Thông báo

Thông báo Module
Collapse
No announcement yet.

Cầm, Tiêu, Sáo, Địch --- Toan Ánh

Page Title Module
Move Remove Collapse
X
Conversation Detail Module
Collapse
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Cầm, Tiêu, Sáo, Địch --- Toan Ánh

    Trong văn thơ, DN thấy cầm sáo tiêu đàn đă được dùng rất phổ biến để miêu tả tâm sự con người hay quan niệm nhân sinh . DN t́nh cờ t́m thấy một cuôn sách nói về cầm, nên post lên đây cho mọi người cùng t́m hiểu về cái thú tiêu khiển này nha .

    Trong những thú vui tao nhă của ta, người xưa xếp tứ thứ phong lưu lên đầu mà đứng đầu tứ thứ này là cầm, nghĩa là chơi đàn . Những lúc thư nhàn, những khi đêm khuya thanh vắng với một niềm tâm tư vui buồn riêng, dạo một khúc đàn, thổi một bản sáo để tự tỏ nỗi vui hoặc giải nỗi buồn, quả thật là thú vị . Sự trầm lặng yên tĩnh càng tăng vẻ tao nhă của thú chơi . Tiếng đàn thánh tha thánh thót như những cung bực của niềm vui, mà cũng có thể như những tiếng nói để lộ nỗi buồn u uất .
    Đàn tuy là một thú tiêu khiển, nhưng trong đạo trị dân của người xưa, đàn, hay đúng hơn, nhạc cũng là một trong những điều quan trọng, v́ điệu đàn là tự ḷng người mà hiện ra . Qua điệu đàn của một địa phương, có thể biết được phong hóa thịnh suy, chính trị mờ tỏ .
    Sách Lễ Kư có nói rằng: Nhạc giả thông luân lư giả đă, nghĩa là nhạc thông với luân lư . Tiếng nhạc thanh tao êm ái có thể biến thành khêu gợi dâm đăng . Người xưa chơi đàn ǵn giữ chánh thanh, cố giữ điệu đàn không có âm thanh biến thể để chánh thanh hóa dâm thanh .
    Đàn tuy tao nhă, nhưng chỉ tao nhă với khách phong lưu; với những người đạo đức kém, người xưa cho là gia hữu cầm, nữ tử dâm, (thật là khắc khe quá ha )
    Đàn hay dở lợi hại là do người, người học đàn phải biết tự điều khiển ḿnh, tiếng đàn mới hữu ích và không di hại .
    Người xưa thường dùng đàn để chỉnh tâm dưỡng tánh, để khuyến thiện, răn ác với mục đích sửa cho ngay ḷng người . Vua Thuấn xưa gảy cây đàn năm dây, ca bài Nam Phong đem sự đại trị lại cho thiên hạ, đức Khổng Tử khi ở nước Tề, nghe nhạc Thiều mà quên ăn .
    Tại nước ta, đàn nhạc đă có từ lâu và vua Lê Thánh Tôn đă quy luật âm nhạc bằng cách đặt ra bộ Đồng Văn và bộ Nhă Nhạc để ḥa nhạc và xướng hát . Trong các cuộc tế lễ từ Triều đ́nh đến dân gian, bao giờ đàn nhạc cũng điều ḥa nghi lễ .
    Đàn đă ăn sâu vào phong tục của ta, đàn đă là một thú tiêu khiển thanh tao, và đàn cũng đă gắn liền với một phần đời sống của nhiều người, từ nơi dân giả tới hàng quư tộc .

    BÁT ÂM
    Đàn hay dở do âm thanh, khéo điều ḥa âm thanh th́ tiếng đàn thánh thót thanh cao êm ái, điều ḥa vụng, âm thanh rối loạn, và như vậy tiếng đàn cũng biến theo .
    Để phát ra âm thanh, ta dùng tám thứ tiếng phát ra tám vật khác nhau, gọi là bát âm, do đó các phường nhạc của ta xưa c̣n được gọi là phường bát âm .
    Bát âm gồm:
    Kim: tiếng loại kim khí, thường là tiếng đồng như tiếng chuông, tiếng bạt ( loại chuông nhỏ ), tiêng chiêng, tiếng nao, tiếng băo bạt, tiếng sinh tiền, ect...
    Thạch: tiếng đá, thường là tiếng khánh .
    Thổ: tiếng đất sét nung, thường là tiếng huân, một thứ nhạc dùng để thổi, tiếng c̣i và có khi tiếng bát .
    Ti: tiếng phát ra do dây tơ, thường là tiếng các thứ đàn: cầm, sắt, tỳ bà, tranh, nguyệt v..v...
    Trúc: tiếng các loại tre, thường là tiếng các loại sáo, loại tiêu ...
    Bào: tiếng trái bầu, trái bí, thường là tiếng kèn . Cổ nhân thường dùng các loại bầu bí làm kèn .
    Cách: tiếng da thuộc căng thẳng, thường là tiếng trống
    Mộc: tiếng gỗ thường là tiếng mơ, tiếng phách

    Những nhạc khí chế tạo bởi các nguyên liệu trên phát ra mỗi loại một thứ tiếng khác nhau, nhiều âm thanh có thể đi đơn độc trong các bản độc tấu, nhưng thường trong một buổi ḥa nhạc, phái có sự ḥa hợp pha trộn giữa nhiều âm thanh của nhiều nhạc khí . Tiếng gọi là bát âm, nhưng trên thực tế rất ít khi phường bát âm dùng đủ các nhạc cụ với đủ tám thanh âm của tám nguyên liệu nói trên, nhứt là gỗ, thiệt ít khi được dùng đến . Thường trong những buổi đàn hát, các âm thanh của ti, trúc, cách và kim được dùng đến nhiều, và những nhạc khí cũng được thay đổi tuỳ từng trường hợp, nhiều nhạc khí nhu8 kèn trống đám táng không đem dùng trong buổi tế lễ, mặc dầu các bản nhạc không giống nhau .
    Trong trường hợp có một bản nhạc ḥa nên bởi cả tám nhạc khí, bản nhạc gọi là bát âm nhă nhạc. Thường phường bát âm xưa chỉ chơi những điệu có sẵn như lưu thủy, ngũ đối, tứ đại, nam ai, nam b́nh, tẩu mă ... rất ít có bản mới .

    NHỮNG ĐIỀU KỴ

    Người xưa chơi nhạc có sáu điều kỵ gọi là lục kỵ, những điều kỵ này đều về thời tiết . Các nhạc cụ là những đồ lúc làm cần tỉ mỉ để giữ cho cung điệu được đúng, sai một chút là lạc âm thanh . Kỹ thuật chế tao. nhạc cụ của ta xưa dù sao cũng chưa ḥan toàn tinh vi, nhất là thân nhiều nhạc cụ đều bằng gỗ hoặc tre, rất dễ chịu ảnh hưởng của thời tiết .
    1. Kỵ đại hàn: trời lạnh thường làm mọi vật se lại, co lại, và trong lúc đó khí trời cũng khô lạnh . Gặp kỳ đại hàn, nước c̣n đông lại, đàn không thể hay được .
    2. Kỵ đại thử: trái với lạnh, gặp nóng vật ǵ cũng nở ra, và trong lúc đó khí trời như bốc lửa . Đàn gảy lên không phản ảnh đúng được cung bực của bản đàn, đàn không hay .
    3. Kỵ đại phong: gió lớn làm rung bầu không khí, những âm thanh phát ra cũng bị rung động theo, đàn trong cơn đại phong cũng không lột hết được ư đàn .
    4. Kỵ đại vũ: mưa to, nước đổ như trút, tiếng nước đổ át tiếng đàn, đàn không hay . Đây là chưa kể không khí có nước làm âm thanh có thể sai lạc và dây đàn cũng chịu ảnh hưởng sự ẩm thấp của khí trời .
    5. Kỵ sấm sét: khi sâm sét vang trời, đàn không hay
    6. Kỵ đại tuyết: khi tuyết phủ đầy đường, đàn không hay . Nước ta không có tuyết, nếu có cũng rất hữu hạn và cũng có chỉ có ở các tỉh biên giới miền Bắc nơi có núi cao .

    Sáu điều kỵ trên của các tài tử phương Đông thời xưa, các cụ ta vẫn hằng theo . Xét cho kỹ những điều kỵ đó cũng đúng, nhất là đối với các nhạc khí của người ḿnh chế tạo, tuy có tinh vi nhưng cũng không hoàn toàn thoát khỏi được ảnh hưởng của thời tiết
    Ngày nay với những nhạc khí Tây phương của nền tân nhạc, chế tạo bởi nhưng nguyên liệu chọn lọc qua một kỹ thuật tân kỳ, không hiểu lục kỵ trên có c̣n chăng ? và các nhạc sĩ cổ điển ngày nay có c̣n giữ những điều kỵ của người xưa ?

    NHỮNG TRƯỜNG HƠP KHÔNG ĐÀN
    Gặp những khi thời tiết kỵ với những tiếng đàn, người ta không đàn, nhưng ngoài những trường hợp đại kỵ nêu trên, cũng c̣n những trường hợp khác người tao nhă không đàn . Những trường hợp này có bảy và người xưa gọi là Thất bất đàn. Bảy trường hợp này hoặc nằm trong khuôn phép sử thế của người lịch thanh cao, người chơi đàn thường cố giữ ǵn để tránh chê trách của bậc tri thức thượng lưu, hoa*.c v́ tôn trọng ngón chơi, nâng cao nghệ thuật/

    Thất bất đàn là:

    1. Tang tóc không đàn

    2. Khi nhạc có chuông trống ồn ào không đàn

    3. Khi tâm trạng bối rối không đàn

    4. Khăn áo không chỉnh tề không đàn

    5. Không xông trầm không đàn

    6. Trong ḿnh không sạch sẽ không đàn

    7. Không gặp tri âm không đàn

    Tang tóc không đàn v́ sự buồn rầu; chơi đàn là để giải trí, giải trí trong lúc có tang không hợp với đạo đức của phương Ddông . Các cụ c̣n nói nghe tang không đàn, tang đây có thể là tang của người khác, như được một tin buồn của người khác, người lịch sự không có quyền vui với đàn địch trong khi người khác đau xót.
    Khi nhạc có chuông, có trống không đàn v́ tiếng chuông tiếng trống sè át hẳn tiếng dàn, đàn dù có hay mấy cũng không ai biết thưởng thức vàchính ḿnh cùng không tự thưởng thức được tài nghệ của ḿnh, lại khi tâm trạng bối rối, đàn làm sao mà hay đươc.
    Khăn áo không chỉnh tề, trong người không sạch sẽ, không xông hươn, xông trầm không đàn chính v́ lư do nâng cao nghệ thuật.
    Không gặp tri âm cũng không đàn, v́ đàn lên ai là người nghe, ai là người thấu được tâm trạng của ḿnh qua tiếng đàn.
    DN nghĩ hầu hết tất cả các bạn nơi đây đều đă đọc qua sự tích Bá Nha, Tử Kỳ, nhưng vẫn nhặc lại để chứng tỏ đàn mà có tri âm, người chơi đàn mới thật là măn nguyện.

    SỰ TÍCH BÁ NHA, TỬ KỲ
    Bá Nha người nước Tống làm quan đến chức Thượng Ddại Phu, chơi đàn rất giỏi, nhưng chưa gặp người hiê/u đàn để thưởng thức ngón đàn tuyệt vời của ḿnh . Một ngày kia ông đi sứ nước Sở về, qua một quăng sông, gặp đêm trăng trong, gió mát, lại thêm cảnh vật nên thơ, Ông cho ghé thuyền vào bờ sông Hàm Dương lấy đàn ra gảy. Lúc ấy ở trên bờ sông có Tử Kỳ vừa đốn củi về, nghe tiếng đàn dừng lại nghe trộm . Bá Nha đang gảy đàn, đàn bỗng đứt dây . Bá Nha đoán có người nghe trộm tiếng đàn của ḿnh, và Ông nghĩ, quăng sông vắng vẻ, rừng núi chập chùng, kẻ nghe trộm đàn ắt không phải thiện nhân. Ông cho quân sĩ lên bờ t́m bắt . Tử Kỳ lên tiến nói:
    -Tôi là người đốn củi, qua đây, thấy đại nhân gảy khúc đàn hay nên lắng tai nghe, tôi không phải là kẻ bất lương .
    Bá Nha không tin một gă tiều ph lại thưởng thức nổi tiếng đàn của ḿnh, hỏi lại:
    -Vừa rồi ta đàn bản ǵ ?
    Tử Kỳ đáp ngay:
    -Ngài đàn bản Đức Khổng Tử thương tiếc ngài Nhan Hồi .
    Thấy Tử Kỳ am hiểu tiếng đàn của ḿnh, Bá Nha có ḷng trọng, mời xuống thuyền, rồi lên dây gảy một bản đàn khác . Trong lúc đàn, Bá Nha nghĩ đến non cao, Tử Kỳ khen hay và nói:
    -Tiếng đàn cao vút, chí của Ngài ṿi vọi ở chốn non cao .
    Bá Nha lại đàn một bản khác, tâm trí nghĩ đến gịng nước chảy, Tử Kỳ lại khen hay:
    -Chí của Ngài cuồn cuộn như gịng nước chảy .
    Thấy Tử Kỳ biết thưởng thức ngón đàn của ḿnh, Bá Nha nhận thấy thiê.tlà tri âm và quư mến lắm . Hai người cùng nhau đàm đạo về đàn, về nhạc thân mật và tương đắc .
    Bá Nha muốn mời Tử Kỳ cùng về Kinh đô nước Sở với ḿnh để cùng chung hưởng sang giàu, nhưng Tử Kỳ từ chối v́ c̣n cha mẹ già phải phụng dưỡng, không thể bỏ cha mẹ ra đi, trái đạo làm con .
    Hai người hẹn nhau đến năm sau cùng hội ngộ ở nơi đây .
    Năm sau, y hẹn, Bá Nha xin phép vua Tống trở về thăm nhà, đi qua chỗ cũ đem đàn ra gảy . Ddàn gảy lên, Bá Nha không thấy Tử Kỳ, tiếng đàn lại nghe như sầu năo oán thán . Bá Nha nghi hoặc, t́m đến nhà Tử Kỳ, hỏi ra mới hay Tử Kỳ đă mất, Bá Nha buồn rầu thương tiếc, xin đến mă để thăm người bạn tri âm lần chót .
    Đến mộ Tử Kỳ, Bá Nha đem đàn ra gảy một bản đàn ai điếu nghe bi thảm năo ruột sau khi đà bày đồ lễ trước nơi an nghỉ cuối cùng của người tri kỷ . Bá Nha khóc than thảm thiết và khi đàn xong, Bá Nha đập vỡ đàn, thề trọn đời không đàn nữa, v́ người duy nhất biết thưởng thức đàn của ḿnh là Tử Kỳ đă chết .


    Qua sự tích trên, phải nhận rằng chơi đàn đà là một cái thú, gặp người biết thưởng thức ngón đàn của ḿnh lại càng thú vị hơn .

    BÁT TUYỆT

    Đàn hay, khách chơi đàn cần phải có tri âm và khi đă đạt tới mức của Bá Nha, ngón đàn phải là tuyệt diệu .
    Theo người xưa, cái tuyệt trong đàn có tám điều gọi là Bát Tuyệt, và tám điều này, đạt được thực ra rất hiếm người .
    Bát tuyệt là:

    Thanh: đàn hay, người chơi đàn khiến được tiếng đàn . Gặp cây đàn tiếng đục, lúc chơi tiếng đàn cũng hóa trong.
    Kỳ: Ddàn hay thật là kỳ ảo, biến hóa vô cùng trong đục rơ rệt và nghĩ tới đâu, tiếng đàn như theo tới đó, như khi Bá Nha đàn cho Tử Kỳ nghe, lúc lên non cao, lúc theo gịng nước.
    U: Tâm hồn người chơi đàn nằm trong tiếng đàn nếu có chuyện ǵ u trầm, trong tiếng đàn có thể hiện ra . Sách xưa ghi lại truyện Ddức Khổng Tử đánh đàn. Lúc Ngài đang đàn, có thầy Tăng Tử cùng thầy Tử Cống đứng bên cửa nghe . Khi Ngài đàn xong, thầy Tăng Tử nói rằng: "Trong tiếng đàn dường như có sát khí, sao mà bất nhân thế!"
    Thầy Tử Cống nhắc lại lời thầy Tăng Tử với đức Khổng Tử . Ngài bảo rằng:
    -Sâm ( tên húy của thầy Tăng Tử ) thật là người hiền trong thiên hạ, đă quen thẩm âm rồi . Khi ta đang đàn có một con chuột chạy ra, con mèo thấy, mắt lăm le, chân nhẹ nhẹ ŕnh bắt con chuột, ta muốn cho bắt được, điều muốn của ta đă hiện trong tiếng đàn .


    Nhă: tiếng đàn vui vẻ mà ḥa nhă, không hấp tấp, lụp chụp .
    Bi: Trong tâm có điều ǵ bất như ư, tiếng đàn nghe sầu năo ai oán .
    Tráng: gặp chuyện đắc ư, tiếng đàn nghe mạnh mẽ hùng tráng .
    Du: Ư người đánh đàn ở non cao hay vực thẳm, tiếng đàn biểu hiện được nơi đó hoặc cao xa hoặc thăm thẳm .
    Trường: Ư người đánh đàn tại chỗ sâu xa, tiếng đàn nghe dài dặc, cuồn cuộn như gịng nước .

    Chơi đàn đạt được bát tuyệt, ngón đàn thật là tinh vi, và người sành đàn được thưởng thức tài nghệ thuật này cũng lấy làm thú vị .

    Last edited by Lam Dai Ngoc; 07-06-2002, 11:59 AM.

  • #2
    Nhạc Khí

    Chơi nhạc, người sử dụng nhạc khí này, người sành nhạc khí khác, mỗi cây đàn, cây sáo, cây nhị, âm thanh mỗi khác. T́nh cảm của người chơi nhạc biểu lộ qua cung đàn, điệu sáo, nhưng mỗi ngón đàn nhạc lại nói lên mộc cách tâm hồn của người chơi cũng như lại diễntả một tính cách, tính t́nh khác nhau ? Có tiếng đàn gảy nên những khúc hùng tráng mạnh mẽ, có tiếng đàn tạo nên những điệu êm đềm mơ mộng nhẹ nhàng. Có người chỉ giỏi về một cây đàn có người tài nghệ có thể diễn hiển trên đôi ba nhạ khí.
    Nhạc khí của ta rất nhiều từ đàn đến sáo, từ sáo tới nhị - ở đây xin không nhắc tới những loại thanh la, nào bạt, chuông trống, chiêng khánh, thường chỉ được sử dụng trong những cuộc tế lễ.
    CÁC LOẠI ĐÀN

    1. ĐÀN BẦU: Cây đàn hoàn toàn Việt Nam, nặng tính chất Việt Nam nhất phải kể là cây đàn bầu. Đàn bầu được chế tạo một cách hết sức giản dị, và chỉ có một dây, do đó đàn c̣n có tên là độc huyền cầm.
    Dây đàn căng thẳng trên trống đàn, một đầu dây buộc chặt vào trống đàn, c̣n một đầu buộc vào cây trụ bằng tre. Cây trụ dùng đển nhấn âm thanh khi nhạc sĩ khảy đàn. Đàn không ngựa, không phím, và trên mặt trống chỉ có ba gạch trắng, chia đàn làm bốn cung thay v́ năm cung như các đàn khác. Các nhạc sĩ thành thạo, không cần đến vạch trắng, họ đă hiểu cung nào ở chổ nào.
    Tuy đàn chỉ có bốn cung nhưng mỗi cung có thể tạo ra rất nhiều âm thanh và tiếng đàn nghe tha thiết buồn buồn, một thứ buồn êm ái quyến rũ, đôi khi đến năo nùng để thấm lặng vào tâm hồn con người.
    Người xưa cho những bản nhạc của đàn bầu là tục nhạc, là dâm thanh v́ tiếng nhạc dễ gợi u hoài và tạo niềm sầu cảm.
    Ca dao có câu:
    Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.
    Đàn bà con gái bị cấm nghe đàn bầu chính v́ sức quyến rũ của những bản đàn.
    Những đêm khuya thanh vắng, tiếng đàn như rót vào tâm hồn con người và có một sức khêu gợi mănh liệt, người có tâm sự buồn nghe đàn càng thấy buồn thấm thía, trách chi những thiếu phụ, nữ lang sống cô độc một trong khuê pḥng làm sao tránh khỏi ảnh hưởng của âm thanh sầu man mác và đầy quyến rũ.
    Nhớ lại hồi nhỏ tôi đă được nghe một tay đàn bầu, vừa đàn vừa ca bài Tiễn chân anh Khóa của Á Nam. Nhạc sĩ đà khéo diễn tả cái cảnh chia ly trên cung bực với những tiếng đàn nỉ non thánh thót, người nghe như có cảm tưởg đang sống trong một cảnh chia ly:
    Anh Khoá ơi! Em tiễn chân anh đến tận bến tàu,
    Hai tay em đỡ cái khăn trầu em lấy đưa anh.
    Tay câm trầu giọt lệ chạy quanh,
    Anh sơi một miếng cho bơ chút t́nh em nhớ thương.
    Anh Khóa ơi! Cái bước công danh ngoắt ngoéo đủ trăm đường,
    Anh đi một bước tấm gan vàng em xẻ làm hai
    Ḱa người ta bè bạn vui cười,
    Hai anh em ta thương nhớ chỉ ngậm ngùi mà đứng thương nhau!

    Bài hát của nhà thơ đă in sâu vào tâm khảm người nghe lại thêm tiếng đàn rấm rứt như than văn năo nề, ôi buồn sao mà buồn vậy!
    Đàn bầu để nằm và người chơi ngồi thẳng, một tay gảy, môt tay cầm cây trụ để điều khiển âm thanh.
    Đàn bầu thường chỉ độc tấu, v́ đàn rất khó ḥa âm với các đàn khác. Chính v́ tiếng đàn độc tấu nên nghe càng rền rĩ nỉ non, và do đó sức khêu gợi, quyến rũ càng mănh liệt .

    2. NHỊ hay ĐÀN C̉

    Nhị cũng là một nhạc khí hoàn toàn Việt Nam, và được gọi là đàn c̣ ở miền nam. Gọi là đàn, nhưng khi chơi nhị tài tư/ không phải gảy vào dây hay đánh vào thỏi ở trên như các loại đàn khác, mà dùng mă vĩ cọ sát vào hai dây nhị. Nhị hơi giống vĩ cầm của Tây phương, và sự phát âm thanh của nhị cũng như của vĩ cầm.
    Nhị c̣n có tên là Hồ cầm . Nhị có bốn phần: thùng, cần, ngựa và dây.
    Thùng nhị làm bằng một khối gỗ đục rỗng và được bịt bằng một miếng da trâu ở trên mặt . Một con ngựa đươc. gắn trên trống thùng, để căng hai dây qua.
    Cần nhị dài chừng nửa thước và cắm chặt vào thùng. Hai dây nhị được buộc từ đầu cần xuống tới ngựa, những dây này ăn vào hai trục để len dây, và luồn qua một cái khuyết ở giữa cần, khuyết là một ṿng đồng.
    Mă vĩ làm bằng đuôi ngựa hoặc bằng tóc buộc vào một cung tre, dây mă vĩ được đặt vào giữakhe của hai dây nhị. Khi chơi nhị, cầm chiếc chung tre kéo mă vĩ. Sự cọ sát giữa mă vĩ và dây nhị tạo nên âm thanh và âm thanh được rung mạnh trên một mảnh cây tùng hương.
    Chơi nhị gọi là kéo nhị. Những nghệ si tài hoa khi kéo nhị, tiếng nhị nghe êm tai ḥa với các tiếng đàn khác. Những người mới tập, khi kéo nhị, âm thanh phát ra như xé vào tai với những tiếng the thé chát chúa.

    3. ĐÀN CẦM

    Cầm là một loại đàn cổ từ Trung Hoa truyền sang ta. Theo sách cổ để lại th́ đàn do vua Phục Hy sáng chế ra đầu tiên. Sách kể lại rằng: Xua vua Phục Hy thấy chim Phượng Hoàng đậu trên cây Ngô đồng, ngào cho cây Ngô đồng là loại ây quư nhất, nên ngài sai đốn ngă cây Ngô đồng xuống lấy cưa làm ba khúc, và gơ thử từng khúc một: khúc ngọn tiếng quá trong, khúc gốc tiếng quá đục, chi/ có khúc giữa đủ tiếng nặng nhẹ đục trong. Nhà vua đem ngâm khúc giữa này ở ḍng nước chảy 72 ngày rồi sai người thợ khéo là Lưu Tử Kỳ đẽo ra làm thành đàn đặt tên là Diêu Cầm. Đàn dài ba thước sáu tấc sáu phân, trước rộng tám tấc, sau hẹp bốn tấc, trục ngọc, phím vàng . Đàn có 13 phím, 5 dây.
    Về sau, Bá Ấp Khảo con vua Văn Vương nhà Chu thêm một dây, đến đời vua Vơ Vương lại thêm một dây nữa. Bảy dây của đàn cầm mang tên: cung, thương, trốc, chủy, vũ, văn, vơ.
    Qua những ḍng trên, lúc đầu đàn cầm chỉ có bảy dây nhưng về sau các nhà sành nhạc thêm bớt đặt ra đàn này đàn khác từ một tới chín dây: Nhất huyền cầm, tam huyền cầm, ngũ huyền cầm ...ect.
    Chơi đàn cầm có nhiều bài, và danh tiếng nhất là khúc Phụng cầu Hoàng.
    Sử sách chép lại, những tay chơi đàn cầm hay thủa xưa là Bá Ấp Khảo, Bá Nha, Tư Mă Tương Như ...
    Theo ông Thạc Nhân th́ đàn cầm là đàn Nguye^.tt Cầm, c̣n gọi là đàn kim, tương tự như đàn Mandoline của Tây Phương. Đàn nguyệt cầm này khác hẳn đàn cầm của vua Phục Hy .

    4. ĐÀN SẮT

    Cầm sắt thường đi đôi với nhau, cả hai đều dùng dây tơ. Theo sách cũ chép lại th́ đàn sắt nguyêng của Bào hi Thị sáng chế ra, dài bảy thước hai tấc, hai mươi lăm dây .
    Ông Thạc Nhân trong bài viết Dương cầm sắt đă đề rằng:
    "Dương cầm sắt là một thứ cổ nhạc khí của đồng bào người Việt gốc Miên. Đàn được cấu tạo bởi những thanh sắc dẹp, đặt khít nhau trên một cái đàn bán cung, theo thứ tự âm thanh từ thấp lên cao. Mỗi thanh sắt là một âm. Người chơi đàn luôn luôn ngồi thẳng hai tay cầm hai thanh gỗ có mấu đánh cùng một lần xuống những thanh sắt. Do đó mỗi lần gơ đều có một hợp âm bởi hai thanh. Đặc biệt sự chế biến âm thanh cho dương cầm sắt này là người ta đục rỗng ở dưới thanh sắt nhiều ít tùy theo mỗi âm thanh ..."

    5. ĐÀN TRANH

    Đàn tranh bằng gỗ đục rỗn ḷng máng, có 16 dây, 16 dây tùy theo nhu cầu của âm thanh, căng chùng, dài ngắn khác nhau và tất cả tất cả đều bằng đồng. Những dây này máng trên những ngựa gắn ào khoảng giữa thùng đàn. Người chơi đàn phải ngồi thẳng, dùng đầu ngón tay phải có móc những móc sắc mà gảy, giống nhu* ngươi chơi Hạ Uy cầm; tay trái nhấn trên các sợi dây để lựa âm thanh.
    Theo sách xưa để lại, đàn tranh dài sáu thước, mười hai dây, cao ba tấc.

    6. ĐÀN TỲ BÀ

    Đàn tỳ bà có bốn dây, gồm một thùng đàn trông tựa như thùng đàn mandoline nhưng nhỏ hơn. Đàn có 14 phím gắn trên thùng từ gần lưng chừng thùng đến hết cần đàn, mỗi phím là một âm thanh. Âm thanh dài ngắn tuỳ theo tay nhấn của phím. Chơi đàn, nhạc công phải ôm đàn vào ḷng, tương tự như chơi mandoline ngày nay. Âm thanh được tạo ra bởi tay gảy vào dây, dây rung lên.
    Người xưa cho đàn tỳ bà nguyên người Hồ làm ra, do đó c̣n mang tên là Hồ cầm. Người Hồ khi đi ngựa thường chơi đàn này, lấy tay vẩy ngược lên kêu là Tỳ, nẩy xuôi xuống kêu là Ba`, đàn được đặt tên là Tỳ Bà v́ vậy . Đàn tỳ bà được người xưa trổ gỗ Ngô đồng ra mà làm, bụng như rùa, cổ như phụng.
    Từ đời Nguyên tới nay, đàn tỳ bà làm bằng gỗ, đầu công, cổ dài, có bốn trục vặn bốn dây, ở giữa có 14 phím.

    7. DƯƠNG CẦM

    Đàn c̣n mang tên là Đả cầm h́nh như trái cật, dài 1 thước 5 tấc, bề ngang một thước, có 42 dây đồng, chia làm 14 bậc, mỗi bậc 3 dây.
    Khi chơi đàn, để đàn trước mặt dùng hai thanh tre có mấu mà đánh, do đó gọi là đả cầm.
    Đàn này mới có từ đời nhà Thanh.
    Tại Việt Nam c̣n có Dương cầm gỗ cũng giống như Dương cầm sắt đa ~ nói ở trên, chỉ khác ở chổ những thanh sắc đục rỗng được thay thế bằng những thanh gỗ cứng, dầy mỏng tuỳ theo nhu cầm của mỗi âm thanh, Dương cầm tre với những thanh tre thay thanh sắt. Ngoài ra c̣n có Dương cầm đồng tŕnh bày và cấu tạo cũng gần như các dương cầm trên, nhưng "có điểm đặc biệt là thay v́ những thanh sắt hay gỗ, người ta làm những chiếc chiêng đồng nhỏ, dày mỏng cũng tuỳ theo nhu cầu của mỗi âm thanh. Lối chơi cũng như các loại dương cầm trên."

    8. ĐÀN NHẬT

    Đàn này ngoài Bắc Việt c̣n gọi là đàn tứ v́ có 4 dây . Thùng đàn h́nh tṛn như mặt trời, cần dài 7 tấc, mặt thùng rộng 8 tấc . Đàn có 10 phím, 4 dây, 2 dây chập một.

    9. ĐÀN NGUYỆT

    Đàn nguyệt h́nh mặt trăng, c̣n được gọi là Nguyệt cầm. Đàn này thùng rộng 8 tấc rưỡi, dày một tấc rưỡi, hoàn toàn kín, cần dài 1 thước 7 tấc, 8 phím, 4 dây, 2 dây chập một như đàn nhật. Người xử dụng đàn có tài chỉ cần 2 dây. Mỗi phím có thể có 4 âm thanh tùy theo tay rung mạnh hay yếu trên dây, nhờ đó đàn có những biến âm rất êm tai và quyến rũ.

    10. ĐÀN TAM

    Tên đàn do ba dây của đàn. Đàn giống như đàn nguyệt nhưng bé hơn. Thùng cũng bằng gỗ, rộng 5 tấc, dày 2 tấc, hai bên bịt bằng da trâu thay v́ bằng gỗ mỏng như đàn Nhật và đàn Nguyệt. Cần đàn dài 1 thước 5 tấc, có 3 trục để níu ba dây; giữa mặt đàn có con ngựa, dây căng qua, và dây cũng luồn qua một chiếc khuyết ở giữa cần như dây nhị, chiếc khuyết này bằng ngà hay bằng xương có xoi ba lỗ cho ba dây. Khi chơi đàn, nhạc sĩ ngồi xếp bằng, ke đàn trên đầu gối chân mặt, tay trái ôm cần mà nhấn trên dây, tay mặt cầm một miếng ngà dài chừng hai tấc, rộg chừng 8 phân hoặc miếng đồi mồi mà gảy.

    11. ĐÀN CẦM NAM

    Đây là một cây đàn đặc biệt, có thể ăn theo với mọi điệu hát cung cao và cũng là một cây đàn hoàn toàn Việt Nam. Theo tài liệu của cụ Hoàng Yến trong Cầm học tầm nguyên đăng ghi rằng đàn này do Luân Quốc Công, tên húy là Dục đặt ra . "Ngài là một tay rất mực phong lưu, tinh thông nhă nhạc; phàm điệu hát, câu ḥ, khúc lư, về tay ngài sửa sang lại, phần nhiều Ngài thấy điệu hát ḿnh cung cao lắm, đàn xưa ít ăn theo, Ngài mới hiệp cả Cầm, Sắt, Tỳ Bà lại một, chế ra cây đàn mới, kêu là Nam cầm. Đàn này thùng dày, h́nh như quạt lá vả, cần dài 3 thước, 8 dây . Nam Bắc truyền bá ai cũng cho là hay."

    12. ĐÀN ĐÁY

    Đàn đáy c̣n gọi là đàn nhà tṛ, v́ được dùng nơi cầm ca, do các kép gảy khi ca nhi hát ả đào. Đàn mặt sau khoét rỗng, nên c̣n được gọi là vô để cầm . Đàn thùng vuông, cần dài ba thước và cũng có 3 dây, căng từ cuối thùng đàn le6n đầu cần đàn, nơi có 3 chiếc trục để vặng ba chiếc dây, h́nh thức gần như đàn cầm nam. Có người cho rằng đàn đáy chính là biến thân của đàn nam cầm mà h́nh dáng được sửa đổi lại.
    Đàn đáy gảy theo điệu hát của các ca nhi, cao thấp mau chậm, nhặt khoan tùy theo điệu hát, thật là hay . Ngày xưa, người Nghệ An chơi đàn đáy rất tuyệt diệu, được tiếng khắp trong nước, và trong các tài tử có Cửu Đạm đàn thật cao nên ngày nay nhắc tới, những người quán ở tỉnh này c̣n nhớ .
    Tương truyền rằng đàn đáy do ông Lư Thiết Quải, một vị trong bát tiên sáng chế ra: Xưa có hai vợ chồng nhà đốt than ăn ở rất nhân từ mà vẫn nghèo, cho đến một hôm được một ông già cho một cây đàn và bảo hai vợ chồng tập đàn ca sè giàu có.
    Hai vợ chồng mang đàn về nhưng không biết đàn, lại t́m đến ông già ấy dạy cho hàng ngày cho tới khi biết sử dụng đàn . Vừa hay lúc ấy gặp lễ Vạn Thọ vua Hán Vũ Đế. Hai vợ chồng đến đàn hát.
    Bày tôi vua Vũ đế có ông Đông Phương Sóc, nghe tiếng đàn điệu quen, đă từng được nghe. Hỏi th́ hai vợ chồng nhà này nói rơ đầu đuôi và tả h́nh dạng ông già. Đông Phương Sóc lúc đó mới nhớ lại là bản đàn của Lư Thiết Quải gảy ở cung tiên.

    Do sự tích trên mà sau này tại các làng có nghề nhà tṛ, khi cúng tế, thường tế vua Hán Vũ Đế, ông Đông Phương Sóc và ông Lư Thiết Quải, như ở Làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vậy.
    Các nhà chơi đàn của ta xưa, trong các loại đàn nêu trên, thường lấy 5 cây đàn làm ngũ điệu: Đàn Tranh, đàn Nguyệt, đàn Tỳ Bà, Nhị và đàn Tam . Các phong lưu tài tử xuất sắc thường biết chơi cả năm cây đàn trên.

    Comment


    • #3
      CÁC LOẠI SÁO

      Đàn nhị thường đi với sáo. Trong một phường bát âm không thể không có sáo được. Tiếng sáo hoà với tiếng đàn khiến khúc nhạc càng êm ái và càng diễn tả rơ cái hay của bản đàn. Tiếng sáo bao giờ cũng thanh nhă. Tiếng sáo tạo nên do không khí chịu hơi thổi mà ra.
      Sáo cũng có nhiều loại với nhiều tên khác nhau, có thứ thổi ngang, có thử thổi dọc. Chẳng hạn như:

      1. HOÀNG: là một ống sáo có cái lưỡi gà, khi thổi tiếng phát ra do cái lưỡi gà, và âm thanh trầm bỗng tùy theo các lỗ sáo .

      2. TIÊU: bằng trúc có sáu lỗ, năm lỗ ở mặt trước và một lỗ ở mặt sau
      Tục văn hiến thông khảo nói rằng ống Tiêu được chế ra từ đời nhà Minh, dài một thước 9 tấc 5 phân, tṛn 3 tấc, đầu ống khoét một lỗ gọi là Sơn khẩu .
      Ống Tiêu ta hiện thổi bi giờ h́nh thức cũng vậy nhưng nhỏ và ngắn hơn.

      3. ĐỊCH: có bảy lỗ tức là ống sáo ta thổi bi giờ.

      4. QUẢN: nhạc khí này ta thường gọi lầm là Địch. Quản chế ra từ đời nhà Đường có 7 lỗ ở bên cạnh, lỗ này thường được dán lại bằng lụa ruột cây tre để cho tiếng reo lên, là trợ thanh. Ngày nay khi thổi sáo, ta thường lột luạ mo cau hoặc luạ củ hành mà dán lỗ này.

      5. TR̀: giống như ống Địch có đáy, thổi ngang, sáu lỗ.

      6. HUÂN: Đây chính là cái c̣i bằng đất có 2 lỗ, một lỗ thổi hơi vào, một lỗ là lối hơi thoát ra tạo nên tiếng c̣i.
      Cái Huân người xưa làm bằng đất to như trứng gà, tṛn 5 tấc rưỡi, dài 3 tấc, 6 lỗ.

      7. KÈN: cũng là một nhạc khí mà âm thanh tạo nên do hơi thổi làm chuyển động không khí trong kèn . Kèn thường như một ống loa, trên thân kèn có những lỗ, số lỗ nhiều ít theo nhu cầu của âm thanh, mỗi lỗ có 2 âm thanh cao và trầm.
      Miệng kèn nhỏ như một tổ sâu, có cái lưỡi gà để tạo âm thanh. Kèn phải thổi dọc.
      Xưa kèn chi? thường được dùng trong việc tế lễ, nhất là tang lễ. Tang lễ có một loại kèn riêng gọi là kèn đám ma, thổi lên keu ṭ te tí te, tiếng thật là buồn, nhất là đêm hôm, khi con cháu khóc người chết có đệm tiếng kèn thật là ảo năo.

      8. SINH TIỀN: đây là một nhạc khí Việt Nam làm bằng hai thanh gỗ gắn vào nhau, trên mỗi thanh gỗ có lồng những đồng tiền đồng, do đó tên là sinh tiền. Nhạc sĩ sử dụng sinh tiền đập mạnh, tiếng những đồng tiền chạm vào nhau vang lên, để tăng nhịp điệu cho bản nhạc được hoà tấu bởi các nhạc khí khác. Các thanh niên chơi sinh tiền trong phường bát âm thường có những điệu bộ như điệu múa và đôi mắt đưa theo những đồng tiền lên xuống và chạm vào nhau trông thật khả ái.

      9. PHÁCH: làm bằng hai thanh tre dùng để đánh vào nhau theo nhịp đàn và làm nhịp cho câu hát . Các ả đào khi hát thường đánh phách.

      10. BÁT: chính là chiếc bát lớn dùng để gơ nhịp khi có ca hát đàn địch.

      11. TRỐNG: trong các buổi tế lễ thường có tiếng trống và trống dùng trong nhừng dịp này thường là trống to.
      Trống có nhiều loại, mỗi loại được dùng một cách riêng, có loại dùng một dùi trống, có loại dùng hai dùi trống, và có loại chỉ cần bàn tay vỗ vào mặt trống là phát ra âm thanh.
      Trống bao giờ cũng h́nh ống có khi hai đầu và giữa bằng nhau, có khi ở giữa khum khum, hai đầu nhỏ hơn. Trống có hai phần:

      Thành Trống" thường bằng gỗ, thường rỗng ở giữa.

      Mặt trống: ở hai đầu thành trống, được bịt bằng da, ta thường dùng da trâu. Hai đầu bịt này là hai mặt trống.
      Đánh trống phải có dùi, dùi to nhỏ tùy theo loại trống.

      Trống Cái: là trống đại, thường đ́nh làng nào cũng có. Trống này bề cao có khi tới hai thước và mặt trống có khi rộng tới một thước. Trống dùng để điểm vào trong các cuộc tế lễ, cùng đi với tiếng chiêng.

      Trống Cơm: là một loại trống hoàn toàn Việt Nam, ḿnh dài mà nhỏ, khi dánh trống không dùng đến dùi màdùng hai tay vỗ vào hai mặt trống. Trên hai mặt trống, lúc chơi thường có hai nắm cơm nếp nhỏ, có lẽ do hai năm cơm nếp này mà trống được mang tên là trống cơm. Cũng có nơi như làng Đ́nh Bảng, làng Phù Đổng, tỉnh Bắc Ninh chẳng hạn, nhạc công lại không bao giờ đính cơm nếp lên mặt trống, họ chỉ để nguyên da trống như vậy mà biểu diễn thôi.
      Trống cơm được coi là một nhạc cụ cần thiết trong các phường nhạc b́nh dân. Từ những bản nhạc dạo hành khi rước thần hoặc đưa ma đến những đám hát chèo ta đều nghe có tiếng trống cơm, và bao giờ tiếng trống cơm cũng giữ nhịp cho điêu.nha.c.
      Tiếng trống cơm nghe cũng đặc biệt, bùng bập bùng, không trong lanh lảnh và cũng không trầm như ch́m xuống. Tiết điệu trống cơm thật là phong phú và cách biểu diễn tiết tấu cũng rất tài t́nh. Tiếng trống cơm với tất cả những âm thanh trầm bỗng như nặng hồn dân tộc bên trong.

      Trống Bưng: Có ai đă dự một cuộc thi đô vật ở các hội quê miền Bắc chưa? Và có ai đă dự một buổi đánh cờ bơi hoặc đánh cờ người trên sân khấu chưa? Đă dự những cuộc này, ắt phải để ư tới một người cầm một chiếc trống nhỏ có cán đi sát các đấu thủ gơ lên nhừng tiếng tong tong tong để khuyến khích các đô vật hoặc thúc dục các kỳ thủ khi cuộc vật đi vào lúc gay cấn hoặc khi các kỳ thủ đang nghĩ nước cờ. Tiếng trống thúc dục này đánh trên trống bưng. Có lẽ gọi như vậy v́ người sử dụng phải bưng cái trống trên tay, mặc dầu bưng đây không có đúng hẳn với nghĩa, v́ trống được cầm bằng một cái cán ở tay trái, c̣n tay phải cầm dùi trống đánh vào mặt trống.
      Trong các buổi cúng lễ của các pháp su8 đạo Lăo, ngoài tiếng tiu, tiếng cảnh cũng có tiếng trống bưng, c̣n đươc. gọi là trống khẩu.

      Trống Ếch: đay là thứ trống trẻ em chơi. Ở nhà quê, khi ăn thịt ếch, người ta lột da và có người dùng da ếch bịt lên một ống tre, một khúc gỗ nhỏ khoét rỗng, phơi khô cho trẻ em chơi làm trống gọi là trống ếch. Danh từ này về sau đuợc dùng để chỉ loại trống nhỏ, mặt cũng được bịt bằng da trâu, dùng cho trẻ em chơi trong những khi chơi tế lễ rước xách, nhất là khi có muá sư tử vào dịp Trung Thu ở Bắc.

      Trống Bản: tiếng trống nghe trầm và rất ăn với tiếng kèn . Trống này gọi là trống bản, và nôm na hơn nguoi ta gọi là trống đám ma . Trống Bản cũng như trống cơm, khi sử dụng nhạc công phải dùng dây đeo qua vai và để trống phiá trước mặt và đánh trống có hai dùi. Trống thấp độ 2 tấc rưỡi ta, mặt rất rộng đường kính trên 8 tấc.

      Trống Ngũ Bộ: giống như trống nhưng khuôn khổ nhỏ hơn, thành trống cao độ nửa thước, và mặt trốn đường kính bằng hai phần ba thành trống .
      Không hiểu sao lại gọi là trống ngũ bộ ? Phải chăng trống này hoài cùng với tiếng nạo bạt dánh lên dịp năm, như phường trống ở làng Thị Càn, huyện Vơ Giang tỉnh Bắc Ninh. Phường trống này thường gồm 4 người, hai người đánh trống và hai người chơi nạo bạt.
      Nhạc công chơi trống cũng dùng quai, nhưng lại đeo thơng ngang vai, để trống mé cạnh sườn . Đánh trống cũng phải dùng hai dùi.
      Tại nhà các cô dầu, trống dùng để dánh chầu đệm theo câu hát, điệu đàn, tiếng phách là loại trống h́nh thể giống trống ngũ bộ, chỉ khác khi đánh trống, quan viên thường bịt trống để tiếng trống nghe tom tom thay v́ tung tung.

      Ngoài mấy loại trống kể trên, c̣n nhiều trống khác như trống bỏi, trống thầy cúng
      Last edited by Hoa Vo Khuyet; 07-11-2002, 04:59 AM.

      Comment


      • #4
        Nhạc

        Nhạc là một cái ǵ đó nhiệm màu thiêng liêng và người xưa cho rằng chỉ những thiên tài mới chế được ca nhạc, và do đó phương Đông chúng ta lại quan niệm rằng nhạc là sự điều hoà giữa trời đất. Nhạc lại có thể cảm ḷng người và thay đổi được phong tục. Lễ nghi không có nhạc thiếu vẻ trang nghiêm, và đểgiữ ǵn mỹ tục, để bảo tồn lễ nghi, người xưa dùng nhạc trong các buổi tế lễ .

        Ngoài các buổi tế lễ, người ta c̣n dùng nhạc để tiêu khiển mua vui cùng nhau . Năm ba bạn bạn trẻ, có khi do một người nhiều tuổi đứng đầu họp thành một ban nhạc, để cùng nhau luyện các bản nhạc và hoà tấu với nhau những khi giósớm, lúc trăng chiều . Cũng có những người với một nhạc cụ, một cây đàn nhật hoặc đàn bầu, vừa đàn vừa hát những bản nhạc mà ḿnh ưa thích . Những lúc thư nhà, hoặc đêm khuya thanh vắng buồn bă một ḿnh, th́ mượn tiếng đàn giải muộn. Hoặc đàn nguyệt, đàn thập lục dạo một vài câu lưu thủy, hoặc gảy chơi một câu tứ đại, nam ai ... Tiếng đàn thánh tha thánh thóc, ti tỉ như dế kêu sầu cũng đủ tả tấm ḷng ngao ngán.

        Đêm tâm tư gởi vào khúc nhạc, dùng nhạc để quên nỗi u buồn, dùng nhạc để nói lên niềm vui, nhạc thật là một thú tiêu khiển thanh cao tao nhă .
        Thường th́ các bản nhạc được giới nhạc công nhận là có giá trị chia ra thành hai loại: bản Bắc và bản Nam tức là là những khúc nhạc cung Bắc và cung Nam .

        NHẠC CUNG BẮC:
        Đây là những bản nhạc linh họat, một phần phóng tác theo nhạc Trung Hoa, nhưng xoang điệu mang sắc thái Việt Nam . Thực ra cũng có những bản gốc Trung hoa, cũng có bản gốc Viet, ngày nay lẫn lộn, khó mà phân biệt:

        1. Cổ bản:
        Một bản nhạc cổ rất nhiều xoang điệu. Nhạc nghe êm tai, nhưng nội dung không rơ là ǵ . Cổ bản c̣n được gọi là bản ca Bắc hoạc ca Lư, xuất xứ không rơ ở đâu nhưng người Huế hay ca cùng với các điệu ca khác. Bài này có 6 vần làm thành 6 khổ

        Duyên thắm, duyên càng đượm v́ giống đa t́nh,
        Thêm nhiều ngày mặn nồng càng xinh.
        Bực khuynh thành thực là tài danh,
        Song duyên kia đừng phụ, nào trách ḿnh.
        Chỉ non thề nguyền cùng trời xanh!
        Ḷng dặn ḷng cho đành
        Nỗi kết minh, kết minh!

        Thư nhạn đưa tin tháng ngày
        Nguồn ân ái dám đâu vơi đầy
        Thương càng bận, làm bận ḷng đây
        Vấn vưo8ng t́nh tự v́ đây
        Tơ hồng khéo xe thực là may

        Trăng rọi thềm hoa
        Lầu ngọc sáng ḷa,
        Hương thưo8ng ngút nhà;
        Khắp gần xa,
        Tiếng đàn hoà ca .

        Ngâm vịnh mấy chén quỳnh,
        Say sưa cùng ḿnh

        Sáng tay vai,
        Nhân ngăi lâu dài,
        Thực là vui, dám nào phai,
        Tâm đầu ư hợp như rứa mâ'y người
        Ngọc Vô Hà, Biện hoà mới hay!
        Một ngay tương tri, t́nh si ấy là ai
        Muôn vàn không ngại mua ngay tiếng cười
        Gọi mười người như người.

        Anh hùng có đâu, có là đâu
        Thôi thôi đừng, đừng năn nỉ suy nghĩ thêm sầu;
        Mặc ai dầu,
        Lại hầu thương yêu, mặn nồng bao nhiêu!
        Đường c̣n lâu, chút t́nh sâu!
        Vui ḷng ưng chịu, danh lỵ chỉ cầu.


        2. Lưu thủy:
        Lưu thủy là nước chảy . Bản nhạc gây cho thính giả một cảm giác êm ái, điệu nhạc như trầm lặng nhưng nhanh nhanh buồn buồn . Bài ca có 4 khổ tạo nên bởi 4 vần:

        Kể từ ngày gặp nhau,
        Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau
        Dây tơ mành xe chặt lấy nhau .

        Xe không đặng đem t́nh thương nhớ,
        Cảm thương người ngẫm nghĩ ba thu .
        Xa các nhau đêm nằm vẫn thấỵ

        Thấy là thấy chiêm bao,
        Biết bao vấn vương bên ḿnh,
        Ḿnh giật ḿnh đ̣i cơn.

        Biết bao lại quan sơn một đường,
        T́nh thương tơ vương mọi đường,
        Xin cho trọgn cương thường.

        3. Hành vân:
        Hành vân là mây bay . Qua hai chữ hành vân ta h́nh dung đám mây trôi xa xa giữa bàu trời xanh ngắt. Nghe bản nhạc hành vân, ta cảm thấy nhè nhẹ, êm êm, thanh thản.

        Một đôi lời
        Nhắn bạn t́nh ơi!
        Thề non nước giao ước kết đôi,
        Trăm năm tạc dạ
        Dầu xa cách, song t́nh thương chớ phụ th́ thôi .

        Niềm trọng niềm xin đừng sao nhăng
        Trước kia định nợ ba sanh
        Đẹp duyên lành,
        Trọng niềm phu phụ, bậc tài danh.

        Dầu tiên có tại non Bồng,
        kết mối tơ hồng,
        Ấy chẳng trông!

        Nghĩa sắt cầm,
        Ḥa hợp trăm năm,
        Bởi v́ xa cách, nhắn nhe cùng bạn tri âm.



        4. Kim tiền:
        Bản nhạc gọi theo tên nhạc khí, kim tiền tức là sinh tiền dùng để đập nhịp. Nội dung và xoang điệ.u bản nhạc đi rất mạnh. Nghe bản nhạc thính giả cảm thấy cái ǵ hăng hái, say sưa, mạnh mẽ . Trái hẳn với xoang điệu thanh thản của các bản lưu thủy, hành vân, xoang điệu bản kim tiền đi nhanh, dồn dập, réo rắt và hùng mạnh.

        Bắt tay ngồi lại đây,
        Không mấy khi ta gặp bên này,
        Cho đó rơ niềm Tây,
        Lời đắng cay,
        Tuy xa đàng, không xa mặt,
        Chung t́nh lại càng vui
        Càng thêm vui ...

        Ai khéo xui ḿnh gặp,
        Một cặp đa t́nh,
        Thiệt tại trời xui ḿnh,
        Hay là lối ba sanh,
        Hai đó là lối ba sanh,
        Xin cho bền dạ, giữ dạ,
        Dầu gặp người quen
        Xin cho bền dạ, giữ dạ


        5. B́nh bán:
        Bản này dung hợp cái chậm răi và cái dồn dập của hai bản lưu thủy và kim tiền, xoang điệu vừa mau vừa chậm, vừa trầm vừa hùng. Nội dung bản này có thể là đoạn đầu lưu thủy và đoạn sau là kim tiền.

        Non nước, nguyền non nước
        Xin ai sánh vai đừng ngại
        Quyết lâu dài, sum vầy trúc mai,
        Mấy lời phụ người,
        Chùng nhau trước sau cho vẹn.
        Trăm năm chờ đem t́nh, t́nh lợt phai,
        Dẫu lạt vàng phai, dám nề sai,
        Có đâu dời đổi t́nh ai!
        Nhắn khuyên bạn ân t́nh hăy c̣n lâu .
        Lại dụng ḷng ta, nhớ ngươi xa,
        Bóng trăng tà, gió lồng hơi ba .
        cầm ca, ngân nga tiệc quỳnh,
        Trằn trọc, xa mối vàng đá dựa màn loan,
        Giận duyên, buồn riêng,
        Trạnh niềm tây, đắng hoá cay
        Châu rơi tương tư càng nặng,
        Khéo thay là, những lại qua
        Đêm thanh vắng, t́nh người ngọc,
        Thở than thêm phiền!
        Buồn tủi phận, lận đận bèo mây,
        Trăng gió, trăng gió đưa t́nh,
        Vừa gặp ḿnh, thiệt trời khéo dành


        6. Tẩu mă:
        Bản này diễn tả nhịp ngựa phi, do đó vừa dồn dập, vừa nhanh, vừa mạnh. Điệu tẩu mă thường được sử dụng trong các vở tuồng với những vai anh hùng, tráng sĩ. Điệu này nguyên trước đây là một điệu của người Tàu cho ne6n cũng gọi là ca khách, và bản nhạc gọi là nhạc khách.

        Cành bèo sen, đà hiệp duyên,
        Trăng thề một bên, vầy bạn tiên,
        Lúc say tỉnh mảnh trăng tàn,
        Chuyện hiệp tan, màn loan,
        Bấy lâu đợi chờ,
        Chút duyên t́nh cờ
        Lúc t́nh cờ, bây giờ thấy đây!
        Một ḷng càng xinh,
        Có t́nh với ḿnh ấy ai ?
        Ngậm ngùi lúc hương nguyền
        Rượu nghiêng tiệc quỳnh,
        Mấy nỗ đá vàng
        Đêm thâu người đâu, người đâu ?
        Người đâu đă thấy nhau c̣n ngờ !
        Người đâu lại thấy bây giờ!
        Ngày xưa, mưa gió thêm nồng,
        Song đă vương vấn, vương vấn tơ hồng
        Thề non, thề chớ sai lời!


        7. Tứ đại cảnh:
        tứ đại cảnh là cảnh của bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông trong một năm. Nội dung bản nhạc diễn tả cảnh sắc của bốn mùa . Bản nhạc này tuy được xếp vào các bản nhạc cung Bắc, nhưng nhiều người cho rằng tác giả bản nhạc này là vua Tự Đức v́ bản nhạc này được phổ biến nhất ở Huế và vua Tự Đức là một nhạc sĩ có tài lại có tâm hồn nghệ sĩ, đàn giỏi, thơ haỵ

        Thương trăng tṛn, thương trăng khuyết,
        Thương tha thiết, trăm mối bên ḷng,
        Thương đóa hoa vừa nở, dập d́ ông bướm ong,
        Thương đóa hoa tàn lạt phấn phai hương
        Nào ai kẻ buồn trông?

        Thương mây bạc, gió đu8a xiêu lạc, không biết về đâu!
        Thương nước trôi bèo dạt, bèo dạt trôi nơi nao!
        Thương số ba đào, ch́m nổi lao đao,
        Đời vất vả biết là bao?
        Thương chim nhạn đêm đông kiếm bạn
        Bao quản tuyết sương!
        Sương tuyết sương dày dạn, tiếng nhạn kêu thảm thương !
        Thương kẻ si t́nh, theo dơi người thương.

        Trông ṃn mỏi ngày xanh,
        Đành đành thương trông núi Ngự chiều đông.
        Thông reo năo nùng
        Mưa gió không ngừng,
        Nào bạn tác ngày xuân, ai chịu lạnh cùng không?

        Ngùi ngùi thương, ca nhi giữa sông Hương
        Véo von gọi t́nh năm canh,
        Dầu giăi sương gió sương?
        Cái thương sao cứ quanh bên ḿnh,
        Thương chi trọn trăm ngh́n mối thương,
        Thương đâu vẹn trăm ngh́n mối t́nh thương


        NHẠC CUNG NAM
        Đây là những bản nhạc sản xuất ở miền Nam từ thời chúa Nguyễn, chịu ảnh hưởng rất nhiều các nhạc khúc Chiêm Thành. Từ nhạc thường buồn ai oán sầu bi nhưng rất có giá trị .

        1. Nam ai:
        Nam ai là thương Nam, xót Nam. Đây là bản nhạc buồn nhất, ai oán nhất trong các bài nhạc cung Nam.
        Với bản nhạc Nam ai, rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ đặt lời ca, tuỳ theo hoàn cảnh cảm xúc và ư nghĩa của từng người . Thường bản ca Nam ai có 3 vần, tạo thành ba khổ . Ví dụ:

        Khuyên ai gắn bó báo đền công tŕnh thầy mẹ
        Ân nặng nhường sông, nghĩa chất non cao
        Ôn cúc dục cù lao,
        Sinh thành lo sợ xiết bao,
        Lo cơm bữa nhường nao,
        Ẳm bồng ra vào

        Nâng niu, bú mớm đêm ngày xem tày vàng ngọc,
        Hay chạy, hay đi, luc' nắng, lúc mưa .

        Từ xưa đến giờ.
        Lúc hăy c̣n thơ,
        Đến bây giờ,
        Chịu nhuốc nhơ,
        Biết bao nhiêu mà!
        Trông năm trọng ngày qua .
        Da mồi, tóc bạc, mày xa,
        Khuyên trong cơi người ta,
        Thảo ngay mới là!


        Xoang điệu của bản Nam ai chậm chậm để diễn tả nỗi buồn thảm cực độ, do ảnh hưởng của Chiêm Thành.

        2. Nam Thương:
        Nam thương nghĩa là buồn nam, mến nam. Đây là một bản nhạc cổ điệu buồn nhưng không buồn bằng Nam ai . Bản nhạc cũng chịu ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành, xoang điệu đi chậm nhưng một vài chỗ âm thanh có vẻ réo rắt, hàm ư thương tiếc nhớ nhung, đau khổ buồn buồn.

        Ôi! Tan hợp xiết bao, tháng ngaỳ đợi chờ non nước,
        Ngàn dặm chơi vơi!
        Mấy lời nào dễ sai lời;
        Ai ơi! Chớ đem dạ đổi dời,
        Y¨ ưng t́nh thêm càng ưu ư
        Thiệt là đặng mấy người .
        Lại sai lời

        Tương tri cho đá vàng thêm lại yêu v́
        Nhớ khi cuộc rượu câu thi
        Thêm càng thương tiếc, phong lưu ai b́!
        Nặng v́ t́nh, t́nh đôi ta, duyên trao nợ, rằng ai .

        Buộc lại người sinh,
        Lời hẹn ba sinh
        Vấn vương tơ t́nh


        3. Nam xuân:
        Đây là một bản nhạc ít buồn và có đượm cái vui, tuy cái vui vẫn như thể bị ái nối buồn tiếp. Phải chăng đây là cái buồn truyền kiếp của một quốc gia đă bị diệt vong mà ảnh hưởng ăn vào âm nhạc của Việt Nam. Xoang điệu bản nhạc tuy buồn nhưng có nhiều nét thướt tha duyên dáng, cái thướt tha duyên dáng của h́nh bóng cô gái Chàm đi lả lướt trên bóng chiều.

        Nhắn nhe vườn hạnh, ngồi chờ chim xanh
        Khéo đưa t́nh,
        Đưa t́nh đưa lại cho ta, lại cho ta,
        Trót đă nặng mà!
        Đă gần xin bạn đừng xa
        Sớm đào tối mận lân la,
        Trước c̣n trăng gió, c̣n trăng gió,
        Sau ra đá vàng!
        Loan ôm phụng, phụng ôm loan,
        Biết bao giờ cho hiệp mặt mơ màng.
        Đă lo toan vầy hiệp nhân đoan,
        mây hồng đưa gởi thơ nhàn, gởi thư nhàn,
        Đưa sang t́nh tự thiếp chàng,
        Đôi đàng thương nhớ,
        Thiếp với chàng, đồi đàng thương nhớ
        Thương nhau phải băng ngàn!
        Trót cưu mang, xin cho toàn.
        Chớ đem dạ phụ phàng!
        Mảnh trăng thề vằng vặc soi chung,
        Dầu thu hết, sang đông, đông xin chờ!
        Mối chỉ hồng, cậy cùng Ông Tơ,
        Xe giây Bà Nguyệt
        Cho duyên này hiệp mặt sum vầy,
        Đài gương suốt đó đây phỉ nguyền!


        4. Nam b́nh:
        Đây là một bản nhạc không buồn không vui, âm thanh đi đều đều . Có thể nói đây là một bản nhạc nam cung được hoà hợp bởi ba bản Nam ai, Nam thương và Nam xuân cho nên nội dung pha lẫn buồn vui, nhưng cái buồn vẫn nhiều hơn.

        Bốn bản nhạc trên, tuy nhạc chỉ có một bản, nhưng mỗi bản lại được phổ thành nhiều ca khúc bởi nhiều tác giả, mỗi ca khúc nội dung khác nhau tùy cảm hứng của từng tác giả.

        Thương nhau v́ nợ tri âm,
        Mối t́nh thâm!
        Buộc ràng đây đó,
        Vầy cuộc ca ngâm,
        Dưới trần như đă riêng phần!
        Để riêng phần!
        Mặc duyên may hay là nợ với nần.
        Chi bằng ưu ư,
        Nợ hay duyên, hỏi người thanh khí,
        Ai là kẻ xoay vần?
        Tuổi xuân xanh, chưa từng cái nợ phong trần,
        Vương vào cuộc ái ân,
        Càng cay đắng, đắng cay muôn phần.

        Được như lời ước mong,
        Cho thỏa t́nh tư tưởng.
        Tưởng rồi trông,
        Ngồi tựa bên sông,
        Thỏa mùi bông,
        Vấn vương tơ ḷng.

        Ơi người Việt ơi!
        Gặp khi thời lai ...
        Ngọn đèn kiến thức
        Bừng rạng muôn nơi,
        Trí tài đua kịp theo người,
        Kịp theo thời sánh bước chung vai ...
        Cho xứng mặt giống ṇi
        Sống đời khang khái ...
        Bước quanh vinh ta càng hăng hái,
        Thêm vững thêm dài,
        Hết chông gai ... Tung cánh bằng bay lượn khắp trời .
        Nhân dân chờ một tương lai ...
        Mừng nay đến, đến trong mọi người
        vững một niềm an vui ...
        Đô thị cùng thôn dă đặg hoà lai,
        Rạng ngời ánh mai ... cảnh càng tươi
        Ư dân là ư trời ..


        Comment

        Working...
        X