm gói đến xem cho được những tích xưa nói về Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa. Trong nhân gian không ai là không biết tuồng hát “Ông Đ́nh, thằng Nhược” biểu tượng Trung và Nịnh mà năm nào cũng diễn đi diễn lại. Vậy mà…

                      Bỗng tôi cảm nhận được một sự thay đổi lạ lùng: cổ nhạc Huế đă xuất hiện ào ạt đến Qui Nhơn.

                      Có lẽ phải kể là bắt đầu từ năm 1933; năm có nhiều đoàn cải lương: Trần Bắc, Năm Phỉ lui tới tŕnh diễn tạo sinh khí mới. Dấu hiệu đầu năm ấy: có một hội chợ (Kermesse), trong đó lại có tổ chức một cuộc thi họa thơ đầu tiên, mà đề tài được chọn là “Đàn nguyệt”.

                      Hàn Mặc Tử được mời làm giám khảo cuộc thi, v́ bài thơ Đàn Nguyệt của anh sáng tác.

                      Một ngẫu nhiên khác, người trúng giải, ông Tạ Linh Nha người Quảng Ngăi là một tay đàn nguyệt có hạng, học tṛ thầy đờn Tám Nghệ. Thế là ông Tám vào Qui Nhơn dạy đàn Huế. Quảng Ngăi bỗng nhiên nổi tiếng cả thơ, cả nhạc, một cuộc chạy đua giữa các thầy đờn: Bảy Thiều, bà Phán Cự, cậu Hai Phong v.v… người ta đua nhau học đàn Huế. Học sinh công chức cho đến thợ thuyền. (Nghe nói hai nhà thơ Xuân Diệu, Bích Khê cũng giỏi đàn Huế mà không phải là người Huế. Họ biết đờn (và c̣n ca nữa) các bản Nam ai, Nam bằng một cách thành thạo). Chỉ những người Huế biết ca nhạc Huế mới có thể phân biệt được qua tiếng đờn hơi cứng thôi. Giọng ca th́ dễ phân biệt hơn. Vậy mà hai cô Liễu, Sắc, người Quảng Ngăi vẫn được mời vào ca ở Qui Nhơn.

                      Lần đầu tiên tôi biết Mỹ Thiện. Chính Mỹ Thiện đă phân biệt được tiếng đàn người Huế và tiếng đàn người B́nh Định.

                      Hôm ấy tôi đến chơi nhà người bạn thân tên Bích, học tṛ của ông Bảy Thiêu, cây đàn số một của B́nh Định (Thành). Thấy cây đàn nguyệt đẹp, tôi thử đàn một bài Nam b́nh. Nghe có tiếng ghế di chuyển đến gần bức tường ngăn căn nhà bên, tôi ngẩng lên, thấy đầu tóc vấn Huế của nàng, từ đó quen nhau và chính nàng cho tôi biết: “tiếng đàn của thầy Bích cũng hay lắm, nhưng lại lạt lẽo không t́nh tứ”. (Người Huế rất tế nhị khi nghe được tiếng đàn để phân biệt đặc âm của mối t́nh). Nghe bài Nam B́nh của anh, tôi biết không phải thầy Bích đờn!”

                      Hàn Mặc Tử rất thích nghe Mệ Dung ca bản Nam bằng. Bạn bè biết cả. Anh thường ghé lại tiệm hớt tót Hai Được, lấy cớ hớt tóc, ráy tai để nghe hết một loạt dĩa hát Béka, thu thanh các bản nhạc Huế của cô Dung, cô Nhơn, mà cái máy hát Victor của anh Hai Được ngày nào cũng có đông người nghe.

                      Bài Đàn Nguyệt anh Trí viết tặng Mệ Dung (biết ca từ nhỏ) bài thơ này nổi tiếng v́ các cụ ở Huế khen hay, nhất là cụ Tản Đà.

                      Hỏi chớ mấy tuổi, đáp mười lăm

                      Non nước từng phen nổi tiếng tăm

                      Bạc mệnh đàn chơi, đau nửa kiếp

                      Đồng tâm tơ buộc chặt quanh năm

                      Chường ḿnh trước án trông đầy đặn

                      Nép mặt trong hoa nói thĩ thầm

                      Mười khúc đoạn trường say chửa tính

                      Thuyền ai ngấp nghé muốn ôm cầm

                      Tôi thường trêu anh độc trại câu kết ra:

                      Câu thơ ngấp nghé, con thuyền Lệ Thanh.


                      Một lần vắng nhà mấy hôm, lại đúng vào lúc ở Qui Nhơn có tổ chức ḥa nhạc, ca Huế, có mời Mệ Dung cùng với cậu Tôn út vào chơi, tôi tiếc không có cơ hội nghe Tôn út đàn bản Nam bằng rất nổi tiếng của ông.

                      Khi về, anh Trí cằn nhằn măi: Đi chi mà lâu rứa, ở nhà không biết nhờ ai đưa đi nghe cô Dung ca. Tôi nói: Cô Dung có hay hơn chi các cô Sắc, cô Liễu đâu… Anh Trí nổi giận: Mấy cổ Quảng Ngăi làm sao bằng cô Dung. Tôi bật cười: Th́ cũng xương ca… cả mà thôi, lại câu thơ ngấp nghé con thuyền Lệ Thanh rồi!” Tôi đọc bài thơ tôi họa mà không dự thi bài Đàn Nguyệt của anh. Anh lại cười trừ v́ bài nầy có ư nói xướng ca vô loại cả (quan niệm xưa).

                      Nghe ra tuổi mới mười lăm

                      Oanh yến đi về đă tiếng tăm

                      Mái đẩy ḥ đưa t́nh vạn nẻo (Ḥ mái đẩy)

                      “Giao duyên” chờ đợi khách trăm năm (hát giao duyên)

                      Tơ vương mấy đoạn đành dang dở

                      Nhịp lỗi nhiều phen luống thẹn thầm

                      Đă trót trao thân vào trướng nguyệt

                      Vui chi cay đắng, nghiệp ca cầm.


                      Tôi biết anh Trí thích giọng ca Mệ Dung, chỉ v́ nghe đục đục như tiếng Khơmer, rất hợp với âm điệu thơ tám chữ của anh, ngắt quăng ở chữ thứ ba.

                      Cho đến khi dời về 20 Khải Định, xa tiệm hớt tóc Hai Được, xa cái máy hát Victor ngày nào cũng reo réo bản Nam b́nh. Tiếng Mệ Dung… “Mối t́nh chi. Mượn màu sơn phấn, đền nợ ôly…” Anh Trí quên đi giọng đục đục trầm trầm của cô Dung, th́ lại vương vào tiếng đàn tranh quyến rũ của Mỹ Thiện, đă ám ảnh một cách kỳ lạ, làm cho anh vừa xao xuyến, vừa say sưa. Cho đến khi Mỹ Thiện qua đời rồi, anh vẫn c̣n vương vấn măi với những âm thanh huyền hoặc đó trong suốt thời gian bị bệnh.

                      Chị Cúc nghe tôi kể đến những câu chuyện riêng từ đó chị bỗng hỏi tôi: Vậy th́ anh Trí yêu Mỹ Thiện? Tôi nói: “Có thể là, từ ngày Mỹ Thiện qua đời, anh Trí nhớ thương Nàng như một tài hoa bạc số, mà tiếng đàn tranh Nàng đă ngự trị ḷng anh một thời gian khá lâu. Một bóng ma, một thời vang bóng của thành phố Qui Nhơn…”

                      Chị Cúc bỗng trở nên nghiêm nghị. Chị nói: “Cậu đừng đùa không nên, Mỹ Thiện đă hiện ra nhiều lần. Mỹ Thanh em Nàng vừa mất năm ngoái ở Đập Đá cho tôi biết, chị Thiện về thăm nhà nhiều lần, mọi người đều trông thấy. Người ta quen đi, không để ư nữa. Họ nói chị chết oan cho nên linh lắm”.

                      Tôi không tin lắm, nhưng cũng hơi rờn rợn, sực nhớ một chuyện đă xảy ra ở trên rẫy, sau khi gặp lại chị Cúc một thời gian xa cách.

                      Một câu chuyện mà tôi cho là dị đoan, nhưng thấy chị Cúc tin tưởng quá nên tôi kể lại cho chị nghe.

                      Hiện tượng nầy tôi đă từng gặp một vài lần ở Ban Mê Thuột. Cung cách xảy ra gần như đều giống nhau.

                      Mùa đông năm ấy tôi lên răy cà phê thăm con, nhằm ngày đông chí, hoa cà phê nở trắng cả đồi, trời lạnh thấu ruột. Đêm ấy thật khó ngủ, trăng sáng như ban ngày. Hoa cà phê thơm ngát tràn ngập cả trong nhà. Nh́n ra đồi như bị tuyết phủ kín. Đă khuya mà tiếng nhạc radio cassette của “dân rẫy được mùa” vẫn c̣n văng vẳng, nghe như thưở nào con đường Khải Định. Ánh trăng qua cửa sổ, chiếu vào giường nằm… Bỗng linh tính báo hiệu có ǵ là lạ. Tôi cảm thấy lạnh hơn, như có ai đến… nghiêng ḿnh nh́n ra ngoài, tôi lạnh toát, khớp cả miệng, không kêu lên được: một bóng trắng. Không, một người đàn bà mặc đồ trắng… hương hoa cà phê làm cho tôi ngộp thở ngất đi trong khi tâm linh kịp nghĩ lơ mơ: ai đây có vẻ quen lắm.

                      Hôm sau thức dậy, cố nghĩ không biết là ma hay mơ. Sực nhớ lại những kỷ niệm xa xưa, cao hứng dựng lại một câu chuyện cũ trong bài thơ dưới đây gởi chị Cúc xem. Chị nói một cách tin tưởng. Đúng rồi, đúng là Mỹ Thiện rồi!


                      BÓNG XƯA

                      Lưng trời nhạn đổ mùa thu ấy

                      Một thoáng tương tư bỗng nhạn về…

                      Nàng từ đâu về đây

                      Tơ trăng vương văi đầy

                      Trên đồi hoa nở nhạc

                      Bàng bạc điệu Nam ai

                      Mái tóc nào vấn Huế

                      Trễ tràng như ban mai

                      Sóng mắt ai rào rạt

                      Bờ môi như hé mời

                      Lay lay tà áo trắng

                      Ta biết nàng là ai

                      Cơ hồ trong gang tấc

                      Mà sao ngoài chân mây

                      Im buồn trăng cố độ

                      Lạnh lẽo mái hiên tây

                      Nghe ai so phiếm cũ

                      Nghẹn ngào buổi chia tay

                      Nhớ thương tràn sóng mắt

                      Sương lệ thấm vai gầy

                      Ai mời ta ly rượu

                      Bàn tay làm ta say

                      Đường tơ ai tâm sự

                      Chưa kể hết đầy vơi

                      Đàn tranh đâu thánh thót

                      Sao ngưng tiếng vàng rơi

                      … Chơi vơi màu vạn cổ

                      Mờ nhạt bóng liêu trai…

                      Ta đang mơ hay tỉnh

                      Dù nàng là liêu trai

                      Ta chờ bao thế kỷ

                      Để có được đêm nay.


                      Câu chuyện Mỹ Thiện trong bài Vang Bóng này đă bị cắt bỏ khi tập hồi kư Hàn Mặc Tử anh tôi c̣n trong bản thảo, v́ có thể bị xem là dị đoan.

                      Khi Hàn Mặc Tử - anh tôi đă xuất bản, nhiều bạn bè biết chuyện, yêu cầu tôi viết rơ hơn những ǵ về con người tài hoa bạc số đó.

                      Anh Trần Thanh Địch cho là một sự kiện quan trọng, nhất là trong khi Hàn đau nặng.

                      V́ vậy tôi cố ghi chép lại trong một loạt bài “Hàn Mặc Tử trong riêng tư” để nhớ lại một thời vang bóng thơ và nhạc mà hai tài danh nổi tiếng, phải kể là Hàn Mặc Tử và Mỹ Thiện.

                      Thành phố Qui Nhơn xem những năm 1933-1940 là một thời cực thịnh của văn chương nghệ thuật, và cũng là một thời dân thành phố sống trong hồi hộp lo âu v́ nhiều triệu chứng phong cùi đe dọa trầm trọng, một chứng bệnh khủng khiếp mà họ cho là của dân Hời để lại, báo thù cái hận mất nước.

                      Theo truyền thuyết xa xưa, dân B́nh Định bao giờ cũng nơm nớp lo sợ sự báo thù ghê gớm của một dân tộc đă từng huy hoàng nổi tiếng văn minh và nghệ thuật, mà đă bị huỷ diệt tan tành trên mảnh đất B́nh Định, đặc biệt là Qui Nhơn. Nơi đây, những linh hồn ma quái đang bị chà đạp dứơi gót chân kẻ chiến thắng mà họ chưa biết ngày nào trỗi dậy.

                      Nhà thơ Chế Lan Viên, trong tập Điêu Tàn đă than thở cho kẻ chiến bại:

                      … Cả sự nghiệp đời ta xưa rực rỡ

                      Cả muôn dân Lâm ấp chiến binh ôi

                      Cả non nước Chiêm thành xưa rực rỡ

                      Ta chỉ c̣n nh́n được một lần thôi.


                      Hàn Mặc Tử cũng nhắc lại những lời bạc tàn của kẻ chiến thắng:

                      … Ngươi quên đi, quên hẳn cái thời xưa

                      Vạn Binh Chiêm, phải Nam ta chinh phục

                      Đạp tràn lên lầu điện chói nguy nga

                      Và cướp lấy gái Hời vui thú dục…

                      … Và ḷng ta sôi nổi máu kiêu căng

                      thích trông thấy lũ dân Hời tan tác…


                      Có phải đây là một sự trả thù ghê gớm của những linh hồn mà hài cốt đang c̣n bị chà đạp dưới ḷng đất sâu của cái thành phố bất hạnh này.

                      Phải chăng định mệnh đă chọn đúng lúc Qui Nhơn đang hồ hởi vinh quang để lấy đi những tinh hoa của nó: hai v́ sao sáng chói rơi rụng.

                      Bệnh cùi được báo trước bằng hiện tượng kỳ lạ: da dẻ bỗng trở nên hồng hào đẹp đẽ, một ân huệ cuối cùng để cho người thương nhớ chăng? Để rồi định mệnh ra tay tàn phá ghê gớm và dữ dội.



                      Tác giả Nguyễn Bá Tín
                      Vạn Xuân

                      Comment


                      • #12
                        PHẦN III. ÔI! KIẾP TÀI HOA!

                        4. BỨC THƯ XANH



                        Những tháng đầu năm 1937, bệnh phong của Hàn Mặc Tử có vẻ phát lên quyết liệt, sau một thời gian hồ hởi đầy hy vọng với nhiều triệu chứng thành công của ông thầy Sáu Gồ Bồi, trong lần chạy chữa đầu tiên với phương pháp ngoại khoa của ông.

                        Anh thường ngồi yên lặng, như để lắng nghe những gặm nhấm buồn thương, ray rứt trong tâm tư mà những cuộc t́nh bất thành, rạng rỡ với Hoàng Hoa với Mộng Cầm để lại trong ḷng anh, cộng với nỗi thất vọng chán chường của bệnh hoạn.

                        Em có chồng, mà đành đoạn chia đôi…

                        … Họ đă xa rồi không níu lại

                        Ḷng thương chưa đă, mến chưa bưa.


                        ….

                        Rao rao, gió thổi phương xa lại

                        Buồn đâu say đắm áo xuân ai

                        Lay bay lời hát, ơ! Buồn lạ!

                        E buồn trong mộng có đêm nay.


                        Nhưng, hôm nay một buổi chiều tím bàng bạc. “D́” gió mang đến cho anh một niềm hy vọng, an ủi anh, một bức thư màu xanh, nhiều hứa hẹn của ước mơ.

                        Chúng tôi đang ngồi giữa nhà, tán chuyện gẫu, ước ao vô duyên, để chờ đợi một ngẫu hứng bất thần, th́ có tiếng gọi ngoài cửa: Có thư, có thư.

                        Giáo sư Trân, nhanh chân chạy ra trước, mang vào một bức thư màu xanh, giơ cao lên đọc to:

                        “Me xừ” (monsieur) Hàn Mặc Tử 20 Khải Định Qui Nhơn.

                        Cả bọn nhao nhao lên: “A, bức thư xanh, tuyệt quá! Tâm sự cô nàng nào đây! Đọc to cho anh em nghe với anh Trí ơi!” Hàn mắt sáng lên, vẻ bối rối cuống quít, như do dự toan xé thư ra. Tôi vội vàng giải vây cho anh: “Đừng, đừng, thư riêng của anh mà!”

                        Hàn quay lại nh́n tôi, biết ơn, quay gót vào pḥng… Tôi đọc tiếp những câu thơ trong bài Hăy Nhập hồn em.

                        Đừng nhắc nhở tên anh ngoài lỗ miệng

                        V́ gió hương nghe được, rỉ thầm hoa

                        Lộ mất rồi tâm sự của đôi ta

                        Chưa hề nói cho một ai nghe biết

                        Chưa hề dặn ngày mai rồi tiễn biết

                        Chưa khi nào đọc đến chữ “Chia ly”…

                        “A! Thanh Huy, A, Thanh Huy”.


                        Anh Trí nhớ ra rồi. Người bạn tâm giao của anh ở Huế đă có nói đến tên nàng và về Nàng, một lần khi Hàn đến Ṭa soạn báo Tràng An đă trông thấy Nàng trong Nhà in Đắc Lập.

                        Thanh Huy, người thiếu nữ nhỏ nhắn, có đôi bàn tay tuyệt đẹp, trắng nuốt ngó sen. Có đôi mắt! Ôi, đôi mắt đen thăm thẳm như xoáy cái nh́n vào sâu con tim anh.

                        Phải chăng đôi mắt u buồn ấy

                        Xoáy mất tim ai một mạng đời!


                        T́nh bạn tâm giao của Hàn với Thanh Huy là tri âm tri kỷ trong văn chương thi phú, cố nhiên là lăng mạn rồi, và suưt nữa th́ họ đă trở thành đôi bạn trăm năm.

                        Có những đêm mưa tầm tă của xứ Huế khó tính. Họ ngồi bên nhau trước vỉ hè căn phố vắng, đếm từng giọt mưa rơi.

                        Có những đêm, trên con đ̣ thả trôi theo gịng sông Hương t́nh từ, họ ngâm thơ cho nhau nghe không biết chán.

                        Vậy mà t́nh bạn của họ vẫn giữ được quăng cách gan lỳ.

                        Anh bạn của Hàn vốn đă từng được “tôi luyện” trong nhiều hoàn cảnh khó khăn mà cuộc đời đă bị hất đi hất lại. Cho nên niềm kiêu hănh tự lập đă khiến anh chấp nhận thua sút không muốn nhờ ai giúp đỡ, mà quyết tâm tự tay xây dựng cho Đời ḿnh.

                        Họ yêu quí nhau trong niềm kiêu hănh đó, để rồi mơ ước những cái rủi may của định mạng.

                        Họ tế nhị tặng cho nhau những tấm vé số đầy hy vọng.

                        Phải! Tại sao họ không có quyền hy vọng, để nghĩ rằng một ngày nào đó, tấm vé số độc đắc đă từng rơi vào tay cụ già thưởng một trăm ngàn đồng, lại không thể rơi vào tay họ hay sao?

                        Nghe chuyện này, thật buồn cười, nhưng không thể không xót xa cho những tâm hồn giàu yêu thương nhưng nghèo tiền bạc.

                        Đó là điều đă khiến anh Trí thương yêu bạn anh.

                        Thanh Huy, người con gái đa t́nh kỳ lạ này lại c̣n rất mê say thi phú. Nàng thuộc ḷng cả một lô thơ Xuân Diệu, thơ Huy Cận, hay thơ Bích Khê.

                        Nào là Xuân Diệu viết:

                        Với bàn tay ấy ở trong tay

                        Tôi đă quên nguôi hận tháng ngày


                        Huy Cận viết:

                        Em đẹp bàn tay ngón thon thon

                        Em duyên đôi má nắng hoa tṛn


                        Và ướt át như Bích Khê:

                        Nàng ơi! Tay đêm đương giăng niềm

                        Trăng đan qua cành muôn tơ êm.


                        Đọc thơ của Hàn th́ Nàng như lao ḿnh vào ḥa nhập trong lời thơ say đắm, như đă yêu nhau từ kiếp trước.

                        Mà anh hay em trong tim đều rạn

                        Đều chôn sâu h́nh ảnh một người mơ

                        Bây giờ đây, quấn quít hiện bây giờ

                        Chỉ biết có đôi ta là đang sống

                        Đang cho nhau ngọt ngào và đang mộng
                        (ĐÔI TA)


                        Thanh Huy quên sao được những lời thật chua xót và tuyệt vọng:

                        Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi

                        Bao giờ tôi hết được yêu v́

                        Bao giờ mặt nhật tan thành máu

                        Và khối ḷng tôi cứng tợ si.


                        Bức thư xanh, Thanh Huy viết cho Anh không dài lắm, nhưng thiết tha chân thành, khiến anh vô cùng xúc động, đọc đi đọc lại nhiều lần và kêu lên:

                        Bức thư kia sao chẳng nói cho dài

                        Cho khẳng khít nồng nàn thêm chút nữa.


                        Nàng viết: “Nghe anh đau nặng từ lâu, nhưng xa xôi quá, không thể chia xẻ nỗi đau thương với anh. Thanh Huy biết anh đau đớn tâm hồn nhiều hơn thể xác”..

                        Bức thư xanh đến với Anh đột ngột, bất ngờ, khiến Anh hoảng hốt, vừa lạ lùng vừa thích thú say sưa, như nghe một cung đàn tuyệt diệu, như giấc chiêm bao mê luyến cả thần kinh anh.

                        A! Huyền diệu! Huyền diệu! A! Huyền diệu

                        Anh ánh lên cho nguồn sang trong xanh

                        Đây là Trăng? Thanh thuỷ đặc như t́nh

                        Đây là Nước? Bờ hồn không dậy sóng…

                        Là đàn phách của muôn dây đồng vọng

                        Vườn chiêm bao mê luyến cả thần kinh…

                        … Đây trang ngọc đầy hương hoa kỳ dị

                        Ứ bao lời t́nh tứ của đôi ta…


                        Nhưng khi nh́n lại chứng bệnh nan y mà anh đang sống (sưng húp) trong rên siết, quằn quại, Anh không c̣n tin tưởng ǵ nữa. Bức thư xanh, hóa chỉ mang ư nghĩa biệt ly từ kiếp trước.

                        Không, không đâu! Máu với lệ chan ḥa

                        Thành ra nghĩa biệt ly từ kiếp trước

                        Đây ḍng chữ nửa hư nửa thực

                        Lời nao nao như hàng lệ rưng rưng.


                        Anh lư luận, t́nh Thanh Huy chưa phải là t́nh cao trọng, mà sao lại làm cho Anh đến nỗi dại khờ đi.

                        Thanh Huy hỡi! Nàng chưa là châu báu

                        Cớ làm sao phước lộc chảy ra thơ

                        Duyên làm sao cho Trí đến dại khờ

                        ….

                        Điên rồi sao? Mê rồi? Hoảng rồi à?


                        Anh đang cần một thứ t́nh yêu cao trọng hơn, để cho anh hoàn toàn phó thác vào một niềm tin.

                        Một niềm tin, Đạo Đức, thiêng liêng hơn mà từ ngày đau nặng, tâm trạng anh bị nhiều nỗi đau thương chi phối.

                        Đó là sự cầu cứu với Tràng hạt mân côi, ơn phù trợ Từ Bi, để rồi anh cùng giúp Thanh Huy bay lên cao với anh.

                        Nhưng khoan đă, đang say kinh cầu nguyện

                        Cũng đang lần tràng chuỗi hột Từ Bi

                        A, Thanh Huy, A Thanh Huy! Thanh Huy

                        Ta cắp Nàng bay cao hơn tiếng Nhạc.

                        Cho Nàng hớp đầy môi, hương khoái lạc

                        Cho hồn nàng dính chặt với hồn ta

                        T́nh đôi ta muôn kiếp gỡ không ra.


                        Bài Bức thư xanh dưới đây là một mối t́nh thanh khiết mà Anh muốn tách khỏi tầm thường trần tục, để thánh hóa thơ anh.

                        Bài thơ này, đă dọn đường cho bài Ave Maria cách sau đó mấy tháng. Anh viết trong Ave Maria:

                        … Cho t́nh tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm

                        Thơ trong trắng như một khối băng tâm…




                        BỨC THƯ XANH (toàn bài)


                        A! Huyền diệu! Huyền diệu! A! Huyền diệu

                        Anh ánh lên cho nguồn sang trong xanh

                        Đây là Trăng? Thanh thuỷ đặc như t́nh

                        Đây là Nước? Bờ hồn không dậy sóng…

                        Là đàn phách của muôn dây đồng vọng

                        Vườn chiêm bao mê luyến cả thần kinh

                        Nào cuồng lên cho đến máu trong ḿnh

                        Xao xuyến măi, chảy tràn ra những ư…

                        Đây là ngọc, đầy hương hoa kỳ dị

                        Ứ bao lời t́nh tứ của đôi ta…

                        Không, không đâu! Máu với lệ chan ḥa

                        Thành ra nghĩa biệt ly từ kiếp trước

                        Đây ḍng chữ nửa hư nửa thực

                        Lời nao nao như hàng lệ rưng rưng.

                        T́nh đă húp, sao ư vẫn c̣n sưng.

                        Sao giấy lại tháo mồ hôi ra thế?

                        Nàng hỡi Nàng! Như ḷng ta khóc kể

                        Kêu rên nghe buồn chết cả đêm nay

                        Ta muốn nàng ngất lịm ở trong tay

                        Để ta xé bức thư ra vạn mảnh

                        Tung theo gió là Trăng hay hồn lạnh

                        Là nhạc say ngả ngớn giữa nguồn thương

                        Là t́nh ta c̣n ǵ nữa vấn vương

                        Tan thành bọt hư vô như khí hậu

                        Thanh Huy hỡi! Nàng chưa là châu báu

                        Cớ làm sao phước lộc chảy ra thơ

                        Duyên làm sao cho Trí đến dại khờ

                        Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm

                        Ta đă nuốt và h́nh như đă cắn

                        Cả lời thơ cho văi máu Nàng ra

                        Điên rồi sao? Mê rồi? Hoảng rồi à?

                        Ờ được lắm, lên Trăng chơi một chuyến

                        Nhưng khoan đă, đang say kinh cầu nguyện

                        Cũng đang lần tràng chuỗi hột Từ Bi

                        A, Thanh Huy, A Thanh Huy! Thanh Huy

                        Ta cắp Nàng bay cao hơn tiếng nhạc.

                        Cho Nàng hớp đầy môi, hương khoái lạc

                        Cho hồn nàng dính chặt với hồn ta

                        T́nh đôi ta muôn kiếp gỡ không ra.




                        Tác giả Nguyễn Bá Tín
                        Vạn Xuân

                        Comment


                        • #13
                          PHẦN IV. NHỮNG RIÊNG TƯ KỲ DỊ

                          1. CHỈ MỘT ƯỚC MƠ



                          Trong phần chót tập sách này, tôi đă cố gắng t́m hiểu những biến chuyển tâm trạng Anh qua những bài thơ rất thật thà, đi từ những t́nh cảm đơn sơ tuyệt đẹp đến những cay đắng xót xa, và cuối cùng ḥa nhập vào những mơ ước kỳ lạ, những lo lắng sợ hăi, trong nhiều hiện tượng khó hiểu mà tôi gọi là những cơn xuất thần, mà trong đó anh đă sống nửa mơ nửa thật nghe như được trông thấy từ những thế giới xa lạ.

                          Ở giai đoạn đầu của những bài thơ t́nh cảm nóng bỏng hay mơ màng thao thức, anh nói thật hết không hề dấu diếm. Trong mối t́nh Hoàng Hoa chẳng hạn, anh viết:

                          Đêm nay ta lại phát điên cuồng

                          Quên cả hổ ngươi cả thẹn thuồng

                          Đứng rủ trước thềm nghe ngóng măi

                          Tiếng đàn the thé ở bên song.


                          Với Mộng Cầm anh thổ lộ:

                          Mặt trời mai ấy đỏ ong

                          Nàng tiên hóng mát trên ḥn Cù lao

                          Áo xiêm nhuộm nắng hồng đào…

                          Đồng trong im như lặng như tờ

                          Hương ǵ ngan ngát giă đà say sưa

                          Gió ơi lại đấy mà ngừa

                          Tôi đứng xa lắm xin chừa tôi đi

                          Hồn tôi mắc cỡ là v́

                          Không quen thưởng thức cái ǵ ngất ngây

                          (Say Nắng)


                          Cũng có những tiếc nuối than thở:

                          Nhớ những lúc như si như dại

                          Nhớ những hồi bải hoải tay chân

                          Nhớ hàm răng, nhớ hàm răng

                          Mà ngày nào đó vẫn khăng khít nhiều

                          Dẫu đau đớn v́ điều phụ rẫy

                          Nhưng mà ta không lấy làm đều

                          Trăm năm vẫn một ḷng yêu

                          (Muôn năm sầu thảm)



                          Cũng có lúc ước mơ một cuộc t́nh ướt át, mà anh cho là tội lỗi, và để diễn tả, thật thà, anh diễn tả thành một bản t́nh ca ḥa tấu cảu đôi Tân hôn. Đó là bài Đàn Ngọc, nguyên thuỷ là Đêm Hợp Cẩn, về sau đổi lại là Cung Đàn Ngọc, cuối cùng thành Đàn Ngọc.

                          Đây là bài thơ lăng mạn nhất mà anh mơ tưởng, đă được diễn tả bằng những lời thơ tuyệt đẹp, vừa nồng nàn say đắm, vừa sôi nổi mà êm đềm. Suốt bài thơ không hề có một lời dung tục khiến người đọc cảm thấy tuyệt vời một đêm hợp cẩn.

                          Điện Hàm Chương mai hoa c̣n rớt ngọc

                          Xiêm nghê nàng ven vén dễ hương lay

                          Nốc đi cho làn phấn điểm màu say

                          Cho rúng động toàn thân người rớm khóc

                          Rồi muôn xuân đă nư chiều thổn thức

                          Đều run lên như thể tấm hồn mơ…

                          … Dạ lan hương bừng mở cánh e dè

                          Trong khúc nhạc rên đều hơi gió tớt…

                          … Hăy uống đi cốc rượu ngấm đầy hơi

                          Chan chứa vị nồng cay đêm Hợp Cẩn

                          Nàng, lạy Nàng, hăy nghe tôi cầu khẩn

                          Hăy khoan tay cầm lại trí tương tư

                          Đang chờn vờn trong làn sóng ngất ngư

                          Đang chới với ở trong màu hoa lệ…

                          Rồi một thứ lăng mạn ngây thơ khác:

                          Hăy tưới lên hoa giọt lê nồng

                          Đếm từ cánh một mấy lần thương

                          Hăy chôn những mảnh xuân tàn tạ

                          Và hăy chôn sâu tận đáy ḷng

                          (Thời gian) (Mơ Hoa)


                          Từ đây anh bắt đầu nói đến đau thương cay đắng:

                          C̣n đâu tráng lệ những thời xanh

                          Mùi vị thơm tho của ái t́nh

                          Đố kiếm cho ra trong lớp bụi

                          Ít nhiều hơi hám của kiên trinh


                          Cho đến cô đơn tan ră:

                          Họ đă xa rồi không níu lại

                          T́nh thương chưa đă mến chưa bưa…

                          … Người đi một nửa hồn tôi mất

                          Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

                          … Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu

                          Sao bông phượng nở trong màu huyết

                          Nhỏ xuống ḷng tôi những giọt châu.

                          (Những giọt lệ)



                          Trong bài Khói hương tan dưới đây, anh bắt đầu để lộ vẻ bơ vơ lạc lơng ít nhiều trong một thế giới vắng lặng, mà anh như con thuyền trôi nổi chưa biết ghé vào đâu.

                          Tối hôm nay muôn sao bơi nhấp nhánh

                          Sông Mê hà đưa đẩy sóng triền miên

                          Thuyền anh buông lững lờ trong hiu quạnh

                          Tới chưa em, đă tới bến ḷng em



                          Mộng yêu đương, đang khi tim rào rạt

                          Thuyền anh neo đậu trước bến Hàn Giang

                          Những uyên ương khi trăng sao bàng bạc

                          Biến mất rồi, anh thấy khói hương tan.



                          Và từ đó, anh sống trong nửa mơ nửa thực. Thơ anh bước vào một cơi trời khác, cơi trời mà trong những phút xuất thần anh vẫn c̣n nh́n thấy anh cả hồn theo anh như cái bóng.

                          Hồn là ai, là ai tôi chẳng biết

                          Hồn theo tôi như muốn cột tôi chơi.

                          Dẫn hồn đi ṛng ră một đêm nay…


                          Trong quá tŕnh tập thơ Đau Thương, anh đi từ t́nh tứ say sưa đến đắng cay cuồng loạn để rồi tan biến vào một thế giới mông lung. Thơ anh v́ vậy rất khó hiểu.

                          Ông Trần Thanh Mại viết trong tập Thân thế và thi văn Hàn Mặc Tử: “Thi sĩ v́ quá say sưa trong bầu không khí lạ của cơi trời mới chiếm, nên quên mất đường lối đi về, con đường c̣n dính líu với người thế gian. Thi sĩ đă đi lạc đường ra ngoài mức, ngoài tŕnh độ lĩnh hội của người thế gian, ngoài cả lĩnh hội của thi sĩ nữa”.

                          Hàn bắt đầu viết loại thơ đó:

                          Anh đă thoát hồn anh ngoài xác thịt

                          Để chập chờn trong ánh sáng mông lung…

                          Để t́m em đưa hai tay ràng rịt…

                          … Chúng ta biến em ơi làm thanh khí

                          Cho tan ra ḥa hợp với t́nh anh

                          Của Trời Đất của muôn vàn ư nhị

                          Và t́nh ta sáng láng như trăng thanh.



                          Tuy nhiên anh vẫn ư thức được anh đang ở đâu, c̣n lĩnh hội và đánh giá những ǵ anh đă gặp và ghi nhận lại khá rơ ràng. Có vẻ như anh có khả năng đi vào cơi mộng ảo rồi trở về thực tại dễ dàng như nhiều lần tôi nhận xét anh sau những cơn ngất hay nói là xuất thần.

                          … Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng

                          Chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây

                          Ánh sáng lạ sẽ tan vào hư lăng

                          Trời linh thiêng cao cả gợi nồng say.

                          V́ không giới nơi trần gian vắng lặng

                          Nên hồn bay vùn vụt tới trăng sao

                          Sóng gió nổi rùng rùng như địa chấn

                          Và muôn vàn thần phách ngă lao đao

                          Cả hơi hám muôn xưa theo áo ảnh

                          Hồn trơ vơ không biết lạc về đâu

                          Và vướng phải muôn vàn tinh khí lạnh

                          Hồn mê man bất tỉnh một hồi lâu…


                          Ngay cả trong những cơn mơ xuất thần, anh c̣n phân biệt được những nơi nào có Chúa nơi nào có Ma quỉ. Anh kể lại nghe như người chết đi rồi sống lại:

                          … Ra không gian là vượt hẳn thượng tầng

                          Tấp tới đến ở ngoài kia vũ trụ

                          Nơi khí tượng bốc ngàn muôn tinh túc

                          Nơi không cho hồn lai văng quang chiêm

                          Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

                          Không u ám như cơi ḷng ma quỷ

                          V́ có Đấng hằng sống, hằng ngự trị

                          Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh…

                          …. Hồn hỡi hồn lên nữa quá thinh gian

                          T́m với chốn chiêm bao ngoài sự thực

                          Mộng là mộng tràn trề muôn vạn ức

                          T́nh thơm tho như ngấn lệ c̣n nguyên

                          Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên

                          Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng.

                          (Ngoài Vũ Trụ)


                          Trên đây là một số bài thơ khó hiểu nhất trong tập thơ Đau thươngCuồng loạn. Nhiều bạn đă nhờ Hàn giải thích.

                          Thưở c̣n sống Hàn cũng đă quan niệm việc giải thích thơ Hàn rất phức tạp. Anh nói một cách đă khó hiểu: “Giải nghĩa cho hết thơ tôi làm ra đó th́ phải mất bao nhiêu trang giấy rồi, mà chưa chắc người đời đă hiểu được ǵ”. Những bài thơ nầy đă viết ra lúc anh đau nặng nhất, đầu óc căng thẳng tâm trạng hoang mang, khi mà anh chạy theo những ước mơ kỳ lạ, ước mơ được thoát ra khỏi thế gian bằng tất cả các nẻo đường mà anh gặp được, trong giấc ngủ, hoặc ngất đi trong giây phút xuất thần.

                          Ông Trần Thanh Mại nói về Hàn Mặc Tử như sau:

                          Sự xuất ngoại hoài hoài của hồn ấy, ta nên nhận là điều có thật, chớ không phải do trí tưởng tượng của thi sĩ bịa ra. Thi sĩ chỉ ghi chép trạng thái mọi sự vật mà người trông thấy hay cảm biết.

                          Ư kiến ông Trần Thanh Mại đă giúp tôi tin vững chắc khi nhận xét những lần anh xuất thần ra ngoài vũ trụ, không thể được xem là điều ma quái, ám ảnh. H́nh như những hiện tượng kỳ lạ anh gặp trong những lúc ấy không có điều ǵ trái với Đức tin anh. Cứ trong câu chuyện anh kể lại nơi nào tối tăm là có ma quỷ, nơi nào có nhạc có ánh sáng nơi đó có Thiên Chúa. Anh c̣n ước mơ được đội mũ triều thiên nữa và tắm gội trong nguồn ánh sáng ấy. Anh c̣n mời Thanh Huy, trong bài Bức thư Xanh đi chơi với anh một chuyến lên Cung Trăng nữa.

                          Điên rồi sao? Mê rồi? Hoảng rồi à?

                          Ờ được lắm, lên Trăng chơi một chuyến

                          Nhưng khoan đă, đang say kinh cầu nguyện

                          Cũng đang lần tràng chuỗi hột Từ Bi

                          A, Thanh Huy, A Thanh Huy! Thanh Huy

                          Ta cắp Nàng bay cao hơn tiếng nhạc.

                          Cho Nàng hớp đầy môi, hương khoái lạc

                          Cho hồn nàng dính chặt với hồn ta


                          Sự liên hệ giữa Đức tin và hiện tượng xuất thần, có thể đă bắt nguồn từ một sự kiện nhỏ, mà ảnh hưởng mạnh và sâu đậm trong tâm trí Hàn, khi mà đă mất hết cơ sở, hết hy vọng bám víu vào để được lành bệnh.



                          Tác giả Nguyễn Bá Tín
                          Vạn Xuân

                          Comment


                          • #14
                            PHẦN IV. NHỮNG RIÊNG TƯ KỲ DỊ

                            2. CHỈ MỘT NIỀM TIN



                            Năm 1937, trước khi đi Đà Lạt, tôi trông thấy anh buồn rầu ảm đạm như mất hết hy vọng được khỏi bệnh. Anh không muốn nói chuyện với ai, chỉ thích ngồi một ḿnh, đọc kinh hay lần hột chuỗi Mân côi. Từ đầu năm bệnh anh phát mau như ngựa chạy. Bạn bè cũng thưa thớt đến chơi. Anh mong mỏi Đức Mẹ làm phép lạ cứu anh một lần nữa.

                            Mặc dầu cố Labiansse nói với anh Đức Mẹ không có quyền làm phép lạ như đă xảy ra ở bờ biển, nhưng anh tin điều ấy đă xảy ra. Anh lư luận phép lạ ở tiệc cưới Cana mà Kinh thánh kể lại Chúa làm cho nước trở thành rượu chỉ v́ Đức Mẹ xin Chúa làm. Sự trông cậy của anh v́ vậy rất có lư.

                            Thấy anh thích nguyện ngắm, tôi trao cho anh tập sách nhỏ Imitation de Jésus Christ của L.M.Lamennais, anh vui mừng như bắt được của. Nhất là khi đọc câu: “Dieu seul sait le temps et la manière de vous délivrer”, anh hớn hở lạ thường. Anh nói: Đúng rồi! Chỉ có Chúa mới biết được lúc nào và bằng cách nào để giải thoát cho con. Từ đó anh gia tâm cầu nguyện gắn bó thiết tha hơn.

                            Lời cầu nguyện của Thánh Phanxicô đă trở thành của chính anh: “Xin cho con ra khỏi cái thân xác nặng nề hôi hám đang giam hăm con”.

                            Trông bốn năm đau, những suy niệm về mầu nhiệm giải thoát trở thành mơ ước và những mơ ước chân thành đó, có thể biến ra nhiều h́nh ảnh tuyệt vời nơi chân trời mới của anh, trong những giấc mơ xuất thần.

                            Đức Tin đă có dấu hiệu tốt, Anh viết:

                            Đức Tin thơm hơn ngọc

                            Thơ bay rồi thơ bay

                            Mau g̣ giai âm lại

                            Sớt bớt nghĩa đêm nay

                            Có tin thôn xa đến

                            Có điềm lạ đêm nay

                            Đóng cửa mười phương lại

                            Dồn ánh sáng vào đây

                            Ngoài không gian mất mát

                            Chim thanh tước ra đời

                            Nêu cao hơn tiếng nhạc

                            Nhà hát sẽ xanh tươi.



                            Trong bài Điềm lạ trên đây vừa kể, anh đă nhận ra được Một Mùa Xuân mới anh mơ ước ra đời. Anh vội vă viết một loạt bài cho Mùa Xuân như ư.

                            Trong lời tựa Hàn viết:

                            Cho mau lên! Dồn ánh nguyệt vào đây… Lời thơ ta sẽ sáng trưng như thất bảo. T́nh cảm ta sẽ nóng ran như mặt trời. Ư tứ ta sẽ cao cường hơn ngọn núi.

                            Ôi! Trời hạo nhiên đây không phải là công tŕnh châu báu của Người sao!

                            Ḷng vô lượng đây không do phép tác mầu nhiệm của Đấng Vô thỉ Vô chung?

                            Đưa ra, nào là nhạc thơm, hương gấm, mộng ngọc và hoa trinh bạch, đàn ly tao, tranh tuyệt phẩm…

                            Đưa ra, nào là gió chia biệt, trăng đoàn viên, chim tứ chiếng, mây giang hồ, và nào là trời thanh sắc, ḷng nhũ hương, niềm mộc dược.

                            …Và loài người hăy cám ơn Thi nhân đă đổ hết bao nhiêu nguồn máu lệ, đă từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng…

                            Hăy cầu nguyện bằng trăm kinh mây gió.

                            Hăy dâng cho một tràng chuỗi trăng sao…

                            Thi nhân sẽ vừa say sưa, vừa điên cuồng, ọc ra từng búng thơ sáng láng, phương phi như một mùa Xuân Như Ư.




                            RA ĐỜI

                            A! A! A!

                            Thiên địa đắm hoang mang

                            Là đương khi thờ lạy cả Thiên đàng

                            Bay xa những tiếng tung hô Thánh Đức

                            Muôn thần phẩm trong lâng lâng chầu chực

                            Ánh hào quang chang chói ngất mê ly

                            Ôi cao sang khôn ví trọng ai b́

                            Trên nước cả có muôn vàn châu báu

                            Trí rất ngớp bởi chưng Xuân hồn hậu

                            Đă ra đời theo lệnh cả Ngôi Hai

                            Ôi! Thánh tai, Thánh tai và Thánh tai

                            Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc

                            Rất trọng vọng rất thơm tho man mác

                            Rất phương phi trên hết cả anh hoa

                            Xuân ra đời…

                            Điềm ngọc ấm như ngà…

                            Mùa xuân mới đến với anh th́nh ĺnh, cũng làm cho anh hoảng sợ:

                            Xuân thế gian chưa có tai trong ḷng

                            Muôn ư tứ say ch́m nơi bất giác

                            Hương cám dỗ mê người trong khoái lạc



                            Và anh hân hoan tận hưởng nguồn thơm từ bốn mùa xuân anh chưa hề được hưởng. Trong bài Nguồn Thơm, anh viết:

                            Trí đương no và khí xuân đương khoẻ

                            Nhạc đương say và rượu vẫn c̣n thơm

                            Nên muôn cánh thuỷ tiên chưa dám hé

                            Trong phút giây trang trọng của linh hồn…


                            … Tứ thời xuân, tứ thời xuân non nước

                            Phút thiêng liêng nhuần gội ánh thiều quang

                            Thiên hạ b́nh và trời tuôn ơn phước

                            Như triều thiên vờn lượn khắp không gian…


                            … Ta cao ngâm giọng vô cùng thanh thoát

                            Khiến châu thân rung động thể tơ trăng

                            Toan ngất đi trong cơn mê khoái lạc

                            Mẹ dấu yêu liền vội đến tay nàng…


                            Anh đang đứng trước ngưỡng cửa một cuộc đời mới, có một mùa xuân gấm vóc như ước mơ mà từ bốn năm Thương Khó, anh mới được Thiên Chúa hé mở cho trông thấy. Anh vừa nghi ngờ vừa tin tưởng cái ngày mai đó. Anh viết:

                            Mai này thiên địa mới tinh khôi

                            Gió căng hơi và nhạc lên trời

                            Chim khuyên hót tiếng đầu tiên hết

                            Hoa lá hồ nghi sự ra đời



                            Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm

                            C̣n mặt trời kia tơ khối vàng

                            Có người trai mới im như nguyệt

                            Gió căng hơi và nhạc lên ngàn

                            Người thơ phong vận như thơ ấy

                            Nào đă ra đời ngọc biết tên.

                            (Xuân Đầu tiên)



                            V́ vậy đêm nay, dưới bầu trời b́nh yên như nguyệt bạch, anh sửa soạn một tâm hồn thật trong trắng như một người ngoan đạo dọn ḿnh sám hối, tỉnh thức và cầu nguyện trắng đêm để dâng lên muôn kinh thơm tho ca ngợi Thiên Chúa.

                            Trời hôm nay b́nh an như nguyệt bạch

                            Đường trăng xa, ánh sáng tuyệt vời bay

                            Đây là hương quí trọng thấm trong mây

                            Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm

                            Câu tán tụng không khen ḷng cả phiếm

                            Bút Xuân thu mùa nhạn đến vừa khi

                            Khắp mười phương điềm lạ trổ hoài nghi

                            Cây bằng gấm và ḷng sông bằng ngọc

                            Và đầu hôm một v́ sao mới mọc

                            Ở phương Nam mầu nhiệm biết ngần mô

                            V́ muôn kính dồn dập cơi thơm tho

                            Thêm nghĩa lư ánh sáng trong như thất bảo

                            Ta chấp tay lạy qú hoan hảo

                            Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian

                            Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân

                            Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế


                            Đă no nê, đă bưa rồi, thế hệ

                            Của phường trai mê mẩn khí thanh cao

                            Phượng hoàng bay trong một tối trăng sao

                            Mà ánh sáng không c̣n khiêm nhượng nữa

                            Đương cầu xin, ọc thơ ra đường sữa

                            Ta ngất đi trong khoái lạc hồn đau

                            Nhịp song đôi này đây cung cầm nguyệt

                            Ướp lời thơ thành phước lộc đường tu

                            Tôi van lơn thầm nguyện Chúa Giêsu

                            Ban ơn xuống cho mùa Xuân hôn phối

                            Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi

                            Của bàn tay thi sĩ kẽ lên trăng

                            Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng

                            (Đêm Xuân cầu nguyện)



                            Mùa Phục Sinh, tôi về Qui Nhơn nghỉ lễ trông thấy anh tuy gầy hơn nhưng đôi mắt linh hoạt khác thường như có vẻ hân hoan, tôi hỏi có ǵ vui không. Anh đọc hai câu:

                            Đă no nê, đă bưa rồi, thế hệ

                            Của phường trai mê mẩn khí thanh cao



                            Sau khi đọc bài Đêm Xuân cầu nguyện, tôi hiểu anh xem như đă hoàn tất một mùa Thương Khó 4 năm của anh, Mùa của người công giáo đền tội, để cùng sống lại trong ân nghĩa Chúa. Anh cũng dâng bốn năm hoạn nạn:

                            Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân

                            Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế



                            Bây giờ th́ bốn năm hoạn nạn đă đơm bông kết trái, anh chỉ c̣n chờ được giải thoát thôi.

                            Giải thoát, hai chữ đó, đối với anh rất mơ hồ. Anh tin mạnh mẽ sẽ được giải thoát nhưng bằng cách nào đây, anh không hiểu. Ước mơ lạ lùng đó đă thành một thói quen, hơn nữa, một cố tật.

                            Anh lại ṃ mẫm, lại t́m kiếm, lại xuất thần trong những cơn mê mà anh từng lư luận:

                            Hễ hơi khói càng cao, hơi trăng càng trong th́ hơi thở của tôi cùng thơm. Hơi thở ấy góp cùng muôn hơi đằm thắm sẽ châu lưu khắp bầu thế giới và chung quanh tôi, dầu gần gũi hay bao la đều nhận một màu sắc phiêu diêu. Tôi rất ngợp. Tôi hứng lấy và nhận lấy ở trong hồn muôn ư tứ và muôn thanh sắc của trời mộng xa xưa.

                            Tôi đi từ thực tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, và từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Mông lung đă trùm lên sự vật và cơi thực, bị ánh sáng của chiêm bao vây riết.

                            Mộng tàn rồi, nghĩa là mộng biến đi. Những điều tôi vừa thấy toàn là huyền hoặc cả sao? Có lẽ nào!



                            Đại để những điều anh giải thích về những việc lạ lùng trong thơ anh đă gặp giữa hai cơi Mộng và Thực mà anh nói phải mất bao nhiêu trang giấy mực để nói ra và chưa chắc người đời đă hiểu. Đúng là chẳng hiểu được ǵ để biết thơ anh với những giải thích sơ sài chừng ấy.

                            Anh viết trong bài Siêu Thoát:

                            Hồn vốn ưa phiêu lưu trong gió nhẹ

                            Bay giang hồ không sót một phương nào

                            Càng lên cao giây đồng vọng càng cao

                            Hồn hỡi hồn lên nữa quá thinh gian…


                            Anh bị cám dỗ lên cao hơn khỏi vùng trời Xuân như ư mà anh vừa đi qua để vào một vùng khác, vùng Thượng thanh khí. Chữ Thượng thanh khí anh dùng đây, để chỉ một vùng trời ngoài bầu khí quyển, cao hơn, trong thanh hơn, tinh sạch hơn. Nơi đây, có lẽ anh thuờng trông thấy một màu xanh anh đă kể lại trong nhiều bài thơ:

                            Một chiều xanh, một chiều xanh lờn lợt

                            Sóng bao la vây lút cả không gian…


                            Ở một chỗ khác anh viết:

                            Đă trong rồi và thanh tao đến tới

                            Bao nhiêu tơ chuyển được tiếng thơ bay

                            Êm êm hơn đừng cho xanh lờn lợt

                            (Vầng trăng)


                            Trong bài T́nh Hoa anh viết:

                            Ḿnh gom hết thành bại và thâu thức

                            Ḿnh giải quyết tiêu tao và nô nức

                            Tứ rung rung cho quá trí dật dờ

                            Rồi bay từ diệu vợi đến xanh mơ

                            Từ bên ngọc dời sang châu Dủ Lư

                            Từ Minh Triết lần lần theo ư chí…



                            H́nh như anh có khả năng kỳ dị lại vùn vụt trong bầu khí quyển xanh xanh đó, màu xanh mà ngày nay các phi hành gia vũ trụ đă trông thấy khi vượt khỏi tốc độ âm thanh. Hàn cũng đă cho thấy anh đi trong cơi bao la miên trương cho đến tột cùng vĩnh cửu như chính anh là một hành tinh vậy. Hoặc là có được khả năng như chiếc máy ảnh tinh vi hiện đại, rượt theo tốc độ ánh sáng để qua lại những h́nh ảnh đă qua đi từ nhiều thế kỷ trước.

                            Anh viết trong bài Đừng cho ḷng bay xa:

                            Thượng thanh khí, tiết ra nguồn tinh khí

                            Xa xôi đời trắng mọc nước huyền vi

                            Đây miên trường, đây vĩnh cửu đề phi

                            Cao cao vượt với hai hàng bóng vía

                            Trời nhật nguyệt cầu vồng bắt tứ phía

                            Ôi! Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây.

                            Hương ân t́nh cho kết lại thành dây

                            Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu

                            Đàn cung bậc gió dồn lên âm điệu

                            Sững ḷng chưa say chấp cả thanh bai

                            Sang chơi thôi, sang chơi thôi, mà ai?

                            Thu đây rồi bước lên cầu ô thước

                            Sao? Vàng sao, rơi đầy trên sông nước

                            Đừng nửa tay mà hứng máu trời sa


                            Thôi! kéo về đừng cho ḷng bay xa.

                            Thu vươn này, thu vươn ra như ư

                            Mau rất mau trong muôn hoa kiều mị

                            Mùa rất trai mà ánh sáng rất cao

                            Đừng nói buồn, mà không khí nao nao

                            Để chơi vơi này bông trăng là gió

                            Để phiêu phiêu này tờ thơ vàng vọ

                            Để dầm dề hạt lệ ta đôi ta

                            Tầng thượng tầng, lâu đài ngọc đơm ra

                            Khói nhạt nhạt xen vô màu xanh biếc

                            Tiếng huyền dịch g̣ theo tia yến nguyệt

                            Đẩy đưa dài, hơi ngào ngạt trầm mơ

                            Thinh không tan như bào ảnh hư vô

                            Giải ngân hà biến theo cầu Ô thước

                            Và ước ao và nhớ nhung lần lượt

                            Đắm im ĺm trong mường tượng buồn thiu



                            V́ vậy, đọc tập Thượng thanh khí, tôi chỉ hiểu lơ mơ anh đang say sưa với một thế giới không tưởng. Có thể là anh đă bị ảnh hưởng nặng của nhà văn giả tưởng Pháp Jules Verne, tác giả những tập sách Từ địa cầu đến mặt trăng hay Hai mươi ngàn dặm dưới đáy bể.

                            Nếu quả anh đang ở trong t́nh trạng mất trọng lượng của con tim hay trí óc th́ chắc là anh dám nói tiên tri như Jules Verne về tương lai của vũ trụ ngày nay.

                            Chính trong giai đoạn này, người bạn thân của anh, giới thiệu cho anh Nàng tiên nhỏ Thương Thương, để kéo lui anh về thực tại của trần thế. Quả thật anh đang mơ vào một cảnh Bồng Lai, và Thương Thương lại có cơhội được đặt vào khung cảnh tuyệt đẹp đó. Anh bắt đầu tả những cảnh anh đang lạc lơng ở Bồng Lai mà tiếng tiêu sầu rất khêu gợi, ḥa với tiếng suối reo lên như tiếng ḷng anh.

                            … Ồ! Tiếng tiêu đâu bay ra man mác

                            Khiến nao nao nguồn thanh tịnh quan ḿnh

                            … Ta là khúc phượng cầu hoàng năm trước

                            Đem ân t́nh trải khắp cơi trần duyên


                            Chàng:

                            Phải quê nàng ở Đào Nguyên

                            Bởi chưng sắc đẹp lại thêm đa t́nh

                            Xuống đây t́m nợ ba sinh

                            Không hay trời khiến ta ḿnh gặp nhau.

                            Nàng:

                            Em là Trần Thương Thương

                            Ngụ ở bến Tầm Dương

                            Đi t́m chàng thi sĩ

                            Trong pho sách kim cương

                            (Tập kịch Duyên Kỳ ngộ này thuộc tập thơ Cẩm Châu Duyên đă từng được phổ biến nhiều. Ở đây, tôi chỉ xin ghi lại những nét riêng tư của Hàn)


                            Mối t́nh duyên kỳ ngộ tuyệt đẹp này đáng lẽ c̣n đưa anh đi xa hơn trong cơi mộng Bồng Lai mơ ước với hoa lá suối chim rất thần tiên trong đó, và anh c̣n đang viết thêm một cảnh Quần tiên nội nữa. Nhưng, v́ một lẽ riêng nào đó anh đành phải dẹp bỏ.

                            Anh viết:

                            Gặp em đây, khác ǵ trong giấc mộng

                            Biết làm sao cho thỏa hết t́nh thương

                            Tiếng ḷng anh vẫn luôn luôn đồng vọng

                            Luôn luôn reo kêu gọi đến t́nh nương

                            Nàng:

                            T́nh quân hỡi, muôn năm em chỉ muốn

                            Sống bên anh cho thắm đượm t́nh yêu

                            Chàng:

                            Than ôi! Hỡi lời biệt ly chan chứa

                            Tưởng cùng em vui hưởng thú tiêu dao

                            Anh sắp đi rồi hai hàng lệ ứa

                            Cả đau thương dồn dập xót tâm bào…



                            Duyên Kỳ ngộ và Quần tiên hội là những h́nh ảnh cuối cùng càng được nói đến trong cuộc đời thơ của anh cho đến khi anh vào Quy Ḥa.

                            Những ǵ c̣n ghi đậm trong mối t́nh đó là bài thơ dễ thương nhất: Nỗi buồn vô duyên. Có hai câu làm tôi cảm động:

                            Đừng ai nói để thương cho

                            Lỡ ra lạnh nhạt đền bù sao cam.


                            Nghe như có tiếng ai dỗ ngọt: Thôi mà nín đi! Tôi thương mà! Đừng khóc nữa. Nghe sao tội nghiệp quá!

                            V́ vậy mà tiếng tiêu sầu c̣n đuổi theo cám dỗ:

                            Nghê thường lên, nàng Hằng ra

                            … Âm thanh lên cao nhạc lừng ran

                            Tôi lại gần bên. Ô! Lạ thường

                            Nường trăng Ô! Chính là Thương Thương

                            Hoảng hốt tôi ôm chầm lấy Nường

                            Thương ôi Nường đă biến ra sương.



                            Từ đó không c̣n ai nghe được thơ anh nữa nhưng khi anh vào Quy Ḥa, anh lại viết, đoạn thơ bỏ dở: Quần tiên hội (lâu nay tôi vẫn tin thế) mà anh chưa hoàn tất.

                            Bây giờ là những Nàng tiên tu hội Phanxicô. Những Nàng tiên đang săn sóc anh, đang an ủi anh. Những Nàng tiên này đă để lại trong con tim anh, trong đầu óc anh những h́nh ảnh tuyệt vời mà thường mang theo trong giấc ngủ vĩnh viễn trên chiếc giường bệnh cô đơn lặng lẽ không ai hay biết.

                            Phải gọi là bài thơ “tiếp điêu” Quần tiên hội, anh viết bằng tiếng Pháp:

                            La Pureté de l’âme

                            Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, apportez-moi une couronne.

                            Je veux (me) baigner dans l’Océan de lumière et d’amour divin.

                            Car ici-bas s’acomplissebt des miracles qui tiennent les hommes muets d’admiration en contemplant l’oeuvre mystique du Très-Haut.

                            Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, voyez-vous cette luer diaphane qui so prescise, cette blancheur de neige, cette forme immaculée, cette âme apparue au monde?… Je crois dès le premier abord que c’est l’espritdes saints, la poésie, la quintessence de la prière, qui au lieu s’exbaler en parfum et en éther, prend la modeste résolution de se faire créature!

                            Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, applaudiessez: carce soles Mères les Soeures de Saint Francois d’Assise qui descendent au monde pour cal mer les douleurs et les peines des faibles mortels, des malades et des lépreux tels que nous sommes.

                            Je veux chanter des louanges, me désaltérer de leurs douces paroles quand elles chantent: Hosanna! Hosanna!

                            Je veux toujours admirer cette blancheur immaculée, cette frâicheur cette lumière, cette poésie, car tout cels est l’emblème de la PURETÉ DE L’ÂME!

                            Anges du ciel, anges de Dieu, anges de paix et de gaieté, lanez-vous des roses et des nénuphards, des chants mélodieux et des notes embaumées et versez avec effusion les vertus le courage et le bonneur parmi les servantes de Dieu.

                            Francois Trí

                            Dée gratias

                            Nui de Mercredi

                            24 Octobre 1940




                            Dịch: (theo ông Trần Thanh Mại)

                            Hỡi các vị thiên thần của trời, thiên thần của Chúa, thiên thần Ḥa b́nh và hoan lạc, xin hăy mang lại cho tôi một ṿng hoa.

                            Tôi muốn tắm trong bể ánh sáng và ḷng yêu kính thiêng liêng.

                            Bởi v́ dưới cơi trần gian, đă thành tựu nhiều phép lạ nó làm cho người ta phải nghẹn ngào v́ khâm phục khi ngưỡng vọng cái sự nghiệp thần bí của đấng tối cao.

                            Hỡi các vị thiên thần của trời, thiên thần của Chúa, thiên thần Ḥa b́nh và hoan lạc, các người có thấy cái ánh sáng trong mờ càng ngày càng rơ rệt, cái màu sắc trắng tuyết kia, cái h́nh hài không vết bợn kia, cái linh hồn hiện lên nơi cơi thế kia, ngay khi mới thấy, tôi đă chắc đó là cái hồn phách của các vị thánh, các thi tứ, cai tinh hoa của sự cầu nguyện đáng lẽ th́ bốc lên hương thơm và tinh khí, nhưng đây chỉ khiêm tốn quyết định hóa ra Người.

                            Hỡi các vị thiên thần của trời, thiên thần của Chúa, thiên thần Ḥa b́nh và hoan lạc, xin hăy vỗ tay lên: Bởi v́ đó là các Mẹ và các Chị ḍng Saint Francois d’Assise, xuống cơi trần gian để an ủi những đau khổ, lo âu của loài người yếu đuối, của các bệnh nhân tàn tật, của những người phong hủi là chúng tôi đây.

                            Tôi muốn ca lên những bài khen ngợi, hứng uống cho thật đă những lời êm dịu của các bà, khi các bà đồng hát bài Thánh Ca: Hosanna! Hosanna! (Xin cứu với, xin cứu với!)

                            Tôi muốn bao giờ cũng thán thưởng cái h́nh thể trắng tinh không vết ấy sức tươi mát, nguồn ánh sáng, bầy thơ ấy, v́ tất cả đó là biểu tượng của

                            TẤM LINH HỒN THANH KHIẾT

                            Hỡi các vị thiên thần của trời, thiên thần của Chúa, thiên thần Ḥa b́nh và hoan lạc, xin hăy ném cho nhau những đóa hoa hồng, hoa súng, những điệu hát réo vắt và những hơi nhạc thơm tho, và xin hăy rưới trúc cho tràn trề nào là đức hạnh, can đảm và hạnh phúc cho những v́ nữ tỳ của Đức Chúa.

                            Đêm thứ 24 tháng mười 1940

                            Francois Trí

                            Cảm tạ Thượng Đế




                            Tác giả Nguyễn Bá Tín
                            Vạn Xuân

                            Comment


                            • #15
                              PHẦN V: PHỤ THÊM

                              Về cái chết của Hàn, an táng và cải táng Hàn



                              Hàn Mặc Tử đă qua đời vào lúc 11 giờ trưa ngày 11 tháng 11 năm 1940 và an táng tại nghĩa trang người cùi trong Quy Ḥa (theo tài liệu ghi lại trong sách Hàn Mặc Tử của ông Trần Thanh Mại, in lần thứ tư).

                              Những việc này đă xảy ra trong thời gian tôi vắng nhà, nên không biết ǵ về chuyện ông Mại kể lại. Có thể có một vài điểm không được xác thực, nhưng tôi không thể nào góp ư được.

                              Người Pháp hay nói: Les absent ont toujours tort (những kẻ vắng mặt luôn là sai quấy).

                              Ở trong phần phụ thêm này, tôi chỉ xin nói lại, những ǵ gia đ́nh kể lại; và những ǵ tôi đă đích thân thực hiện, để giúp những nhà nghiên cứu về Hàn có thêm dữ kiện phê phán.

                              Tôi trở về Qui Nhơn sau khi Hàn qua đời, chỉ ở lại nhà một ngày rồi phải đi ngay ra Đông Hà cho kịp chuyến công voa đi Lào. Cho nên chỉ nghe kể lại:

                              Những ngày trước khi chết, anh Trí khi tỉnh khi mê nhưng tỉnh lại cũng b́nh thường, không có dấu ǵ tỏ ra anh sắp chết (điều này vẫn xảy ra cả những khi chưa vào Quy Hoà).

                              Sáng ngày 11/11/1940, chú Hành mang cháo vào cho anh (khoảng 8, 9 giờ) th́ anh đă mất rồi. Hành vội vă chạy về báo tin (cách nhà 5 cây số)

                              Khi Hành đưa Mẹ tôi vào th́ mọi việc tẩm liệm đă xong cả. Cố Romain đưa xác và làm phép huyệt, bên cạnh một cây phi lao trên bờ biển cách mực nước độ 4, 5 chục thước ở phía ngoài nghĩa địa của người cùi (đă kể lại địa điểm này trong tập Hồi kỳ Hàn Mặc Tử-anh tôi)

                              Đầu năm 1942, ở Lào về, tôi đến sở Công chánh xin nghỉ phép gia hạn. Kỹ sư Davy bảo tôi chờ Chánh kỹ sư Rogers Planté đang nghỉ phép trở về sẽ quyết định. Tạm thời ông giao tôi phụ trách việc nhà đất và công thự Thị xă.

                              Nhân viên cơ xưởng đúc một cây Thánh giá bằng bê tông cốt thép có khắc chữ Francois Nguyễn Trọng Trí, rồi cùng nhau mang vào đặt lên mộ. Tôi cho anh Lộ Phu trưởng người Pháp lại là Jacques có người em gái cũng bị bệnh cùi, vào phụ trách công tác tại Quy Ḥa để vừa giúp đỡ em vừa trông nom mộ Hàn.

                              Sau 10 năm kháng chiến, trở vào Quy Ḥa, cây Thánh giá vẫn c̣n nằm trên mộ. Đầu năm sau 1959, tôi vào cải táng Hàn ra Gành Ráng, cây Thánh giá vẫn c̣n trên mộ, có lẽ v́ nặng nên không bị trôi đi. Tôi mang về đặt trên mộ mới ở Gành Ráng đến nay vẫn c̣n.

                              Sau cải táng một thời gian, có dự luận rêu rao mộ Hàn không có hài cốt Hàn v́ bốc nhầm. Lại có người yêu cầu dời đi nơi khác. Chánh quyền thời đó không xét. Đến năm 1963, khi nền Đệ nhất Cộng ḥa sụp đổ, một nhóm người thừa cơ hội hỗn loạn, đập phá mộ Hàn, tượng Đức Mẹ dựng trên đầu mộ bị vỡ bàn tay.

                              Trong tập sách Đôi nét về Hàn Mặc Tử, có một đoạn nói về mộ Hàn ở Gành Ráng là mộ giả, dựa theo lời một linh mục kể lại, đó là linh mục Biên. Điều này quan trọng v́ cha Biên đă có lần làm cha xứ Quy Ḥa. V́ vậy tôi cần phải minh xác một lần nữa.

                              Theo tài liệu của Ṭa Giám mục địa phận Quy Nhơn, th́ linh mục họ đạo Quy Ḥa kiêm linh hướng Bệnh viện là cố Romain phải rời Quy Ḥa vào Nha Trang theo lệnh quân đội Nhật Bản. L.M Nguyễn Đức Tín, giáo sư Đại Chủng Viện ở Gành Ráng tạm thời thay thế cho đến khi đắc cử Đại biểu quốc hội th́ Bề trên Địa phận là cha Đặng Quyền Huy đưa L.M Huỳn Biên vào chính thức quản lư xứ Quy Ḥa giữa năm 1945, nghĩa là sau khi Hàn Mặc Tử qua đời được bốn năm (1940)

                              Sau 10 năm (1945-1955) cha Huỳnh Biên trở về nhà Dưỡng lăo 1955 nghĩa là trước khi cải táng Hàn (1959) năm năm.

                              Xét theo công vụ thi hành các phép Bí tích như thể lệ của giáo xứ Quy Ḥa, th́ cha Huỳnh Biên chưa hề dự lễ an táng cũng như cải táng cho Hàn.

                              V́ vậy, tôi tin chắc là cha Biên không hề biết được mộ Hàn Mặc Tử chôn ở đâu như nhiều người tưởng là mộ Hàn nằm trong nghĩa địa người cùi.

                              Viết lại câu chuyện mộ Hàn này lần nữa để xin chấm dứt mọi tranh luận vô ích là bận rộn lương tâm những nhà cầm bút chân chính.



                              Tác giả Nguyễn Bá Tín
                              Vạn Xuân

                              Comment


                              • #16
                                PHẦN VI: ĐIỀU CHỈNH LẠI Ư NGHĨA

                                Viết trong tập Hồi kư Hàn Mặc Tử-anh tôi, xuất bản tháng 03/91, tôi có đi ngang qua vài nét về việc mất di cảo của Hàn. Việc này có liên quan đến ít nhiều với ông Quách Tấn, khi ông tuyên bố làm mất hết trong lúc chạy loạn. V́ vậy ba tháng sau đó khi tập hồi kư được phát hành, ông Tấn và con trai Quách Giao, lên tiếng giải thích việc mất thơ trong tạp chí Bách Khoa văn học số 6 tháng 6, đồng thời đưa ra nhiều chứng liệu biện minh cho sự cố.

                                V́ vậy, trước t́nh h́nh dư luận bàn tán sôi nổi, tôi vẫn lặng thinh không có thái độ tranh luận. Tôi tự biết vai vế của tôi chẳng có ǵ đáng kể trong khi bạn bè bà con, ông Tấn, đông đảo đang nhận diện tôi qua nhiều lăng kính méo mó để trở thành quái dị.

                                Tuy nhiên, dư luận và báo chí trong nước lại có dịp để khai thác sôi nổi hơn. Ông Quách Tấn, ông Trần Thanh Địch và tôi đều được hỏi ư kiến.

                                Tôi vốn tôn trọng sự thật, nên bị bắt buộc nói hết sự thật, những ǵ tôi đă biết, mà toàn là những chuyện không có ǵ vui vẻ cho ông Tấn và cho cả tôi nữa, đối với linh hồn Mẹ tôi.

                                Hôm nay viết lại tập “Hàn Mặc Tử trong riêng tư” này, tôi lại có ít nhiều mặc cảm khi bạn bè biết chuyện, cho rằng tôi c̣n cố chấp với ông Tấn chỉ v́ ông lại xâm phạm những riêng tư của Hàn trong tập Đôi nét về Hàn Mặc Tử được phổ biến từ 30 năm nay, mà tôi có bổn phận đính chính.

                                Tôi nghĩ ông Tấn đă qua đời, trang sử đời tư của ông tôi đă đóng lại, nhưng trang sử văn học của ông cần phải chỉnh đốn lại cho đẹp bộ mặt lịch sử văn học đất nước mà ông đă đóng góp một phần không nhỏ.

                                Đó là bổn phận chung của tất cả mọi người yêu mến văn học đất nước.

                                Trong lời nói đầu tập sách, tôi đă nhắc lại, Hàn Mặc Tử rất trung thực, luôn luôn phản ánh những cảm nghĩ, những ǵ con tim anh tiết lộ không che dấu diếm mục đích anh muốn nói ǵ, ngay ở đề tài bài thơ.

                                Trong phạm vi gói ghém bài này, tôi chỉ xin nói đến hai bài thơ quan trọng và có giá trị hơn hết của anh. Đó là Ave Maria và Ở đây thôn Vỹ Dạ, một bài thơ có giá trị tôn giáo, một bài có giá trị văn học.



                                1. BÀI AVE MARIA


                                Bài thơ này Hàn lấy ư trong kinh Kính mừng, một bài kinh mà suốt mấy năm trường, ngày đêm anh đọc không biết bao nhiêu lần, khi lần tràng hạt Mân Côi. Cho nên ư nghĩa bài kinh anh đă thuộc nhập tâm, không có thể định nghĩa trái đi được. Anh nói đây là kinh Kính mừng của riêng anh.

                                Ave Maria là lời chào mừng Bà Maria, khi sứ thần Gabriel đến báo tin Bà được Thiên Chúa cho làm mẹ Ngôi Hai ra đời.

                                Ave là tiếng latin cũng như tiếng Việt là Chào Mừng. Hàn Mặc Tử mở đầu bằng câu chúc tụng theo cung cách Á Đông:

                                Như song lộc triều nguyên ơn phước cả

                                Chữ Lộc ở đây có nghĩa là tài lộc ân sủng, nói chung là phước lộc. Song Lộc định nghĩa theo sách Đẩu số Trung Hoa, là Thiên Lộc và Hóa Lộc (Lộc trời đất) hiểu theo ân sủng của trời đất.

                                Chữ Triều là hướng về, chầu về

                                Chữ Nguyên là nguyên thể, bản thể

                                Câu chúc tụng này, Hàn muốn nói Ân phước Trời và Đất đổ xuống cho Bà. Câu mở đầu này rất sát nghĩa: Kính mừng Bà đầy ơn phước đă chứng minh:

                                Kính mừng Maria đầy ơn phước.

                                Bài thơ này xuất xứ từ kinh Kính mừng, không thể cắt nghĩa theo ông Tấn là do Hàn nằm mộng thấy Bà Lê Sơn Thánh Mẫu mà cảm hứng viết ra bài này. V́ vậy ông bỏ bớt chữ Ave để hiểu rộng qua Bà Lê Sơn Thánh Mẫu. Mất chữ Ave bài thơ không c̣n là kinh Kính mừng nữa.

                                Một nhà văn hiện đại cũng đă hiểu lầm theo ông Quách Tấn, khi ông dịch câu Song Lộc triều nguyên ra tiếng Pháp (sách L’experience de l’itindraire spirituel de Hàn Mặc Tử) mượn ư trong mẫu câu thánh Vịnh (Psaumé) 42, 43

                                Comme languit une biche

                                Après leau vive

                                Ainsi languit mon âme

                                Ver Toi mon Dieu (Đại ư con nai khao khát ḍng nước trong)

                                Song lộc nghĩa đen là hai con nai.

                                Một đoạn thơ khác, đoạn thơ mà ông Tấn dựa vào để giải thích sự can thiệp của bà Lê Sơn Thánh Mẫu trong giấc mộng của Hàn:

                                Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh

                                Run như run, thần tử thấy long nhan

                                Run như run hơi thở chạm tơ vàng.

                                Nhưng ḷng vẫn thấm nhuần ơn tŕu mến


                                Đây là đoạn thơ quan trọng nhất, nói rơ hơn tai nạn được xem là phép lạ cứu sống Hàn khi anh bị ch́m ngoài biển.

                                Cũng chính trong đoạn văn này, ông Tấn rút ra một câu chuyện Hàn kể lại đă mộng thấy bà Lê Sơn Thánh Mẫu lấy cành dương rảy lên ḿnh anh nước Cam Lồ, khiến anh phát lạnh run chỗi dậy làm bài thơ này tạ ơn Thánh Mẫu.

                                Đoạn văn này đă giúp ông Tấn lư luận v́ tinh thần đoán kết tôn giáo nên bỏ đi chữ Ave, đầu đề bài thơ thay thế vào đó Thánh nữ đồng trinh Maria (trong dịp ông và Trọng Miên cùng hợp tác biên tập các bài thơ của Hàn để cho xuất bản tập thơ Hàn Mặc Tử vào năm 1944).

                                Tôi tưởng nên nhận xét lại từng câu trong đoạn văn đó để xem Hàn muốn nói ǵ khi viết câu,

                                Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh

                                Run như run, thần tử thấy long nhan


                                Hai câu trên đây Hàn nhắc lại phép lạ đă cứu sống anh ở bờ biển năm xưa. Một thứ ánh sáng chói lạ lùng làm cho anh ớn lạnh mà ngất đi.

                                Câu thứ hai được các nhà văn công giáo định nghĩa là mọi người đều xem Chúa như Vua, cho nên run sợ khi đứng trước mặt Vua. Anh Bùi Tuân cũng cho là Hàn muốn nói đến quyền uy sáng chói của Thiên Chúa, không liên quan đến Đức Mẹ. Ư kiến này, theo cố Labisusse cha sở Qui Nhơn, khi tôi tŕnh bày câu chuyện bờ biển. Cố nói: Đừng nói bậy có tội, Đức Mẹ nào làm phép lạ được.

                                Việc này không ai rơ hơn Hàn. Nhưng anh sợ tội, không dám tuyên xưng vinh quang Đức Mẹ, nhưng chính anh dù là trong mơ màng, anh vẫn tin đă được tiếp xúc với Đức Mẹ. Chúng tôi cùng suy nghĩ với nhau về thứ ánh sáng lạ lùng đă làm mờ mắt anh Trí có thể cũng giống như Kinh thánh kể chuyện ông Môise lên núi Tabor nghe lời Chúa phán, phải che mặt không dám nh́n thứ ánh sáng đó. Kinh thánh nói: Chúa truyền thông với loài người bằng lời nói (le verbe) bằng ánh sáng cho đến khi Ngôi Hai ra đời (le verbe fait clair) ở giữa loài người.

                                Bởi vậy, cho nên, Hàn cũng chấp nhận nếu quả thực có phép lạ, th́ là Chúa làm, nhưng anh vẫn bứt rứt chưa nói được sự thật là có Đức Mẹ trong đó.

                                Mặc đầu rất sợ tội, anh vẫn hé mở tiết lộ để nói lên vinh quang Đức Mẹ, và cũng làm chứng có sự hiện diện Đức Mẹ hôm đó. Sự thật này nằm trong câu:

                                Nhưng ḷng vẫn thấm nhuần ơn tŕu mến

                                Hai chữ “tŕu mến” h́nh dung được cử chỉ ôm ấp vào ḷng. Chỉ có t́nh thương giữa Mẹ con mới có sự tŕu mến đó. Và đó là chứng minh sự có mặt Đức Mẹ.

                                Như trong ảnh tượng Đức Mẹ hằng cứu giúp mà anh suy niệm những ngày c̣n ở Huế đi hành hương chiều thứ bảy, như câu kinh:

                                Chúa Giêsu run sợ khi thấy thánh giá khổ h́nh sẽ phải chịu, th́ chạy đến ẩn nương trong cánh tay Mẹ, Chúa Giêsu đó là những linh hồn lâm nguy gian nan…

                                Quả là sự an ủi lớn lao cho anh khi anh đă hoàn toàn thất vọng với chứng bịnh nan y, chỉ c̣n trông cậy Mẹ.

                                Ư nghĩa này anh c̣n lập lại trong bài thơ Nguồn thơm:

                                Toan ngất đi trong cơn khoái lạc

                                Mẹ dấu yêu liền vội đến tay nâng.


                                Trong đoạn thơ thứ ba, Hàn c̣n nhắc lại phép lạ với câu cảm tạ về phép lạ ngoài bờ biển:

                                Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn

                                Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi

                                Cho tôi dâng lời cảm tạ pḥ nguy

                                Cơn lâm luỵ vừa trải qua dưới thế.

                                Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ


                                Kinh Kính mừng c̣n nhắc lại nhiều lần gián tiếp qua Sứ thần Gabriel qua tràng hạt chuỗi Mân Côi:

                                Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel

                                Khi người xuống truyền tin cho Thánh nữ…

                                …Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời.

                                Để ca tụng bằng hoa hương sáng láng

                                Bằng tràng hạt, bằng sao mai chiếu rạng…




                                …Đây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kính…

                                Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước

                                Cho t́nh tôi nguyên vẹn tơ trăng rằm

                                Thơ trong trắng như một khối băng tâm


                                Để kết luận, chúng ta có đầy đủ lư luận để tin bài thơ Thánh nữ Đồng trinh Maria là kinh Kính mừng bằng thơ của Hàn Mặc Tử.

                                Điều tôi lấy làm lạ, bài Thánh nữ Đồng trinh Maria này được mọi người Công giáo hiểu ngầm là kinh ca tụng Đức Mẹ, cũng có người liên tưởng đến kinh Kính mừng trong một vài câu trùng hợp, hoặc ư nghĩa gần gũi. Thế nhưng không ai lên tiếng xét lại cho đúng bài với cái tên Ave Maria.

                                Từ 50 năm nay, các nhà văn công giáo khi nói đến bài này, cũng đều hiểu ngầm là kinh Kính mừng, và sự măn ngang đó.

                                Nhiều luận án văn chương có đề cập mấy chữ Ave Maria, nhưng không có ai chính thức thừa nhận là kinh Ave Maria, kinh Kính mừng riêng của Hàn viết bằng thơ.


                                Đă có một dạo, người công giáo bày tỏ ḷng trông cậy chạy đến kêu xin Đức Mẹ rầm rộ sôi nổi thậm chí một linh mục nào đó phải thốt lên: Chúa ôi! Người ta đă quên Chúa, chỉ biết có Mẹ thôi.

                                Một cha xứ khác than thở: Trong nhà thờ, trong nhà Tạm có Chúa ngự mà ít người đến cầu xin bằng ngoài Hang đá Đức Mẹ.

                                Bây giờ Đức Mẹ có chỗ đứng rất cao trên khắp thế giới, nào là Lộ Đức, Fatima, La Vang, Đức Mẹ ở nơi này Đức Mẹ ở nơi kia nhưng vẫn chưa chính thức trong bài Ave Maria của Hàn Mặc Tử.

                                Một người bạn ở hải ngoại, đọc cuốn sách Hàn Mặc Tử-anh tôi, gửi thơ về hỏi: Bao giờ th́ đưa Ave Maria về trong tập thơ Hàn Mặc Tử xuất bản từ năm 1934 (nhà xuất bản Đông phương và Tân Việt).



                                2. ĐÂY THÔN VĨ DẠ


                                Một bài thơ được nổi tiếng rất hay, được nhiều người yêu mến, được chọn làm tên một tập thơ có giá trị cao của nhiều nhà văn tên tuổi trong nước.

                                Hiện tại bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương tŕnh văn học cấp ba.

                                V́ vậy tôi tưởng xin góp ư để phân tích một vài điểm, mà thời đó có ít nhiều tranh luận.

                                Có lẽ đây là bài thơ sắc sảo, tế nhị nhất mà Hàn Mặc Tử, trong một ngày nào đó, trí óc rất minh mẫn, con tim lấy lại được nhịp độ t́nh yêu một thời thương nhớ cao nhất của Hàn, mà chỉ c̣n cách cái chết không bao xa.

                                Nguyên thuỷ bài thơ là: Ở đây thôn Vĩ Dạ

                                Chữ Ở trong đầu đề đă tạo được nhiều nhận xét tranh luận, sau đó không lâu, khi Hàn qua đời. Có nhiều người nặng óc giáo khoa chê chữ Ở trong đầu đề hơi quê, không nhẹ nhàng văn vẻ. V́ vậy tự động bỏ chữ Ở cho đầu đề ngắn gọn: Đây thôn Vĩ Dạ nghe văn nghệ hơn.

                                Tôi nghĩ Hàn có lối viết mộc mạc đơn sơ như tánh t́nh b́nh dị của anh, không phải chải chuốt, đôi khi hơi quê kệch gồ ghề như trong câu:

                                Họ đă xa rồi không níu lại

                                T́nh thương chưa đă mến chưa bưa


                                Chữ “đă” chữ “bưa” nghe sao thô kệch, c̣n táo bạo nữa, vậy mà lại hay v́ lột được bản chất vừa thô vừa quê của Anh.

                                Ở đoạn cuối bài thơ, Hàn c̣n nhắc lại một lần nữa như để nhấn mạnh ư nghĩa không gian của bài thơ

                                Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

                                Bạn bè có tranh căi đôi chút chung quanh: Ở đây là ở đâu? Ở Huế hay Qui Nhơn (xóa động Gành Ráng nơi Hàn đang viết bài thơ?)

                                Có thể là ở Qui Nhơn như Hàn nói. Nhưng sương khói mờ nhân ảnh phải đặt vào đâu để so sánh. Ai là nhân ảnh?

                                Hàn có lối diễn tả một vài chữ để bóng gió cắt nghĩa văn.

                                Sương khói ở đây tôi nghĩ Hàn liên tưởng khói trầm hương.

                                Nhân ảnh có thể là con người thế tục của anh trong tương quan với con người tu hành là chị Cúc.

                                V́ vậy “ở đây” có thể hiểu là “ở đó”, thi sĩ đă thu gần quăng cách không gian lại khi mơ màng nh́n say đắm bóng người trong ảnh.

                                Chính búc ảnh 6/9 này đă giúp Hàn sáng tác bài thơ tuyệt vời Đây thôn Vĩ Dạ. H́nh bóng chị Cúc xuất hiện trong phiến ảnh nhỏ này đă làm sống lại mối t́nh đầu, thương nhớ lại trở về. Anh viết:

                                Sao Anh không về chơi thôn Vỹ

                                Anh bỏ vần trắc, thành câu hỏi như bất chợt, làm người đọc nghĩ đến một sự đợi chờ quá lâu, có đôi phần thương nhớ pha chút trách yêu. Câu mở đầu đă diễn tả được ḷng anh và có lẽ cả chị Cúc nữa.

                                Nhưng câu thứ hai th́ tạo một ư niệm có thể làm cho chị Cúc, cô gái nhiều mặc cảm và kiêu sa, đă phải băn khoăn từ nhiều năm.

                                Nh́n nắng hàng cau nắng mới lên

                                Câu này có vẻ hững hờ như một nét chấm phá trong bức tranh Vĩ Dạ, tuy rất đẹp cho khung cảnh, nhưng lại lạc lơng bơ vơ không ăn khớp được với phong độ và t́nh cảm của người được tặng thơ.

                                Năm 1985, tôi có về Huế ghé thăm chị Cúc, cũng nhắc lại bài thơ “Thôn Vỹ” chị Cúc chợt hỏi: Cậu có t́m được một cây cau nào trong vườn tôi không? Sao anh Trí lại nói đến “hàng cau”?

                                Tôi hiểu ngay: Th́ ra câu này làm chị Cúc hiểu lầm. Tôi nghĩ khi viết câu này, anh Trí không có một khái niệm rơ ràng về cây cau, giá trị của nó về lợi tức, thẩm mỹ hay tượng trưng t́nh cảm, mà chỉ là một nét chấm phá về cấu trúc thẩm mỹ cũng như bức tranh “con chim sẻ đậu trên cành trúc” mà Mạc Đĩnh Chi trông thấy bên Tàu khi đi xứ qua đó. Con chim sẻ quá đẹp nên không ai để ư đến vị thế hèn kém của nó trên cành trúc.

                                Thôn Vỹ Dạ, đă từ lâu, h́nh như chỉ dành riêng cho thế giới quan tham, quan thị, cô chiêu, cậu ấm, th́ lại rất không may phải nằm sát nách với Nam Phổ, một thôn b́nh dân, đơn giản, sống bằng nghề trồng cau, chỉ cau và cau. Cau Nam Phổ rất nổi tiếng, hột lớn, mỏng vỏ dùng vào kỹ nghệ nhuộm lưới rất được miền Bắc ưa chuộng.

                                Hàng năm, đến mùa cau, trong gia đ́nh, lớn, bé, trai, gái, đều biết trèo cau, “trảy” cau bán cho kịp mối. Các cô gái Nam Phổ, cũng nổi tiếng trèo cau rất giỏi. Nhiều cậu trai Huế xuống thường cḥng ghẹo những “nường” má đỏ hây hây v́ nắng rám, đẹp một cách mạnh khỏe nhưng ngổ ngáo chẳng thua ǵ con trai.

                                Câu ví : “Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau” làm cho người đẹp Nam Phổ rất giận.

                                Những ngày c̣n đi học, thường nghe chuyện các cô gái Nam Phổ hè nhau xúm lại “bóc vỏ” những anh trai nào lớ ngớ về Nam Phổ buông lời cḥng ghẹo. Nhiều anh bị “bóc vỏ” ném vào các bụi dứa gai th́ “đời tàn”, nếu không có cứu viện phải đợi đến tối mới ṃ ra.

                                Tiếng tăm Nam Phổ, nghe cũng ngán thật.

                                Có lẽ v́ vậy, thôn Vỹ Dạ, phải cẩn thận xét nét, từng câu từng chữ kẻo lại bị người đánh giá thấp đi.

                                Cố nhiên là những cô gái khuê các vùng Vỹ Dạ rất sợ cái tiếng “trèo cau” đó. Và cũng không ai chịu trồng cau ở Vỹ Dạ.

                                Ai lại đem “hàng cau” về đặt vào “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Chị Cúc giận là phải lắm.

                                Nghe chị nói có vẻ không bằng ḷng, tôi vội vàng giải thích:

                                Vườn chị đây nè:

                                Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

                                Lá trúc che ngang mặt chữ điền.


                                Đă có cây trúc thanh cao “tiết trực tâm hư (ngay thẳng không tơ bợn ǵ)” nữa th́ tuyệt quá rồi!

                                Chị Cúc bấy giờ mới cười vui vẻ.

                                Đoạn văn thứ hai mới là đoạn văn Hàn tâm sự:

                                Gió theo lối gió, mây đường mây

                                Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay

                                Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

                                Có chở trăng về kịp tối nay?


                                “Gió theo lối gió, mây đường mây”. Lương giáo không ḥa đồng ân t́nh khó kết hợp. Thân thế anh như đám bắp bến đ̣ Cồn, hướng về thôn Vỹ Dạ, lặng nh́n ḍng nước vô t́nh trôi. Vậy th́ con thuyền ai cắm sào đợi đó, có chở trăng về cho anh đỡ cô đơn. V́ anh chỉ c̣n có trăng.

                                Đoạn thơ thứ ba mới có một lời buồn trách:

                                Ai biết t́nh ai có đậm đà.

                                Chữ đậm đà ở đây phản ánh sự lợt lạt chiếc áo trắng lại c̣n trắng nữa th́ thật không c̣n t́m đâu được chút màu sắc hứa hẹn nào.

                                Lại nữa, trên bức ảnh không ghi một câu hỏi thăm nào mà anh hằng mơ ước xa xôi. Vậy th́ ai biết t́nh ai có đậm đà.

                                Câu thơ nầy nói lên nỗi mong đợi từ xa vẫn c̣n trong mơ hồ.

                                Mơ khách đường xa, khách đường xa

                                Áo em trắng quá nh́n không ra.


                                Hai câu kết ư Hàn nói phải chăng v́ đời sống trầm hương của chị Cúc (sương khói) đă che mờ đi bóng dáng con người nhân thế của anh.

                                Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

                                Ai biết t́nh ai có đậm đà.


                                Hai câu kết này lấy lại ư thơ đoạn hai, v́ lương giáo không ḥa đồng mà đôi bên phải chia cách. Liệu c̣n nhớ nhau không?

                                Ở đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ t́nh tứ sâu sắc. Chỉ cần đọc qua cũng đă thấy ư nghĩa của nó: vừa nhớ nhung nhẹ nhàng, buồn trách xa xôi, không ai phiền luỵ ai, mà sao nghe như day dứt xót xa. Không ai nặng lời ai, mà nghe hờn tủi từ chiếc áo trắng không lời, từ đám bắp hiu quạnh cho đến con đ̣ đợi trăng.

                                Bài thơ tuyệt vời từ ư đến lời này được chọn làm một tập thơ rất có giá trị của nhiều thi nhân tiếng tăm.

                                Bài thơ này, ông Quách Tấn giải thích một cách hờ hững suy diễn theo riêng tư không có cơ sở khiến chị Cúc nghe được bất b́nh lắm, nhưng chị lịch sự không muốn nói ra.

                                Trong một dịp về Huế ghé thăm chị Cúc nhắc lại những câu chuyện ông Tấn viết về chị trong Đôi nét về Hàn Mặc Tử, chị nói:

                                Ông Tấn kể chuyện anh Trí đi Sài G̣n lập chí để xem người ta c̣n khinh anh nữa không. Chị nói: Người ta đây ông Tấn ám chỉ tôi. V́ tôi đă chê anh Trí không xứng môn đăng hộ đối.

                                Chị Cúc nói: giữa anh Trí và tôi chưa hề có lời trao đổi chê khen, dù là gián tiếp, chưa hề có thái độ thân sơ, khinh trọng. Vậy ông Tấn dựa vào đâu mà xét đoán tôi tầm thường như vậy. Ḍng họ tôi sống theo nho phong Phật giáo có bao giờ mặc áo khỏi đầu. Anh Trí cũng biết vậy. Anh Trí viết trong bài Ở đây thôn Vĩ Dạ cũng đă thông cảm ư đó:

                                Gió theo lối gió mây đường mây.

                                Chị Cúc cũng thổ lộ: nếu nói về chuyện môn đăng th́ thật là quá khinh bạc đối với gia đ́nh Hàn Mặc Tử.

                                “Ông cụ tôi, chị nói (cụ Hoàng Phùng, thân sinh chị) đă từng là bạn đồng liêu với cụ Tham (cha tôi) khi hai người c̣n làm việc tại Ṭa sứ Hội An năm 1901. Tôi đọc gia phả cụ tôi có ghi năm đó bàn giao công việc đối với cụ Tham Nguyễn Văn Toản khi cụ chuyển ngành qua Thương Chánh. Nói như ông Tấn th́ thật sai lầm làm cho tôi hổ thẹn.

                                Sau này về Huế gặp lại chị Như Lễ, gặp lại cậu tôi không biết ăn nói ra làm sao!

                                Chị Cúc cứ băn khoăn: Ông Tấn ghép tôi vào câu chuyện “đầu Cúc ḿnh Cầm” ǵ ǵ đó trong mối t́nh anh Trí với chị Mộng Cầm. Tôi không hiểu ông Tấn muốn nói ǵ. Tôi an ủi chị: Ông thích nói cho vui vậy thôi, chuyện chi chị phải áy náy. Ngay câu chuyện ông nói Hàn vào Sài G̣n ghé Nha Trang thăm ông đă là đùa rồi, v́ tháng 7/1934, ông Tấn c̣n đang ở Đà Lạt, vậy anh Trí thăm ai ở Nha Trang. Thôi bỏ đi, đừng suy nghĩ mà mệt trí.

                                Năm 1986, chị Cúc vào Sài G̣n ghé thăm chị Như Lễ, trông thấy bức ảnh Hàn treo trên vách không khuôn, chị lặng lẽ đi mu cái khung gỗ mới, tự tay tra ảnh vào khung treo lên. Cả nhà chị Như Lễ đều xúc động.

                                Hai năm sau, tôi lại có dịp ra Huế thăm chị, chị cầm tôi ở lại dùng cơm chay với chị để nói chuyện văn thơ. Chị cho tôi xem một bài thơ của một thi sĩ ở Huế viết tặng chị và Hàn. Bài thơ rất hay nhưng giọng văn thật buồn trệ, nghe hoang vắng tiêu sơ. Ngay trong 4 câu đầu đă có vẻ tang thương rồi.

                                Thôn Vỹ ai đă hẹn ghé chơi

                                Mà sao dâu bể vắng tăm người

                                Vươn xưa cúc nở bâng khuâng măi

                                Thềm cũ xuân qua lặng lẽ hoài…


                                Có lẽ chị cũng linh cảm những ǵ không may mắn cho lắm. Những chữ dâu bể, vườn xưa, thềm cũ như nói đến tang thương. Tôi cảm thấy một nỗi lo lắng không đâu. Nghe chị nói sẽ vào Sài G̣n, tôi vụt nói: “Thôi chị lớn tuổi rồi, không nên đi xa”. Chị cười buồn: “để đi chuyến nữa rồi về sẽ nghỉ”. Ra về, cứ vẩn vơ lo lắng cho chị. Bài thơ đó ám ảnh tôi cho đến Sài G̣n.

                                Tôi quư trọng chị Cúc và thương mến chị như chị ruột tôi. Anh Trí yêu chị tha thiết v́ là mối t́nh đầu của Anh. Nhưng anh xem chị là một người nhân tu thánh thiện, v́ thế mà anh kính nhi viễn chi. Không bao giờ nhắc đến tên chị trong các câu chuyện bông đùa thiếu đứng đắn.

                                Cuối năm 1939, nhận được bức ảnh chị, anh càng thương nhớ chị. Trong bài thơ Đừng cho ḷng bay xa, anh ước ao gặp được hồn phách chị trong vùng trời xa lạ thần tiên như cơi Niết Bàn anh đă trông thấy những lúc du hành xuất thần.

                                ... Xa xôi đời trăng mọc nước Huyền Vi

                                Đây Miên trường, đây Vĩnh Cửu tề phi

                                Cao cao vượt với hai hàng bóng vía

                                Trời nhật nguyệt cầu vồng bắt tứ phía

                                Ôi! Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây.

                                Hương ân t́nh cho kết lại thành dây

                                Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu…


                                Trên chuyến xe đ̣ về Nha Trang, tôi không yên tâm, giở ra xem lại hai bài thơ của nhà thơ V.Q. Bài nào khẩu khí cũng thoáng đoáng đổi thay chia cách.

                                Ông Quư có họa bài thơ Hoàng Hoa cảm tác của tôi sau đây, mà chị cho là có hậu.

                                Áo trắng ngày xưa nay áo nâu

                                Khen ai khéo chọn cảnh đời sau

                                Vàng son đoạn tuyệt bồi nhân quả

                                Dưa muối trường trai diệt khổ đau

                                Trần tục may rời ṿng nghiệp chướng

                                Căn cơ ráng giữ mối duyên tu

                                Buồn vui thế sự, thôi đừng nhắc

                                Để chút t́nh thơ đáp nghĩa nhau.


                                Hai bài thơ ông Quư rất hay, lời thơ già dặn, ư thơ nhẹ nhàng thanh thoát, nhưng hai câu kết đều mang ư nghĩa măn cuộc, thay đổi.

                                Thương đời áo trắng đổi thành nâu

                                Hẹn gặp ngày vui lại cơi sau

                                Giă cảnh phồn hoa thay cảnh tịnh

                                T́m niềm thanh thỏa xóa niềm đau

                                Duyên kia xin thấm nhuần hương đạo

                                Nghĩa ấy mong tṛn vẹn quả tu

                                Măn cuộc luân hồi xuân tái tạo

                                Áo màu lại trắng măi trong nhau.

                                (V.Q)


                                Bài thứ hai lại càng buồn trệ hơn (chép lại tiếp đoạn trên)

                                Thôn Vỹ ai đă hẹn ghé chơi

                                Mà sao dâu bể vắng tăm người

                                Vươn xưa cúc nở bâng khuâng măi

                                Thềm cũ xuân qua lặng lẽ hoài

                                Áo trắng đă pha màu khói nhạt

                                T́nh thơ c̣n đượm sắc hương trời

                                Năm mươi lặng lẽ trăng tṛn khuyết

                                Ai biết ai c̣n ngóng đợi ai.

                                (V.Q)



                                Cả hai bài thơ đều có một giọng văn hay nhưng thật buồn.

                                Tôi thật t́nh lo sợ khẩu khí hai bài thơ đó, nhất là chị Cúc đă lớn tuổi. Nhớ lại khi tiễn tôi ra về, từ nhà đến đường cái lớn, chị trầm ngâm dùi dắng, như không dứt một nỗi suy tư.

                                Tôi bèn lấy giấy bút họa lại bài thơ ông V.Q cố t́m những từ có hậu để giảm thiểu ư nghĩa bi quan, nhưng đến đoạn kết cũng phải lâm vào “viên măn”.

                                Từ thưở non Bồng măi dạo chơi

                                Thuyền ai đậu bến có mong người

                                Duyên xưa hương ướp chưa đành đoạn

                                Nghĩa cũ trầm xông vẫn ái hoài

                                Thôn Vỹ thơ bay về nước Nhược

                                Hoàng Hoa bông trải đến mây trời

                                Hẹn nhau gặp lại Mùa Viên Măn

                                Mới biết ai c̣n ngóng đợi ai.


                                Về đến Nha Trang, tôi gởi bài thơ này ra Huế, nhưng c̣n dè dặt không nói gởi chị mà nhờ chị chuyển đến ông V.Q nguyên xướng hai bài thơ tặng chị.

                                Tôi hiểu tánh chị, không bao giờ nhận thơ ai tặng mà lời thơ có ít nhiều t́nh tứ yêu đương. Chị nói, khi anh Trí viết Bâng Khuâng nhờ anh Hoàng Tùng Ngâm đưa lại, chị cũng không trả lời. Lần khác, ông Trần Tái Phùng viết mấy câu thơ của anh Trí, nhờ người anh Cả chị cùng làm một sở, trao cho chị nhờ giải thích:

                                Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá

                                Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương


                                Chị cũng lặng thinh. Quả thật, chị muốn tâm hồn được trong sáng dành cho cuộc đời tu hành không vẩn đục v́ những tầm thường trần thế.

                                Bức thư chị viết cho tôi hôm 11/7/88, chị nói: tôi đă trao thơ cậu họa cho ông V.Q. Các bài thơ xướng họa rất sát nghĩa, hay lắm. Thú thật với cậu, hai mươi năm trước đây, nếu có ai tặng tôi những bài thơ như thế, chắc chắn tôi không bao giờ nhận. Nhưng nay th́ tôi hoan hỷ nhận tất cả những t́nh ư chân thành của chung quanh, v́ tôi nghĩ mai đây khi mà:

                                Gặp nhau lại tâm hồn thanh thản

                                C̣n nghĩ ǵ ai ngóng đợi ai


                                Tôi nhận ra đây là một dấu hiệu kỳ lạ thay đổi của con người luôn luôn kiêu hănh với Lễ Nghĩa, với Khuôn Thước. Tôi nghĩ tâm hồn chị bây giờ rất gần gũi với Trời Phật, những tuế toái nhân thế không c̣n phiền luỵ chị được nữa.

                                Mấy tháng sau đó, vào Sài G̣n ḷng vẫn bồn chồn không biết chị đă vào chưa.

                                Bỗng nhiên nghe tin chị bị tai nạn xe cộ trên con đường chỉ cách nhà tôi có 200 mét. Hốt hoảng tôi và anh Thanh Địch xuống bệnh viện Chợ Rẫy thăm th́ chị đă bị hôn mê từ 10 ngày rồi.

                                Nh́n chị nằm bất động, tôi bùi ngùi thương cảm. Hóa ra chuyến về Huế vừa rồi, để cho tôi từ biệt chị. Chị mất sau đó ít lâu. Lễ an táng vô cùng trọng thể, được mọi người thương tiếc tiễn đưa.

                                Viết lại mấy ḍng này về nữ sĩ Hoàng Hoa để tưởng nhớ hương hồn chị, một nguời đàn bà chỉ biết lễ nghĩa, khuôn thước làm lẽ sống cho cuộc đời Đạo đức Tu hành.




                                Tác giả Nguyễn Bá Tín
                                Vạn Xuân

                                Comment


                                • #17
                                  PHẦN VII: PHẦN PHỤ LỤC

                                  LỆ THANH THI TẬP



                                  Hàn Mặc Tử học làm thơ Đường từ lúc c̣n học lớp ba trường thị xă Quảng Ngăi, ở trọ tại nhà d́ dượng tôi năm mới mười ba tuổi.

                                  Cô em con đi, Tôn Đức kể lại:

                                  Mỗi lần vào bàn học buổi tối, anh thường lẩm bẩm những tiếng nghe rất kỳ lạ: bằng, bằng, trắc trắc… Đến nay đọc thơ anh, mới biết là anh học niêm luật thơ Đường (thất ngôn bát cú)

                                  Lệ Thanh thi tập gồm nhiều thơ Đường, phần lớn thể thất ngôn bát cú mà đă viết ra trong thời kỳ c̣n họ trường Pellerin ở Huế.

                                  Toàn bộ bản thảo đă được đóng lại thành tập và đă bị ông Quách Tấn lấy mang về Nha Trang, nói là để bảo vệ giá trị thơ văn Hàn.

                                  Từ 50 năm, bộ thơ đó đă lạc mất, chưa thấy được phổ biến, ngoại trừ một ít được Hàn trích in vào tập Gái Quê xuất bản năm 1936.

                                  Tôi được may mắn ghi chép lại một phần, liên quan đến những mối t́nh mà tôi gọi là “giấc mộng lớn và giấc mộng con”. Tôi cũng giữ được một số thơ xướng họa của Hàn với cụ Sào Nam và một vài bài của ông Tấn.

                                  Đó là những bài thơ hay của Hàn khi Hàn chưa đến 20 tuổi.

                                  Bắt đầu từ năm 1933, Hàn có một vài thay đổi, chuyển từ thơ Đường luật qua thể thơ mới. Một lẽ v́ thơ Đường g̣ bó theo niêm luật, ít người làm được hay, v́ vậy, thiếu người xướng họa. Mặt khác, Hàn c̣n rất ít bạn bè, giao du chưa rộng răi, đề tài quanh đi quẩn lại trong các mục “yêu nước yêu ṇi, giang san cẩm tú” v.v…

                                  Sau 1933, Hàn tiếp xúc được nhiều môi trường khác nhau, có bạn bè, có t́nh yêu, suy cảm phong phú hơn. Tuy nhiên anh vẫn c̣n rụt rè thường sử dùng một thể thơ tứ tuyệt hoặc ngũ ngôn, c̣n lệ thuộc ít nhiều vào vận thơ. Nhưng diễn tả ư thơ, và lời thơ thoát sáo hơn. Từ đó người ta thấy xuất hiện nhiều bài thơ tuyệt đẹp như: Đà Lạt trong mơ, Nhớ thương, Bẽn lẽn, v.v… mà tập Gái Quê đă giới thiệu trước cho anh một chân trời mới với bài T́nh Quê đẹp như mơ.

                                  Dù vậy ở địa hạt Đường th́, anh cũng đă có nhiều bài thơ bất hủ vẫn c̣n giữ được giá trị xứng đáng cho đến ngày nay, như những bài thơ: Thức khuya, Buồn thu, Đàn nguyệt, Chuyến đ̣ ngang (có nhắc đến trong tập sách “Hàn Mặc Tử-anh tôi)

                                  Trong phần phụ lục này, tôi xin sao chép lại một số thơ anh đă viết ra lúc c̣n đi học với ít nhiều xướng họa cùng cụ Phan, trong anh em gia đ́nh và ông Tấn (mà một số đă được kể lại trong tập Hàn Mặc Tử trong riêng tư này rồi).

                                  Hàn làm thơ Đường bằng Quốc văn, nhưng vẫn rập theo khuôn mẫu thơ Hán văn, trong đó dùng chữ rất ít để diễn tả nhưng nhờ chữ Hán rộng nghĩa và sâu sắc hơn, cho nên bài thơ được vắn gọn.

                                  Như trong bài “Xích Bích hoài cổ” của Đỗ Mục, chỉ có hai câu mà diễn tả được đặc điểm t́nh tiết của trận đánh hỏa công ở Xích Bích:

                                  … Đông phong bất dữ Chu Lang tiện

                                  Đông tước xuân thâm tỏa Nhị Kiều.


                                  Chỉ cần nhắc “Đông phong bất dữ Chu Lang tiện” th́ ai cũng hiểu đó là trận Xích Bích, v́ sự cố đă phổ thông.

                                  Hoặc bài khác của Trần Ngọc Lan, khóc chồng đi thú:

                                  … Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ

                                  Hàn đáo quân biên, y đáo vô!


                                  Cũng 2 câu mà nỗi ḷng người vợ xa chồng được diễn tả rất sâu sắc.

                                  Ở đây, Hàn cũng cố dùng lối thơ đó, nhưng cảnh mượn mù thu th́ quá quen thuộc, chỉ t́nh huống như vẫn c̣n dấu kín dưới những nét buồn mùa thu để bày tỏ mối t́nh của anh, mà vốn anh rất thật thà không giấu giếm:


                                  BUỒN THU

                                  Ấp úng không ra được nửa lời

                                  T́nh thu bi thiết lắm thu ơi

                                  Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt

                                  Buồn bă hơi mây thoáng lại rồi…


                                  Người đọc cảm nhận được cái hay của thơ qua lời và ư được cấu trúc nhẹ nhàng tha thiết, nhưng dụng ư của Hàn có ǵ riêng tư không? Chưa ai biết.

                                  Hàn làm thơ quá sớm, quá trẻ mà anh th́ không thể nào có được cái “nh́n” của thiên tài Vương Bột:

                                  Lạc hà dữ cô vụ tề phi

                                  Thu thuỷ công trường thiên nhất sắc.


                                  V́ vậy, không ai hiểu anh: một dạo, các anh Xuân Diệu và Bích Khê chê anh là “Điên”.

                                  Anh nghe vậy, chỉ cười đọc 4 câu:

                                  Ai dại đem văn bán lấy tiền

                                  Viết ra vô số quỷ thần tiên

                                  Ngâm nga, phút chốc cười sằng sặc

                                  ……………………………………………………………. Điên!



                                  Chép lại tập thơ này để quư độc giả t́m cái hay trong thơ Đường của Hàn Mặc Tử. Mà nếu không bắt gặp được những ǵ hay ho, ít ra cũng gặp những ǵ riêng tư thầm kính của Hàn.

                                  Những bài thơ anh xướng họa cùng cụ Phan, lời lẽ khích lệ, chia xẻ buồn vui đă làm cho anh già đi thêm trong chiếc áo khoác “Phong Trần” (bút hiệu), khiến không ai tin được một thiếu niên 18-19 tuổi mà giọng văn già giặn đến thế. Ta thử đọc bài:

                                  GÁI Ở CHÙA

                                  Rừng Thiền thấp thoáng dạng quần thoa

                                  Khuê các trâm anh cũng rứa à

                                  Mùi tục chưa chi đă vội chán

                                  Tṛ đời mới rứa đă lo xa

                                  Lạt mùi son phấn say mùi đạo

                                  Chán cảnh phồn hoa mến cảnh chùa

                                  D́ nguyệt trớ trêu ḷng dạ thiểm

                                  Xuân xanh nỡ để thiệt tḥi hoa.



                                  Phong Trần


                                  HỌA VẬN

                                  Bản lai không vết cậy ǵ thoa

                                  Hóa gặp đâu th́ cũng thế à

                                  Một chữ đă đành thân quư trọng

                                  Trăm năm phải tính cuộc gần xa

                                  Tải v́ cái kiếp con không mẹ

                                  Hổ cũng như ai săi có chùa

                                  Khuya sớm hương tâm nguyền với Phật

                                  Nhành dương mưa rưới vạn ngh́n hoa



                                  Sào Nam



                                  CHÙA HOANG

                                  Chùa không sư tụng cảnh buồn teo

                                  Xác Phật c̣n đây chuỗi Phật đâu

                                  Réo rắt cành thông thay tiếng kệ

                                  Lập loè bóng đốm thế đèn treo

                                  Hương rầu khói lạnh nằm ngơ ngác

                                  Vách chán đêm suông đúng dăi dầu

                                  Rứa cũng trơ gan cùng tuế nguyệt

                                  Bên thềm khắc khoải tiếng quyên kêu



                                  (Phong Trần) Lê Thanh



                                  HỌA VẬN

                                  Ba vạn giang sơn chút tẻo teo

                                  Ai ḍ bể Phật tới nguồn dâu

                                  Kệ thần mặc ư trong ḷng niệm

                                  Đèn tuệ tha hồ trước gió treo

                                  Bờ nọ thuyền đưa gịng họ tới

                                  Trời này mưa móc cỏ cây dầu

                                  Xưa nay Phật pháp vô biên lượng

                                  Muôn ước ngh́n non một tiếng kêu.



                                  Sào Nam

                                  Sau một chuyến đi chơi núi Vọng Phu và thăm chùa ông Núi ở Phù Cát.


                                  NÚI VỌNG PHU

                                  Tháng ngày bao quản tấm ḷng son

                                  Dầu dăi phong ba núi một ḥn

                                  Giữ ngọc ǵn vàng chai mặt mẹ

                                  Chờ mây đợi gió cúng ḿnh con

                                  Thề tơ tóc cũ, hồn đâu mất

                                  Hẹn nước non xưa xác hăy c̣n

                                  Ví biết t́nh duyên ra thế ấy

                                  Hóa làm tinh về khỏi thon von



                                  CHÙA ÔNG NÚI PHÙ CÁT

                                  Mái dột tường xiêu liễu ngẩn ngơ

                                  Hỏi thăm duyên cớ Phật làm lơ

                                  Vắng sự bụt đá toan hồi tục

                                  Lạnh khói hương cây sắp thoát chùa

                                  Hoành cổ nhện giăng treo lỏng chỏng

                                  B́nh phong rêu bám đứng chơ vơ

                                  Tiếng chuông tế độ rày đâu đó

                                  Để khách trầm luân luống đợi chờ.



                                  Anh em cùng xướng họa với nhau:


                                  GỞI NHẠN

                                  Nhạn ơi tung cánh giữa mưa mây

                                  Khéo khéo đừng rơi gói buộc giây

                                  Cái gánh t́nh si ai gởi đó

                                  Là lời tâm sự nhạn đưa ngay

                                  Đưa người, tháng trước ḥa thơ tiễn

                                  Đến bến ngày xưa mấy tiệc bày

                                  Hỏi nhớ cùng không người bốn mắt

                                  Bể dâu chưa thấy, thấy ǵ đây.



                                  Mộng Châu


                                  HỌA VẬN

                                  Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây

                                  Chậm chậm cho ḿnh gởi mối giày

                                  Về đến thần kinh khoan nghĩ đă

                                  Ghé miền Gia Hội tỏ t́nh ngay

                                  Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi

                                  Chỉ một ḷng son muốn giải bày

                                  Này nhạn, ta c̣n quên chút nữa

                                  Trái tim non nớt, tặng ai đây?



                                  Lệ Thanh


                                  HỌA VẬN

                                  Trông vời bóng nhạn lần theo mây

                                  Thấp thỏm chờ mong đếm phút giây

                                  Mấy đoạn t́nh thơ chưa cạn nghĩa

                                  Vài hàng tâm sự rơ ḷng ngay

                                  Ngăn sông cách núi, t́nh trao dễ

                                  Đối diện, nh́n nhau, ư ngại bày

                                  Cánh thiếp nhờ chim may khỏi lạc

                                  Hồi âm đừng để phụ ḷng đây.



                                  Thiên Nam



                                  CÂY ĐÀN NGUYỆT

                                  (Tặng Mệ Dung ca sĩ Huế)

                                  Hỏi chớ mấy tuổi? Đáp mười lăm

                                  Non nước từng phen nổi tiếng tăm

                                  Bạc mệnh đàn chơi đau nửa kiếp

                                  Đồng tâm tơ buộc chặt quanh năm

                                  Chường ḿnh trước án trông đầy đặn

                                  Nép mặt trong hoa nói th́ thầm

                                  Mười khúc đoan trường say chửa tỉnh

                                  Thuyền ai ngấp nghé muốn ôm cầm



                                  Lệ Thanh



                                  HỌA VẬN (1)

                                  (Cố ư nói: “Xướng ca vô loại”)

                                  Nghe ra tuổi mới mười lăm

                                  Oanh yến đi về đă tiếng tăm

                                  Mái đẩy ḥ đưa t́nh vạn nẻo

                                  “Giao duyên” chờ đợi khách trăm năm

                                  Tơ vương mấy đoạn đành dang dở

                                  Nhịp lỗi nhiều phen luống thẹn thầm

                                  Đă trót trao thân vào trướng nguyệt

                                  Vui chi cay đắng, nghiệp ca cầm.




                                  HỌA VẬN (2)

                                  (Nói về giải ước Mộng Cầm 1936)

                                  Cài trâm tuổi ấy chữa bao lăm

                                  Mà khách tài hoa mộ tiếng tăm

                                  Phiếm trúc keo sơn t́nh đăi ngộ

                                  Giây tơ ràng buộc nghĩa trăm năm

                                  “Biết ai tâm sự” buồn chan chứa

                                  “Đền nợ Ô-Ly” oán tủi thầm

                                  Nhớ buổi ḥa âm từ dạo ấy

                                  Thương ai chua xót đoạn cung cầm



                                  Thiên Nam

                                  Những ngày ở Sài G̣n, Hàn Mặc Tử vẫn c̣n làm thơ Đường, những bài sau đây:


                                  GIANG HỒ NHỚ MẸ

                                  Ḿnh không ḥ hẹn bươc giang hồ

                                  Lưu lạc quê người mới khổ cho

                                  Nước chảy thương thân bèo bọt nổi

                                  Mây bay nhớ mẹ sớm hôm chờ

                                  Thằng con bất hiếu đi đành đoạn

                                  Trời đất vô t́nh lại đắn đo

                                  Muôn dặm non tần xa thăm thẳm

                                  Ư chừng chim nhạn biếng đưa thư.


                                  Cuộc sống xô bồ ở Sài G̣n cũng không làm cho anh quên được kỷ niệm êm đềm của “Chuyến đ̣ ngang”, “Bến đ̣ Bạch Hổ” những ngày mà mối t́nh con “kỳ ngộ” đưa anh vào ước mơ không thành, để rồi phải thở than:


                                  BƯỚC GIANG HỒ

                                  Suốt đời phiêu lăng mặc tiêu dao

                                  Non nước từng phen tự thưở nào

                                  Đúc lại can tràng nhờ hạo khí

                                  Rồi ra thân thế được thanh cao

                                  “Chút t́nh bến cũ c̣n đeo đẳng

                                  “Hụt chuyến đ̣ đưa nghĩ nghẹn ngào

                                  Gặp gỡ cố nhân rằm tháng trước

                                  Cầm tay thuật lại nỗi lao đao.


                                  Tả nếp sống ở Sài G̣n mà đă có dịp tiếp xúc, anh viết bài:


                                  TUỒNG ĐỜI

                                  Tuồng đời lặng lẽ vẽ nên “phông”

                                  Mới mọc râu trê, nó tưởng ông

                                  Xừ ấy đóng vai cười vỡ bụng

                                  Thằng kia lên mặt giận tràn hông

                                  Khi xưa chạy giấy, nay tri huyện

                                  Vừa mới bồi săm đă hội đồng

                                  Xuất xứ công danh nhiều lối thiệt

                                  Ai đời mua tước dễ như không.




                                  THUẬT HOÀI

                                  Ít khi vui vẻ, ít khi buồn

                                  Giă lả cho qua phận cánh chuồn

                                  Trước vụng đường tu duyên mới lỡ

                                  Nay tṛn quả phúc, bước chưa nên

                                  Ḷng sông, há dễ ḍ sâu cạn

                                  Đầu chợ, may ra biết dại khôn

                                  Tai vách mạch rừng ghê gớm lắm

                                  Ḱa ai, thủ khẩu rứa mà hơn




                                  VÔ ĐỀ

                                  (bài này ở Sài G̣n vừa về gặp lại các bạn cũ anh có vài nhận xét)

                                  Trời đất vô cùng bến ở đâu

                                  Một vùng hoa cỏ giống như nhau

                                  Giếng vàng lá rụng khô khan nước

                                  Ḥn đá rêu phong lợt lạt màu

                                  Hồn quỷ về kêu, cây thảm thiết

                                  Bóng trăng đi mất, gió lao xao

                                  Ai ngờ trong đám dân quê ấy

                                  Có kẻ gian phi mới ló đầu.



                                  Khi bước vào địa hạt thơ mới, Hàn bắt đầu được nhiều người khen ngợi. Nhà thơ trẻ Bích Khê chê anh “Điên”, qua lời lẽ khinh bạc mất cả…. vệ sinh trong bài thơ “Bán Thơ” dưới đây:

                                  Hôm xưa tớ đă bàn “sầu”

                                  Món này khá đắt khách cầu phải mua

                                  C̣n món “thi” cũng của chua

                                  Khách nào có thích, tớ cũng bán đùa làm quen

                                  “Sầu” đă bán th́ “thơ” cũng bán nốt

                                  Mối thi sầu không cột lại làm chi

                                  “Ḱa như đau, như khổ, như oán, như si

                                  “Nào giọng đàn, ai oán, giọt lệ thương bi

                                  “Kết cuộc lại ‘mốc x́’ ǵ đâu ráo!

                                  “Hồng vẽ lối xưa, toàn những sáo

                                  “Cua ḅ thơ mới, chả nên câu

                                  “Cũng rung đùi xưng Lư, Đỗ, Hàn, Tô

                                  “Rơ ‘bát xáo, cởi quần ṃ không thấy cái’…”

                                  Tớ trót đă cùng mang bệnh dại (điên)

                                  Từ nay xin đem bán lai cho đời

                                  Khách làng thơ ai cần đến đồ chơi

                                  Tớ xin bán không lời cả vốn…


                                  Nghe được, Hàn cao hứng làm luôn bốn bài, vừa tự xướng, vừa tự họa. Từ đó về sau nghe nói họ quen nhau. Dưới đây là thơ của Hàn Mặc Tử:

                                  BÁN TÚI THƠ

                                  Ai mua ta bán túi thơ đây

                                  Đổi lấy tiền tiêu với tháng ngày

                                  Vay măi non sông coi hổ mặt

                                  Mượn hoài trời đất đă quen tay

                                  Xuân về bố thí năm ba chữ

                                  Tết lại tiêu pha sáu bảy bài

                                  Nhắn khách văn chương trong bốn bể

                                  Bằng ḷng mua lấy trả tiền ngay



                                  Lệ Thanh



                                  HỌA VẬN

                                  Này người rao bán túi thơ đây

                                  Văn ấy ta xem kể những ngày

                                  Lắm đoạn tầm thường chưa xứng mặt

                                  Đôi câu kha khá lại lên tay

                                  Rừng Nho cao thẳm bao nhiêu chữ

                                  Biển học sâu xa há mấy bài

                                  Nhắn nhủ, thôi đừng mua bán nữa

                                  Túng tiền hỏi tớ, giúp cho ngay.



                                  H.M.T



                                  TRẢ LỜI NGƯỜI RAO BÁN THƠ

                                  (cùng một thi sĩ)

                                  Một trăm người bán vạn người mua

                                  Khế ngọt th́ chanh ắt phải chua

                                  Cái lưỡi không xương nhiều lắt léo

                                  Con người mắt thịt lắm thêu thùa

                                  Thôi đừng nhát khỉ rung cây nữa

                                  Mà chớ vườn hoang múa gậy bừa

                                  Có biết th́ thưa, không dựa cột

                                  Lên tay, xuống ngón, vội hơn thua.



                                  L.T


                                  HỌA VẬN

                                  Mặc người trau chuốt, mặc người mua

                                  Ai bảo chanh chua, khế chẳng chua

                                  Mắt cá, hạt châu nên lựa lọc

                                  Miệng lằn, lưỡi mối khá thêu thùa

                                  Trống qua cửa Sấm qua đâu nổi

                                  Đàn gảy tai trâu, tay móng nhọn

                                  Mạt cưa mướp đắng thủa nào thua.



                                  H.M.T


                                  NGÂM VỊNH

                                  1. Phong

                                  Hiu hiu gió lọt bức rèm thưa

                                  Tựa gối bên song, hứng chợt vừa

                                  Bờ liễu bóng ai trông thấp thoáng

                                  Tóc mây phất phới chạnh ḷng ta



                                  2. Hoa

                                  Hương thơm ngào ngạt nức hương lân

                                  Vẻ mặt không pha mảy bụi trần

                                  Nhơ nhởn đêm xuân lồng bóng nguyệt

                                  Bên rèm mê mẩn khách giai nhân



                                  3. Tuyết

                                  Trắng xóa rừng mai mấy lớp dày

                                  Thẩn thơ đề vịnh thú đương say

                                  Quê nhà, nhớ khách đà in vẻ

                                  Ngơ ngẩn ngồi ôn chuyện những ngày



                                  4. Nguyệt

                                  Cung Thiềm tỏ rạng suốt đêm thanh

                                  Hương quế xa đưa lọt bức mành

                                  Gảy khúc Nghê thường êm ái lạ

                                  Pḥng thư luống ngại khách đa t́nh.




                                  XUÂN

                                  Mát mẻ trời xuân cảnh tốt tươi

                                  Thích tính thiếu nữ hé môi cười

                                  Non phơi vẻ gấm hoa chường mặt

                                  Ngọn gió xuân đưa mát cả người



                                  HẠ

                                  Nhành hoa héo hắt rụng bên hè

                                  Lắng khúc đàn Nam năo nuột ghê

                                  Thiếu nữ buông rèm ra tắm nắng

                                  Hương đưa theo gió, nức bên hè.



                                  THU

                                  Thuyền ai thấp thoáng giữa tràng giang

                                  Nhạn lạc từng mây cánh vội vàng

                                  Vầng nguyệt đêm thu soi lạnh lẽo

                                  Mỹ nhân nàng hỡi thấu tâm can



                                  ĐÔNG

                                  Trắng xóa đầu non tuyết mới đông

                                  Gọi đàn chiu chít nhạn bên sông

                                  Pḥng tiêu thiếu nữ nằm xem sách

                                  Hé nụ cười duyên lắm mặn nồng




                                  CẦM

                                  Quen thói phong lưu với chị Hằng

                                  Buông ra văn vơ tịch t́nh tang

                                  Êm đềm gảy khúc Nghê thường lại

                                  Ngọn gió đưa lên tận Quảng Hàn



                                  KỲ

                                  Thong dong ngày tháng ngựa xe chơi

                                  Thao lược kinh luân quyết trổ tài

                                  Quân tướng nép oai thằng sĩ tốt

                                  Xông tên đụt pháp cỡi đầu voi



                                  THI

                                  Đắc theo phong nguyệt để vui chơi

                                  Bảy bước lên thiên ấy mới tài

                                  Túi sẵn văn chương trời sẵn nguyệt

                                  Tao nhân mặc khách dễ thường ai



                                  TỬU

                                  Thềm hoa vằng vặc mảnh trăng trong

                                  Ba chén mua vui thấm thía ḷng

                                  Thược dược gần bên say đỏ mặt

                                  Lắm chiều lơi lả với non sông



                                  Một cái Tết c̣n nguyên vẹn của Hàn (1936) được xem là lạc quan.


                                  XUÂN HỨNG


                                  Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh

                                  Ừ, tết năm nay thật hữu t́nh

                                  Pháo nổ, nổ tan luồng thất nghiệp

                                  Xuân về, về ghẹo khách ba sinh

                                  Hoa tươi sách với Thiên Kiều gái

                                  Cảnh đẹp dường như thuỷ mặc tranh

                                  Cao hứng đă toan cầm bút vịnh

                                  Đào nguyên đâu lại thoáng qua mành



                                  Những bài thơ Đường đọc được 6 cách (Hàn rất nổi tiếng về bài thơ này)


                                  CỬA SỔ ĐÊM KHUYA


                                  Hoa cười, nguyệt gọi cửa lồng gương

                                  Lạ cảnh buồn thêm sợ vấn vương

                                  Tha thướt liễu in hồ gợn sóng

                                  Hững hờ mai thoảng gió đưa hương

                                  Xa người nhớ cảnh t́nh lai láng

                                  Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng

                                  Qua lại yếu ngàn dâu ủ lá

                                  Ḥa đàn sẵn có đế bên tường.


                                  a. Đọc xuôi

                                  b. Đọc ngược

                                  c. Bỏ hai chữ sau đọc xuôi

                                  d. Bỏ hai chữ đầu đọc xuôi

                                  e. Bỏ hai chữ sau đọc ngược

                                  f. Bỏ hai chữ đầu đọc ngược.



                                  ĐI THUYỀN

                                  (cũng như bài thơ Cửa sổ đêm khuya đọc được 6 cách)

                                  Bèo trôi nước dợn sóng mênh mông

                                  Cỏ mọc bờ xa bóng liễu trông

                                  Chèo vững thiếp qua vời khổ ải

                                  Giữ bền chàng đến vận trung không

                                  Theo lần nguyệt xé mây mù mịt

                                  Họa đáp thông reo trống năo nùng

                                  Neo thả biết đâu nơi định trước

                                  Bèo trôi nước dợn sóng mên mông.




                                  Thể thơ lục bát


                                  ĐÊM TRĂNG


                                  Bữa ni sáng tỏ bóng Hằng

                                  Thử xem thiên hạ ai bằng ta không

                                  Thảnh thơi lầu mát ngồi trông

                                  Muôn vàn tâm sự một ḍng nao nao

                                  Càng lên, càng tỏ, càng cao

                                  Trăng ơi hăy ghé động đào xem hoa

                                  Hữu t́nh ta lại gặp ta

                                  Đêm nay mới thấy đậm đà khuôn thiên

                                  Mà sao ngậm miệng làm duyên

                                  Đă nhiều căn dặn nỗi niềm tóc tơ

                                  Mà sao trăng khéo hững hờ

                                  V́ trăng ta phải ngồi chờ suốt đêm

                                  Muốn bay lên tận cung thiềm

                                  Kéo vầng trăng xuống kết duyên châu trần




                                  SẦU XUÂN


                                  Đêm xuân lạnh bóng sân tàn

                                  Họa xuân mơn trớn can tràng thuyền quyên

                                  Trời xuân vắng vẻ hương nguyên

                                  Sông xuân lặng lẽ con thuyền xa xa

                                  Xuân đi đi khắp sơn hà

                                  Tuổi xuân chất măi tóc da đổi màu

                                  Ngày xuân như gió thoảng sau

                                  T́nh xuân một khối ai sầu hơn ai

                                  Mưa xuân như nhắc chuyện đời

                                  Rượu xuân như gợi những lời nước non

                                  Thề xuân dù chẳng vuông tṛn

                                  Khóa buồng xuân lại, vẫn c̣n sầu xuân



                                  Một ít hơi hướm thơ Hồ Xuân Hương trong bài dưới đây:


                                  CHƠI THUYỀN GẶP MƯA


                                  Đêm trăng thong thả thử chèo ra

                                  Ơn nước hôm nay tắm gội mà

                                  Sào cắm thuyền dồi thân thể khách

                                  Buồm trương gió táp mặt mày hoa

                                  Cầm ḷng sông dễ không sao đặng

                                  Đứng mũi ai kia đă mệt chưa!

                                  Đất ước loi ngoi trời mát mẻ

                                  Mây mưa khoan khoái trận vừa qua



                                  Lệ Thanh



                                  HỌA VẬN


                                  Thuyền lan, nhè nhẹ đẩy trăng ra

                                  Thử sức mây mưa nơi đó mà

                                  Thừa lúc tối tăm sông trở mặt

                                  Vững tay lèo lái sóng tung hoa

                                  Gió dông ư muốn khoe ḿnh nhỉ

                                  Non nước t́nh chung biết tớ chưa

                                  Lái vẫn đương hăng trời đă tạnh

                                  Ngỗng trời đeo nguyệt sẽ bay qua



                                  Thường Xuyên (Quách Tấn)


                                  Một đoạn “KHUÊ PHỤ THÁN”, theo thể song thất lục bát


                                  Ngàn trùng nước biếc non xanh

                                  Hoa tung lá rụng mà cành trơ trơ

                                  Mảnh trăng thu chưa lờ gương ngọc

                                  Tiếng oanh vàng hết học cành mai

                                  Thuyền lan c̣n dấu giữa vời

                                  Nh́n xem phong cảnh tơi bời tâm can

                                  Gớm con tạo đa đoan quá lắm

                                  Đương sum vầy muôn dặm xa xôi

                                  Liễu đào ủ dột đứng ngồi

                                  Mây chờ gió đợi ngậm ngùi v́ ai

                                  Chiếc bào ảnh nào người cầm lái

                                  Để linh đinh buồm ngại đường xa

                                  Sóng cồn vùi dập cành hoa

                                  Trăm năm thân thế thiết tha thơ đào

                                  Lối về xưa ong rào bướm đón

                                  Khách tiêu pḥng năm ngón bi ai

                                  Giấc cô miên những ái hoài

                                  Hẹn ḥ cổ độ đă ngoài đôi thu




                                  Một bài thơ thuộc khẩu khí:


                                  BÚT THẦN KHAI


                                  Ngọn bút thần khai phước lộc nhà

                                  Sáng như gươm báu lạnh như ma

                                  Mực loè khí vị vô hồn chữ

                                  Văn hút hào quang ở miệng ta

                                  Giấy trắng tinh khôi tuôn huyết mạch

                                  Lời vàng nguyên vẹn trổ tài hoa

                                  Ấm hơn tiếng nhạc reo trong ư

                                  Thơ đợi xuân về phát tiết ra


                                  Thơ ngũ ngôn độc vận đă xuất bản trong Gái quê được xem là hay nhất của thời đó.


                                  T̀NH QUÊ


                                  Trước sân anh thơ thẩn

                                  Đăm đăm trông nhạn về

                                  Mây chiều c̣n phiêu bạt

                                  Lang thang trên đồi quê

                                  Gió chiều quên ngừng lại

                                  Gịng nước luôn trôi đi

                                  Ngàn lau không tiếng nói

                                  Ḷng anh dường mê mê

                                  Cách nhau ngàn vạn dặm

                                  Nhớ chi đến trăng thề

                                  Dầu ai không mọi đợi

                                  Dầu ai không lắng nghe

                                  Tiếng buồn trong sương đục

                                  Tiếng hờn trong luỹ tre

                                  Dưới trời thu man mác

                                  Bàng bạc khắp sơn khê

                                  Dầu ai trên bờ liễu

                                  Dầu ai dưới cành lê

                                  Với ngày xuân hờ hững

                                  Cố quên t́nh phu thê

                                  Trong khi nh́n mây nước

                                  Ḷng xuân cũng năo nề…




                                  BẠT

                                  Bếp lửa nhân t́nh đă nguội

                                  Mảnh duyên văn tự lẽ nào quên


                                  Hàn Mặc Tử


                                  Tác giả Nguyễn Bá Tín
                                  Vạn Xuân

                                  Comment


                                  • #18
                                    LỜI BẠT




                                    Từ ngày Hàn Mặc Tử qua đời, tôi chưa hề nghe ai trong những bạn bè thân cận anh viết về anh, về thơ anh, t́nh duyên anh, bệnh hoạn anh cho thật cụ thể. Ngoại trừ ông Trần Thanh Mại, người đầu tiên và duy nhất đă nói lên được phần nào hiểu biết gần gũi anh.

                                    Những người, cho đến nay vẫn tự xưng là thân cận nhất, hiểu biết nhất Hàn Mặc Tử, th́ lại để lộ cái vốn liếng nghèo nàn của họ về Hàn.

                                    Duy chỉ được nghe nhà thơ Chế Lan Viên nói một cách khẳng định mà chưa nghe ai lên tiếng phủ nhận, hay tranh luận.

                                    “May thay, Tử là một đỉnh cao chói ḷa trong văn học thế kỷ, thậm chí qua các thế kỷ.”

                                    Anh Hoan nói: “Việc ǵ phải dông dài t́m hiểu cuộc đời bệnh hoạn, t́nh duyên anh, về cuộc đời cách mạng ly kỳ anh”.

                                    Phải, việc ǵ phải lên đến cung trăng như Amstrong phi hành gia Hoa Kỳ để rồi mang về những viên đá cuội sù ś xấu xa thô kệch.

                                    Chỉ cần nh́n thấy những đêm trăng sáng tỏa ra d́u dịu, con người cũng đă cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng để t́m hưởng những hạnh phúc riêng tư.

                                    Trong 50 năm qua, tôi gia công t́m hiểu thơ anh, đào bới khắp nơi t́m cho ra thử xem viên đá quư nào đă làm cho đỉnh cao Hàn Mặc Tử sáng chói, mà nửa thế kỷ rồi vẫn c̣n sáng chói.

                                    Viết lại tập sách này, tôi chỉ mong ghi lại những ǵ tôi đă trông thấy nơi anh, xuyên qua những bài thơ huyền hoặc, t́nh tứ say sưa nhưng rất thật thà.

                                    Quả thật tôi chưa hiểu ǵ hơn, mà ngày càng thêm yêu mến anh, thích thú đọc thơ anh, sống lại với anh những ngày c̣n chung sống.

                                    Tôi như một người leo núi, đến đây nh́n xuống đă thăm thẳm rồi, mà nh́n lên vẫn c̣n ṿi vọi.

                                    Vậy xin cắm ngang đây cái mốc, ngỏ hầu, sau này giúp các bạn nào c̣n hiếu kỳ, muốn leo lên cái đỉnh sáng ấy, t́m được chỗ để bám víu.

                                    Nào, xin mời các bạn.

                                    Tại Sài G̣n, Tiết thanh minh Tân Dậu



                                    Tác giả Nguyễn Bá Tín



                                    ---------------- HẾT ----------------
                                    Vạn Xuân

                                    Comment

                                    Working...
                                    X