• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

Nam Hải Dị Nhân - Phan Kế Bính

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • #41
    CHƯƠNG THỨ VI: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

    BẠCH MĂ THẦN



    Khi Cao Biền ở trấn nước Nam, giữ phủ xưng vương, đắp rộng thêm thành La Thành. Đắp xong, một buổi trưa, đứng ngoài cửa đông ngóng xem, bỗng nhiên mưa gió ầm ầm, rồi có một đám mây ngũ sắc, tự dưới đất bốc lên, khí sáng ánh ra tứ phía. Lại thấy có một người ăn mặc đường bệ, cưỡi con cầu long (rồng chưa có sừng) nửa vàng nửa đỏ, tay cầm hốt vàng, đứng trong đám mây, có bóng thấp thoáng lên xuống, lâu lâu th́ tan mất.

    Cao Biền lấy làm lạ lùng, nghi là ma quỉ, muốn thiết đàn cúng cấp, dùng phép trấn áp.

    Đêm hôm ấy, nằm mơ thấy thần lại bảo rằng:

    - Xin ông chớ nghi tôi, tôi là thần chính khí ở đất Long Đỗ này, chớ không phải ma quái nào. Tôi thấy ông mới đắp xong cái thành, cho nên mừng mà hiện ra đấy thôi.

    Cao Biền tỉnh dậy, hội các quan lại bảo rằng:

    - Ta không trị nổi được xứ này hay sao? Sao mà lắm ma quỉ hiện ra thế, hoặc là điềm gở ǵ đây chăng?

    Chúng xin thiết đàn, bày h́nh tượng thần ấy, rồi dùng ngh́n cân sắt, làm bùa trấn yểm.

    Cao Biền nghe lời lập đàn cúng bái, rồi chôn ngh́n cân sắt để yểm. Hôm sau, trời đất tối tăm mù mịt, mưa gió ầm ầm, rồi có tiếng sét đánh vào chỗ yểm bùa, sắt tan vụn bay đi mất cả. Biền thấy vậy sợ hăi, mới lập đền ở trong phố để thờ thần ấy. Về sau, vua Lư Thái Tổ thiên đô lên Thăng Long, mơ thấy thần lại mừng. Vua tỉnh dậy, sai các quan đem lễ đến tế, phong làm Thăng Long thành hoàng đại vương.

    Bấy giờ vua mở ra chợ cửa đông, cho dân buôn bán, miếu thờ ngài ở bên cạnh đường, thường có hỏa tai, cháy lây cả một dăy phố, chỉ miếu của ngài là không động ǵ đến. Mỗi khi nhà vua làm lễ nghênh xuân, thường vẫn cúng trong miếu ấy.

    Triều nhà Trần, ở phố ấy ba lần có hỏa tai, mà không lần nào động đến miếu; và một lần có sét đánh cũng không việc ǵ.

    Thái sư là Trần Quang Khải có đề một bài thơ rằng:

    Xưa nghe lừng lẫy tiếng anh linh,
    Ma cũng ghê mà quỉ cũng kinh.
    Ngựa lửa ba phen thiêu chẳng tới,
    Roi lôi một trận đánh không chênh.
    Chỉ tay đè nén trăm loài quỉ,
    Quát tiếng trừ tan mấy vạn binh.
    Nhờ đội oai thần xua giặc Bắc,
    Khiến cho non nước lại thanh b́nh.


    Trần triều phong là: “Thuận dụ phu ứng đại vương”. Đền ở phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương, gọi là thần Bạch Mă (Bây giờ tức là đền Bạch mă ở phố Hàng Buồm).
    Vạn Xuân

    Comment


    • #42
      CHƯƠNG THỨ VI: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

      SÓC THIÊN VƯƠNG



      Về thời vua Đại Hành nhà Lê, quan Khuông Việt Thái sư là Ngô Cảnh Chân thường hay chơi ở làng B́nh Lỗ, ưa phong cảnh chỗ ấy vui đẹp, mới làm một cái am để ở. Một đêm đến canh ba, mơ thấy một ông thần mặc áo vàng giáp sắt, tay tả cầm một ngọn thương vàng, tay hữu cầm một ḥn ngọc, có vài mươi người lính hầu, mặt mũi hung tợn, trông như quỉ sứ.

      Ông thần ấy bảo với Thái sư rằng:

      - Ta là Côn sa môn thiên vương đây, đầy tớ ta là thần Dạ xoa cả đấy. Thượng đế sai ta sang xứ bắc, coi giữ nhân dân. Ngươi có duyên với ta, cho nên ta lại đây nói chuyện với ngươi.

      Thái sư giật ḿnh đứng dậy, nghe trong núi có tiếng quát tháo ầm ầm, trong bụng lấy làm sợ hăi. Hôm sau vào núi xem th́ thấy một cây cổ thụ, cành lá rườm rà, và có đám mây đẹp phủ trên ngọn cây. Thái sư sai thợ đẵn cây ấy, đem về tạc tượng ông thần như dáng trong mộng, rồi lập đền ở trên núi để thờ.

      Trong năm Thiên Phúc thứ nhất (980), có quân nhà Tống vào cướp nước. Vua Đại Hành sai Thái sư cầu khẩn ở đền thần Côn sa môn. Bấy giờ quân nhà Tống đóng ở làng Tây Kết, chưa kịp đánh nhau với quân nhà Lê, quân Tống bỗng thấy một người ở dưới sông Bạch Đằng nhảy lên đứng trên mặt nước, cao hơn 10 trượng, xỏa tóc trừng mắt, quân Tống khiếp sợ tan chạy, phải lui về giữ trên thượng lưu. Lại gặp cơn phong ba to, thuyền bè ch́m đắm mất nhiều, vua Đại Hành thừa thế đốc quân lên đánh, bắt được Chuyển vận sứ là Nhân Bảo, v́ thế quân Tống phải tan.

      Vua thấy thần Côn sa môn anh linh làm vậy, sai sửa sang thêm đền đài cho đẹp, rồi phong làm Sóc Thiên Vương, để trấn phương bắc. Đền ấy ở núi Vạn Linh, huyện Kim Hoa tỉnh Bắc Ninh.

      Đến thời nhà Lư, lại lập đền thờ ở mé đông hồ Tây, phong làm Phúc thần, để trấn phương bắc, và để có việc ḱ đảo cho tiện (tức là đền ở làng Nhật Tảo bây giờ).
      Vạn Xuân

      Comment


      • #43
        CHƯƠNG THỨ VI: CÁC VỊ THẦN LINH ỨNG

        LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA



        Về đời vua Anh Tôn nhà Lê (1557) ở về thôn Vân Cát, xă Yên Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, có một người gọi là Lê Thái Công, tiên tổ tích đức đă ba đời, đến đời Lê Thái Công cũng hay làm phúc. Ngoài 40 tuổi, sinh được một người con trai. Cách năm sau, Thái bà có mang được vài tháng th́ phải bệnh, ưa những đồ hương hoa, người nhà cho là ma làm, mời thầy phù thủy cúng cấp mà bệnh lại nặng thêm.

        Đến đêm hôm trung thu có người xin vào chữa bệnh cho Thái bà. Thái công mời vào, người ấy cầm cái búa ngọc, lên đàn niệm câu thần chú rồi ném búa xuống đất. Thái công ngồi cạnh ngă ngay xuống mơ mơ màng màng, thấy có hai người lực sĩ đưa đi. Đường đi khuất khúc, đến một nơi nhà vàng cửa ngọc, lực sĩ đưa đi qua chín từng cửa, rồi đến chốn cung đường, th́ đứng lại ở dưới hè. Trông lên trên thấy có một vị áo mũ đường hoàng, hai bên văn vơ cầm hốt đứng chầu, nghi vệ rất thịnh. Sực có một người con gái mặc áo đỏ, bưng chén ngọc dâng rượu thọ, lỡ tay rơi chén, sứt mất một góc. Tả ban có một viên mở ngay sổ ra biên vài chữ, rồi thấy hai người sứ giả và vài chục người thị nữ xúm lại dắt nàng mặc áo đỏ tự cửa nam đi ra. Mé trước có một cái biển vàng, trên có hai chữ “Sắc giáng”, giữa có hai chữ “Nam nam”, c̣n các khoản dưới th́ mập mờ không rơ.

        Thái công hỏi người lực sĩ rằng:

        - Đó là việc ǵ thế?

        Lực sĩ nói:

        - Đây là bà tiên chúa thứ hai tên là Quỳnh Hoa chuyến này chắc là phải đầy xuống trần.

        Nói đoạn, lực sĩ đưa Thái công về đến nhà th́ tỉnh dậy, mà Thái bà đă sinh ra một người con gái, nhân thế đặt tên là Giáng Tiên.

        Khi nàng Giáng Tiên lớn lên, nhan sắc lạ thường, Thái công cho ở tĩnh một nhà học hành. Nàng ấy thông minh, mà lại tài nghề âm nhạc, thường làm ra ca từ bốn mùa, lựa vào khúc đàn để chơi.

        1. XUÂN TỪ (ĐIỆU XUÂN QUANG HẢO)

        Cảnh như vẻ, khéo ai bày? Hoa đào mỉm miệng liễu giương mày. Bướm nhởn nhơ bay, oanh vàng líu lo trong bụi, én đỏ ríu rít trên cây. Buồng xuân d́u dặt mối t́nh ngây, đề thơ này!

        2. HẠ TỪ (ĐIỆU CÁCH PHỐ LIÊN)

        Trời đất nhiều phần nóng nẫu. Đầu cành rức giọng ve, băi cỏ vang tiếng chẫu; ṿ vơ quốc kêu sầu, eo éo oanh hót ngẫu. Dường bảo nhau: “Chúa xuân về rồi thôi cũng hảo!”. Cảnh sắc dường kia, ngao ngán cầm ḷng khôn đậu. May đâu, thần Chúc dong gảy một khúc nam huân, hương sen thoảng đáo, một trận gió bay, sạch ḷng phiền năo.

        3. THU TỪ (ĐIỆU BỘ BỘ THIỀM)

        Mặt nước trong veo non tựa ngọc, gió vàng hây hẩy khua khóm trúc. Hoa lau muôn dặm trắng phau phau, cây cối vẻ hồng pha vẻ lục. Cung thiềm sáng quắc ả Hằng ngủ, dạo bước thềm giao t́nh rạo rạc. Chi bằng đến thẳng dưới giậu hoa cúc thơm, thảnh thơi dạo đàn gảy một khúc.

        4. ĐÔNG TỪ (ĐIỆU NHẤT TIỄN MAI)

        Khí đen mờ mịt tỏa non sông, hồng về nam xong! Nhạn về nam xong! Gió bắc căm căm tuyết mịt mùng! Tựa triện ngồi trông, tựa triện đứng trông. Sưởi ḷ mặt vẫn giá như đồng, ngồi chẳng yên ḷng, nằm chẳng yên ḷng! Dậy xem phong cảnh lúc trời đông, hoa quên lạnh lùng! Người quên lạnh lùng!

        Một khi Thái công dạo chơi sau vườn, nghe thấy khúc đàn ấy, trong bụng buồn rầu, nhân có ông bạn quen họ Trần ở cùng một làng, mới cho làm con nuôi ông ấy, và làm riêng một nhà lầu ở sau vườn Trần công cho con gái ở.

        Cạnh nhà Trần công có một nhà quan, tuổi già chưa có con trai, nhân đêm trăng ra chơi vườn đào, bắt được đứa con trai ở dưới gốc đào, v́ thế đặt tên là Đào lang. Đào lang mặt mũi tuấn tú. Trần công thấy Giáng Tiên tư chất khác phàm và lại nết na, có ư muốn kết duyên cho Đào lang. Hai bên cha mẹ thuận ḷng, mà hai người cũng tốt duyên phải lứa, mới gả cho nhau. Từ khi cưới về, Giáng Tiên một ḷng hiếu thuận. Năm sau, sinh được một mụn con trai, cửa nhà thêm vui vẻ.

        Ngày tháng thắm thoát, chợt đă ba năm. Hôm mồng ba tháng ba, Giáng Tiên tự nhiên vô bệnh mà mất, bấy giờ mới hai mươi mốt tuổi. Ba nhà sầu thảm vô cùng.

        Thái bà đau xót đêm ngày khóc lóc. Một bữa đang khóc th́ thấy con về ôm lấy mẹ mà nói rằng:

        - Mẹ ôi! Con ở đây, mẹ khóc ǵ thế?

        Thái bà mở choàng mắt ra trông quả là con, cả nhà xúm lại hỏi han.

        Tiên Chúa nói rằng:

        - Con là Đệ nhị tiên cung phải đầy xuống trần, nay đă hết hạn, lại phải lên chầu Thượng đế. Cha mẹ có âm công, đă vào sổ tiên, mai sau cũng được đoàn tụ, không can ǵ phải lo sầu.

        Nói đoạn th́ lại biến mất.

        Chàng Đào lang từ khi uyên bay, trăm phần sầu năo. Một đêm đang ngồi ngâm thơ giải phiền, sực thấy Tiên chúa đến, chàng kia níu lấy kể lể nỗi đoạn sầu khổ. Tiên chúa khuyên giải hết điều rồi lại biến mất.

        Tự bấy giờ đi mây về gió, chơi xem phong cảnh các nơi. Một hôm, đến tỉnh Lạng Sơn, trông thấy có ngọn chùa trên núi, mới lên xem cảnh, rồi ra nghỉ mát dưới gốc cây thông, gẩy đàn ngâm hát. Xảy có Phùng Khắc Khoan (Trạng Bùng) đi sứ về qua, hai bên đối đáp với nhau.

        Phùng công đọc trước một câu rằng:

        - Tam mộc sâm đ́nh; tọa chước hảo hề nữ tử.

        Tiên chúa ứng thanh đối rằng:

        - Trùng sơn xuất lộ; tẩu lai sứ giả lại nhân.

        Phùng công lại đọc rằng:

        - Sơn nhân bằng nhất kỉ; mạc phi tiên nữ lâm phàm.

        Tiên chúa lại đọc rằng:

        - Văn tử đái tràng cân; tất thị học sinh thị trướng.

        Phùng công thấy vậy, muốn hỏi lai lịch th́ đă biến mất rồi, chỉ thấy gỗ nằm ngổn ngang, h́nh ra bốn chỗ: “Măo khẩu công chúa” (1), và có một cây gỗ dựng viết bốn chữ “Thủy mă dĩ tẩu” (2). Phùng công đoán ư tứ các chữ ấy, biết là Liễu Hạnh công chúa nhờ ḿnh khởi công sửa sang chùa ấy, mới xuất tiền cho dân sửa sang.

        Lại một khi Phùng công đem bạn lên chơi hồ Tây, cũng gặp Tiên chúa, xướng họa liên ngâm với nhau. Về sau Tiên chúa hiển thánh ở đèo Ngang phố Cát tỉnh Thanh Hóa, hiện ra làm con gái đẹp bán nước, những kẻ đùa bỡn chết hại rất nhiều. Triều đ́nh nghi là yêu quái, sai thầy phù thủy và Trịnh Hoàng Thúc đem quân đi tiễu. Quan quân bắn vào trong núi, tàn phá đền đài. Được vài tháng dân xứ ấy dịch tễ, lập đàn cầu khấn, th́ mới biết là Tiên chúa hiển thánh; tâu lên triều đ́nh, vua sai sửa sang lại đền miếu, phong làm Mă vàng công chúa. Sau lại có công giúp nước phá giặc Mán, được phong làm Chế thắng bảo ḥa điệu đại vương lập đền trên núi Sùng Sơn đến giờ vẫn c̣n anh linh.


        -------------------

        1: Gỗ ngổn ngang là h́nh chữ mộc 木. Chữ măo 卯 chữ khẩu 口 gia thêm chữ mộc, là chữ Liễu 柳 Hạnh 杏.
        2: Thủy 水 mă 馬 là chữ Phùng 馮, dĩ 已 tẩu 走 là chữ khởi 起, ư là bảo họ Phùng khởi công.
        Vạn Xuân

        Comment


        • #44
          CHƯƠNG THỨ VII: CÁC VỊ TIÊN TÍCH

          TỪ THỨC



          Từ Thức người ở Hóa Châu (Thanh Hóa). Trong thời Quang Thái, đời vua Thánh Tôn nhà Trần, nhân có chân ấm sinh, được làm Tri huyện Tiên Du (Bắc Ninh). Cạnh huyện có ngọn chùa to, trong chùa có một cây mẫu đơn, mỗi khi mùa xuân hoa nở khách bốn phương đến chùa xem hoa đông như hội, nhân thế gọi là hội xem hoa.

          Tháng hai năm Đinh tị (1396), chính giữa hôm hội, có một cô ả nhan sắc mĩ miều, mới độ 15, 16 tuổi, son phấn điểm nhạt mặt mũi tươi ḍn. Đến xem hoa nhỡ tay vịn gẫy mất một cành, bị nhà chùa bắt giữ lại. Từ Thức xẩy đi qua trông thấy, hỏi cơn cớ đầu đuôi, rồi cổi áo cẩm bào chuộc cho ả ấy đi.

          Từ bấy giờ ai cũng khen là quan huyện nhân đức, nhưng chỉ v́ tính hay uống rượu ngâm thơ, tờ bồi việc quan bỏ đọng cả lại, lắm phen bị quan trên quở mắng.

          Từ Thức than rằng:

          - Ta không thể nào v́ vài đấu thóc lương mà buộc ḿnh vào trong đám danh lợi được măi, thôi th́ một mái chèo bơi về t́m nơi nước biếc non xanh, cho thỏa chí ta c̣n hơn.

          Lập tức cổi ấn giao trả quan trên rồi đi. Tính Từ Thức ưa chơi những chốn khe đỗng (1) trong huyện Tống Sơn, mới về làm nhà ở huyện ấy, mỗi khi nhàn đi chơi, sai một thằng nhỏ đeo một bầu rượu, cắp một cái đàn và mang một quyển thơ. Đi đến chỗ nào thích ư, th́ ngồi chơi đánh chén, hoặc gảy đàn. Phàm chỗ nào có nước non lạ lùng, như núi Chính Trợ, đỗng Lục Vân, sông Lăi, cửa Nga, th́ tất t́m đến chơi và có thơ đề vịnh.

          Một khi dậy sớm, trông ra cửa Thần Phù, cách vài mươi dặm, có khí mây năm vẻ, kết lại như h́nh cái hoa sen. Mới sai bơi thuyền đến tận chỗ ấy, th́ thấy có núi rất đẹp. Đỗ thuyền trèo lên núi th́ thấy khí núi xanh biếc, cao ṿi vọi ước ngh́n trượng.

          Nhân đề một bài thơ rằng:

          Đầu cành thấp thoáng bóng kim ô,
          Hoa đỗng vui mừng đón khách vô.
          Cạnh suối nào là người hái thuốc?
          Quanh nguồn chỉ có gă bơi đ̣.
          Xênh xang ghế mát cầm ba khúc.
          Đủng đỉnh thuyền câu rượu một ṿ.
          Ướm hỏi Vơ Lăng chàng đánh cá,
          Làng Đào đâu đó cách chừng mô?


          Đề xong bài thơ nh́n xem phong cảnh một hồi, bỗng thấy trong sườn núi đá, có một cái hang, cửa hang tṛn và rộng độ một trượng, thử vào hang xem ra làm sao, vừa đi được vài bước, th́ cửa hang bỗng dưng đóng sập lại, trong hang tối mù mịt, không c̣n biết đường nào mà đi. Từ Thức chắc là chết ở chỗ ấy, nhưng cũng cứ đi liều xem ra sao, mới quờ tay sờ sệt vào sườn đá mà đi, trước c̣n loanh quanh đi trong khe nhỏ, dần dần thấy có bóng sáng, trông lên thấy núi cao chót vót, đá mọc lởm chởm, mới cố leo vịn lên th́ đường đi đă hơi rộng.

          Khi lên đến đỉnh núi, th́ lại thấy mặt trời sáng sủa, trông ra bốn bề, cùng có lâu đài cung điện, cửa nhà trang hoàng, cây cối tươi tốt, tựa hồ một cảnh chùa chiền.

          Từ Thức lấy làm lạ lùng, ngắm nh́n phong cảnh, rồi thấy hai ả con gái nhỏ mặc áo xanh, bảo với nhau rằng:

          - Chú rể mới nhà ta đă đến kia ḱa!

          Nói thế, đoạn trở vào trong nhà báo tin, rồi lại ra báo với Từ Thức rằng:

          - Phu nhân cho chúng tôi ra mời người vào chơi.

          Từ Thức theo hai đứa con gái đi vào, qua một dăy tường gấm, vào cửa sơn son, thấy đôi bên cung cấm, vàng bạc sáng quắc, có chữ đề rằng: “Quỳnh hư chi điện. Giao quang chi các” (2).

          Khi trèo lên gác th́ thấy một bà tiên mặc áo lụa trắng, ngồi trên giường thất bảo. Cạnh giường có đôi kỷ gỗ đàn hương, bà tiên mời Từ Thức ngồi trên kỷ và bảo rằng:

          - Ngươi vốn hay chơi cảnh lạ, có biết đây là chốn nào không?

          Từ Thức thưa:

          - Tôi tuy dong chơi giang hồ đă nhiều, nhưng không biết ở đây lại có tiên cảnh, xin bảo cho tôi được rơ.

          Bà tiên cười nói rằng:

          - Ngươi biết đâu được chỗ này! Đây tức là hang thứ sáu trong 36 đỗng núi Phi Lai; núi ấy đi khắp các mặt bể, chân không bén đến đất, chỉ theo chiều gió mà hợp tan thôi. Ta tức là Địa tiên núi Nam nhạc, gọi là Ngụy phu nhân đây. V́ thấy ngươi có cao nghĩa, cho nên mới đón đến chơi.

          Nhân bảo con hầu gọi một người con gái ra. Từ Thức trông ra th́ chính là người con gái đánh gẫy cành hoa mẫu đơn khi trước.

          Bà tiên trỏ vào con gái bảo với Từ Thức rằng:

          - Con em tên nó là Giáng Hương, khi trước xem hoa phải cái ách nạn, nhờ ngươi cứu cho, ta vẫn c̣n hàm cái ân ấy, nay muốn cho nó kết duyên với ngươi để báo ân.

          Lập tức đêm hôm ấy, truyền sai đốt đèn mỡ phụng, trải chiếu vẩy rồng, cho làm lễ thành thân.

          Hôm sau các tiên đến ăn mừng, kẻ cưỡi li vàng (tựa rồng mà không sừng), người cưỡi câu đỏ (loài rồng) đến hội. Bà tiên mở tiệc trên gác Giao quang, nào là rèm ngọc trướng điều, nào là đệm hoa ghế bạc. Các tiên ngồi riêng một bên tả, c̣n mé hữu th́ Từ Thức ngồi.

          Trong khi ăn yến, đủ thứ sơn hào hải vị, chả phụng nem công, thơm tho ngào ngạt, toàn những vị dưới trần không có bao giờ. Lại có đàn sáo bát âm rất là vui vẻ.

          Chiều tối tiệc tan, các tiên đâu về đấy. Từ Thức ở lại đấy được một năm, có ư nhớ nhà, nhân một khi thong thả bảo với nàng Giáng Hương rằng:

          - Tôi vốn đi chơi, xa xôi đă lâu, khó đè nén được bụng trần, lại tưởng nhớ đến quê cũ, xin cho tôi hăy về thăm nhà một chút.

          Giáng Hương có ư ngần ngừ, không nỡ ly biệt.

          Từ Thức lại nói rằng:

          - Cho tôi về chơi ít ngày tháng, bảo với anh em cho biết, rồi sẽ lại lên đây.

          Giáng Hương khóc mà nói rằng:

          - Thiếp không dám vị t́nh vợ chồng mà ngăn trở bụng quân tử, chỉ v́ cơi trần bé nhỏ, ngày tháng ít oi, nếu có về chăng nữa, chỉ sợ cây cối cửa nhà không được c̣n như trước nữa đâu.

          Nàng ấy mới nói với phu nhân. Phu nhân than rằng:

          - Không ngờ gă ấy c̣n vướng víu trong đám bụi hồng, làm chi mà phải ngậm ngùi như thế?

          Phu nhân mới cho một cỗ xe cẩm vân, sai ngồi lên xe ấy mà về. Giáng Hương cũng viết một phong thư buộc kỹ đưa cho, dặn về nhà hăy mở ra mà xem.

          Từ Thức cáo biệt, ngồi lên trên xe, đi vừa chớp mắt đă đến nhà. Về đến nơi th́ phong cảnh đă khác xưa, nhân dân thành quách, không có ǵ là giống khi trước, chỉ c̣n hai bên khe núi th́ vẫn c̣n nguyên.

          Từ Thức đem họ tên ḿnh, hỏi thăm các cụ già trong làng, th́ có một người nói rằng:

          - Tôi từ lúc c̣n nhỏ, có nghe cụ tổ ba đời nhà tôi cũng tên họ như thế, sa vào hang núi đă hơn 80 năm nay rồi.

          Từ Thức buồn rầu lắm, muốn lại ngồi xe đi lên, th́ xe đă hoá làm chim loan bay đi mất rồi. Mở bức thư ra xem th́ có câu rằng: “Trong mây kết bạn loan hoàng, duyên xưa đă hết; trên bể t́m người tiên tử, hội khác khôn cầu”, mới biết là lời ly biệt.

          Về sau, Từ Thức mặc áo khinh cừu, đội cái nón nhỏ, vào núi Hoàng Sơn ở huyện Nông Cống (Thanh Hóa), không biết lên tiên hay là đi mất.


          ----------------------

          1: Động (BT).
          2: Nghĩa là đền Quỳnh hư, gác Giao quang.
          Vạn Xuân

          Comment


          • #45
            CHƯƠNG THỨ VII: CÁC VỊ TIÊN TÍCH

            TÚ UYÊN



            Thời nhà Lê, ở làng Bích Câu (tức là làng Yên Trạch bây giờ, Hà Nội), có một người học tṛ, tên là Tú Uyên, vốn người tài mạo, cha mẹ mất sớm, nhà nghèo, chỉ chăm việc học hành.

            Có một hôm, chùa Ngọc Hồ mở hội, Tú Uyên đi xem. Đến chiều trở về qua chùa Tiên Tích (ở phố cửa Nam) trông thấy một người con gái đẹp lắm, đang đứng ở dưới gốc cây đu. Tú Uyên lại gần hỏi chuyện, rồi hai người vừa đi vừa đối đáp với nhau, đến chỗ đ́nh Quang Minh th́ người con gái ấy biến mất, mới biết là tiên.

            Tú Uyên đứng ngẩn ra một lúc, mới trở về nhà. Từ đấy đêm ngày tưởng nhớ, phải bệnh tương tư thuốc nào chữa cũng không khỏi. Một hôm, nhớ đến sự bói thẻ, mới đến đền Bạch Mă xin thẻ, rồi nằm mộng ở đấy. Đêm thần báo mộng rằng: “Sáng sớm mai, ra cổng cầu Đông sông Tô Lịch th́ gặp”. Tú Uyên mừng lắm, sực tỉnh dậy th́ trời đă rạng đông; vội vàng chạy ra đấy, đứng thơ thẩn độ một vài giờ, không thấy ǵ, toan trở về, th́ gặp một ông cụ bán bức tranh. Tú Uyên cầm mở ra xem, thấy người tố nữ vẽ trong tranh, giống như người ḿnh gặp khi trước. Mua đem về, treo ở cạnh buồng học, từ bấy giờ mới giải phiền.

            Tú Uyên mỗi khi đến bữa cơm ăn, cũng đặt hai cái bát hai đôi đũa, mời người tố nữ trong tranh, như hai vợ chồng thực. Một hôm, mời th́ h́nh như tủm tỉm cười muốn nói. Hôm sau, đi học về, thấy mâm cơm dọn sẵn, nghĩ không biết thế nào, ăn th́ toàn những mùi ngon vật lạ cả. Hai ba hôm cùng luôn như thế. Bữa sau, giả cách đi học, đứng ŕnh ḍm vào trong nhà, thấy người trong tranh hiện ra đang điểm trang. Tú Uyên rón rén bước vào, hỏi rằng:

            - Duyên sự làm sao, th́ nói cho tôi được biết.

            Nàng ấy mới nói rằng:

            - Thiếp ở trên cung tiên tên là Giáng Kiều, v́ nhà chàng có phúc đức lớn, nên gặp nhau từ khi ấy. Sau lại thấy chàng thương nhớ, cho nên chúa tiên cho thiếp xuống kết duyên với chàng.

            Nói vừa xong, rút trâm trên mái đầu, hóa phép hiện ra nhà cửa, lâu đài, đầy tớ, đồ đạc, rồi làm cỗ bàn, mời các bạn tiên xuống ăn cưới. Từ đấy kết duyên làm vợ chồng.

            Tú Uyên tự bấy giờ ham mê về tửu sắc, cả ngày chỉ uống rượu say sưa, bỏ sự học hành. Trong ba năm trời, Giáng Kiều khuyên ngăn măi mà vẫn không nghe. Mỗi khi say rượu rồi th́ lại chửi mắng ỏm tỏi. Nàng ấy giận lắm mới biến đi. Tú Uyên tỉnh rượu, thấy vợ bỏ ḿnh mà đi, mới hối lại, bực ḿnh muốn tự vẫn. Bỗng thấy nàng ấy ở đâu lại về. Tú Uyên nửa mừng nửa thẹn, lấy lời từ tạ, hai vợ chồng lại vui vẻ tử tế như xưa.

            Không bao lâu, sinh được một người con trai, đặt tên là Trân Nhi. Đến sau, con học hành thông minh, đă sắp nên người, nàng ấy bảo với chồng rằng:

            - Ở hạ giới này, một đời người chỉ được bảy tám mươi tuổi mà thôi, kể ra không được là bao nhiêu. Vả lại trong sổ tiên cũng có tên chàng, th́ ta đưa nhau lên ở trên cung tiên là hơn.

            Liền đưa cho Tú Uyên một viên thuốc và một đạo bùa. Một lát th́ có hai con hạc xuống đón, hai vợ chồng mỗi người cưỡi một con, ngoảnh lại dặn con rằng:

            - Con hăy ở đây, bao giờ thi đỗ th́ tao xuống đón.

            Nói đoạn, bay cả lên trời.

            Dân làng ấy v́ thế lập miếu ngay chỗ nhà cũ ông ấy để thờ, gọi là đền Tú Uyên.
            Vạn Xuân

            Comment


            • #46
              CHƯƠNG THỨ VII: CÁC VỊ TIÊN TÍCH

              PHẠM VIÊN



              Phạm Viên người làng An Bài huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An. Đời ông tổ Phạm Viên hiền lành phúc hậu, gặp được người Tàu để cho ngôi mộ, đoán rằng: “Ngôi này phát một đời Tiến sĩ, một đời thành tiên”.

              Đời con ông cụ ấy là Phạm Chất đỗ Tiến sĩ về thời vua Trần Tôn nhà Lê, làm đến Tả thị lang. Phạm sinh ra hai con, con cả là Phạm Tán, con thứ là Phạm Viên.

              Phạm Viên lớn lên, 18 tuổi mà vẫn biếng học, chỉ ham sự chơi bời. Ông bố chửi mắng th́ Phạm Viên nói rằng:

              - Người ta quí thích chí là hơn, phú chí 80 năm chẳng qua cũng là một giấc mộng hoàng lương (1) mà thôi.

              Từ đấy bỏ nhà đi, vào núi Hồng Lĩnh hái thuốc. Đi cùng kiệt 3 ngày, vào đến rừng sâu, gặp một cụ già chống cái gậy trúc, mặc áo thầy tu, Viên biết là người lạ, qú xuống trước mặt, kể lể sự ḿnh. Cụ già đem Phạm Viên về, đi nửa thôi đường, thấy có vài gian nhà tranh cụ già dắt vào trong nhà ấy. Vào đấy th́ chỉ thấy trên bàn có một quyển sách con, bên cạnh có một ṿ nước, c̣n th́ không có ǵ cả và cũng không có một người đầy tớ nào.

              Phạm Viên ở đấy, cụ già thỉnh thoảng múc cho một gáo nước, bảo phải uống hết, lại cho một cái túi, bảo rằng:

              - Về cứ mở túi ra mà xem, tự khắc biết.

              Nói xong, cụ già và cửa nhà biến mất cả. Phạm Viên trở ra t́m lối về, cứ trông về phía mặt trời mọc mà đi. Một lát đến đầu làng, về đến nhà th́ đă được 12 năm rồi.

              Bấy giờ Phạm Viên đă 30 tuổi, họ hàng làng mạc ai cũng lấy làm kỳ, nhưng không ai biết Phạm Viên đă thành tiên. Phạm Viên ở nhà, có khi ngủ đến 10 ngày mới dậy, có khi 2, 3 tháng mới ăn một th́a cháo. Quan Thị lang vẫn gọi Phạm Viên là thằng rồ.

              Phạm Viên có bà cô ngoài 70 tuổi, không có con cái, Phạm Viên cho bà cụ 21 đồng tiền và dặn rằng:

              - Nếu có mua ǵ, chỉ mua 20 đồng, c̣n để dành lại một đồng, tự nhiên lại có 20 đồng khác, có thể đủ dùng được trọn đời.

              Bà cụ nghe lời ấy, quả nhiên cứ mua buổi sáng th́ buổi chiều lại đủ 21 đồng tiền. Được một năm, bà ấy mất, món tiền ấy cũng biến đi.

              Thường một khi đến chơi núi Ngọc Sơn, nằm trọ trong nhà hàng, bảo với mụ già nhà hàng rằng:

              - Ở gần đây sau có hỏa tai, ta cho mụ một lọ rượu này, khi nào thấy cháy, th́ lấy rượu vẩy vào, kẻo gió to th́ cháy mất cả.

              Tháng năm, quả nhiên là có hỏa tai, bấy giờ đương mùa gió nồm, không tài nào cứu được. Mụ già nhớ đến lời Phạm Viên cầm lọ rượu rảy vào đám lửa, tự nhiên trời mưa xuống như trút nước, lửa phải tắt ngay, nước mưa sặc những mùi rượu ba ngày chưa tan mùi.

              Lại một khi Phạm Viên đi qua huyện Hoằng Hóa thấy một người già ngoài 70 tuổi c̣n phải đi xin ăn, Phạm Viên thương t́nh, cho một cái gậy dặn rằng:

              - Hễ đi đến chợ nào th́ cắm cái gậy bên cạnh đường, không phải van ǵ, tự nhiên người ta phải lấy tiền cắm vào đầu gậy, cứ đủ 100 đồng th́ nhổ đem đi chỗ khác.

              Ông già kia y lời ấy, quả được dư ăn thừa mặc, khi ông già ấy chết th́ cái gậy cũng biến mất.

              Phạm Viên thường dạy một người học tṛ, chỉ học hai chữ “cát cao” nghĩa là gàu múc nước. Người học tṛ xin học chữ khác, Phạm Viên bảo rằng:

              - Ngày sau phú quí, chỉ hai chữ ấy đủ rồi, can ǵ phải học nhiều cho mệt?

              Về sau, người ấy phải đi lính, canh thuyền, xảy khi chúa Trịnh đi chơi, bắt khai các đồ trong thuyền. Đến cái gầu múc nước, không ai biết biên chữ ǵ. Bấy giờ cả quan Tham tụng là Hà Tôn Mục ở đấy, cũng không nhớ chữ ǵ là cái gầu.

              Người ấy nhân canh ở đấy mới nói rằng:

              - Khi trước tôi đi học, c̣n nhớ được hai chữ cát cao là cái gầu múc nước.

              Quan Tham tụng cho là người học rộng, tâu với chúa Trịnh, v́ thế được cất làm quan lục phẩm.

              Đến năm Phạm Viên 40 tuổi, ông thân sinh đang được vua chúa yêu dùng, làm quan tại kinh. Phạm Viên ở nhà, một hôm bỗng dung sai người nhà sắm sửa đồ thờ, may áo chế sắm gậy trúc. Được vài ngày, quả nhiên có tin quan Thị lang mất tại kinh.

              Phu nhân làm ma, toan đem xuống thuyền, để đi đường hải đạo về Nghệ. Phạm Viên không nghe, sắm đủ minh tinh nhà táng, áo quan vơng v́, và đủ các đồ nghi vệ đi đường, xin đến gà gáy th́ rước ma đi bộ từ Thăng Long về Nghệ. Ai cũng cười là người gàn. Không ngờ đi tự gà gáy, mới đến lúc mặt trời mọc, đă về đến đầu làng An Bài, chúng bấy giờ mới tin Phạm Viên có phép tiên.

              Tống táng đâu đấy, Phạm Viên từ mẹ lại đi. Được năm năm th́ phu nhân mất. Chiều hôm cất ma xong, Phạm Viên về khóc ở trước mồ, rồi để một ḥm ở lại đấy mà đi. Sáng hôm sau, người nhà trông thấy mở ḥm ra xem, th́ thấy đủ cả trâu ḅ lợn gà, và các thứ gị nem bánh trái, không biết bao nhiêu mà kể. Lại có 500 quan tiền, 100 cân bạc. Trên mặt ḥm đề rằng: “Của cô ai tử là Phạm Viên kính tế”.

              Từ đấy trở đi, hoặc khi có người gặp ở Thăng Long, hoặc khi có người gặp ở cửa bể Thần Phù. Trong năm Bảo Thái, có ông Trương Hữu Điền mở trường học ở Hà Nội, có người ăn mặc lam lũ vào làm văn, chỉ chớp mắt xong bài văn rồi biến mất. Ông kia xem văn rồi nói rằng: “Văn chương này cách cục nhà tiên, lại ông Phạm Viên đùa ta đây!”. Biến hóa không biết đâu mà lường được.


              ---------------

              1: Hoàng lương là kê vàng. Xưa có người nằm mộng làm quan phú quí hơn 20 năm trời, lúc tỉnh dậy, nhà trọ vẫn chưa thổi chín nồi kê.
              Vạn Xuân

              Comment


              • #47
                CHƯƠNG THỨ VII: CÁC VỊ TIÊN TÍCH

                TỪ ĐẠO HẠNH



                Từ Lộ tự Đạo Hạnh, người làng An Lăng (tức là làng Lăng) huyện Vĩnh Thuận (Hoàn Long), làm thầy cúng ở chùa Tiên Phúc, núi Phật Tích (tức là chùa Thầy ở Sơn Tây). Khi xưa thân phụ Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh làm Tăng quan đô sát triều nhà Lư, thường vào chơi làng An Lăng, mới làm nhà ở đấy, lấy con gái họ Lăng, sinh ra Đạo Hạnh.

                Đạo Hạnh lúc c̣n bé hay chơi bời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phí Sĩ, Phan Ất, Lê Hoàn kết bạn, đêm th́ cố công đọc sách, ngày th́ đàn sáo đánh bạc làm vui. Cha thường vẫn trách mắng là biếng học, nhưng sau biết cứ đến đêm th́ chăm học lắm, từ bấy giờ mới không nói ǵ nữa.

                Về sau Đạo Hạnh thi khoa Bạch liên đỗ Tăng quan. Không bao lâu cha là Từ Vinh dùng tà thuật phản ông Diên thành hầu. Diên thành hầu nhờ thầy phù thủy là Đại Điên dùng phép đánh chết, quẳng xuống sông Tô Lịch. Thây ông Từ Vinh trôi qua cầu Yên Quyết, đến bên nhà ông Diên thành hầu, bỗng nhiên đứng lên trỏ tay vào trong nhà, suốt ngày hôm ấy không đi. Diên thành hầu mời Đại Điên đến. Đại Điên đến nơi quát rằng:

                - Thầy chùa giận không để cách đêm, dù sống dù chết, cũng là một giấc mộng mà thôi.

                Nói dứt lời th́ thây ngă xuống trôi đi. Từ Đạo Hạnh muốn báo thù cho cha, ŕnh khi Đại Điên đi chơi, muốn đón đường đánh, bỗng nghe trên không có tiếng ngăn rằng: “Chớ! Chớ!”. V́ thế bỏ gậy mà chạy về.

                Đạo Hạnh nghĩ lấy làm tức giận lắm muốn sang nước Ấn Độ học phép, nhưng đi qua núi Kim Sỉ, hiểm trở lắm phải trở về. Đạo Hạnh mới vào trong hang núi Phật Tích, kết thành hội Bạch Liên, để học phép Ngũ giáo. Ngày nào cũng tụng kinh “Đại bi tâm” và niệm câu thần chú “Bà la ni”, cứ tụng 18 vạn lần mới thôi.

                Một hôm thấy thần báo mộng rằng:

                - Đệ tử tức là Tứ trấn thiên vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh cho nên lại hầu, tùy thầy muốn sai khiến ǵ tôi xin vâng lệnh.

                Đạo Hạnh biết là đạo pháp ḿnh đă thành rồi, có thể phục thù được cho cha, mới đến đầu bến sông Yên Quyết, cầm cái gậy ném xuống sông. Nước sông chảy xuôi mà gậy th́ trôi ngược, trông tựa con rồng, đi măi đến cầu Tây Dương mới thôi.

                Đạo Hạnh mừng nói rằng:

                - Phép ta hơn Đại Điên nhiều rồi!

                Đạo Hạnh mới dùng phép tàng h́nh đến thẳng chỗ Đại Điên ngồi chơi, bảo rằng:

                - Mày c̣n nhớ việc ngày trước không?

                Đại Điên ngẩng đầu lên trông, không thấy ǵ. Đạo Hạnh cầm gậy đánh, Đại Điên v́ thế thành bệnh mà chết.

                Đạo Hạnh báo xong thù rồi, từ bấy giờ tan hết oán cũ, sạch hẳn ḷng trần, mới đi chơi khắp nơi rừng núi, hỏi t́m ấn chứng. Nghe có Kiều Trí Huyền tinh thông đạo phép, đến hầu tận nơi, hỏi thế nào là chân tâm.

                Có câu kệ rằng:

                Lâu nay vẫn đám hồng trần,
                Vàng c̣n chẳng biết, biết chân tâm nào!
                Xin cho trỏ bảo làm sao?
                Cho t́m thấy rơ kẻo nao ḷng người.


                Từ Trí Huyền cũng đọc một câu kệ đáp lại rằng:

                Năm âm bí quyết là vàng,
                Trông ra đầy mắt rơ ràng thuyền tâm.
                Bồ đề đạo phật u thâm,
                Muốn t́m tới đó muôn tầm chẳng xa!


                Đạo Hạnh thấy câu kệ như vậy, chưa hiểu ư tứ ra làm sao, mới đến hỏi ông Pháp Phạm Sùng Vân rằng:

                - Thưa ông thế nào gọi là chân tâm?

                Sùng Vân nói:

                - Cái ǵ chẳng phải là chân tâm?

                Đạo Hạnh bấy giờ mới tỉnh ra, lạy từ ông ấy rồi trở về. Từ bấy giờ pháp lực lại càng tấn tới, nội là rắn độc trong núi, hùm dữ trên rừng, cũng có phép sai khiến được cả.

                Có một thầy tăng nói rằng:

                - Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, đó là phật tâm.

                Đạo Hạnh đọc câu kệ rằng:

                Có th́ có tự mảy may,
                Không th́ cả thế gian này cũng không.
                Thử xem bóng nguyệt ḍng sông,
                Ai hay không có, có không là ǵ?


                Bấy giờ vua Lư Nhân Tôn chưa có con, có người ở Thanh Hóa ra tâu rằng:

                - Ở ngoài băi bể, có đứa con trai lên 3 tuổi, tự xưng là Hoàng tử, gọi là Giác Hoàng. Nhà vua có những sự ǵ, y cũng biết cả.

                Vua sai sứ đến xem tận nơi, quả nhiên có đứa trẻ ấy, mới đem về kinh, cho ở trong chùa Báo Thiên. Vua thấy đứa trẻ ấy thông minh thần dị lắm, muốn nuôi làm con.

                Các quan can rằng:

                - Nó tuy linh dị, nhưng tất phải thác sinh vào trong cung cấm mới được.

                Vua nghe lời, thiết tuần chay to bảy đêm ngày, để cho nó làm phép đầu thai.

                Đạo Hạnh nghe chuyện làm vậy, bảo riêng với chị rằng:

                - Đây tất là Đại Điên, muốn đầu sinh vào cửa nhà vua để báo thù đây, kẻ kia dùng tà thuật, làm hoặc (1) người ta đă nhiều, tôi sao nỡ ngồi nh́n mà không cứu, để nó làm càn hay sao?

                Mới bảo chị ăn mặc giả nhà sư, cầm giấu vài quả ấn pháp sư, giắt lên mái nhà chỗ đàn chay. Cúng được ba hôm, Giác Hoàng phải bệnh, bảo với người ta rằng:

                - Khắp cả thế giới, chỗ nào cũng chăng lưới sắt, không có đường nào mà đầu thai được.

                Nói xong th́ mất. Vua sai t́m các nơi có bùa bèn ǵ không, th́ bắt được mấy quả ấn kết lại, có tên Từ Đạo Hạnh. Vua giận lắm, sai bắt Đạo Hạnh vào lầu Hưng Khánh đánh trượng, rồi hội các quan lại nghị án.

                Xảy có Sùng hiền hầu đi qua, Đạo Hạnh kêu rằng:

                - Xin ngài rủ ḷng thương mà cứu cho tôi, tôi sẽ xin đầu thai vào cung để báo ơn ấy.

                Sùng hiền hầu gật đầu. Đến lúc hội nghị, Kim hầu xin đem Đạo Hạnh chính pháp. Sùng hiền hầu cười nói rằng:

                - Giác Hoàng nếu có thần lực, th́ dù Từ Lộ giải chú thế nào cũng không việc ǵ. Nay v́ thế mà phải chết, th́ Giác Hoàng c̣n kém Từ Lộ xa lắm. Tôi thiết tưởng bắt tội hắn, thà rằng cho hắn thác sinh c̣n hơn, xin bệ hạ nghĩ cho.

                Vua nghe lời, tha tội cho Đạo Hạnh. Đạo Hạnh trở ra, vào hầu nhà riêng Sùng hiền hầu, nhân thấy phu nhân đang tắm, đến sát tận nơi đứng xem. Phu nhân giận lắm, bỗng thấy một đứa trẻ con chạy vào trong thùng tắm, phu nhân kinh hăi, nói chuyện với chồng. Sùng hiền hầu đă biết rồi, không trách hỏi ǵ đến. Từ đấy phu nhân có mang.

                Đạo Hạnh dặn Sùng hiền hầu rằng:

                - Khi nào phu nhân sắp ở cữ, th́ phải bảo cho tôi biết trước.

                Đến khi phu nhân ở cữ, trở dạ đă lâu mà chưa sinh được, Sùng hiền hầu sai người ruổi mau đến bảo Đạo Hạnh.

                Đạo Hạnh vội vàng tắm gội thay áo, dặn học tṛ rằng:

                - Bụng ao ước của ta vẫn chưa thỏa, nay lại thác sinh vào cửa đế xương, tạm làm thiên tử 23 năm. Nếu khi nào thân kiếp sau ta thác đi, th́ mới thực là ch́m vào bể sâu, không bao giờ sinh diệt được nữa.

                Học tṛ nghe câu ấy, ai nấy cùng rỏ nước mắt. Đạo Hạnh mới an ủi học tṛ vài câu, rồi lột xác ra mà hóa. Người làng lấy làm lạ, để cái xác ấy vào trong khám phụng thờ.

                Giờ ngọ Đạo Hạnh nhập tịch, đến giờ mùi th́ phu nhân sinh ra đứa con trai, đặt tên là Dương Hoán, bấy giờ là tháng sáu năm Bính thân niên hiệu Hội Trường Đại Khánh thứ bảy (1116).

                Dương Hoán lên hai tuổi, thông minh lắm, vua yêu mến nuôi ở trong cung cho làm con, rồi lập lên làm Hoàng thái tử. Khi vua mất, thái tử lên ngôi, tức là vua Thần Tôn, đó là kiếp sau ông Từ Đạo Hạnh.

                Khi xưa Đạo Hạnh mới vào chùa Thiên Phúc, thấy có một vết chân người ở trong hang đá. Đạo Hạnh lấy bàn chân in vào th́ vừa bằng nhau, tục truyền hang ấy tức là chỗ Đạo Hạnh lột xác.

                Mỗi năm mồng bảy tháng ba, thiên hạ đến chùa ấy lễ bái đông như hội. Thây Đạo Hạnh đến măi lúc nhà Minh sang cướp quân sĩ đốt mất, về sau dân đấy lại tô tượng để thờ như xưa.


                -------------------

                1: Gạt gẫm (BT).
                Vạn Xuân

                Comment


                • #48
                  CHƯƠNG THỨ VII: CÁC VỊ TIÊN TÍCH

                  NGUYỄN MINH KHÔNG



                  Người làng Đàm Xá, phủ Tràng An (Nam Định) tên là Nguyễn Chi Thành. Lúc nhỏ đi học, xẩy gặp Từ Đạo Hạnh, mới theo học Đạo Hạnh hơn 40 năm [civ]. Đạo Hạnh khen là người có chí, cho ấn quyết và đổi tên gọi là Minh Không thiền sư cho ở riêng một chùa Quốc Thanh.

                  Khi Đạo Hạnh sắp hóa (1), bảo Minh Không rằng:

                  - Ngày xưa phật Thế tôn ta, đạo quả đă tṛn trặn, mà c̣n có báo kim tảo, huống chi lâu nay phép đạo suy ṃn, th́ ta giữ ḿnh làm sao cho xiết được. Kiếp sau ta ở thế gian, giữ ngôi nhân chủ, chắc là không khỏi được bệnh nợ, ngươi nên nghĩ nghĩa thầy tṛ, đến bấy giờ phải cứu cho ta. (2)

                  Đến khi Đạo Hạnh hóa rồi, Minh Không trở về quê nhà, cày cấy làm ăn, trụ tŕ hơn 20 năm, không cầu tiếng tăm với đời.

                  Năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư đời vua Thần Tôn (1136), vua bỗng sinh ra một bệnh kỳ dị, thuốc chữa thế nào cũng không khỏi. Tinh thần phiền loạn, tiếng gào hét kinh người (tục truyền vua hóa ra hổ). Các thầy thuốc, có hàng ngh́n muôn người, nhưng không ai biết chữa ra cách làm sao.

                  Minh Không nghe tin làm vậy, mới chống gậy đến chỗ trẻ con chơi, cho chúng nó ăn quà và dạy chúng nó hát rằng:

                  - “Tập tành vông, có ông Nguyễn Minh Không chữa được Hoàng thái tử”.

                  Dần dần đám trẻ nào cũng hát câu ấy, tiếng đến tai triều đ́nh. Triều đ́nh sai sứ đi hỏi thăm mà t́m được Minh Không. Minh Không thấy sứ giả đến triệu ḿnh, mới thổi một nồi cơm con, cho bọn chở thuyền cùng ăn.

                  Sứ giả nói rằng:

                  - Bọn chở thuyền đông lắm, có một niêu cơm con thế kia, th́ ăn làm sao?

                  Minh Không nói:

                  - Hăy cứ ăn đi, lúc nào thiếu sẽ hay.

                  Minh Không mới sai dỡ cơm ra rá, th́ càng dỡ càng nhiều, hàng mấy trăm người ăn mà vẫn không hết. Chúng cùng ngạc nhiên lấy làm lạ. Đến lúc ăn xong, Minh Không bảo các quan chở thuyền rằng:

                  - Các anh hăy ngủ đi một lát, đợi lúc nào có nước thủy triều lên sẽ đi.

                  Chúng nghe lời, nằm ngủ cả trong thuyền, một lát tỉnh dậy th́ thuyền đă ngược đến Kinh đô rồi, ai nấy mừng rỡ cho là phép tài.

                  Minh Không đến Kinh, các thầy thuốc cùng các thầy phù thủy đang túc trực cả trên điện, mỗi người dùng một cách chữa bệnh cho vua, mà vẫn chưa thầy nào kiến hiệu. Trông thấy Minh Không đến, ăn mặc quê mùa cộc kệch, chúng ai cũng khinh bỉ, không thèm chào hỏi đến. Minh Không lấy một cái đanh dài 5, 6 tấc, đóng lên cột, nói to lên rằng:

                  - Hễ ai rút được cái đanh này ra, th́ mới chữa được bệnh hoàng đế.

                  Nói hai ba câu, không ai thèm trả lời. Minh Không mới lấy hai ngón tay trái sẽ nhổ ra, cái đanh ấy bật ngay ra ngoài.

                  Minh Không đến tận trước mặt vua, thét to lên rằng:

                  - Đại trượng phu đă phú quí mà làm đến thiên tử, sao lại c̣n cuồng loạn như thế?

                  Vua sợ hăi run lật bật, Minh Không sai lấy cái vạc to, đổ nước ḥa thuốc vào đun lên, đun sôi một trăm dạo, Minh Không lấy tay khoắng vào trong vạc thuốc hai ba lượt rồi múc ra tắm cho vua, tắm xong th́ vua khỏi bệnh. (3)

                  Vua khỏi rồi, phong Minh Không làm quốc sư, thưởng cho vài trăm nóc nhà, cho lấy thuế mà ăn.

                  Đến năm Đại Định thứ hai Minh Không mất, bấy giờ đă bẩy mươi sáu tuổi. Minh Không mất rồi thiêng lắm, nhiều sự hiển linh. Phàm dân xă cầu mưa đảo nắng rất nghiệm. Các chùa ở huyện Giao Thủy, huyện Phả Lại, có tô tượng Minh Không để thờ cả.


                  ------------------

                  1: Đạo Phật cho người chết là chuyển hóa sang một trạng thái khác (BT).
                  2: Sử cho là Đạo Hạnh để thuốc lại giao cho Minh Không.
                  3: Tục truyền vua tắm xong th́ bao nhiêu lông lốt hổ tuốt cả ra v́ thế mới khỏi bệnh.
                  Vạn Xuân

                  Comment


                  • #49
                    CHƯƠNG THỨ VII: CÁC VỊ TIÊN TÍCH

                    TRẦN LỘC



                    Lúc nhà Lê trung hưng, việc binh cách mới yên, sinh lắm yêu quái, dân gian khổ sở. Bấy giờ người làng An Đông, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, tên là Trần Lộc, có phép phù thủy. Một bữa, Trần Lộc đi qua trái núi Na Sơn, đang lúc mùa hè nắng nực mới nghỉ mát ở dưới rặng tre. Sực ngẩng đầu trông lên trên núi, thấy có một ông cụ già đầu bạc phơ, đang đứng dựa cạnh sườn đá ngóng xem rừng rú, rồi cầm nón vẫy Trần Lộc lên.

                    Trần Lộc xắn áo trèo lên, chiều tối mới đến đỉnh núi, cúi đầu lạy ông cụ ấy.

                    Ông cụ ấy bảo rằng:

                    - Bụng thầy mến đạo lắm, trời cũng chứng cho rồi, sai ta xuống cho thầy mấy bài quyết đây.

                    Nói đoạn, giao cho ấn quyết, rồi lại ghé vào tai dặn rằng:

                    - Đây là phép phật Thượng phương đây, nên nhận lấy mà phải siêng năng tế độ cho đời.

                    Nói xong th́ biến. Trần Lộc ngẩng lên trời lạy tạ rồi trở về. Từ đấy thí nghiệm phù phép nổi tiếng cao tay bùa bèn. Mới tự xưng ḿnh là Phật tổ như lai; hai con gọi là tả hữu tôn thánh; học tṛ lớn gọi là tiền quân tôn thánh; học tṛ khác gọi là bồ tát, kim cương, minh sư, chia làm ba hạng: thượng thừa, trung thừa, hạ thừa.

                    Trần Lộc nghe tin ở núi Mỏ Diều (thuộc về Ninh B́nh) có con yêu tinh, thường hại những người đi đường, mới đến núi ấy để trừ nó. Con yêu ăn mặc ra dáng con gái trong cung, giữ trên đầu núi để cự nhau với Tổ sư ba ngày. Tổ sư giận lắm bắt một cái quyết Bài sơn, sạt một góc núi. Con yêu hóa ra con quạ, bay lên trên trời. Tổ sư lại bắt luôn mấy cái quyết bắn theo, con yêu tinh phải quyết, sa xuống đất chết.

                    Lại ở nước ta về mặt tây nam có 12 cửa bể, mỗi cửa bể có một thần sóng, chỗ nước cồn như núi rồi đổ xuống, thuyền bè đi qua hại nhiều. Tổ sư sai học tṛ bắn chết chín thần sóng, c̣n sót ba thần chưa trừ xong, xảy có việc phải vào coi Sùng Sơn, mới bỏ sót lại.

                    Bấy giờ vua Thần Tôn phải bệnh kỳ quái, có người cho là nhân quả kiếp sau vua Lư Thần Tôn, các quan lấy làm lo lắng. Đại nguyên súy là Thanh vương đă phải xin ngài nhường ngôi cho thái tử, để ở riêng một cung mà trị bệnh. Vài năm không thuốc nào khỏi. Nghe tin Tổ sư cao tay phù chú, sai sứ đón ra để trị bệnh. Tổ sư v́ tây nam có nhiều yêu khí, không thể đi được, sai học tṛ là Pháp bộ kim cương đi thay. Kim cương vào cung, vỗ ngực niệm chú, hơn một tháng th́ Thượng hoàng khỏi bệnh, mới cho lập riêng một trường nội đạo, để cho vinh hiển.

                    Kim cương trở về, đi qua làng Bố Vệ, trong làng đang họp uống rượu. Kim cương vô ư, đứng tiểu tiện ngay trước cửa đ́nh, bị tuần làng ấy bắt trói lại, van vỉ măi mới được tha. Kim cương trở đi, ngoảnh lại bắt một cái phộc quyết (1), tự dưng già trẻ ở trong đ́nh ôm cả vào cột, như người bị trói, giằng gỡ ra thế nào cũng không được. Cả làng kinh hăi, đuổi theo t́m Kim cương th́ không thấy đâu.

                    Việc ấy đến tai vua, vua biết là tự Kim cương, sai người vào nói với Tổ sư, Tổ sư bắt Kim cương phải giải cái quyết ấy rồi thu cả lấy các pháp bảo của Kim cương học được, chỉ cho vài quyết trừ tà mà thôi.

                    Đạo nội trường mới có từ đấy.


                    --------------------------

                    1: Bùa trói (BT).
                    Vạn Xuân

                    Comment


                    • #50
                      CHƯƠNG THỨ VIII: CÁC NGƯỜI CÓ DANH TIẾNG

                      NGÔ SOẠN



                      Ngô Soạn tự là Tử Văn, người huyện An Dũng, phủ Lạng Thương, có khí thái cương trực ghét kẻ gian phi, người ta thường khen là người có thẳng tính.

                      Cạnh làng ấy có một cái đền, xưa nay linh ứng lắm. Tự khi cuối nhà Hồ, quân Tàu sang xâm chiếm, ở xứ ấy làm nơi chiến trường. Có tên bộ tướng của Mộc Thạnh là Thôi Bách Hộ chết trận ở đấy thành ra yêu quái, dân gian lắm người khuynh gia bại sản để cầu cúng mà không yên.

                      Ngô Tử Văn thấy vậy tức lắm, tắm gội khấn trời mà đốt cái đền ấy. Tử Văn đốt xong trở về, nghe trong ḿnh hơi khác, rồi th́ rùng ḿnh nhức đầu, nổi cơn sốt rét mà người th́ mê mẫn bàng hoàng. Trông thấy một người to lớn lực lưỡng, đội mũ mặc áo, ra dáng người Tàu, tự xưng là Cư sĩ, bắt phải làm đền lại miếu khác, không có th́ sinh vạ.

                      Tử Văn không nói làm sao, cứ ngồi nghiễm nhiên như không.

                      Người Tàu nói rằng:

                      - Phong đô (âm ti địa ngục) chẳng xa ǵ đâu, nếu không làm lại đền cho ta, to sẽ lôi ngươi đến ngục ấy.

                      Nói đoạn đứng phắt đi ra.

                      Chiều hôm ấy Tử Văn lại thấy một người áo vải mũ thâm, cách điệu khoan ḥa, đi từ từ vào trong thềm, chào nói rằng:

                      - Tôi là Cư sĩ đây, nghe ông làm được việc sướng quá nên tôi đến mừng.

                      Tử Văn ngạc nhiên nói rằng:

                      - Mới rồi người mặc áo khách, tự xưng là Cư sĩ, có phải là thần thổ địa này không? Sao bây giờ cụ lại xưng là Cư sĩ.

                      Ông cụ ấy nói rằng:

                      - Hắn là tướng bại trận ở bên Tàu, hồn nhờ gửi bên nước Nam ta, chiếm lấy đền miếu của tôi mạo tên họ tôi, gian giảo độc ác, trên th́ man (1) cả trời, dưới ngược với dân, phàm các sự yêu quái, là tự hắn cả, chớ không phải tôi làm điều ǵ. Tôi là Ngự sử thời vua Lư Nam đế, chết v́ việc nước, được phong ở đây, giúp dân hộ chúng đă hơn ngh́n năm nay, có điều ǵ hung dữ như nó đâu. V́ tôi hở cơ không giữ ǵn, bị nó đánh đuổi đi, hiện tôi phải nương nhờ ở đền thần Tản Viên đă mấy năm nay rồi.

                      Tử Văn nói:

                      - Nếu như thế sao không kêu với Thiên đ́nh, mà chịu bỏ chức vị đi nhờ chỗ khác?

                      Ông già nói:

                      - Thế lực nó lai láng, khó ḷng lay động được nó. Tôi muốn đi kêu, th́ nó dùng trăm chiều ngăn trở tôi. Các thần từ (2) bên cạnh, tham của đút lót, tranh nhau đi nhận cho nó, bụng tôi không tỏ giải được lên, cho nên phải nhịn nhục thế này.

                      Tử Văn hỏi:

                      - Nó hung dữ thế, có hại được tôi không?

                      Ông già nói:

                      - Nó đang muốn cam tâm với ông, thế nào nó cũng kiện ở dưới âm ti. Tôi xin ḍ chuyện nó, lại bảo cho ông biết để mà t́m phương lo liệu, kẻo mà chết oan. Khi nào âm ti có tra hỏi, th́ ông cứ lấy lời tôi làm chứng, nó có không chịu, th́ xin hỏi đến đền Tản Viên, như thế th́ không căi được nữa.

                      Tử Văn vâng lời. Đến đêm, bệnh lại nặng thêm, mơ thấy hai tên quỉ sứ, bắt điệu đem đi đến một dinh phủ lớn, ngoài có tường sắt cao chừng vài mươi trượng. Hai tên quỉ sứ vào bẩm, rồi ra bảo rằng: “Tội anh nặng lắm, không có phép nào tha được”. Nói xong, vẫy tay xua sang mặt bắc. Mặt ấy, có con sông to, trên sông bắc một dịp cầu dài, ước hơn ngh́n bộ, sông đen như mực, mùi tanh hôi, khí lạnh buốt đến tận xương. Hai bên cầu có vài vạn quân dạ xoa, mắt xanh tóc đỏ mặt mũi dữ dội. Hai tên quỉ sứ lấy trạc to trói Tử Văn, điệu ra đường ấy.

                      Tử Văn kêu to lên rằng:

                      - Tôi là người thẳng tính trên dương gian, có tội lỗi ǵ, xin bảo cho biết, không nên bắt oan uổng thế này.

                      Sực nghe trên điện có tiếng truyền rằng:

                      - Thằng ấy nó cứng cổ lắm, nếu không phân đoán cho rơ tội, th́ sao nó chịu? Vậy th́ hăy đem nó vào đây.

                      Hai tên quỉ sứ mới dẫn Tử Văn vào cửa phủ, th́ đă thấy người áo khách đang kêu ở ngoài sân.

                      Diêm vương quở mắng Tử Văn rằng:

                      - Cư sĩ kia hắn là người trung thần đời trước, có công với nước. Thượng đế phong cho hắn được hưởng cúng tế ở một phương. Mày là thằng học tṛ, sao dám ngạo ngược mà đốt tiền của hắn? Thế là mày làm nên tội, c̣n căi được nữa không?

                      Tử Văn kể rơ lại sự đầu đuôi như lời ông già nói trước, rạch ṛi minh bạch, không lúng túng câu nào.

                      Người khách đứng nguyên đơn kêu rằng:

                      - Nó ở chốn vương phủ này, mà c̣n nỏ mồm căi cọ, gây sự phao vu, huống chi một cái đền hoang của tôi, th́ nó c̣n sợ ǵ mà chẳng đốt?

                      Tử Văn lại kêu rằng:

                      - Đại vương nếu không tin lời tôi, xin hỏi đến thần Tản Viên th́ đủ biết hư thực. Tôi nhược bằng nói sai, xin cam chịu tội.

                      Người khách thấy viện chứng đă có ư sợ, mới qú xuống tâu rằng:

                      - Thư sinh kia thực là ngây dại, tội là đáng lắm, nhưng điện hạ (3) đă quở mắng nó, cũng đủ răn nó rồi, vậy xin ngài rộng dong cho nó, để tỏ cái lượng nhân từ của ngài, bất tất phải tra cứu cùng kiệt làm ǵ nữa.

                      Diêm vương nghe nói, biết ư, mới quát lên rằng:

                      - Nếu như thế th́ tội tại mầy rồi đó, luật gian dối c̣n đủ cả đây, sao mày dám xuất nhập nhận tội?

                      Lập tức sai người đến núi Tản Viên xét hỏi tường tận, quả hợp hết cả lời Tử Văn.

                      Diêm vương giận lắm, bảo các phán quan rằng:

                      - Các ngươi chia giữ các ṭa, mỗi người coi một việc, nên phải cầm ḷng công b́nh, thưởng phạt cho đích đáng. Thế mà sao c̣n để cho bọn gian giảo nó khi trá được. Ấy là ở đây c̣n thế, huống chi dời Hán, Đường, bán quan mua tước, cái tệ c̣n nói làm sao cho xiết!

                      Lập tức sai lấy gông sắt đóng gông và lấy miếng gỗ tṛn nhét vào miệng người khách, áp điệu vào ngục cửu u, mà Tử Văn th́ sai tha cho về.

                      Diêm vương bảo với Cư sĩ rằng:

                      - Tử Văn kia nó có công trừ được hại cho dân, phàm các đồ cùng tế mồng năm ngày tết, ngươi nên xẻ một nửa mà chia cho hắn.

                      Tử Văn về đến nhà, th́ chết đă hai ngày rồi mới hồi lại. Tử Văn kể chuyện ấy cho người làng biết, người làng mua gỗ chữa lại đền Cư sĩ. Mà ngôi mả của người khách, tự nhiên trụt đất, xương cốt bật cả lên trên.

                      Sau một tháng nữa, Tử Văn lại mơ thấy Cư sĩ bảo rằng:

                      - Lăo phu được về miếu cũ, là công của ông cả, không biết lấy ǵ mà báo được ơn ấy. Hiện nay đền Tản Viên có khuyết một viên phán quan, tôi hết sức để bầu cử ông vào chức ấy. Diêm vương đă ưng cho rồi, xin đem việc ấy để báo cái ơn trước. Người ở đời xưa nay ai chẳng chết, nhưng chết mà tỏ được cái tiếng là hơn, vậy xin ông để ḷng cho, nếu chậm nửa tháng nữa th́ có người tranh mất đấy.

                      Tử Văn mừng rỡ nhận lời, dặn hết công việc cửa nhà, rồi tự nhiên vô bệnh mà mất.

                      Về sau, người huyện Đông Quan biết Tử Văn, một buổi sớm gặp khi mưa dầm, trông thấy quân quan trẩy đi đông lắm, mà có tiếng quát tháo dẹp đường để quan phán quan đi. Trông lên trên xe th́ là Tử Văn. Tử Văn cũng chắp tay có ư chào hỏi, như không nói câu ǵ, cứ đi ào ào như gió.

                      Đến giờ con cháu nhà ấy vẫn c̣n sự tích truyền lại.


                      ------------------------

                      1: Dối gạt (BT).
                      2: Đền thờ thần (BT).
                      3: Cách khiêm xưng ngôi thứ nhất (BT).
                      Vạn Xuân

                      Comment


                      • #51
                        CHƯƠNG THỨ VIII: CÁC NGƯỜI CÓ DANH TIẾNG

                        NHỊ KHANH



                        Từ Đạt người ở Khoái Châu (Hưng Yên), làm quan ở huyện Đông Quan. Gần đấy có quan Thiêm thư là Phùng Lập Ngôn. Hai người đi lại chơi bời với nhau thân thiết lắm. Phùng có con trai tên là Trọng Qú, Từ có con gái tên là Nhị Khanh, hai bên trai tài gái sắc, tốt lứa đẹp duyên, mới kết duyên Châu Trần với nhau.

                        Nhị Khanh tuy c̣n ít tuổi, nhưng về làm dâu nhà họ Phùng, hiền hậu hoà thuận, ai cũng khen là người nết na. Trọng Qú tính hay chơi bời, nàng kia khuyên ngăn măi không được.

                        Năm sau, gặp khi ở tỉnh Nghệ lắm giặc cướp, triều đ́nh cần một quan cai trị giỏi để bổ vào. Các đ́nh thần ghét Phùng Lập Ngôn là người thẳng tính, có ư muốn hại ngầm, mới cử Lập Ngôn vào chức ấy.

                        Lập Ngôn sắp đáo lị (1), bảo với Nhị Khanh rằng:

                        - Đường đất xa xôi, ta không muốn cho con đi theo, vậy th́ con hăy tạm ở nhà, đợi khi nào trời đất b́nh tĩnh, th́ sẽ cho con về với chồng con.

                        Trọng Qú thấy vợ không đi, có ư ngần ngại, cũng muốn ở nhà, Nhị Khanh bảo rằng:

                        - Nay nghiêm đường (2) v́ nói thẳng mà người ta ghét, tuy cất vào chỗ quan sang, mà kỳ thực đưa vào nơi đất chết. Muôn dặm ba đào, hai thân mưa nắng, chàng không đi th́ ai là kẻ sớm trưa hầu hạ? Vậy th́ chàng phải đi theo, chớ có v́ tôi mà bỏ mất đạo hiếu.

                        Trọng Qú bất đắc dĩ phải theo cha mẹ về Nghệ, để Nhị Khanh ở lại Đông Quan. Không được bao lâu, cha mẹ đẻ nàng Nhị Khanh mất cả. Nhị Khanh đem mả về táng ở phủ Khoái, rồi th́ ở nương nhờ với người bà cô họ là là Lưu thị.

                        Bấy giờ có người quan vơ họ Bạch, nguyên là cháu ngoại Lưu thị, thấy nàng Nhị Khanh có nhan sắc, muốn lấy làm vợ, nói với Lưu thị để dỗ hỏi nàng Nhị Khanh.

                        Nhị Khanh nghe t́nh sợ hăi lắm, bảo riêng với người vú già rằng:

                        - Ta c̣n nhẫn nhục đến giờ, là v́ vướng có chàng họ Phùng c̣n đó, nếu không c̣n th́ ta chết theo rồi, chứ không khi nào ta mặc áo xiêm của chồng ta, mà đi làm đỏm cho người khác, mụ ở nhà ta đă lâu, nên nhớ ân t́nh chủ cũ, vào Nghệ hỏi thăm gọi về cho ta.

                        Người vú vâng lời. Bấy giờ đang lúc loạn lạc đường sá khó khăn, mụ ấy cố sức t́m vào đến Nghệ, hỏi thăm th́ ai cũng nói rằng: “Quan Tuyên phủ Lập Ngôn đă mất rồi, gặp phải con trai chơi bời, cửa nhà sa sút mất cả”. Người vú đi đường, gặp Trọng Qú ở trong chợ. Trọng Qú đem về chỗ ở, th́ chỉ c̣n một túp nhà tranh, bốn bề bỏ trống, mà đồ đạc chỉ có cái bàn cờ, bộ ấm chén uống rượu, và con gà chọi, con chó săn mà thôi.

                        Trọng Qú bảo người vú rằng:

                        - Ta v́ đường sá xa xôi không sao về được, tuy ở chỗ này, nhưng lúc nào cũng nhớ đến nhà.

                        Người vú cũng nói cả chuyện đầu đuôi ở nhà.

                        Trọng Qú mới định ngày về. Khi về đến nhà, hai vợ chồng li biệt lâu ngày, nay lại xum họp, ân ái biết là dường nào. Nhưng Trọng Qú đă quen thói chơi bời với người lái buôn là Đỗ Tam. Trọng Qú th́ tham của nhà Đỗ Tam. Đỗ Tam th́ tham nhan sắc của vợ Trọng Qú, mới rủ nhau rượu chè cờ bạc, định lừa lẫn nhau.

                        Trọng Qú đánh bạc thường thường hay được. Nhị Khanh can rằng:

                        - Lái buôn tính hay lừa lọc, chớ nên chơi bời với hắn nữa, bây giờ tuy được của nó, rồi sau cũng thua hết với nó mà thôi.

                        Trọng Qú không nghe. Một hôm, Đỗ Tam họp bạn đánh bạc, bỏ ra trăm vạn quan tiền. Trọng Qú muốn vay. Đỗ Tam bắt phải viết giấy lấy nàng Nhị Khanh làm cuộc. Trọng Qú quen mui hay được, tưởng chừng chẳng đến nỗi thua nào, mới viết giấy cam kết với Đỗ Tam. Uống rượu rồi đánh bạc, Trọng Qú thua luôn ba tiếng, hết sạch cả tiền, gọi vợ bảo rằng:

                        - Tôi v́ nghèo ngặt, phải lụy đến nàng, nay đă trót lỡ thế này, dù hối lại cũng không kịp. Thôi nàng hăy ở lại đây với ông ấy, không mấy bữa tôi sẽ đem tiền đến chuộc.

                        Nhị Khanh biết thân không khỏi được về tay nó, mới nói rằng:

                        - Bỏ chỗ nghèo theo chỗ giàu, thiếp c̣n ngại ǵ, mà cũng là duyên trời tiền định, ví dù chàng mà có bụng yêu đến thiếp, th́ thiếp cũng xin hầu hạ chăn đệm như ở với chồng trước. Nhưng thiếp hăy xin một chén rượu, để biệt chồng cũ, và về nhà từ giă với con một đôi lời.

                        Đỗ Tam mừng lắm, sai rót vài chén rượu đưa cho, uống rồi về nhà ôm hai con ra vỗ vào lưng mà bảo rằng:

                        - Cha con bạc t́nh, không nương tựa được vào đâu, thôi th́ các con ở lại với cha con, mẹ không mặt mũi nào bỏ con mà đi với người khác nữa.

                        Nói rồi tự vẫn. Đỗ Tam chờ măi không thấy đến, cho người gọi th́ nàng ấy đă chết rồi. Trọng Qú thương tiếc vô cùng, tự bấy giờ mới ăn năn, chừa chơi bời, nhưng sinh kế mỗi ngày một kém, sớm tối nhờ người, nhân có người bạn cũ làm quan ở Qui Hóa, mới đem con sang đấy để nương nhờ. Đi đến nửa đường, mỏi mệt lắm, nghỉ ở dưới gốc cây bàng, bỗng nghe có tiếng trên không gọi rằng:

                        - Có phải chàng Phùng đấy không? Nếu chàng c̣n nhớ ân t́nh cũ, th́ đến ngày ấy chờ tôi ở trong đền bà Trưng Vương, chớ coi u minh (3) là khác.

                        Trọng Qú nghe rơ ràng tiếng nàng Nhị Khanh, ngẩng lên trông th́ chỉ thấy đám mây đen bay về phương bắc. Trọng Qú nghĩ lấy làm lạ, y hẹn đến ngày vào đền. Khi đến nơi th́ bóng chiều đă xế, phong cảnh đ́u hiu, chỉ có tiếng chim kêu ríu rít trên cây cổ thụ, t́nh cảnh buồn rầu, muốn về th́ trời đă tối, mới nằm nghỉ ở trong nhà tả mạc. Cuối canh ba nghe ti tỉ có tiếng khóc, trước c̣n xa sau đến gần, trông mập mờ thấy rơ mặt th́ chính là nàng Nhị Khanh.

                        Nhị Khanh bảo Trọng Qú rằng:

                        - Từ khi thiếp mất đi, Thượng đế thương t́nh cho giữ riêng một đền, coi về việc tấu sở, không lúc nào rỗi mà thăm được chàng. Bữa trước nhân có việc đi làm mưa, xảy gặp chàng cho nên gọi mà hẹn, nếu không có dịp ấy th́ không bao giờ được gặp nhau.

                        Trọng Qú hỏi:

                        - Nàng hẹn tôi đến đây có việc ǵ vậy?

                        Nhị Khanh nói:

                        - Thiếp thường được hầu cạnh Ngọc hoàng có nghe các tiên nói chuyện rằng: “Vận nhà Hồ đă hết, đến năm Bính tuất có việc binh đao, chết hại hơn 20 vạn người, ai mà không vun trồng cây đức, th́ sợ mắc vào nạn ấy. Bao giờ có chân nhân họ Lê khởi lên th́ mới yên”. Vậy chàng cố dạy hai con, phải vững ḷng mà theo ông ấy, th́ thiếp chết cũng được cái tiếng về sau.

                        Hai vợ chồng chuyện tṛ đến gần sáng mới biệt. Trọng Qú từ khi ấy hết sức dạy bảo hai con, cho đến lúc thành người. Đến khi vua Thái Tổ khởi nghĩa trong Lam Sơn, hai con mộ quân vào theo, về sau cùng làm đến Thị nội, bây giờ ở phủ Khoái, con cháu nhà ấy vẫn c̣n thịnh.


                        -----------------------

                        1: Ư nói lên tỉnh nhận nhiệm sở (BT).
                        2:Ư nói lên tỉnh nhận nhiệm sở (BT).
                        3: Cơi âm, nơi người chết ở (BT).
                        Vạn Xuân

                        Comment


                        • #52
                          CHƯƠNG THỨ VIII: CÁC NGƯỜI CÓ DANH TIẾNG

                          TẢ AO



                          Người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An, tên là Nguyễn Đức Huyên (có bản nói là Hoàng Chỉ). Nhân tên làng, cho nên tục gọi là Tả Ao. Lúc c̣n trẻ nhà nghèo lắm, mẹ phải bệnh ḷa mắt, Tả Ao mới theo người khách buôn ở phố Phù Thạch về Tàu, để lấy thuốc chữa mắt cho mẹ. Thầy thuốc khen là người có hiếu, mới dạy cho phép làm thuốc. Học thành nghề mới trở về, xảy có một thầy địa lư chính tông đau mắt, sai người mời thầy thuốc đến chữa, thầy thuốc già yếu không đi được, mới sai Tả Ao đi chữa thay. Thầy địa lư khỏi đau mắt, thấy Tả Ao có ư tứ khôn dễ dạy, và cảm cái ơn chữa khỏi cho ḿnh, mới truyền cho Tả Ao phép làm địa lư, Tả Ao học hơn một năm đă giỏi. Thầy địa lư muốn thử xem sức học làm sao, đổ cát làm ra h́nh sông núi, rồi yểm 100 đồng tiền xuống dưới cát, và cho Tả Ao 100 cái kim sai t́m huyệt mà cắm kim vào lỗ đồng tiền.

                          Tả Ao ngắm xem các huyệt, cắm trúng 99 cái kim vào 99 lỗ đồng tiền, chỉ sai mất một cái cắm ra ngoài.

                          Thầy địa lư nói rằng:

                          - Nghề ta sang phương Nam mất rồi!

                          Mới cho Tả Ao một cái tróc long và các câu thần chú hô thần để cho về nước Nam. Tả Ao vâng lời từ về; về đến nhà th́ mẹ vẫn c̣n mạnh, mới chữa thuốc cho mẹ khỏi ḷa.

                          Một khi, đi qua núi Hồng Lĩnh, trông lên xem, thấy có kiểu đất “cửu long tranh châu”, mừng mà nói rằng:

                          - Huyệt đế vương ở đây rồi!

                          Lập tức nhổ ngôi mộ của cha, cất vào huyệt trên núi. Không bao lâu sinh được một đứa con trai. Người Tàu xem thiên văn, thấy các v́ sao chầu cả về phương Nam, biết là người nước Nam được đất. Chính phủ Tàu truyền cho các nhà địa lư, ai để đất cho người An Nam, hoặc là dạy người An Nam, th́ phải sang nước Nam dùng thuật mà phá đi, nếu không th́ tru di cả ba họ.

                          Thầy địa lư trước, biết chắc là ông Tả Ao được đất mới sai con sang t́m đến nhà Tả Ao, lập mưu mà triệt đi.

                          Người ấy t́m đến nơi, vào chơi nhà mà bảo rằng:

                          - Từ khi đại huynh ở Tàu về, đă cất được ngôi tiên phần nào chưa?

                          Tả Ao nói thực cả chuyện trước. Con thầy Tàu mới dùng mẹo đào lấy ngôi mộ ấy, mà bắt đứa con của Tả Ao đem về Tàu.

                          Được ít lâu mẹ Tả Ao mất. Tả Ao t́m một ngôi đất ở ngoài băi bể, kén ngày kén giờ để hạ huyệt. Đến giờ, sóng gió ầm ầm, người anh Tả Ao giữ áo quan của mẹ, không cho hạ xuống, một lát sóng gió yên th́ ở đấy nổi lên thành băi rồi.

                          Tả Ao than rằng:

                          - Đây là hàm rồng đây, cứ 500 năm mới há miệng ra một lần, mà há chỉ trong một lát mà thôi. Bây giờ đă ngậm lại rồi, c̣n táng làm sao được nữa. Trời không cho th́ chỉ uổng mất công ta mà thôi.

                          Từ bấy giờ Tả Ao không chịu làm ăn ǵ cả, chỉ lang thanh đi làm đất cho người ta. Một bữa đi xem đất đến làng Bùi Sơn, huyện Hoằng Hóa, thấy có một huyệt đất hay, bèn bảo người ta rằng: “Có ngôi đất, táng giờ Dần đến giờ Măo th́ phát, nếu ai táng ngôi ấy tất được của, hễ ai chịu nhường cho ta một phần chia mười, th́ ta cho ngôi đất ấy”. Có một người xin táng, Tả Ao dặn đến sáng sớm mai th́ cất. Táng xong mặt trời mới mọc. Người ấy vác cuốc ra rửa chân ngoài sông, thấy một người chết trôi, nhân thể có cuốc, mới vớt lên chôn cho xác ấy, thấy trong bọc người chết có hai túi bạc, mở ra đếm th́ được 50 nén, mới biết Tả Ao là tài, biếu Tả Ao 5 nén, rồi Tả Ao đi.

                          Khi đến huyện Thanh Liêm lại t́m được một ngôi, bảo người ta rằng: “Đây có ngôi đất, chỉ táng trong một tháng th́ phát quận công, nếu ai cho ta 100 quan tiền, th́ ta táng cho”. Có một ông nhà giàu xin táng. Bấy giờ chúa Trịnh đang đánh nhau với nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Mạc Kinh Độ thua trận ở huyện Kim Bảng chạy trốn. Chúa Trịnh rao ai bắt được th́ thưởng cho làm quận công một đời. Ông nhà giàu ấy táng được 20 ngày rồi. Bỗng một hôm thấy có một người vào nhà bảo rằng: “Ta là Mạc Kinh Độ đây, cho ta đánh một bữa chén, ta sẽ làm ơn mà cho đem nộp lấy thưởng”. Ông nhà giàu mừng rỡ, làm cơm thết đăi. Mạc Kinh Độ ăn uống xong, cho trói ḿnh lại mà đem đến đồn Cầu Châu nộp cho chúa Trịnh. Chúa Trịnh lập tức thưởng cho làm quận công. Người ấy được thưởng tạ Tả Ao 100 quan tiền. Tả Ao chỉ lấy 3 quan để ăn đường, rồi đi chỗ khác.

                          Tự bấy giờ danh tiếng đồn khắp thiên hạ. Tả Ao đi chu du bốn phương, phàm 20 năm trời. Đi qua các huyện Gia B́nh, Từ Liêm, Đông Ngạn, Siêu Loại, Gia Lâm, táng cho nhà nào cũng được, lớn th́ làm đến Tiến sĩ, Thượng thư; nhỏ cũng làm nên giàu hùng trưởng. Kể ra nhiều lắm, không sao cho xiết.

                          Khi đi qua làng Thiên Mỗ, thấy có một ngôi đất to, muốn táng hộ cho nhà họ Trần. Vừa đặt tróc long xuống đất, tróc long đổ ba lượt. Tả Ao niệm phù chú gọi Thổ thần lên hỏi, th́ Thổ thần nói rằng: “Đất này phát ba đời quốc sư đại vương, con cháu công hầu không bao giờ hết. Trời đă để đành cho nhà Nguyễn Qui Đức; c̣n nhà họ Trần kia ít hồng phúc, không kham nổi được đất này; nếu ông làm cưỡng của trời th́ tất có vạ. Vả lại ông đi khắp thiên hạ, làm phúc cho người ta đă nhiều, mà không được ngôi nào để táng cho cha mẹ, ông nên nghĩ thế th́ biết”. V́ thế, Tả Ao từ bấy giờ không dám khinh thường để mả cho ai nữa.

                          Tả Ao sinh được hai con trai, nhà th́ nghèo mà làm đất không lấy tiền của ai, cho nên con cái thường không đủ bữa mà ăn. Khi đă già, t́m sẵn một ngôi đất sinh phần cho ḿnh, ở xứ Đồng Khoai, gọi là cách “Nhất khuyển trục quần dương” (nghĩa là một con chó đuổi đàn dê). Nếu táng được ngôi ấy, th́ chỉ ba ngày thành địa tiên. Đến lúc phải bệnh, sai hai con khiêng ḿnh ra đấy, toan phân kim lấy rồi nằm xuống cho chôn; nhưng đến nửa đường th́ đă gần chết, không kịp đến được chỗ kia, mới trỏ một cái g̣ bên cạnh đường, dặn con rằng: “Chỗ kia là ngôi huyết thực (nghĩa là được hưởng người ta cúng tế), bất đắc dĩ táng ngay ở đấy cũng xong”.

                          Nói xong th́ mất, bấy giờ mới 65 tuổi. Hai con đem táng vào g̣ ấy, quả nhiên về sau làm phúc thần một làng.

                          Địa lư xưa nay ở nước Nam, không ai giỏi bằng ông Tả Ao, thế mà chỉ làm phúc cho người, đến ḿnh th́ không sao làm được, mà con cái vẫn nghèo khổ, thế mới biết rằng câu tục ngữ nói: “Tiên tích phúc nhi hậu tầm long”.
                          Vạn Xuân

                          Comment


                          • #53
                            CHƯƠNG THỨ VIII: CÁC NGƯỜI CÓ DANH TIẾNG

                            NGUYỄN THỊ ĐIỂM



                            Thị Điểm người huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương (1), em gái ông Tiến sĩ Nguyễn Trác Luân. Lúc lên 5, 6 tuổi, học sách Hán Cao Tổ, anh có ra câu đối rằng:

                            “Bạch xà đương đạo; Quí bạt kiếm nhi trảm chi”.

                            Thị Điểm đối rằng:

                            “Hoàng long phụ chu; Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết”. (2)

                            Anh chịu câu ấy là tài, tự bấy giờ cho chuyên tập về nghề nghiên bút. Đến năm 15 tuổi, văn chương đă giỏi lắm. Một khi ngồi trước cửa sổ soi gương, anh ra câu đối rằng:

                            “Đối kinh họa mi; nhất điểm phiên thành lưỡng điểm”. (3)

                            Thị Điểm ứng khẩu đối rằng:

                            “Lâm tŕ ngoạn nguyệt; chích luân chuyển tác song luân”. (4)

                            Thái học Sinh là Đặng Trần Côn nghe tiếng Thị Điểm hay chữ, đưa thơ đến có ư muốn ghẹo.

                            Thị Điểm xem thơ cười nói rằng:

                            - Trẻ thơ mới học, thơ từ chẳng bơ ngứa tai!

                            Đặng Trần Côn tức giận trở về, cố công đi học, mới thành danh sĩ.

                            Bấy giờ tiếng Thị Điểm lừng lẫy chốn kinh thành. Các học tṛ hay chữ ai cũng muốn trêu ghẹo. Một hôm có Nguyễn Huy Kỳ ở Thụy Nguyên, Trần Danh Tân ở Cổ Am, Nguyễn Bá Cư ở Cổ Đô, Vơ Toại ở Thiên Lộc, bốn người ấy có tiếng hay chữ, người ta thường gọi là “Tràng an tứ hổ” (nghĩa là bốn con hổ ở chỗ Tràng an). Bốn người đến chơi tận nhà Thị Điểm, muốn thử làm thơ với nhau.

                            Thị Điểm ra câu đối rằng:

                            Đ́nh tiền thiếu nữ khuyến tân lang”. (5)

                            Bốn người không đối được, phải xấu hổ trở về.

                            Lại một khi Thị Điểm đi thủng thẳng một ḿnh, gặp quan Thượng thư là Nguyễn Công Hăng ở ngoài đường. Công Hăng bắt Thị Điểm vừa đi vừa ngâm một bài thơ: “Đi một ḿnh”.

                            Thị Điểm ngâm ngay rằng:

                            “Đàm đạo cổ kim tâm phúc hữu”, (6)
                            “Chu toàn tả hữu cổ quăng thần”. (7)

                            Công Hăng khen hay, thưởng cho 10 quan tiền.

                            Trong thời Long Đức (đời vua Thần Tôn nhà Lê), có sứ Tàu sang phong vương. Hoàng thượng sai Thị Điểm đứng chực ở ngoài của Đoan môn. Thị Điểm có ư muốn trêu ghẹo sứ giả. Sứ giả nói đùa một câu rằng:

                            “An Nam nhất thốn thổ; bất tri kỉ nhân canh?”

                            Thị Điểm đối rằng:

                            Bắc quốc đại trượng phu; giai do thử đồ xuất!” (8)

                            Sứ giả thẹn đỏ mặt rồi đi.

                            Thị Điểm kén chồng kỹ lắm, không ai lấy được. Ngoài 20 tuổi, mới lấy lẽ quan Thượng thư ở huyện Từ Liêm là Nguyễn Kiều. Hai vợ chồng quí trọng nhau như vàng.

                            Thị Điểm có làm ra bộ sách “Tục truyền kỳ” lưu truyền ở đời. (9)


                            ---------------

                            1: Đăng khoa lục cho là người B́nh Lao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tang thương lục cho là người Bắc Giang, chưa biết đích lời nào là phải.
                            2: Hai câu dùng chữ sẵn mà chọi nhau từng chữ, cho nên tài.
                            3: Nghĩa là soi gương vẽ lông mày, một nét hóa ra hai nét. Điểm là nét vẽ, lại là tên bà ấy, có ư một nàng Điểm hóa ra hai nàng Điểm nữa.
                            4: Nghĩa là cạnh sông xem bóng trăng, một vừng giống như hai vừng. Luân là vừng trăng, vừa là tên anh. Có ư một ông Luân thành ra hai ông Luân nữa.
                            5: Thiếu nữ một nghĩa là gió, một nghĩa là con gái nhỏ. Tân lang một nghĩa là cau, một nghĩa là rể mới. Câu này nghĩa là: Trước sân gió động cây cau và có thêm ư con gái nhỏ mời rể mới ăn trầu, cho nên khó đối.
                            6: Bàn bạc chuyện xưa nay, có người ḷng ruột.
                            7: Chung quanh bên tả hữu, có bầy tôi chân tay. Hai câu chững chạc, mà rơ là t́nh cảnh đi một ḿnh.
                            8: Nghĩa là: Một tấc đất An Nam, chẳng biết mấy người cày; đại trượng phu Bắc quốc, đều do đường này ra (BT).
                            9: Nguyễn Thị Điểm tức Đoàn Thị Điểm, tương truyền là người đă diễn “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn ra chữ nôm (BT).



                            ------ HẾT -----
                            Vạn Xuân

                            Comment

                            Working...
                            X