• Nếu bằng hữu muốn bàn thảo chung vui với các cao thủ trong Cốc th́ bằng hữu cần đăng kư danh tánh (bấm vào ḍng "đăng kư danh tánh" để bắt đầu ghi tên gia nhập.

Thông báo

Collapse
No announcement yet.

ĐỊA LƯ TẢ AO - Cao Trung

Collapse
X
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • ĐỊA LƯ TẢ AO - Cao Trung

    ĐỊA ĐẠO DIỄN CA


    TIỂU SỬ CỤ TẢ AO

    Cụ Tả Ao được tôn là Thánh Địa Lư Tả Ao là người Việt Nam thứ nhất học được khoa Địa lư Chính Tông ở Trung Quốc, và là thầy Địa lư giỏi nhất Việt Nam xưa kia. Tên cụ là Nguyễn Đức Huyên người làng Tả Ao Huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (Trung Việt).

    Cụ sinh vào thời vua Lê chúa Trịnh. Nhà nghèo, cha mất từ hồi c̣n nhỏ, mẹ ḷa. Cụ có một anh cũng nghèo, là người con có hiếu, thấy mẹ mù ḷa lúc nào cũng buồn, luôn luôn cầu mong, t́m được thầy thuốc hay, chữa cho mẹ khỏi.

    May thay gần nơi cụ ở có một thầy thuốc người Tàu chữa mắt rất giỏi. Nhiều người đau mắt đă lâu, mà sau một thời gian được thầy đó chữa trị, lại trông được.

    Có thầy hay nhưng chữa chạy rất tốn kém và nhà cụ nghèo không thể theo đuổi được việc thuốc thang. Cụ bèn nhất quyết xin phép mẹ đến giúp việc cho thầy chữa mắt này để học nghề và t́m cách chữa cho mẹ.

    Sau hai năm kiên tŕ làm việc để chờ thầy truyền nghề. Cụ được vị thầy thuốc này nhận xét là người có cơ trí, đức hạnh nên truyền cho ít phép chữa bí truyền. Tuy chưa phải là hoàn toàn giỏi, nhưng liệu sức có thể chữa cho mẹ khỏi nên cụ xin phép về săn sóc bệnh trạng của mẹ. Sau một thời gian chữa cho mẹ được khỏi ḷa, cụ trở lại chỗ thầy cũ tiếp tục học nghề chữa mắt và sau đó cụ theo thầy chữa mắt về Tàu tiếp tục học nghề và giúp đỡ thầy.

    Khi ông thầy già yếu, thấy cụ quán xuyến được mọi khách hàng cho ḿnh, liền đem nốt kinh nghiệm bí truyền dạy cụ.

    Gần đó có một thầy địa lư chính tông nhà giàu bị đau mắt không nh́n thấy ǵ, nhờ cụ chữa và hứa nếu chữa khỏi sẽ hậu tạ riêng cụ 50 lạng vàng. Sau khi chữa khỏi mắt cho thầy Địa lư, cụ không nhận tiền và chỉ năn nỉ xin dạy cho cụ khoa Địa lư.

    V́ ơn nghĩa nên thầy Địa lư dạy cụ Tả Ao khoa Địa lư chính tông của ḿnh.

    Sau nhiều năm thành tài, cụ xin về nước, Thầy Địa lư muốn thử sự hiểu biết của cụ, bèn làm một trăm mô h́nh đất kết trên một băi cát, dưới mỗi huyệt kết có yểm một đồng tiền, rồi đưa cụ 100 cây kim, bảo ra điểm huyệt.

    Cụ đă cắm được 99 cây kim vào 99 lỗ đồng tiền và một cây vào mép lỗ đồng tiền thứ 100.

    Cây kim mép lỗ đồng tiền thứ 100 này là một kiểu đất quá lớn rất nhiều h́nh thể khó khăn, ẩn áo.

    Thầy Địa lư chính tông thấy vậy than rằng: “Nghề Địa lư chính tông của ta đă được người Việt Nam học hết rồi.

    Cụ từ tạ thầy về nước tiếp tục chữa mắt làm phúc. Cụ từ chối rất nhiều việc để đất. Cụ chỉ làm những việc để đất rất hạn chế trong những trường hợp đặc biệt mà thôi, tuy vậy danh làm địa lư của cụ cũng nổi và được tôn là Thánh Địa lư. Người ta không gọi tên thực của cụ nữa mà chỉ gọi là cụ Tả Ao (tên làng Tả Ao của cụ ở huyện Nghi Xuân)

    H́nh như cụ Tả Ao không truyền nghề cho ai, xong có để lại cho đời sau 2 bộ sách Địa lư quư giá:

    1. Bộ Địa Đạo Diễn Ca có 120 câu văn vần, tức bộ này.
    2. Bộ Dă Đàm Tả Ao bằng văn xuôi


    Sách Địa lư của cụ phát xuất từ môn Địa lư chính tông nên đi từ căn bản lên phần chi tiết. Phần căn bản chú trọng t́m cho thấy Long chân Huyệt đích. Phần chi tiết nói cho thêm những điều phụ vào điều căn bản. Đi từ gốc đến ngọn bao giờ cũng ít lầm hơn đi từ chi tiết trở lại gốc; v́ vậy sách Địa lư của cụ được các cụ xưa kia cho là quư giá nhất.

    Trong sách có h́nh nhưng đưa lên đây thấy rắc rối quá nên chỉ đưa phần văn bản để ai thích th́ đọc.
    Vạn Xuân

  • #2
    LỜI NÓI ĐẦU

    Khoa Địa lư của Trung Hoa xưa kia, là khoa phối hợp thuyết âm dương, ngũ hành với sự quan sát cách thế, h́nh thể của các mạch đất cùng lối đi của sông ng̣i, suối, lạch mà t́m ra nơi có chứa tụ khí mạch của đất, dùng nơi đó làm đất kết.

    Họ quan niệm rằng nơi có đất kết, có thể chôn xương người chết nên nếu là kết âm phầm và có thể làm nhà, đ́nh chùa, lập doanh trại, thị trấn, đô thị lên trên nếu là đất kết dương cơ, để người sống được hưởng sự thịnh vượng phát đạt do tú khí của vùng đất có đất kết đó.

    Khoa Địa lư có từ lâu, sự lợi ích của đất kết đă được ông cha chúng ta tin tưởng và cả chúng ta cũng có nhiều người công nhận là đúng sử sách có ghi chép nhiều sự kiện chứng tỏ là khoa Địa lư có một giá trị nào ảnh hưởng đến đời sống con người.

    Câu ca dao: “Sống về mồ về mă chứ không ai sống về cả bát cơm” đă chứng minh sự quan trọng của khoa Địa lư với con người Việt Nam.

    Khoa địa lư, có một huyền thoại vàng son như vậy, tiếc thay đến nay đă gần như thất truyền, v́ phép Địa lư (tài liệu photo mờ) và man thư làm cho sai lạc đi nhiều. Lư do sự tàn tạ sa sút của khoa này trước tiên là người xưa thấy phép để đất có thể làm thay đổi được hạnh phúc của cả một ḍng họ th́ cho là quư và giữ bí truyền. Theo truyền thuyết khi xưa bên Tàu có một số ḍng họ nắm khoa Địa lư chính tông, giữ bí truyền, mỗi đời chỉ một hay hai người được biết bí pháp đó.

    Việc bí truyền khoa Địa lư chính tông, cũng như các khoa bí truyền khác ở Á Đông làm cho khoa đó mỗi ngày một mai một đi, do sự thất truyền hay sự ngu tối của truyền nhân. Trong khi đó th́ những kiến thức không có căn bản vững chắc về khoa đó lại được một số người đem thêu dệt cho văn vẻ một cách bừa băi để làm tài liệu cho những người ṭ ṃ và hiếu kỳ. Khoa Địa lư bị công phá và triệt tiêu do hai lư do trên cả ngàn năm liên tiếp nên ngày nay, một số lớn sách và thầy địa lư không c̣n có giá trị như xưa, kể cả những sách và thầy từ nước Trung Hoa qua.

    Ở Việt Nam, c̣n sót lại một thiểu số thấy giỏi v́ khổ công cân nhắc sau định rút kinh nghiệm về khoa này gần một đời người mới nhận ra thế nào là Địa lư chính tông và thế nào là man thư, đều có cùng một nhận định:

    “Chỉ có sách Địa lư của cụ Tả Ao là giản dị và đúng nhất. Nhưng tiếc thay sách này thất truyền từ lâu”. Căn cứ vào một số ít khẩu truyền về khoa Địa lư của cụ Tả Ao c̣n sót lại các cụ thấy chính xác, dễ học, dễ hiểu. So sánh nó với một số sách Địa lư rắc rối, mông lung của Trung Hoa đưa qua, các cụ khuyên: “Ngày nay muốn học Địa lư cho giỏi trước tiên phải kiếm cho được sách của cụ Tả Ao để có số vốn chính tông căn bản, rồi thực hành cho vững chắc, nhiên hậu mới có thể xem các sách địa lư của Trung Hoa mà bổ túc thêm, mới có kết quả.

    Từ năm 1946, tác giả, nhân những cuộc ngao du nhiều tỉnh từ Thượng Du đến Trung Châu Bắc Việt, có gặp một số thầy địa lư Tàu và Việt Nam, sẵn tính ṭ ṃ nên có t́m hiểu ít nhiều về khoa đó.

    Tác giả thấy sự hiểu biết về khoa địa lư của ḿnh rất hạn hẹp nên lưu ư nên t́m sách địa lư Tả Ao để bổ túc thêm. Việc cố công t́m kiếm luôn mấy chục năm chỉ thểm cho tác giả vài câu khẩu truyền Địa Lư Tả Ao và sự nuối tiếc sự thất truyền của bộ sách quư giá đó. Một sự t́nh cờ may mắn và ngoài ước muốn, cách đây trên hai năm tác giả một lần gặp được 3 bộ sách Địa lư quư giá nhất của Việt Nam là:

    1. bộ Địa đạo diễn ca Tả Ao (120 câu văn vần)
    2. bộ Dă Đàm Tả Ao (Văn xuôi)
    3. bộ Bí Thư Đại Toàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (chữ Hán)


    Sau khi nghiên cứu kỹ ba bộ sách trên dưới sự hết ḷng chỉ bảo của một số các vị cao nhân về khoa Địa lư, tác giả mới hiểu thế nào về khoa địa lư chính tông. Nó thật khác hẳn những phép mà các sách địa lư hiện nay tŕnh bày.

    Sách Địa lư Tả Ao chính tông nói thẳng đến phần gốc, phần căn bản, làm sao cho người học nó mau t́m đến Long chân huyệt đích trong khi các sách của Trung Hoa bán trên thị trường lại nói nhiều đến cái ngọn và bôi vẽ cho rắc rối khó hiểm thêm lên.

    Trong 3 quyển sách quư nêu trên th́ quyển Địa Đạo Diễn Ca là dễ xem nhất v́ nó chỉ có 120 câu thơ nôm nhẹ nhàng như ca dao. Tuy 120 câu thơ này mới xem giản dị, xong viết do một vị Thánh địa lư Việt Nam, nên sức hàm chứa của nó cũng phải có 1 giá trị đặc biệt nào cần phát huy cho hết dụng ư.

    Do đó, để lưu lại một cổ thư giá trị để người học nó đỡ mất th́ giờ t́m hiểu, nên tác giả cố công diễn giải 120 câu thơ này với dụng ư tŕnh bày như sau:

    - Không thêu dệt thêm những ǵ xa lạ.
    - Phát huy cho hết cái chân hàm súc của nó.

    Cách tŕnh bày như thế có thể không vừa ư những vị quá giỏi về khoa này hay những vị bị ảnh huởng của loại sách “Địa lư mê hồn trận” của Trung Hoa hiện đang bán trên thị trường.

    Tuy nhiên với mớ kiến thức đơn giản và chân thực của phần diễn giải 120 câu thơ nôm của Địa Đạo diễn ca Tả Ao này, chắc chắn trước tiên thỏa tính ṭ ṃ của người muốn t́m hiểu khoa học bí truyền khó hiểu xưa nay, sau nữa, số vốn sơ đẳng này dù ít ỏi đi nữa, cũng là cái kim chỉ nam chắc chắn cho những vị nào muốn khảo cứu sâu rộng hơn.

    Riêng về h́nh vẽ chúng tôi, cũng tŕnh bày một đường lối như phần diễn tải, là trong chân đích, dù thô sơ, hơn là chi tiết khó hiểu.

    Với mớ kiến thức địa lư cỏn con nhưng đích thực này, những vị tin tưởng khoa Địa lư cũng có một số vốn hiểu biết đủ để phân biệt thầy hay thầy dở. Nói đến thầy Đia lư chúng tôi cũng nêu lên đây mối tương quan giữa thầy Địa lư và người xin để đất, lấy một mẫu mực xưa kia, để các bạn có một căn bản mà linh động cho sự việc ngày nay.

    Thật ra, xưa nay, khoa Địa lư vẫn thuộc loại bí truyền. Nó có một ảnh hưởng lớn lao đến sự thịnh suy của cả một ḍng họ nên các thầy địa lư chân chính, có đạo tâm, rất thận trọng khong dám ai xin cũng để cho đất lớn, một là sợ tổn âm đức của ḿnh, hai là sợ chính kẻ thiếu đức đó bị hại v́ công danh tài lộc cao mà đức mỏng.

    Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ do Ân T́nh Nghĩa Lụy tạo nên:
    1. Ân: Thầy địa lư được họ cứu trong lúc hoạn nạn
    2. T́nh: Thầy đă sống chung với họ trong lúc hoạn nạn.
    3. Nghĩa: Họ có đại nghĩa với xă hội hay với thầy.
    4. Lụy: Thầy có nhờ vả họ nhiều lần về vật chất để làm ăn sinh sống.
    Ân và nghĩa là nặng được thầy lưu tâm kiếm cho đất lớn. Có thể cho cả hai họ nội ngoại, cho ḍng giỏi sau này được đồng thịnh vượng.

    T́nh và lụy th́ nhẹ hơn. Được thầy tùy duyên tùy phúc, có đất lớn cho lớn, có đất nhỏ cho nhỏ. Người phúc vừa phải, nếu kính trọng thầy cũng có thể được đất lớn, xong thầy luôn luôn ở bên cạnh khuyên nhủ chỉ bảo, cho họ tạo thêm đức, để được hưởng đất đó. V́ vậy các cụ xưa lo tạo phúc trước khi kiếm đất kết. Câu: Tiên tích Đức, hậu tầm Long là thế.

    Kiếm báu mong đến tay kẻ chí sĩ anh hùng hào kiệt th́ xưa nay những sách có tầm quan trọng cũng mong đến tay người tài đức.

    Chúng tôi phá bỏ đường lối giữ bí truyền sách quư th́ chúng tôi cũng cầu mong những vị nào đạt được chân lư của Địa lư, v́ sách này cũng dè dặt cân nhắc trước khi để đất. Nó như con dao sắc hai lưỡi, đúng th́ hay vô cùng, xong nhầm th́ hại cũng không phải nhỏ.

    Theo sự kinh nghiệm của các vị nghiên cứu loại sách có liên quan đến thiên cơ, đến sự huyền vi của vũ trụ như sách này th́ người càng có đạo, càng có tâm, càng vô tư, vô vị lợi, học nó càng mau đạt được chân lư.

    CAO TRUNG
    Vạn Xuân

    Comment


    • #3
      TỰA

      Của Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ giải nhất văn chương Tỉnh Việt Văn Đoàn 1960 – 1961.

      Ông Cao Trung có nhă ư nhờ tôi để tựa quyển “Dẫn Giải Địa Lư Tả Ao” của ông.

      Nhẽ ra, ông phải nhờ những nhà địa lư chuyên môn đề tựa cuốn sách này mới phải, nhưng ông lại muốn nhờ tôi, v́ xưa nay ông vốn dành cho tôi một tấm thịnh t́nh, nên tôi cũng nhận lời, là v́ muốn lấy thịnh t́nh mà đền đáp lại. Nơi đây, tôi không muốn nêu lên những vấn đề nan giải như khoa địa lư đúng hay sai, c̣n hợp thời hay không c̣n hợp thời. Bàn căi về những vấn đề ấy ngày nay, theo thiển ư tôi, vừa quá muộn, vừa quá sớm.

      Quá muộn, v́ mấy ngh́n năm nay, khoa địa lư đă có một tầm ảnh hưởng quan trọng, sâu xa vào trong đời sống dân gian Việt Nam, và không may ai phủ nhận giá trị nó.

      Quá sớm, v́ khoa học hiện thời cũng chưa đủ khả năng, đủ thẩm quyền để quyết đoán về giá trị của khoa địa lư. Biết đâu trong tương lại, với sự tiến triển của khoa học, khoa địa lư lại chẳng được sùng thượng trên hoàn vơ như khoa châm cứu hiện nay.

      Sở dĩ tôi nhận đề tựa sách này là v́ thấy tác giả tha thiết với những vấn đề có liên quan mật thiết với nền văn hóa cổ truyền đông phương chịu lặn lội t́m ṭi học hỏi, sưu tầm kỳ thư, bảo điển.

      Nhờ sự tha thiết t́m cầu ấy, mà ông đă t́m ra được cuốn “Địa đạo diễn ca” của cụ Tả Ao.

      Khoa địa lư, trước mắt thế nhân, vốn là một khoa học bí truyền, khó học, khó biết. Thế mà cụ Tả Ao chỉ tóm lại trong có 120 câu thơ, vừa lục bát, vừa song thất lục bát, với một lối hành văn b́nh dân, giản dị. Thực là một kỳ công. Tuy nhiên, hiểu được 120 câu thơ không phải dễ.

      Giúp ta hiểu tập Địa Đạo Diễn Ca của cụ Tả Ao chính là công tŕnh của ông Cao Trung. Sau nhiều năm suy tư và nghiên cứu, tác giả đă dùng phương pháp khoa học để tŕnh bày, phân tích, giải thích, các lời lẽ trong quyển Địa Đạo Diễn Ca một cách sống động.

      Ông lại có những sơ đồ để tŕnh bày về các thế đất cát một cách hết sức giản dị, mạch lạc. Chúng ta chỉ cần để một ít giờ là có thể đọc hết quyển sách và có thể thâu lượng được nhiều kiến thức.

      Tóm lại, tôi muốn viết mấy hàng để giới thiệu với độc giả một kư thư, đó là quyển Địa Đạo Diễn Ca của cụ Tả Ao, và một công tŕnh biên khảo giá trị của tác giả Cao Trung.

      Chúc tác giả thâu lượm được nhiều thành quả tốt đẹp trên con đường sưu tầm, khảo cứu, và ước mong quyển sách này gặp được sự hoan nghênh của các vị độc giả.

      Sài g̣n ngày 7/7/1969
      Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ chuyết đề
      Vạn Xuân

      Comment


      • #4
        NGUYÊN VĂN ĐỊA ĐẠO DIỄN CA CỦA CỤ TẢ AO


        1. Mấy lời để truyền hậu thế
        2. Ai học địa lư theo học Tả Ao
        3. Một là hay học càng cao
        4. Hai là cố ư, cứ lời phương ngôn
        5. Ba là học thuộc Dă Đàm
        6. Bốn là mở sách La Bàn cho thông
        7. Chẳng qua ra đến ngoài đồng
        8. Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường.
        9. Mạch có mạch âm, mạch dương.
        10. Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh
        11. Sơn cước mạch đi rành rành.
        12. B́nh dương mạch lần, nhân t́nh không thông
        13. Có mạch qua ao, qua sông
        14. Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non.
        15. Lại có mạch phát ngôi dương
        16. Nh́n xem cho tường, ấy mạch làm sao?
        17. Mạch thô đi chẳng khép vào
        18. Vốn đi một chiều ấy mạch phát dương
        19. Ba mươi sáu mạch cho tường
        20. Trước là cứ sách, sau y lời truyền.
        21. Ruộng cao uốn xuống th́ mạch táng trên.
        22. Ruộng thấp uốn lên th́ mạch táng dưới.
        23. B́nh dương mạch chẳng nề châm gối
        24. Hề chính long th́ tả hữu chiều
        25. Đâu có chính long th́ có sơn thủy gối kề
        26. Nhưng trên sơn cước non cao
        27. Cường long thô mạch, thế nào mới hay?
        28. T́m nơi mạch nhược long gầy.
        29. Nhất thời oa huyệt, nhi thời tàng phong
        30. Đất có cát địa chân long.
        31. Táng cho phải phép anh hùng giàu sang
        32. Nọ như dưới đất b́nh dương
        33. Mạch thính giác điền xem tưởng mới hay
        34. B́nh dương lấy nước làm thầy
        35. Thứ nhất khai khẩu thứ nh́ ngũ long
        36. Thứ ba mạch thắt cổ bồng.
        37. Thứ tư sơn chỉ hồi long càng tài
        38. Muốn cho con cháu tam khôi
        39. Phương Nam có bút phương Đoài có nghiên.
        40. Muốn cho con cháu Trạng Nguyên.
        41. Thời t́m bút lập hai bên sắp bày
        42. Nhất là Tân, Tốn mới hay
        43. Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bày đột lên.
        44. Bút lập là bút Trạng Nguyên.
        45. Bút thích giác điền là bút thám hoa
        46. Nh́n xem cho kỹ sẽ là đất hay.
        47. Khuyên ai học làm thầy Địa lư
        48. Trước phải đọc sách, sau là lượng cao.
        49. Dù ai khôn khéo thế nào
        50. Học mà chẳng xét ấy là vô tông
        51. Thắt cỏ bồng phồng ra huyệt kết.
        52. Xem cho biết Mộc tiết Kim loan
        53. Mộc tiết văn đỗ Trạng Nguyên.
        54. Kim loan vơ được tước quyền Quận Công.
        55. Con Mộc vốn ở phương đông.
        56. Con Kim vốn nó về ḍng phương tây.
        57. Xem cho biết nó mới hay
        58. Táng cho phải phép thực dày vinh hoa.
        59. Thắt cuông cà phi ra mới kết.
        60. Xem cho biết huyệt cát huyệt hung.
        61. Huyệt cát nước tụ vào ḷng.
        62. Đôi bên Long, Hổ uốn ṿng chiều lai
        63. Huyệt hung Minh Đường bất khai
        64. Sơn tà thủy Sạ hướng ngoài tà thiên.
        65. Táng xuống kính sảng bất yên
        66. Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau.
        67. Muốn cho con cháu sống lâu.
        68. T́m nơi Huyền Vũ đằng sau cao dày.
        69. Long Hổ bằng như chân tay
        70. Chẳng có Tả, Hữu bằng ngay chẳng lành.
        71. Ḱa như đất có ngũ tinh.
        72. Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn
        73. Muốn cho con cháu nên quan
        74. Th́ t́m Thiên Mă phương Nam đứng chầu.
        75. Muốn cho kế thế công hầu
        76. Th́ t́m cờ trống dàn chầu hai bên.
        77. Ngũ tinh cách tú chiều nguyên
        78. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa bốn bên loan hoàn.
        79. Thổ tinh kết huyệt trung ương.
        80. Ấy đất sinh Thánh sinh Vương đời đời
        81. Thiên sơn vạn thủy chiều lai
        82. Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh
        83. Nhị thập bát tú thiên tinh.
        84. Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai.
        85. Ngôi Đế Vượng mặc Trời chẳng dám.
        86. Huyệt công khanh chẳng kiếm ai cho.
        87. Đất khai hoa nh́n xem cho kỹ
        88. Thấy th́ làm chớ để lưu tâm
        89. Trên sơn cước xa xăm cũng táng.
        90. Dưới b́nh dương nửa tháng cũng đi
        91. Minh sinh, ám tử vô di.
        92. Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn.
        93. Quả nhiên huyệt chính long chân
        94. Tiêu sa, nạp thủy chớ lầm một ly
        95. Táng chi phúc lư tuy chi.
        96. Trâm anh bất tuyệt thư thi gia truyền.
        97. Muốn cho con trưởng phát tiên.
        98. Th́ t́m long nội đất liền quá cung.
        99. Thanh long liên châu cao phong.
        100. Kim tinh, thổ phụ, phát ḍng trưởng nam.
        101. Con gái về bên hổ sơn
        102. Hổ cao th́ phát, sơn bàn cho thông.
        103. Phản hổ con gái lộn chồng.
        104. Phản long trai nó ra ḷng bất nhân.
        105. Vô long như người vô chân.
        106. Vô hồ như đứa ở trần không tay.
        107. Trong Long - Hổ lấy làm thầy trước.
        108. Sau sẽ t́m thấy chỗ huyệt chôn
        109. Nước chẳng tụ được kể chi
        110. Kiếm ăn cũng khá xong th́ lại không
        111. Con trai th́ ở bất trung
        112. Con gái thất tiết chả dùng cả hai.
        113. Thấy đâu Long Hổ chiều lai.
        114. Minh Đường thủy tụ huyệt tài mới hay.
        115. Tiền quan, hậu quỷ sắp bầy.
        116. Án dày muốn thấp, chiều dày phải cao.
        117. Xem huyệt nào làm cho phải phép.
        118. Chớ đào sâu mà thiệt như không.
        119. Ḱa ai Địa lư vô tông.
        120. Chẳng cứ đúng phép cũng ḍng vô tư.
        Vạn Xuân

        Comment


        • #5
          CHƯƠNG THỨ NHẤT:

          ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ HỌC KHOA ĐỊA LƯ


          1. Mấy lời để truyền hậu thế
          2. Ai học địa lư theo học Tả Ao
          3. Một là hay học càng cao
          4. Hai là cố ư, cứ lời phương ngôn
          5. Ba là học thuộc Dă Đàm
          6. Bốn là mở sách La Bàn cho thông
          7. Chẳng qua ra đến ngoài đồng
          8. Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường.


          (1)Theo cụ Tả Ao th́ muốn học cho giỏi khoa Địa lư phải học 4 cách:

          (2)Một là phải luôn luôn học hỏi cho mỗi ngày một tiến thêm lên.

          (3) Một là hay học càng cao
          Hai là phải suy ngẫm cho kỹ những lời lẽ giản dị của Địa Đạo Diễn Ca này. Mới nghe nó nhẹ nhàng như ca dao, phương ngôn xong hàm chứa rất nhiều căn bản của khoa Địa lư.

          (4) Hai là có ư cứ lời phương ngôn
          Ba là sau khi hiểu kỹ những cơ bản về phép Tầm Long ở 120 câu Địa Đạo Diễn Ca này th́ học đến quyển Dă Đàm Địa Lư Tả Ao để phép điểm huyệt được giỏi.

          (5) Ba là học thuộc Dă Đàm
          Bốn là phải biết dùng La bàn cho giỏi.

          (6) Bốn là mở sách la bàn cho thông
          La bàn là cái địa bàn của các thầy địa lư, cái nhỏ gọi là Tróc Long và lớn là La Kinh hay la bàn.

          Địa bàn này h́nh tṛn như cái đĩa, chính giữa có một kim chỉ nam và xung quanh có vẽ nhiều ṿng, mỗi ṿng chia ra làm nhiều ô. Trong ṿng có ghi chữ và mỗi ṿng dùng vào công việc khác nhau. Người mới học chỉ cần dùng 3 ṿng là:

          1. Ṿng thiên bàn
          2. Ṿng địa bàn
          3. Ṿng nhân bàn. Sau học giỏi có thể dùng (tài liệu photo mờ)

          Ṿng giữa là nhân bàn, dùng vào việc tiêu sa để xem sa nào tốt, sa nào xấu.

          Cả 3 ṿng đều được chia ra làm 24 ô, th́ mỗi ô có 15 độ, v́ một ṿng tṛn là 360 độ. Các chữ trong 3 ṿng đều giống nhau nó chỉ khác nhau ở chỗ nếu lấy ṿng trong cùng, ṿng địa bàn làm đích th́ ṿng thiên bàn lệch sang bên phải nửa ô và ṿng nhân bàn lệch sang trái nửa ô.

          Những chữ đề trong 24 ṿng đó th́:

          Chính Đông trùng vào chữ Măo.
          Chính Tây trùng vào chữ Dậu.
          Chính Nam trùng vào chữ Ngọ.
          Chính Bắc trùng vào chữ Tư.

          Nếu kể theo chiều kim đồng hồ quay (chiều thuận) từ Măo trở đi ta có 24 chữ như sau:

          Măo Ất Th́n Tốn Tỵ Bính Ngọ Đinh Mùi Khôn Thân.
          Canh Dậu Tân Tuất Càn Hợi Nhâm Tư Quư Sửu Cấn Dần Giáp.

          Nếu phân làm tám hướng th́:
          1. Đông có Giáp Măo Ất.
          2. Đông Nam có Th́n Tốn Tỵ
          3. Nam có Bính Ngọ Đinh 4.
          Tây Nam có Mùi Khôn Thân
          5. Tây có Canh Dậu Tân
          6. Tây Bắc có Tuất Càn Hợi
          7. Bắc có Nhâm Tư Quư
          8. Đông Bắc có Sửu Cấn Dần.

          Nếu phân tích 24 hướng này ta lại thấy có 12 hướng thuộc địa chi là: Tư, Sửu, Dần, Măo, Th́n, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

          8 hướng thuộc Thập can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quư. 4 hướng thuộc bát quái là: Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Rồi cụ Tả Ao nhấn mạnh về sự quan trọng của thực hành Tầm long trong khoa địa lư:

          (7) Chẳng qua ra đến ngoài đồng
          (8) Tỏ mạch tỏ nước tỏ ḷng mới tường.

          Những người học được sách địa lư chính tông cũng đă là hay lắm rồi. Tuy nhiên học ở sách mới là học lư thuyết mà không thực hành bổ túc th́ lư thuyết đó cũng không đạt được kết quả cụ thể.

          Trong khoa học Địa lư người ta chia ra làm hai phần là Loan đẩu và lư khí. Loan đẩu là phép tầm long hay nói cho rơ hơn là phép t́m xem ở đâu có huyệt tràng (chỗ có huyệt kết). Phép này nặng về thực hành.

          Lư khí là phép quyết định ảnh hưởng kết quả của huyệt kết; Văn, vơ, phú, quư, thọ, cao hay thấp, chóng hay chậm. Phép này nặng về lư thuyết hơn phép Loan Đẩu.

          Trong khoa địa lư phép Tầm long là căn bản v́ nó là phép thực hành đi t́m long mạch ở ngoài đồng. Tầm long là phép xem h́nh thể đất đai lồi lơm, đốn khởi mà t́m làm sao cho tới huyệt tràng là nơi có đất kết. Không phải chỉ xem sách xong ra ngoài đồng là biết Tầm long ngay. Thực ra sách chỉ có thể cho ta một số yếu tố cần thiết. Muốn giỏi phải thực hành đi t́m long mạch ở ngoài đồng, ngoài trời một thời gian lâu nữa mới thấu hiểu được.

          (7) Chẳng qua ra đến ngoài đồng.
          Địa lư là một khoa học cũng như cách khoa học khác, mà việc thấu hiểu một khoa học nào cho kỹ lưỡng không ngoài phép phân tích và tổng hợp.

          Ngay học Tầm Long ở ngoài đồng cũng thế, trước tiên ta phải biết phân tích rồi sẽ tổng hợp sau. Việc Tầm long ta phải biết phân tích đâu là đại cuộc, đâu là tiểu cuộc, thế nào là Thái Tổ Sơn, Thiếu Tổ Sơn, Long đi như thế nào, nước chảy, làm sao. Chỗ nào long nhập thủ, đâu là huyệt tràng, huyền vũ, thanh long, bạch hổ, án, sa, minh đường, thủy khẩu. Thế long sinh hay tử, cường hay nhược v.v...

          Cũng nên định nghĩa những danh từ địa lư này để dễ phân tích.

          Đại cuộc là đại thế của đất bên trong có nhiều tiễn cuộc.

          Thái tổ sơn: Thái Tổ Sơn của tất cả các cuộc đất trên thế giới là núi Hy Mă Lạp Sơn. Từ Thái Tổ Sơn phân chia ra làm các Tổ Sơn hoặc Thiếu Tổ Sơn ở các nơi khác.

          Chính những Thiếu Tổ Sơn này dẫn mạch vào huyệt kết.

          Long mạch: Long mạch là mạch đất chạy trên mặt đất trong có khí mạch (cũng như cành cây trong có nhựa cây). Long có thể đi cao như những dăy đồi núi và cũng có thể đi rất thấp, nó là những thớ ruộng có khi chỉ cao độ 4 phân tay.

          Nước: Nước từ long chảy ra lại chạy theo nuôi dưỡng và hộ vệ long. Những chỗ có nước tụ có khi là minh đường và có khi chỉ là hộ tống thủy (nước dẫn long).

          Long nhập thủ: long mạch cho chạy băng qua rừng núi, đồng bằng đến chỗ nào nhập thủ là kết huyệt ở đó.

          Huyệt tràng: Là một khu chỗ ấy là huyệt kết.

          Huyền vũ: Thế đất đàng sau huyệt trường trước khi đến huyệt trường

          Thanh long: Thớ đất ở bên trái huyệt mọc ra ôm chầu vào huyệt.

          Bạch hổ: Thớ đất ở bên phải huyệt mọc ra ôm chầu vào huyệt.

          Án: Đất nổi lên trước mặt huyệt, hộ dỡ cho huyệt. Án với huyệt như bàn giấy trước mặt người ngồi.

          Sa: là các g̣ đống, chứng ứng nổi lên, hiện ra, xung quanh huyệt (kể cả trước lẫn sau huyệt). Sa là nói chung: bút, bảng, chiêng, trống, voi, ngựa, kiếm, ấn...

          Thủy khẩu: Nơi nước đến Minh Đường và nơi nước từ Minh Đường đi.

          Minh đường: Nước tụ trước huyệt để nuôi dưỡng khí mạch của huyệt kết.

          Long sinh: Long mạch sống động, trông nó ḅ ngoằn ngoèo, quay đầu, vẫy đuôi như con thú, con rắn sống, đang ḅ.

          Long tử: Long mạch nằm ngay đơ, đuồn đuỗn như con lươn, con cá chết.

          Long cường: Long mạch nổi lên to lớn, đứng hùng vĩ ngạo nghễ.

          Long nhược: Long mạch nhỏ nhắn, dài sắc thái thư thả, ung dung.

          Phân tích ra chi tiết th́ như thế, nhưng nếu hiểu thấu đáo rồi mà tổng hợp lại th́ rất giản dị. Cái ǵ có nước là thủy và cái ǵ có thớ đất là long. Long đi mạch đi theo, long chỉ khí mạch tụ lại.

          Do đó cụ Tả Ao đă tổng hợp tất cả các chi tiết mà ta cần biết về phép học Tầm Long ở ngoài đồng vào một câu:

          (8) Tỏ mạch tỏ nước, tỏ long mới tường.
          Nom đất th́ khó biết long đi cách nào. Nên phải mượn nước theo chiều nước chảy từ cao đến thấp th́ biết thế long đi. Nếu nước hai bên dừng lại mà gặp nhau th́ biết long đ́nh. Mà long đ́nh th́ khí chỉ tụ lại đó mà kết huyệt.
          Vạn Xuân

          Comment


          • #6
            CHƯƠNG THỨ HAI


            TẦM LONG MẠCH




            (9) Mạch có mạch âm mạch dương

            (10) Mạch nhược mạch cường mạch tử mạch sinh

            (11) Sơn cước mạch đi rành rành

            (12) B́nh dương mạch lẫn nhân t́nh khôn thông

            (13) Có mạch qua ao qua sông

            (14) Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non

            (15) Lại có mạch phát ngôi dương.

            (16). Nh́n xem cho tường ấy mạch làm sao

            (17) Mạch thô đi chẳng khép vào

            (18) Vốn đi một chiều ấy mạch phát dương.

            (19) Ba mươi sáu mạch cho tường

            (20) Trước là cứ phép sau y lời truyền.



            Chương trên cụ Tả Ao mở đầu phép Tầm long cho ta bằng phương pháp phân tích và tổng hợp. Phân tích th́ đi đến chi tiết c̣n tổng hợp th́ thu các chi tiết về hai chữ nước và long mạch. Đến đây cụ Tả Ao bắt đầu dạy ta phép nhận xét các loại long mạch.

            1. Trước tiên và dễ nhất là ta phải phân biệt long mạch hay mạch ra làm hai loại khác nhau là mạch dương và mạch âm.

            (9). Mạch có mạch âm mạch dương

            Mạch ở dưới đồng bằng phần nhiều đi thấp, được gọi là mạch dương.

            C̣n ở trên sơn cước đi theo các núi đồi cao lớn được gọi là mạch âm.

            2. Những mạch âm và mạch dương đó lại được phân chia theo h́nh thể trạng thái hùng vĩ hoặc thanh nhă linh động hoặc ngay đơ ra làm 4 yếu tố:

            1. Mạch cường

            2. Mạch nhược

            3. Mạch sinh

            4. Mạch tử.

            1. Thế mạch hùng vĩ cao to lớn, thủy đầu được gọi là mạch cường.

            2. Thế mạch thanh nhă, nhọn dài được gọi là mạch nhược.

            3. Thế mạch đi như con thú quay đầu vẫy đuôi, linh động gọi là mạch sinh.

            4. Thế mạch đi đuồn đuỗn ngay đơ, như con cá chết gọi là mạch tử.

            Bốn mạch trên gồm vào câu:

            (10). Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh

            3. Trên sơn cước hay dưới b́nh dương cũng đều có mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh, tuy nhiên trên sơn cước v́ mạch cao lớn hơn hơn trông rơ hơn, c̣n dưới b́nh dương mạch đi thấp hơn, nên khó xem hơn. Nhiều mạch b́nh dương chỉ cao độ 4 phân tay, gần như là lẫn xuống băi, lại càng khó xem hơn nữa.

            (11) Sơn cước mạch đi rành rành

            (12) B́nh dương mạch lẩn nhân t́nh khôn thông

            4. Những mạch không những chỉ chạy trên sơn cước hay đồng bằng mà nó c̣n có thể chạy qua ao, qua sông, qua núi, lặn xuống dưới băi, rồi đến quăng thật xa, mới nổi lên đi nữa. Lại có cả những mạch lặn xuống đầm hay xuống biển, hay qua bên kia biển hoặc đầm, rồi lại nổi lên đi nữa.

            (13) Có mạch qua ao qua sông

            (14) Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non

            Với loại mạch đang đi lặn, xuống một quăng xa mới nổi lên đi nữa, đă làm cho những người tưởng lầm cho là long đến độ là hết không đi nữa (long chỉ) vội t́m huyệt. Nhất là qua mạch chạy đến chỗ có nước, lặn xuống rồi qua bên kia, đi nữa, lại
            càng làm cho nhiều người tưởng lầm hơn v́ nó hội đủ điều kiện cần thiết cho một đất kết, là Long đ́nh khí chỉ và thủy tụ.

            Tuy nhiên với con mắt nhà phong thủy, có căn bản vững chắc, vẫn không lầm được.

            Bởi v́ một đất kết th́ long đ́nh, khí chỉ, thủy tụ chỉ là điều cần chứ chưa phải là điều đủ.

            Thật ra một kiểu đất kết phải hội đủ nhiều điều kiện nữa, như phải có long, hổ, án, chẩm quân b́nh phương chính: rồi nơi huyệt trường phải khai huyệt như: Oa, kiềm, nhũ, đột (oa có oa đứng và oa nằm). Đó mới là nói về mạch c̣n về nước th́ một khi long c̣n đi nước hay phân ra, rồi khi đến huyệt kết, thủy lại phải hợp lại tại Minh đường của huyệt mới đúng. Có khi chỗ nước tụ thành đầm, ao, hồ làm ta cứ tưởng là minh đường của huyệt lớn. Nhưng có khi, trái lại, nó chỉ có huyệt nhỏ hay không có huyệt. Chỗ nước tụ đó chỉ là cái đại dịch thủy của một đại cán long. Ta gọi nó là hộ tống thủy.

            Lấy ǵ mà biết nó là hộ tống thủy?

            Khi nào bên cạnh một cái đại cán long (cành lớn của long) có đầm ao, hồ mà ở đó lại phát ra nhiều suối, lạch hay sông ng̣i, đi nhiều chiều khác nhau, th́ nó chỉ là hộ tống thủy. Cái khác là minh đường th́ các ngọn nước chảy về, c̣n hộ tống thủy th́ nước từ đó chảy đi nhiều đường. Ta càng chắc là hộ tống thủy nữa, khi ở bên kia chỗ thủy tụ lại bật lên g̣, đống, thớ đất cao, rồi hai bên có phân thủy, chia ra hai ḍng để chảy giáp bên thân long.

            5. Đă biết phân biệt mạch sơn cước và mạch b́nh dương bằng cách mạch sơn cước th́ cao lớn và mạch b́nh dương th́ thấp khó thấy, nhưng chúng ta cũng phải biết phân biệt:

            Mạch dương cơ và

            Mạch âm phần.

            Thật vậy, những ngôi đất kết có ngôi chỉ phát về âm phần (để mả) lại có ngôi đất chỉ phát về dương cơ (làm nhà). Đất phát âm phần, lợi cho sự chôn xương xuống đất và đất phát dương cơ, lợi cho sự làm nhà lê trên Đất dương cơ nhỏ, dùng làm nhà; c̣n to rộng lợi cho làm doanh trại, rộng nữa lợi cho làm thị trấn, đô thị hoặc kinh đô.

            Muốn biết giá trị của đất dương cơ ta hăy minh chứng một sự kiện lịch sử, liên quan đến nó:

            Trừ nhà Hùng Vương được đất quá lớn ra th́ sau đó, nhà Đinh và Tiền Lê trở về trước, những Triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi, không được tới ba đời, nên Quốc Sư Vạn Hạnh phải t́m một đại địa khác làm Kinh đô. Đó là Thăng Long hay Hà Nội. Lư Công Uẩn nghe theo, rời Kinh Đô về Thăng Long nên nhà Lư làm vua được 8 đời: và sau đó nhà Trần và Hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại địa đó làm Kinh Đô, nên bền vững lâu dài hơn.

            Ta hăy lại quay về Tả Ao. Cụ Tả Ao nói có hai loại đất kết: một loại cho để xương người chết, và một loại cho người sống ở, bằng hai câu:

            (15) Lại có mạch phát ngôi dương

            (16) Nh́n xem cho tường ấy mạch làm sao

            Giờ ta xem thế nào mà biết là mạch phát dương (hay dương cơ):

            (17) Mạch thô đi chẳng khép vào

            (18) Vốn đi một chiều ấy mạch phát dương

            Như vậy mạch phát dương là mạch khi nhập thủ không thắt nhỏ lại rồi mới ph́nh ra như mạch nhập thủ của âm phần. Trái lại mạch phát dương cơ trông thô hơn, cứ thế đi đến đất kết.

            6. Nguyên về mạch từ khúc 1 đến khúc 5 kể trên, cụ Tả Ao đă cho ta biết nhiều thứ long mạch.

            Khúc 1 ta thấy nói đến mạch âm và mạch dương.

            Khúc 2 nói về mạch cường, mạch nhược, mạch sinh, mạch tử.

            Khúc 3 cũng nói về mạch sơn cước và mạch b́nh dương.

            Khúc 4 nói về mạch băng qua núi, non, đầm, ao, sông.

            Khúc 5 nói về mạch phát dương cơ và mạch phát âm phần.

            Đến đây cộng tất cả các loại mạch đă kể ra có tới 15 loại khác nhau. Nhưng cụ Tả Ao lại nói là phân tích cho kỹ về mạch th́ có đến 36 loại, mà người địa lư cần biết

            (19) Ba mươi sáu mạch cho tường

            (20) Trước là cứ phép sau y lời truyền.

            Nói như vậy mà cụ không dạy thêm nữa; vậy ta hăy t́m ở các sách địa lư khác thêm một số mạch, để bổ túc. Chúng ta kiếm thêm:

            - Mạch phong yêu: Mạch nhỏ diu như lưng ong (trước thắt nhỏ sau ph́nh ra to).

            - Mạch hạc tất: Hạc tất là gối hạc. Loại mạch này hai đầu nhỏ giữa to, như gối con hạc.

            - Mạch mă tích: Mạch chạy như vết chân ngựa; lúc lồi lên, lúc ch́m xuống. Phần nhiều mạch này hay đưa đến huyệt kết oa đứng.

            - Mạch băng hồng: Mạch qua sông, qua ruộng qua bể: đó là loại mạch chạy đến đây th́ đ́nh chỉ, nhưng chưa đầy đủ chứng ứng một huyệt kết, mà bên kia sông, đồng lầy lại bật lên g̣ đống đất cao, rồi 2 bên có phân thủy chia ra hai ḍng để chảy giáp thân long.

            - Mạch qua đằng: Mạch đi vằn vèo như giây đưa, giây bí, giây bầu: có thể quay sang bên tả kết, quay sang bên hữu kết; có thể quay về kết; có thể đến long đ́nh khí chỉ kết. Mạch qua đằng là loại mạch quư v́ có nhiều sinh khí nhất.

            - Mạch trực: Long mạch đi thẳng, loại mạch này khi kết huyệt nếu có: nghịch sa hồi án.

            - Mạch nghịch: Long đang đi quay ngược lại, rồi kết huyệt.

            - Mạch thuận: Long đi theo thế đại câu long, đại giang, đại hải. C̣n đất nhỏ th́ thuận theo: tiểu giang, tiểu hải. Ví dụ một đại cán long đang đi, mọc ra một tiểu cán long hay tiểu chỉ long, rồi ra kết huyệt.

            - Mạch hoành: Mạch đang đi quay ngang, rồi vào huyệt kết.

            - Mạch hồi: Mạch đang đi, quay lại thiếu tổ sơn như h́nh lưỡi câu móc, hồi cố lại. Ví dụ: Hợi long kéo đến Tốn, rồi cố tổ; Khôn Long kéo đến Cấn, rồi cố tổ, muốn biết huyệt thật th́ phải hiểu thêm:

            - Trực kỵ: Trực long phải có triều tôn án và triều tôn thủy.

            - Đảo kỵ: Nghịch long phải có quỷ biến v́ quan thuận.

            - Thuận kỵ: Thuận long phải có hậu quỷ dày.

            - Hoành kỵ: Thuận long phải có nhiều sa thác lạc hay nhiều long hổ che chở xung quanh mới gọi là chướng kết (đất hoành sơn của nhà Nguyễn Gia Long). Hoành long có chướng kết mới quư c̣n không c̣n là b́nh thường và ngắn đời thôi.

            - Nghịch kỵ: Hồi long phải có thái tổ hay thiếu tổ cao dày làm án (án cao ở gần hồi long cũng không bức không có hại; trái lại c̣n dễ sinh hiếu tử trung thần).

            Về phép phân tích các loại long cho dễ hiểu, cụ Tả Ao nói là có 36 mạch khác nhau; tuy nhiên thật ra c̣n có thể nhiều hơn hay ít hơn, tùy theo thế cách và tên gọi cho dễ nhận ra. Cho đến đây chúng ta đă có đủ những phân tích long cần thiết, để cho người đi tầm long để t́m thấy huyệt.
            Vạn Xuân

            Comment


            • #7
              CHƯƠNG THỨ BA

              HUYỆT TRƯỜNG




              (21) Ruộng cao uốn xuống, th́ mạch táng trên.

              (22) Ruộng thấp uốn lên, th́ mạch táng dưới.

              (23) B́nh dương, mạch chẳng nề chầm gối

              (24) Hễ chính long th́ tả hữu chiêu lai

              (25) Đâu có chính long, th́ có sơn thủy gối kề

              (26) Nhưng trên sơn cước, non cao

              (27) Cường long thô mạch, thế nào mới hay;

              (28) T́m nơi mạch nhược, long gầy

              (29) Nhất thời oa huyệt, nhị thời tàng phong

              (30) Đất có cát địa chân long.

              (31) Táng cho phải phép anh hùng giàu sang

              (32) Nọ như dưới đất b́nh dương

              (33) Mạch thính giác điền, xem tường mới hay

              (34) B́nh dương lấy nước làm thầy

              (35) Thứ nhất khai khẩu thứ nh́ nhũ long

              (36) Thứ ba mạch thắt cổ bồng

              (37) Thứ tư sơn chỉ, hồi long càng tài



              Trên kia cụ Tả Ao giảng về phép phân tích các loại long để đi theo nó t́m cho lời huyệt tràng, là vùng đất, trong đó có huyệt kết.

              Tới đây cụ đưa ta đến huyệt tràng và giảng tiếp:

              (21) Ruộng cao uốn xuống th́ mạch táng trên

              (22) Ruộng thấp uốn lên th́ mạch táng dưới

              Là nếu từ chỗ ruộng cao, đă có long hổ ôm chầu vào huyệt tràng, ở chỗ cao mới cân đối.

              C̣n mạch nhập huyệt nằm dưới thấp, từ từ cao lên th́ táng vào nơi cao vừa. Tiếp theo cụ nói đến phạm vi kết huyệt của loại mạch b́nh dương.

              (23) B́nh dương mạch chẳng nề chầm gối

              (24) Hề chính long th́ tả hữu chiều lai

              Là mạch b́nh dương, tuy hay ẩn tàng, không lộ như mạch sơn cước nên khó kiếm hơn. Nhưng mạch b́nh dương lại có đặc điểm để điểm huyệt, là hễ gặp chính long là có tả thanh long, hữu bạch hổ chiếu về và không nệ thiếu g̣ nổi bật lên ở sau huyệt làm chẩm. Có càng hay mà không có cũng được v́ ruộng đằng sau cao cũng là chẩm rồi.

              Được như vậy chỉ cần lập hướng đúng là được, rất ít khi xảy ra sát như đất sơn cước.

              Và tới đây cụ nói luôn đến mạch sơn cước:

              Mạch b́nh dương thường lành hơn mạch sơn cước nên các thầy địa lư giỏi ưa kiếm mạch b́nh dương. C̣n mạch sơn cước có núi cao ngạo nghễ hay phát vơ anh hùng cường liệt, đa sát. Sát cho ḍng họ người được đất và v́ phát vơ cách nhiều, nên nếu là đất lớn th́ sự thành công của con cháu người được đất gây nên thảm sát cho thiên hạ mă.

              “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”.

              Ta đă thấy vua Quang Trung sau khi được ngôi đất ở sơn cước (Tây Sơn An Khê) đă đánh giết 20 vạn quân Tôn Sĩ Nghị và Sầm Nghi Đống. Đó là sát hay.

              Sát giở như Lư Tự Thành đời vua Sùng Trinh nhà Măn Thanh, sau khi được đất sơn cước làm loan đánh về tới Kinh đô gây cho dân gian chết chóc vô kể.

              Đất sơn cước, lắm hung nhiều sát, xong thấy rơ ràng nên các thầy địa lư non thường thích làm. Đất sơn cước nhiều sát khi nếu không t́m được tới long chân huyệt đích th́ có hại.

              Tuy nhiên khó th́ khó thật mà nếu biết phép chính tông địa lư làm cho công phu cũng có thể giảm thiểu được sự sung sát, do đó cụ Tả Ao có nói:

              (26) Nhưng trên sơn cước non cao

              (27) Cường long thô mạch thế nào mới hay

              Có nghĩa là đất sơn cước có non cao hùng vĩ, cường long, mạch thô phải để như thế nào mới tránh được hung sát.

              Cụ chỉ cho ta cách để như thế nào dưới đây

              (28) T́m nơi mạch nhược long gầy

              Câu này là cả một bi pháp vẽ phép để đất trên sơn cước mà rất ít sách địa lư của Tần và ta chịu nói đến. Nó có nghĩa

              Đất sơn cước cường mạnh hay sinh nhân đa sát nếu muốn tránh phải kiếm thứ long nào sau khi rời núi non chạy xuống đồng, c̣n chạy ngang dọc cho bớt hung hăng, cường mạnh, đến khi long dịu rồi mới vào huyệt. H́nh đảng của long đó, khi dịu rồi, trông gầy và nhược. Đó là châu long của đất sơn cước, Kiếm được huyệt ở chỗ đó sẽ sinh nhân hùng hậu, quân tử, không hung sát.

              Sau khi nói rơ hai đặc tính của huyệt sơn cước và b́nh dương rồi cụ Tả Ao tiếp theo về h́nh dáng cho kết huyệt. Phải chi h́nh dáng của chỗ kết huyệt th́ mới dễ để mả. Cũng nên nói thêm rằng đại cuộc đất dù lớn mấy trăm mẫu huyệt tràng dù rộng cả ngh́n thước nhưng chỗ huyệt kết nhỏ bằng cái chiếu mà thôi. Như vậy nên phải chỉ rơ h́nh tích của chỗ có huyệt kết để dễ kiếm:

              Sau khi theo long t́m đến huyệt tràng rồi nếu ta t́m tại nơi huyệt tràng chỗ nào có dấu hiệu oa, kiềm, nhũ đột th́ ta phải nghĩ chổ đó là chỗ có huyệt kết của cuộc đất. Thế nào là Oa, Kiềm, Nhũ, Đột?

              Oa: là khai oa khum khum giống như gọng vó. Cụ Tả Ao gọi nôm na là:

              “Khum khum gọng vó chẳng nó th́ ai”

              Kiềm: Cụ Tả Ao gọi là:

              “Thè lè lưỡi trai chẳng ai th́ nó”

              Nhũ: Hai bên có long, hổ cao, ở giữa tḥ ra như quả bí, quả bầu.

              Cụ Tả Ao gọi là:

              "Thắt cuống cà sa đít nhện”

              Cuống cà nhỏ và thấp, hai bên long hổ cao bằng huyệt trường hay cao bằng mặt người ngồi ở huyệt.

              Oa biến thể: Huyệt h́nh tam giác, hai bên long hổ duỗi ra thăng bằng và hơi cao hơn huyệt như chữ nhân (Nó là oa biến thành tam giác)

              Oa đứng: là chung quanh cao giữa thấp có thể hoặc tṛn hoặc h́nh bầu dục, hoặc h́nh chữ điền, chữ nhật (ở chỗ long đ́nh khí chỉ).

              - Chi tiết chỗ đất kết ở sơn cước đề đặt xương người xuống cho thu được khí mạch là h́nh oa, h́nh kiềm, h́nh nhũ, h́nh đột và h́nh oa biến thể hay oa đứng như kể ở trên, xong nói về huyệt tàng phong hơn cả ở sơn cước th́ huyệt khai oa, kiềm vốn là tàng phong rồi.

              (22) Nhất là oa huyệt nhị thời tàng phong

              Câu trên có nghĩa là oa kiềm đă có tàng phong sẵn rồi rất tốt v́ oa huyệt có gọng vó cao hơn huyệt che gió cho huyệt, kiềm cũng thế. Tuy nhiên người oa kiềm ra c̣n có thể kết huyệt nhũ, đột nữa. Nhũ, đột cũng cần phải có long hổ cao thăng bằng với huyệt trường để che gió cho huyệt. Một huyệt kết mà không tàng phong dễ sinh ra tội (yểu hoặc bệnh tật).

              Nói tiếp về đất sơn cước Đất này đă khó táng lại hiềm ít thủy tụ nên nhiều đất kết anh hùng mà vẫn nghèo. Tuy nhiên cụ Tả Ao có nói là nếu kiếm được chân long:

              (30) Táng cho phải phép anh hùng giàu sang

              - Tiếp theo cụ Tả Ao lại đề cập thêm nữa về loại huyệt b́nh dương.

              (32) Nọ như dưới đất b́nh dương

              (33) Mạch thích giác điền xem tường mới hay

              (34) B́nh dương lấy nước làm thầy

              Ba câu trên có nghĩa là huyệt b́nh dương tuy ít sát hơn huyệt sơn cước, tuy nhiên đất b́nh dương cao thấp không chênh lệch lắm nên khó xem hơn. Mà khó xem nhất là loại mạch thích giác điền: đó là các thớ của long mạch đi bằng những góc ruộng. Các cụ sợ nhất những mạch ruộng có mũi nhọn đâm vào huyệt hay những góc ao quay mũi nhọn về huyệt.

              “Ruộng như mũi dao, ao như thước thợ”.

              Con người Tả Ao phóng khoáng sau khi căn dặn những ǵ quan trọng nguy hiểm khó khăn của huyệt cho con cháu biết mà pḥng bị khi dễ huyệt, th́ bản tính dễ dăi yêu đời cố hữu lại trở về với cụ, rồi cụ giảng tiếp theo:

              (34) B́nh dương lấy nước làm thầy

              Để nhắc nhở lại cho ta biết là mạch sơn cước lấy tàng phong làm quan trọng th́ mạch b́nh dương lại lấy Minh đường làm chính, hễ có nước mà có sơn thủy gối kề có tả hữu chiều lai là hay có huyệt: để vào không ăn nhiều cũng ăn ít chứ ít khi bị sát nặng như đất sơn cước.

              Rồi cụ tiếp tục kể lể để nhắc lại những ǵ quan trọng:

              (35) Thứ nhất khai khẩu, thứ nh́ ngũ long

              (36) Thứ ba mạch thắt cổ bồng

              (37) Thứ tư sơn chỉ, hồi long càng tài

              Câu 35 có nghĩa huyệt kết phải khai khẩu nghĩa là phải là oa, kiềm hay nhũ, đột (Đại cương sơn cước th́ oa kiềm và b́nh dương th́ nhũ đột).

              Câu 36 có nghĩa là khi long chạy đến huyệt kết trước khi nhập thủ đất phải thắt lại như cổ bồng th́ mới chắc.

              Nửa câu 37 có nghĩa là đất có huyệt th́ sơn phải chỉ mạch đến đó không tiếp tục đi nữa mới kết được. Và tiếp theo nửa câu sau của câu 37 (Hồi long càng tài) có nghĩa là trong các huyệt kết th́ hồi long có tổ là quư nhất v́ nó mau phát, mau ăn hơn loại huyệt kết: Hoành long trực long v.v...

              Những chữ thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư ở câu 35, 36, 37 không phải là thứ tự tốt xấu và chỉ là kể để 4 thứ quan trọng nhấn thêm để ta xem huyệt mà thôi.
              Vạn Xuân

              Comment


              • #8
                CHƯƠNG THỨ TƯ


                CHỨNG ỨNG CẦN THIẾT




                (38) Muốn cho con cháu Tam Khôi

                (39) Phương Nam có bút phương Đoài có nghiên

                (40) Muốn cho con cháu Trạng Nguyên

                (41) Thời t́m bút lập hai bên sắp bày

                (42) Nhất là: Tân, Tốn mới hay

                (43) Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bày đột lên

                (44) Bút lập là bút trạng nguyên

                (45) Bút thích Giác Điền là bút thám hoa

                (46) Muốn xem cho kỹ sẽ là đất hay



                Sau khi chỉ phép Tầm Long cho ta biết cách theo dơi long mạch để t́m đến huyệt tràng. Và sau đó từ huyệt tràng t́m ra huyệt kết, đến đoạn này cụ Tả Ao đề cập đến một số chứng ứng cần thiết:

                (38) Muốn cho con cháu Tam Khôi

                (39) Phương Nam có bút, phương Đoài có nghiên

                (40) Muốn cho con cháu Trạng nguyên

                (41) Th́ t́m bút lập hai bên sắp bày.

                Có nghĩa là muốn phát về Văn th́ t́m huyệt nào mà phía Nam của huyệt có cây bút hoặc phía Tây (Đoài) của huyệt có g̣ đống tượng h́nh cái Nghiên Và muốn cho con cháu đỗ cao, đỗ đầu tất cả các kỳ thi phải t́m cây bút đứng (đứng chứ không phải nằm) sắp bày hai bên trước mặt huyệt.

                Tưởng cũng nên giải nghĩa cho rộng hơn nghĩa tóm tắt ở trên:

                Ngày xưa các cụ ta chỉ có một đường ra làm quan, để mở mặt với đời, báo hiếu cho cha mẹ, giúp dân nước là “thi đỗ rồi ra làm quan”.

                Việc thi cử chia ra làm 4 thời kỳ.

                1. Thi khảo hạch: thi khảo hạch xem có đủ sức đi thi không.

                2. Thi hương: Sau khi đủ sức đi thi rồi th́ kỳ thi bắt đầu được thi là thi Hương. Thi Hương chọn đến Cử Nhân, Tú Tài gồm vài tỉnh gần nhau đến thi.



                ĐẤT PHÁT TRẠNG NGUYÊN


                (40) Muốn cho con cháu Trạng nguyên

                (41) Th́ t́m bút lập đôi bên sắp bày

                (42) Nhất là Tân Tốn mới hay

                (43) Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bày đột lên.


                3. Thi hội: Sau khi đậu thi Hương những ai đậu cử nhân mới được vào thi hội tại Kinh Đô, lấy đến Tiến sĩ, Phó bảng.

                4. Thi Đ́nh: Ai thi hội có điểm cao mới được vào thi Đ́nh tại sân rồng nhà vua. Thi Đ́nh lấy đến trạng nguyên là nhất (từ đời Gia Long trở đi bỏ không lấy trạng nguyên nữa).

                Bởi lề lối thi cử xưa kia như thế nên cụ Tả Ao nói là ai muốn con cháu học giỏi để thi đỗ luôn, cả ba khoa (tam khôi): Thi chọn kiểu đất phương Nam huyệt có cây bút, phương Tây (Đoài) của huyệt có cái Nghiêm


                Giải thích:

                1. Bút là trái núi đứng nhọn đầu hay dăy đất nằm đầu nhọn ôm chầu về huyệt.

                2. Nghiên là g̣ đống hay mảnh ruộng con h́nh vuông, chữ nhật. Cũng có thể có nghiên h́nh tṛn và bán nguyệt.

                3. Có 2 loại bút cụ Tả Ao nói ở đây là bút nằm và bút đứng. Bút nằm là bút giác điền và bút đứng là bút lập. Bút lập c̣n gọi là bút kinh thiên nghĩa là bút chống Trời.

                Trên kia có nói kỳ thi sau cùng ở sân rồng nhà vua mà ai đỗ đầu kỳ này sẽ là Trạng Nguyên thứ là băng Nhỡn.

                Vậy đỗ Trạng Nguyên trước tiên là phải đỗ Tam Khôi rồi kỳ sau cùng thi Đ́nh lại đỗ đầu. Muốn cho con cháu học giỏi thông minh như vậy phải t́m kiểu đất có sắp bày bút lập ở hai bên, đằng trước huyệt; nhưng không phải hướng nào có bút lập cũng giỏi giang như vậy.

                Dưới đây cụ Tả Ao chỉ cho ta biết hướng nào có bút lập mới tốt:

                (42) Nhất là Tân Tốn mới hay

                (43) Bính Đinh Đoài Cấn sắp bày đột lên

                Theo câu (42) – (43) th́ bút tốt nhất ở hướng Tân và hướng Tốn. Sau nữa đến bút ở hướng: Bính, Đinh, Đoài hoặc Cấn. Và cụ cũng giải nghĩa bút lập tốt hơn bút giác điều bằng ư nghĩa có bút lập có thể đỗ đến Trạng Nguyên c̣n bút giác điền tốt cũng chỉ đỗ đến Thám Hoa mà thôi.



                ĐẤT PHÁT THÁM HOA


                (44) Bút lập là bút trạng nguyên

                (45) Bút thích giác điên là bút thám hoa

                (46) Nh́n xem cho kỹ sẽ là đất hay

                Khoa địa lư có người gọi là địa ư có nghĩa là không thể căn cứ vào một mẫu mực nào mà theo đó đi t́m được đất. Các cuộc đất đều khác nhau, khác về chứng ứng chầu về huyệt cùng cách thế của huyệt tràng. V́ vậy nên phải suy tư cân nhắc làm sao để mà vào đúng huyệt chỉ lớn bằng cái chiếu mới hy vọng có đất kết, mới thành công. Cổ nhân đă có câu:

                “Mạch đi muôn vạn dặm ngh́n

                Chung quy huyệt kết chỉ t́m chiếu con”


                Là thế.

                Cụ Tả Ao khuyên ai học địa lư trước tiên là phải đọc sách sau là phải ước lượng cho cao. Muốn ước lượng cho cao người học địa lư trước phải học được chính tông sau phải thực hành rất nhiều ở ngoài đồng và phải thông minh mới ước lượng đúng được, mới t́m ra cái “chiếu con” trong một đại cuộc đất đi cả muôn ngh́n vạn dặm:

                (47) Khuyên ai học làm thầy địa lư

                (48) Trước phải đọc sách sau là lượng cao

                (49) Dù ai khôn khéo thế nào

                (50) Học mà chẳng xét ấy là vô tông

                Cả 4 câu cụ Tả Ao nhấn mạnh về 2 điểm: 2 câu trên nói là phải lượng cho cao và 2 câu dưới nói là phải nhận xét cho đúng.

                Muốn lượng cao và xét đúng không phải là dễ. Đọc sách địa lư cho kỹ để ước lượng cho rành mà c̣n phải thông hiểu cả dịch lư học túc âm dương học hay lưỡng nghi học để suy xét, bổ túc thêm cho khoa địa lư. Nơi đây ta thử lấy âm dương làm căn bản để ước lượng suy ngẫm một cuộc đất, t́m sự quân b́nh cho mọi chi tiết kỹ thuật của khoa địa lư:

                - Trước tiên đất b́nh dương phẳng là dương, th́ g̣ đống nổi cao hơn là âm và đất sơn cước nhiều đồi núi là âm th́ thung lũng băi của nó là dương. Đất sơn cước cường dũng nên chọn huyệt ở chỗ mạch nhỏ long gầy; nơi b́nh dương thấp phẳng phải chọn nơi cao làm huyệt (khởi đột). Như thế mới là âm dương cân đối.

                - Rồi đến tay long là dương phát ngành trưởng và con trai th́ tay Hổ là âm (phát ngaàh thứ hay con gái, Long Hổ phải tương nhượng nhau, Long là anh phải dài hơn Hổ là em. Long dài hơn nên cần nhọn đầu th́ Hổ ngắn hơn cần thủy đầu, hay tṛn đầu.

                - Sau đến núi (sơn) chủ tĩnh là âm th́ nước (thủy) chủ đội là dương. Khi đến huyệt kết phải có sơn thủy giao lại âm dương giao hội, nghĩa là núi chủ tĩnh đến đó phải quay đầu vẫy đuôi như động và nước chủ động đến huyệt kết th́ phải lưu luyến nữa muốn ở nữa muốn đi, tụ lại trước huyệt rồi mới chảy đi.

                - Núi và nước một động vật tĩnh đi song song như vợ với chồng che chở nâng đỡ hộ vệ nhau. Nước từ khe núi, từ mạch trong núi chảy ra ngoài th́ nước lại theo núi mà nuôi dưỡng cho khí mạch của núi, cho núi đỡ khô.

                Long mạch đi có vẻ Âm th́ chuyển dương mới vào huyệt. Trái lại Long mạch đi đang Dương th́ nhập thủ huyệt trường phải âm.

                Trên đây mới nói sơ về lư âm dương. Ngoài lư âm dương ta c̣n phải chú trọng đến ngũ hành nữa. Thấy h́nh tṛn ta gọi là kim, dài là mộc, nhọn là hỏa, vuông là thổ là như sóng gợn là thủy.

                Ngay đến phương hướng cũng có âm dương ngũ hành khác nhau:

                Hướng : Hợi, Nhâm, Tư, Quư là thủy.

                Hướng : Sửu, Cấn là thổ

                Hướng : Dần, Giáp, Măo là mộc

                Hướng : Th́n là thổ

                Hướng : Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh là hỏa

                Hướng : Mùi, Khôn là thổ

                Hướng : Thân, Canh, Dậu, Tân là kim.

                Hướng : Tuất là thổ

                Hướng : Càn là kim

                Trên là hướng c̣n phương cũng có ngũ hành:

                Hành mộc : Ở phương Đông

                Hành kim : Ở phương Tây

                Hành hỏa : Ở phương Nam

                Hành thủy : Ở phương Bắc

                Hành thổ : Ở Trung ương


                Do đó cụ Tả Ao nói là: Học chẳng xét cũng là vô tông ở câu 50 có nghĩa là học mà không biết suy xét cho cặn kẽ không phải là địa lư chính tông, không có gốc căn bản.
                Vạn Xuân

                Comment


                • #9
                  CHƯƠNG THỨ NĂM

                  PHÂN BIỆT



                  A. ĐẤT PHÁT VĂN HAY VƠ

                  B. HUYỆT CÁT HAY HUNG




                  A. Đất phát văn hay vơ


                  (51) Thắt cổ bồng phồng ra huyệt kết

                  (52) Xem cho biết mộc tiết kim loan

                  (53) Mộc tiết văn đỗ trạng nguyên

                  (54) Kim loan vơ được tước quyền quận công

                  (55) Con mộc vốn ở phương Đông

                  (56) Con kim vốn nó về ḍng phương Tây

                  (57) Xem cho biết nó mới hay

                  (58) Táng cho phải phép thực dày vinh hoa.




                  Đoạn này cụ Tả Ao giảng về h́nh dáng, đất có huyệt kết, và ảnh hưởng của nó như thế nào?

                  Một đất có huyệt kết thường cần có đặc điểm là phải thắt cổ bồng rồi ph́nh ra, mới chắc ăn. Ư này ở trên cụ đă nói rồi, xong là quan trọng, nên cụ lại nhắc lại lần thứ hai:

                  (51) Thắt cổ bồng phồng ra huyệt kết

                  rồi cụ đề cập đến h́nh của chỗ đất kết và ảnh hưởng của nó:

                  (52) Xem cho biết mộc tiết kim loan

                  (53) Mộc tiết văn đỗ trạng nguyên

                  (54) Kim loan vơ được tước quyền quận công

                  Một đất sinh nhân thế nào, đầu tiên phải biết đất đó thuộc về văn hay vơ. Văn cao nhất là Trạng nguyên, Tể tướng rồi xuống thấp dần cho đến Thư kư. Về vơ cao nhất là Quận công. Nguyên Soái rồi xuống dần cho đến lính trơn. Trước khi biết giá trị của đất đó làm đến chức vụ ǵ ta phải biết nó về loại văn hay vơ đă.

                  Nếu phát văn th́ thường đất h́nh dài, mà dài là h́nh mộc và nếu là vơ th́ thường đất là h́nh tṛn, mà tṛn là h́nh kim: Phân biệt phát văn hay vơ trước, rồi coi cho đủ chi tiết có thể đoán được văn cao đến bậc nào, và vơ lớn tới mức nào, trong văn ban hoặc vơ ban. Trường hợp đất vừa dài vừa tṛn ta có thể cho là phát cả văn lẫn vơ.

                  Tuy nhiên cụ nói là mộc tiết chứ không phải mộc và kim loan chứ không phải kim. Mộc tiết là cái mắt của gỗ kim loan là cái cốt của bánh xe.

                  Câu “xem cho biết mộc tiết kim loan” ta phải hiểu mộc tiết kim loan là nhũ đột và oa kiềm.

                  Phát vơ, phát phú th́ xung quanh có nhiều con kim triều củng. Phát văn th́ xung quanh có nhiều con mộc con hỏa triều củng.

                  Mộc phát văn, kim phát vơ, ta cứ lấy đó làm chính và cũng lấy đó mà thừa trừ cân nhắc suy xét cả đại cuộc đất th́ sẽ có thể biết rơ được đất phát như thế nào, càng chi tiết được nhiều càng chính xác. Muốn giải đoán ta phải biết nhiều về lư khí. Phạm vi quyển này chỉ nặng về loan đầu. Đến quyển Dă Đàm Tả Ao chúng tôi cho xuất bản kế tiếp sẽ nói nhiều về lư khí hơn.

                  Những chứng ứng chầu về huyệt cũng có ảnh hưởng. Nếu là chứng ứng h́nh mộc th́ phương Đông hành mộc là vượng (theo ngũ hành) và tṛn là h́nh kim thời phương tây hành kim là vượng.

                  Các thầy địa lư hay bát h́nh để làm tôn vẻ đẹp cho cuộc đất gọi là con Phượng, con Lân, con Rùa, con Chim, con Hổ, con Voi nhưng cũng không ngoài sự kết huyệt phải có oa, kiềm, nhũ, đột, khí long đ́nh khí chỉ. Dù có những con đó mà không có long đ́nh khí chỉ th́ cũng không kết. Nếu muốn gọi con ǵ cũng được xong căn bản ngũ hành là điều ta cần nhớ cho kỹ.

                  - Con Mộc h́nh dài và phương Đông thuộc Mộc.

                  - Con Kim h́nh tṛn và phương Tây thuộc Kim.

                  - Con Hỏa h́nh dài nhọn và phương Nam thuộc Hỏa.

                  - Con Thủy h́nh sóng gợn và phương Bắc thuộc Thủy.

                  - Con Thổ h́nh vuông và trung ương thuộc Thổ.

                  Xem những h́nh thể đất và chứng ứng h́nh ǵ (con Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và xem phương hướng chúng đóng để biết sinh vượng hay tử, tù hưu rồi táng cho phải phép th́ ḍng dơi sau này được vinh hoa phú quư.

                  Cụ Tả Ao đă tóm ư trên vào 4 câu:

                  (55) Con Mộc vốn ở phương Đông

                  (56) Con Kim vốn nó về ḍng phương Tây

                  (57) Xem cho biết nó mới hay

                  (58) Táng cho phải phép thực dày vinh hoa

                  Ấy thế là những h́nh đắc vị

                  Tuy nhiên ngũ hành mới là phụ thuộc, đúng phương vị càng hay, không đúng cũng không sao. Miễn là huyệt kết đúng phép huyệt trường có oa, kiềm, nhũ, đột là được.

                  Kiếm được đất kết oa, kiềm, nhũ, đột rồi tránh được cái xấu của sa và thủy cũng là quư hóa rồi.


                  B. Huyệt cát hay huyệt hung


                  (59) Thắt cuống cà ph́ ra mới kết

                  (60) Xem cho biết huyệt cát huyệt hung

                  (61) Huyệt cát nước tụ vào ḷng

                  (62) Đôi bên long hổ uốn ṿng chiều lai

                  (63) Huyệt hung minh đường bất khai

                  (64) Sơn tà thủy xạ hướng ngoài tà thiên

                  (65) Táng xuống kinh sàng bất yên

                  (66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau

                  (67) Muốn cho con cháu sống lâu

                  (68) T́m nơi Huyền Vũ đằng sau cao dày

                  (69) Long Hổ bằng như chân tay

                  (70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành




                  Phần này cụ Tả Ao ấn định huyệt tốt, huyệt xấu vào hai loại: Huyệt cát và huyệt hung. Trước khi nói đến hai loại huyệt này cụ lại cẩn thận chắc chắn, nhắc lại lần thứ ba một ư nữa:

                  (59) Thắt cuống cà ph́ ra mới kết

                  Để con cháu xem lại có phải là đất kết không đă, rồi mới đi vào phần chi tiết t́m hiểu một huyệt cát hay huyệt hung. Cụ phải nhắc lại như vậy v́ lư do:

                  Nếu không phải đất có huyệt kết, th́ phân tích huyệt cát huyệt hung làm ǵ cho mất thời gian.

                  Bây giờ cụ mới giảng chỗ có huyệt kết đó: Cát hay hung.

                  Xem cho biết huyệt cát huyệt hung

                  (61) Huyệt cát nước tụ vào ḷng

                  (62) Đôi bên long hổ uốn ṿng chiều lai

                  (63) Huyệt hung minh đường bất khai

                  (64) Sơn tà thủy xạ hương ngoài tà thiên

                  Một đất kết có rồi ta phải xem nó là đất kết cát hay hung.

                  Huyệt hung th́ Minh đường không tụ nước và sơn thủy xấu. Sơn thủy xấu là:

                  (64) Sơn tà, thủy xạ, hương ngoài tà thiên

                  Sơn là sơn không chính. Sơn là các sa như bút (giải nhọn) bảng (h́nh chữ nhật) ấn (h́nh vuông) ngựa, voi, trâu, lân, hổ (h́nh thú) v.v...

                  Những chứng ứng này không chầu vào huyệt, chiều cao không cân đối (gần th́ ngang huyệt, càng xa càng cao hơn) đều là sơn là (không chính) không quân b́nh, phương chính. Sơn xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.

                  Thủy xạ: Thủy xạ là các ngọn nước đáng nhẽ phải bao nhiêu (chạy khuất khúc) chầu về huyệt th́ đâm thẳng vào huyệt hay giữa Minh đường như phóng mũi nhọn của nó vào huyệt hay vào giữa minh đường. Nước như thế là thủy xạ, thủy như thế là thủy xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.

                  Hướng ngoài tả thiên: là sơn hay thủy đáng nhẽ chầu vào huyệt th́ lại quay lưng lại huyệt và chầu ra ngoài (hướng ngoài). Các sa méo mó lệch lạc siêu vẹo lở đứt. Sơn thủy hướng ngoài tả thiên cũng làm cho huyệt kết trở lên huyệt hung.

                  Không những sa (sơn) và thủy (ngọn nước) “hướng ngoài tả thiên” là xấu, mà chính ngay Minh đường hướng ngoài tả thiên là loại minh đường nghiêng lệch đổ nước ra ngoài chứ không thu nước vào trước huyệt. Minh Đường mà nghiêng lệch th́ con cháu sẽ có tâm địa tà dâm, bất chính.

                  Ta lại tóm tắt huyệt cát huyệt hung qua Minh đường, Long hổ, Huyền vũ một lần nữa v́ nó quan trọng:

                  Minh đường ảnh hưởng đến sự giàu nghèo và sự thông minh hay ngu đần của con cháu, c̣n Long Hổ th́ tay Long ảnh hưởng đến con trai hay ngành trưởng và tay Hổ ảnh hưởng đến con gái hay ngành thứ.

                  Một huyệt tốt (huyệt cát) trước tiên và cần thiết nhất là:

                  Minh Đường phải có nước tụ và hai bên Long Hổ phải ôm chầu về huyệt.

                  Huyệt hung th́ Minh Đường không có nước (Minh Đường bất khai) con cháu sẽ nghèo. Minh Đường phải quanh năm có nước, con cháu mới giàu được.

                  Nói qua Minh Đường rồi nay nói đến Long Hổ: Long Hổ phải ôm chầu vào huyệt mới tốt. Tay Long và tay Hổ không tay nào được ngoảnh ra ngoài.

                  Để mă vào chỗ đất có huyệt hung th́ có thể có báo hiệu ngay bằng cách trong nhà thấy đau yếu tang thương.

                  (65) Táng xuống kinh sảng bất yên

                  (66) Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau

                  Táng phải huyệt hung th́ khi đất chưa kết đă xảy ra tang thương bệnh tật cho con cháu, trong nhà trong họ, nhiều người cho là đất kết phải sát trước mới phát sau. Sự thực th́ tại gặp huyệt hung và tiêu sa nạp thủy không giỏi mà ra.

                  Nói về huyệt cát huyệt hung ta cần phải chú trọng đến Huyền vũ nữa. Huyền vũ là chỗ long mạch dẫn vào huyệt kết. Nó là nơi rót khí mạch vào huyệt. Nơi Huyền Vũ mà cao dày th́ con cháu mới được thọ, mới sống lâu. Huyền Vũ mỏng và thấp con cháu kém thọ th́ dù có học giỏi cũng không ra ǵ.

                  (67) Muốn cho con cháu sống lâu

                  (68) T́m nơi Huyền Vũ đằng sau cao dày

                  (69) Long Hổ bằng như chân tay

                  (70) Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành.

                  Tay Long tay Hổ của huyệt cũng như tay phải tay trái của người. Nó không được đứt đoạn, khuyết hăm mà c̣n cần phải bằng ngay cao ngang huyệt tràng để che gió cho huyệt th́ mới không có hại (gọi là tang phong).

                  Một đất kết ở giữa th́ đằng sau có Huyền Vũ. Hai bên có Long Hổ, đằng trước có Án mới đủ quân b́nh phương chính mà ở đây cụ Tả Ao không đề cập Án, vậy phải nói thêm cho đủ.

                  Án ở trước huyệt như cái bàn giấy trước mặt người ngồi. Án họ huyệt ở đằng trước cũng như chấm ở đằng sau. Long Hổ ở hai bên. Như vậy, Án cũng phải có “tinh” với huyệt. Muốn thế án phải ôm chầu vào huyệt. Rất kỵ Án có mũi nhọn đâm hoặc phản lưng vào huyệt.

                  Cụ Tả Ao không nói Án xong có nói đến Sa (Sơn) Án cũng là một loại sa nhưng can hệ hơn các Sa khác. Án là thứ sa chính.
                  Vạn Xuân

                  Comment


                  • #10
                    CHƯƠNG THỨ SÁU

                    CÁC CHỨNG KHÁC THÊM TÔN QUƯ CHO CUỘC ĐẤT



                    (71) Ḱa như đất có ngũ tinh

                    (72) Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn

                    (73) Muốn cho con cháu nên quan

                    (74) Th́ t́m Thiên mă phương nam đứng chầu

                    (75) Muốn cho kế thế công hầu

                    (76) Th́ t́m chiêng trống dàn chầu hai bên

                    (77) Ngũ tinh cách tù chiếu nguyên

                    (78) Kim, Mộc, Thủy, Hỏa bốn bên loan hoàn

                    (79) Thổ tinh kết huyệt trung ương

                    (80) Ất đất sinh thánh sinh vương đời đời

                    (81) Thiên sơn vạn thủy chiều lai

                    (82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh

                    (83) Nhị thập bát tú thiên tinh

                    (84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai



                    Phần này cụ Tả Ao bàn rộng về phép tương sinh của ngũ hành với khoa địa lư và nói đến những chứng ứng tôn thêm vẻ quư cho huyệt:

                    Trước tiên cụ nói đến ngũ hành

                    (71) Ḱa như đất có ngũ tinh

                    (72) Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn

                    Có nghĩa là muốn suy xét rộng ngoài lẽ âm dương đă nói ở trên ta phải nắm vững thêm ngũ hành. Tâấ cả các h́nh thể của đất, trước nhất là phải chú trọng đến năm hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

                    1. H́nh tṛn là kim tinh hay con Kim

                    2. H́nh dài là mộc tinh hay con Mộc

                    3. H́nh vuông là thổ tinh hay con Thổ

                    4. H́nh nhọn là hỏa tinh hay con Hỏa

                    5. H́nh sóng gợn là thủy tinh hay con Thủy.

                    Những con này có thể đứng hay nằm. Nếu là đồi cao th́ đứng và dăy đất thấp th́ nằm, đứng phải nh́n theo trực diện của người đứng ở huyệt kết và nằm phải nh́n theo b́nh diện của người ở trên cao giữa h́nh đất đó nh́n xuống.

                    Ngoài các loại chứng ứng cần thiết như: Kiếm, ấn, bút, nghiên lại c̣n những chứng ứng tôn thêm vẻ quư cho kiểu đất như: Ngựa, voi, rồng, lân, trâu, chiêng, trống, cờ, đ́nh, đài v.v... Những chứng ứng này hoặc đóng ở bên tay Long, tay hổ hoặc trước án hoặc ở thủy khẩu cũng được

                    Càng nhiều chứng ứng càng rộng bao la càng có la thành bao bọc nhiều tầng càng lớn càng quư. Cụ Tả Ao lấy một ví dụ chứng ứng là con ngựa (thiên mă).

                    (73) Muốn cho con cháu nên quan

                    (74) Th́ t́m thiên mă phương nam đứng chầu

                    Thiên mă ở Tử Vi thuộc hỏa là hỏa tinh, và phương Nam cũng thuộc hỏa nên Thiên mă được chính vị là vượng nên có ảnh hưởng tốt cho huyệt kết.

                    Cụ lấy chứng ứng là nhiều tầng chiêng trống cờ bảng, th́ lớn hơn nữa:

                    (75) Muốn cho kế thế công hầu

                    (76) Th́ t́m cờ trống dàn chầu hai bên

                    Dưới đây cụ Tả Ao đề cập đến kiểu đất quư nhất để làm ví dụ:

                    (77) Ngũ tinh cách tú chiều nguyên

                    (78) Kim, Mộc, Thủy, Hỏa bốn bên loan hoàn.

                    (79) Thổ tinh kết huyệt trung ương

                    (80) Ấy đất sinh thánh sinh vương đời đời

                    (81) Thiên sơn vạn thủy chiều lai

                    (82) Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh

                    (83) Nhị thập bát tú thiên tinh

                    (84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai

                    Kiểu đất quư ở câu 77 đến 84 trên đây không sinh Thánh cũng sinh vương, có những đặc biệt như sau:

                    Giữa thổ tinh kết huyệt, phía đông có con Mộc, phía tây có con Kim, phía Nam có con Hỏa và phía Bắc có con Thủy.

                    2. Nếu lớn th́ phải có nhiều ngọn nước và nhiều núi chầu về:

                    (81) Thiên sơn vạn thủy chiều lai

                    3. Các chứng ứng chầu về đều nằm đúng vị trí chính vị của nó theo ngũ hành:

                    (82) Can Chi bát quái trong ngoài tôn nghinh

                    Để ứng về tử vi ṭa trên trời có 28 vị sao chầu về:

                    (83) Nhị thập bát tú thiên tinh

                    (84) Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai

                    Cách quư như trên, sinh được Thánh Vượng, rất khó kiếm nhưng được một phần của cách đó cũng khá lắm rồi.
                    Vạn Xuân

                    Comment


                    • #11
                      CHƯƠNG THỨ BẢY


                      PHƯỚC DUYÊN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ĐẤT




                      (85) Ngôi đế vương mặt trời chẳng giám

                      (86) Huyệt công khanh không kiếm ai cho

                      (87) Đất khai hoa nh́n xem cho kỹ

                      (88) Thấy th́ làm chớ để lưu tâm

                      (89) Trên sơn cước xa xăm cũng táng

                      (90) Dưới b́nh dương nửa tháng cũng đi

                      (91) Minh sinh ám tử vô di

                      (92) Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn

                      (93) Quả nhiên huyệt chính long chân

                      (94) Tiêu sa nạp thủy chớ lầm một ly

                      (95) Táng thôi phúc lư tuy chi

                      (96) Trâm anh bất tuyệt thư thi gia truyền



                      Những kiểu đất quá lớn sinh được Thánh Vương đă đành không dám nghĩ đến, mà ngay những kiểu đất Đế vương những người ít đức cũng nên làm ngơ để đó cho Trời sắp đặt.

                      (85) Ngôi đế vương mặt trời chẳng dám

                      Tuy nhiên ngôi Công hầu, Khanh, Tướng không phải là không có; những vị phúc đức có thể hy vọng lắm. Ngay những người phúc đức vừa phải nếu được ngôi đất Công hầu, Khanh, Tướng mà biết tu thân tạo đức th́ chỉ gặp gian truân trắc trở một thời gian đầu rồi sau cũng được hưởng đất đó.

                      (86) Huyệt công khanh không kiếm ai cho

                      Ở những tay Long Hổ, Án. Sa những ngôi đất Đế Vương có rất nhiều đất kết Công hầu, Khanh, Tướng. Nó là kiểu bảng của kiểu chính.

                      (87) Đất khai hoa nh́n xem cho kỹ

                      (88) Thấy th́ làm chớ để lưu tâm

                      (89) Trên sơn cước xa xăm cũng táng

                      (90) Dưới b́nh dương, nửa tháng cũng đi

                      Hoa là phần tinh túy của cây do nhựa cây tạo ra th́ đất có tú khí ở bên trong cũng có thể tụ kết ở đâu để hiện ra huyệt kết: Oa, Kiềm, Nhũ, Đột, những huyệt kết này là tinh hoa của đất hay là hoa địa của đất.

                      Đất khai hoa là kiểu đất kết, nếu thấy th́ nên làm tùy duyên, tùy đức, cho những ai có duyên có đức.

                      (87) Đất khai hoa nh́n xem cho kỹ

                      (88) Thấy th́ làm chớ để lưu tâm

                      Đă làm th́ có ngại ǵ xa xăm mệt nhọc, ngại ǵ sơn cước hay b́nh dương:

                      (89) Trên sơn cước xa xăm cũng táng

                      (90) Dưới b́nh dương nửa tháng cũng đi

                      Kiếm được đất tốt rồi muốn để mả phải điểm huyệt. Điểm huyệt là kiếm chỗ nào tụ khí ở huyệt tràng mà chôn xương người chết xuống đó.

                      Khi điểm huyệt phải phân kim làm sao thu được cái sáng, cái sinh của Sa lẫn Thủy và tiêu được khí xấu khí ác của sa, thủy đi. Làm như vậy gọi là: thu minh sinh, phóng ám tử. Những sách địa lư viết tiếp của chúng tôi sẽ nói đến phân kim

                      (91) Minh sinh ám tử vô di

                      Việc phân kim, tức thu minh sinh pḥng ám tử rất khó khăn nhọc nhằn, v́ phải cân nhắc cho thật kỹ. Càng kỹ càng tốt, cần chỉ làm một lần xong tác phẩm đó chứ không thể để mả xuống rồi thấy sai lại đào lên làm hai.

                      (92) Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn

                      Nếu có huyệt tốt mà tiên sa nạp thủy rất đúng không lầm lẫn ǵ cả th́:

                      (93) Quả nhiên huyệt chính long chân

                      (94) Tiêu sa nạp thủy chớ lầm một ly

                      Và sau khi táng xong ta phải mừng là phúc nhà đă giúp cho được đất có một phần và nhờ sự tận tâm của thầy địa lư một phần nửa. Bởi v́ được đất rồi dù gia thế trước kia có hèn kém cũng có thể trở nên trâm anh, thế phiệt, con cháu gần xa đều được hưởng. Đất phát văn th́ làm quan văn, đất phát vơ th́ hiển đạt về vơ nghiệp và đất phát phú th́ giầu có đời đời.

                      (95) Táng thôi phúc lư tuy chi

                      (96) Trâm anh thế phiệt thư thi gia truyền

                      Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du nói nhà Kim Trong được đất phát văn như sau:

                      Nền phú quư bậc tài danh

                      Văn chương nếp đất thông minh tính trời

                      Phong tư tài mạo tuyệt vời

                      Vào trong phong nhă ra ngoài hào hoa



                      Việc để đất quan trọng là như thế, cho nên những ai muốn có đất tốt cho ông cha, chớ nên coi thường, muốn kiếm một ngôi đất lớn không phải là dễ. Trước tiên phải kiếm thầy giỏi; sau nữa thầy địa lư phải kỳ công kiếm đất rồi điểm huyệt, phân kim cho thật chu đáo, mới có hy vọng. V́ vậy thiếu chi người xin để đất mà đă mấy người được toại nguyện

                      Một thầy địa lư có khi phải dụng công học hỏi, nghiên cứu cả đời người cũng chưa chắc đă làm toàn vẹn được, nếu họ không phải là học được phép địa lư chính tông.

                      Thầy chính tông hiện nay rất khó kiếm nhưng địa đạo diễn ca của cụ Tả Ao mà chúng tôi tŕnh bày đây đều được các cụ giỏi địa lư công nhận là căn bản chính tông địa lư. Chúng ta chỉ cần phát huy cho biết dụng ư của nó cũng là lợi ích lắm rồi.
                      Vạn Xuân

                      Comment


                      • #12
                        CHƯƠNG THỨ TÁM


                        NÓI VỀ LƯ KHÍ




                        (97) Muốn cho con trưởng phát tiên

                        (98) Th́ t́m long nội đất liền quá cung

                        (99) Thanh long liên châu cao phong

                        (100) Kim tinh thổ phụ phát ḍng trưởng nam

                        (101) Con gái về bên hổ sơn

                        (102) Hổ cao th́ phát sơn bàn cho thông

                        (103) Phản hổ con gái lộn chồng

                        (104) Phản long trai nó ra ḷng bất nhân

                        (105) Vô long như người vô chân

                        (106) Vô hổ như đứa ở trần không tay

                        (107) Trông long hổ lấy làm thầy trước

                        (108) Sau sẽ t́m lấy chỗ huyệt chôn

                        (109) Nước chẳng tụ đường kể chi

                        (110) Kiếm ăn cũng khá xong th́ lại không

                        (111) Con trai th́ ở bất trung

                        (112) Con gái thất tiết chả dùng cả hai




                        Phần này Cụ Tả Ao đề cập đến lư khí:

                        Cái thế Long đi ở Việt Nam hay tạo ra những kiểu đất “Trưởng bại thứ thành”, nghĩa là con trưởng hèn kém nghèo khó và con thứ lại giàu sang quyền quư. Nhiều người để đất muốn xin thầy kiếm cho ngôi đất nàng ngành Trưởng lên

                        Cụ Tả Ao chỉ cho biết phép t́m đất cho con Trưởng phát, dưới đây:

                        (97) Muốn cho con trưởng phát tiên

                        (98) Th́ t́m long nội đất liền quá cung

                        Có nghĩa là muốn cho con trưởng phát trước th́ nên t́m kiểu đất mà tay Long ở bên trong cùng tức là Long Nội nhiều kiểu đất có nhiều tầng Long hổ dài ra ôm ṿng tới trước Án, hay tay Long có đoạn cuối nổi lên như cái g̣ làm án. Được kiểu đất như vậy con Trưởng sẽ phát trước con thứ.

                        Trên kia là cách để đất cho con trưởng phát, hưởng trước nhưng nếu muốn con trưởng phát lớn th́ phải kén đất:

                        (99) Thanh long liên châu cao phong

                        (100) Kim tinh thổ phụ phát ḍng trưởng nam

                        Đó là ở kiểu đất trên tay Long nổi lên những ụ cao tṛn liền nhau (liên châu cao phong)

                        Trên tay Long có g̣ cao tṛn (kim) hay vuông (thổ) cũng đều tốt.

                        C̣n nói đến con gái và con thứ phải nói đến tay Hổ.

                        (101) Con gái về bên hổ sơn

                        (102) Hổ cao th́ phát sơn bàn cho thông

                        Hổ sơn là tay hổ của huyệt. Nó là tay phải của huyệt ôm ṿng vào trước huyệt. Tay hổ có ụ cao th́ tốt. Long càng dài nhọn th́ hổ càng cao, thủy đầu càng tốt. Trên tay Hổ có khúc nào cao lên đúng vị trí cần thiết, ứng vào người gái trưởng, gái thứ, gái út th́ người con gái đó sẽ phát.

                        Ở hướng Tốn con gái trưởng phát.

                        Hướng Ly con gái thứ phát

                        Hướng Đoài con gái út phát.

                        Câu “Hổ cao th́ phát” đă nói rồi c̣n câu “Sơn bàn cho thông” ta phải hiểu rằng cụ Tả Ao khuyên ta nên hiểu và biết cắt nghĩa cho thông h́nh dáng của núi g̣ đống. Tất cả gọi là sơn bàn của cuộc đất.

                        Tay Long và tay Hổ c̣n phải luôn luôn ôm chầu về huyệt. Nếu tay Long Hổ mà quay ra (phản Long hay phản Hổ) hoặc phá nhau, đâm vào nhau (Long Hổ ḱnh quyền) th́ rất xấu. Cụ Tả Ao cắt nghĩa ở câu:

                        (103) Phản hổ con gái lộn chồng

                        (104) Phản long trai nó ra ḷng bất nhân

                        Đất phản Hổ th́ con gái không được đoan chính hay đường chồng con rất xấu, nếu không th́ con gái cũng bị tai nạn h́nh thương, c̣n đất phản Long th́ con trai lông bông, vô t́nh với gia đ́nh và xă hội hoặc bất nhân bạc ác hay bị khắc hại.

                        - Phản long phản hổ ta đă bàn rồi. Thế mà Long Hổ nhiều khi c̣n xảy ra trường hợp đặc biệt khác nữa: như kiểu đất thiếu một tay Long hay thiếu một tay Hổ.

                        (105) Vô long như người vô chân

                        (106) Vô hổ như đứa ở trần không tay

                        Thật vậy, trong một kiểu đất đủ kết mà thiếu một tay Long hay một tay Hổ trong nó lệch lạc khó coi làm sao. Khi nh́n nó ta có cảm tưởng như nh́n một người thiếu một tay hay thiếu một chân.

                        Đây là loại đất đặc biệt, vô Long vô Hổ th́ có tội, nhưng thay vào tay Long tay Hổ, khiếm khuyết đó, mà có một ḍng nước hay ngoại Long, ngoại Hổ hổ khuyết th́ cũng có thể có đất to. Tuy nhiên đất này đôi khi trong nhà trong ḍng họ vẫn có người tội lỗi, bệnh tật kinh niên. Như thế là họ gánh cái xấu cho những người khác. Họ là người đáng thương của ḍng họ nào có kiểu đất vô Long hoặc vô Hổ.

                        Long hổ không cân đối ta cũng nên bàn thêm là:

                        Đất có tay Long dài th́ vượng về âm phần

                        Đất có tay Hổ dài th́ vượng về dương cơ

                        Long Hổ là con cháu của nhà được đất kết nên phải cho là quan trọng. Do đó khi được đất kết rồi, trước khi điểm huyệt, phân kim phải cân nhắc lại sơn bàn về Long Hổ cho kỹ

                        (107) Trông Long hổ lấy làm thầy trước

                        (108) Sau sẽ t́m lấy chỗ huyệt chôn

                        Phần linh tinh sau cùng này cụ Tả Ao nhấn lại và thêm ư kiến cho những ǵ quan trọng mà cụ đă nói qua ở trên. Sau khi nhấn thêm về Long Hổ rồi cụ lại đề cập đến Minh Đường một lần nữa.

                        (109) Nước chẳng tụ đường kể chi

                        (110) Kiếm ăn cũng khá xong th́ lại không

                        (111) Con trai th́ ở bất trung

                        (112) Con gái thất tiết chả dùng cả hai

                        Có nghĩa là Minh đường cần nhất là phải có thủy tụ th́ mới có tiền, mới giàu có được. Nếu Minh đường mà không có nước th́ có làm mà không hưởng.

                        (109) Nước chẳng tụ đường kể chi

                        (110) Kiếm ăn cũng khá xong th́ lại không

                        Về phẩm của nước th́ khi Minh đường có nước trong sẽ tốt hơn Minh đường nước đục.

                        Minh đường rộng lớn quanh năm tụ thủy mà lại trong đẹp như mặt gương là loại Minh đường quư.

                        Con cái nhà đó sẽ học giỏi thông minh

                        Trái lại ḷng Minh đường lệch lạc nghiêng chênh không tụ nước th́ ứng vào trai bất trung, gái thất tiết:

                        (111) Con trai th́ ở bất trung

                        (112) Con gái thất tiết chả dùng cả hai

                        Cũng bàn thêm về nội Minh đường và ngoại Minh đường cho đầy đủ hơn.

                        Ta đă biết trước huyệt có Án chiều về. Vậy cứ lấy Án gần huyệt làm đích phán ra nội Minh đường và ngoại minh đường.

                        Nội Minh đường là loại Minh đường nằm trước huyệt sau Án gần nhất. C̣n ngoại Minh đường là những chỗ nước tụ ở ngoài Án đó. Có nội, ngoại minh đường th́ cũng có thể có nội án và ngoại án.

                        Cần nhất là nội Minh đường phải có nước. C̣n ngoại Minh Đường càng có nhiều càng tốt, có ít cũng không sao.

                        Đất to có ba Minh đường trở lên và không dưới ba tầng Long Hổ
                        Vạn Xuân

                        Comment


                        • #13
                          CHƯƠNG THỨ CHÍN


                          KẾT LUẬN




                          (113) Thấy đâu Long Hổ chiều lai

                          (114) Minh đường thủy tụ huyệt tài mới hay

                          (115) Tiền quan, hậu quỷ sắp bày

                          (116) Án dày muốn thấp, chiều dày phải cao

                          (117) Xem huyệt nào làm cho phải phép

                          (118) Chớ đào xâu mà thiệt như không

                          (119) Ḱa ai địa lư vô tông

                          (120) Chẳng cứ đúng phép cũng ḍng vô sư



                          Tới đây là phần kết luận Phần này có 8 câu th́ 4 câu đầu ôn lại đại cương một huyệt kết và 4 câu dưới là kết luận của quyển Địa Đạo Diễn Ca này.

                          Trong 4 câu đầu cụ Tả Ao nói: Sau khi Tầm Long thấy huyệt kết rồi, phải xem có Thanh Long bên trái và Bạch Hổ bên phải chầu vào huyệt:

                          (113) Thấy đâu Long hổ chiều lai

                          Rồi trước huyệt phải có Minh Đường có nước tụ ở đó.

                          (114) Minh đường thủy tụ huyệt tài mới hay

                          Trước và sau huyệt phải có tiền quan hậu quỷ nghinh, tống Tiền quan ở trước huyệt th́ nghinh đón và hậu quỷ ở sau huyệt th́ hộ tống.

                          Quan quỷ là các chứng ứng nổi lên ở trước và sau huyệt để thêm tôn quư, nó là các sơn có nhiều h́nh thể khác nhau giống h́nh ǵ th́ gọi là h́nh đó như bút, kiếm, ấn, voi, ngựa, chiêng, trống v.v.... ở trước và sau huyệt.

                          (115) Tiền quan hậu quỷ sắp bày

                          Ba câu 113 – 114 – 115 là tóm tắt những điều quan trọng cho một huyệt kết. Cụ Tả Ao đă tả nó một cách nôm na hơn như sau:

                          Hai bên ruộng đỗ, dưới có lỗ cấy chiêm

                          Đôi bên lưỡi liềm qua lại

                          Có nghĩa là người tầm long theo mạch đất, xuôi theo chiều nước chảy (hay xuôi theo chiều ruộng cao xuống chiều ruộng thấp) mà lần ṃ cho tới nơi đất kết (nơi long đ́nh khí chỉ) nếu thấy chỗ đó có ruộng cấy Chiêm mà hai bên có ruộng trồng màu như ngô, khoai, đỗ:

                          “Bên trên ruộng đỗ, dưới có lỗ cấy chiêm”

                          Lại nh́n 2 bên ruộng đỗ nếu là 2 tay long hổ th́ nó phải ôm chầu vào huyệt trông như hai cái lưỡi liềm qua lại:

                          Đôi bên luỡi liềm qua lại

                          Th́ chỗ đó dễ có đất kết v́ lỗ cấy chiêm là minh đường và ruộng đổ ruộng màu ở hai bên là long hổ.

                          Trên là sự cân đối về bề mặt và chiều cao thấp của một của một kiểu đất kết cũng cần phải có một thứ tự hữu lư như sau:

                          Bao nhiêu những g̣ đống, chứng ứng gần huyệt như Án phải cao bằng từ mặt đến rốn người ngồi ở huyệt.

                          C̣n chứng ứng ở xa th́ phải theo thứ tự càng xa càng cao:

                          (116) Án dày muốn thấp chiều dày phải cao

                          Có nghĩa là Án so sánh với Chiều th́ án phải thấp hơn chiều, chiều là g̣ đống ở xa chầu về và án là g̣ đống ở trước huyệt chầu về.

                          C̣n 4 câu chót th́ hai câu trên cụ Tả Ao nhắn nhủ ta phải cẩn thận về việc đào huyệt:

                          (117) Xem huyệt nào đào cho phải phép

                          (118) Chớ đào sâu mà thiệt như không

                          Một huyệt đào nông quá th́ lâu mới quán khí, mà đào sâu quá th́ khí mach đi mất, có huyệt kết cũng như không.

                          Thật ra huyệt đào nông sâu phải cân nhắc theo chiều cao của Minh đường, Án, Long hổ, nước âm mạch và giao thổ mới đúng.

                          Tuy nhiên nếu lấy giao thổ làm đích th́ cũng không mấy khí hỏng. Giao thổ là giữa lớp đất thứ hai và thứ ba (nếu lớp đất trên cùng là do lá, bụi, lâu năm phủ lên).

                          Ta đă biết đào nông th́ lâu kết và đào sâu quá th́ mất cả, vậy nên nhằm chiều nông hơn nhằm chiều sâu.

                          Tất cả những ǵ đă tŕnh từ câu thứ nhất đến câu 118 với sự bổ túc của soạn giả có thể giúp các bạn ưa khoa này nắm được một số yếu lư căn bản của khoa Địa lư, mà tùy thuộc về loại địa lư chính tông. Với số vốn quư giá dùng làm tài liệu để học thêm các sách địa lư cũng có thể phân biệt điều đúng điều sai. Khoa địa lư gần như thất truyền phép chính tông nên các cụ gặp man thư hay man ngôn rất nhiều. Có man thư và man ngôn tất nhiên phải có man sư là loại thầy Địa lư không phải chính tông. Họ không giúp ích được cho người để đất mà c̣n nhiều khi gây tai hại cho ḍng họ nhờ thầy để đất nữa.

                          Loại thầy được truyền nghề không phải chính tông cụ Tả Ao gọi là “vô tông”.

                          C̣n loại thầy địa lư tự học lấy dù có một vài khí đúng phép xong không được toàn vẹn th́ cụ Tả Ao gọi họ là “vô sư”.

                          Do đó cụ Tả Ao phê b́nh như trên ở câu cuối cùng:

                          (119) Ḱa ai địa lư “vô tông”.

                          (120) Chẳng cứ đúng phép cũng ḍng “vô sư”

                          Và cũng v́ sợ khoa Địa lư trở nên tàn tạ v́ những man thư nên tác giả cố gắng tŕnh bày, chỉ tŕnh bày những ǵ là chính tông. Những ǵ viết ở quyển này đă được các nhà Địa lư chính tông và tài giỏi cân nhắc sửa chữa nhiều lần. Những chi tiết nào mơ hồ hay có thể đưa đến sự sai nhầm th́ dù có hay mấy chúng tôi cũng không để ở quyển Địa Lư nhập môn này. Ngày nay kiếm được thầy địa lư chính tông để học khoa địa lư thật khó nhưng sách địa lư này có thể bảo đảm là chính tông, có thể dùng xác định được sự đúng sai của các sách địa lư khác.

                          Hiểu đến đây, các bạn đă có tạm đủ ư thức căn bản địa lư của người mới học. Cần theo lời cụ Tả Ao ở câu “chẳng qua ra đến ngoài đồng, tỏ mạch tỏ nước tỏ lông mới tường” mà tập thực hành tầm long tróc mạch ở ngoài trời, ngoài đồng để cho quen việc t́m ra huyệt tràng và huyệt kết. Mới đầu chưa cần dùng đến la kinh mà chỉ cần cái tróc long có kim chỉ nam ở giữa và 3 ṿng thiên bàn, nhân bàn, địa bàn ở ngoài là đủ. Các bạn có thể tự làm lấy một cái tróc long bằng cách dùng một cái kim chỉ nam đặt vào giữa một miếng cát tông vẽ 3 ṿng tṛn.

                          Tại 3 ṿng tṛn, mỗi ṿng chia làm 24 ô đều nhau (nên nhớ chia ô ở ṿng ngoài cùng và ṿng giữa, chênh lệch nửa ô (7 độ rưỡi) với ṿng trong cùng và ghi 24 chữ: Măo, Ất, Th́n, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn – Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tư, Quư, Sửu, Cấn, Dần, Giáp (ghi theo thứ tự chiều kim đồng hồ quay (chiều thuận) vào 24 ô như chỉ dẫn ở câu “bốn là mở sách la bàn cho thông” trang 22, là các bạn đă tạm có cái tróc long rồi. Chúng tôi thấy có người vẽ ngay lên mặt kính của kim chỉ nam 24 ô làm ṿng địa bàn c̣n thiên bàn và nhân bàn họ dùng giữa ô của địa bàn làm đích cũng tạm dùng được. Trước tiên các bạn kiếm những mả xây lớn (nghi là kết) ở giữa đồng mang tróc long lại coi thử. Sau các bạn thấy đất nào có vẻ long hổ, minh đường th́ lại t́m cho quen. Sau nữa đến giai đoạn tự ư theo long mạch đi t́m đất kết.
                          Vạn Xuân

                          Comment

                          Working...
                          X