View Full Version : Bạch Đằng giang phú (Trương Hán Siêu)
volamtieutu
12-08-2005, 06:35 PM
Bản diễn Nôm
Khách hữu:
Quải hăn mạn chi phong phàm,
Thập hạo đăng chi hải nguyệt.
Triều kiết huyền hề Nguyên Tương,
Mộ u thám hề Vũ Huyệt.
Cửu Giang Ngũ Hồ,
Tam Ngô Bách Việt.
Nhân tích sở chí,
Mi bất kinh duyệt,
Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách,
Nhi tứ phương tráng chí do khuyết như dă.
Năi cử tiếp hề trung lưu, ṭng tử trường chi viễn du.
Thiệp đại than khẩu, tố đông triều đầu, để Bạch Đằng giang, thị phiếm thị phù.
Tiếp ḱnh ba ư vô tế, trám diêu vĩ chi tương mâu.
Thủy thiên nhất sắc, phong cảnh tam thu.
Chử địch ngạn lô, sắt sắt sưu sưu.
Chiết kích trầm giang, khô cốt doanh khâu.
Thảm nhiên bất lạc, trữ lập ngưng mâu.
Niệm hào kiệt chi dĩ văng, thán tông tích chi không lưu.
Giang biên phụ lăo vị ngă hà cầu?
Hoặc pḥ lê trượng, hoặc trạo cô chu,
Tiếp dư nhi ngôn viết:
Thử trọng hưng nhị thánh cầm Ô Mă Nhi chi chiến địa, dữ tích th́ Ngô chủ phá Lưu Hoằng Tháo chi cố châu dă.
Đương ḱ:
Trục lô thiên lư, tinh ḱ ỷ ni.
T́ hưu lục quân, binh nhận phong khởi, thư hùng vị quyết, nam bắc đối lũy.
Nhật nguyệt hôn hề vô quang, thiên địa lẫm hề tướng hủy.
Bỉ tất liệt chi thế cương, Lưu Cung chi kế quỷ.
Tự vị đầu tiên, khả tảo nam kỉ.
Kí nhi : hoàng thiên trợ thuận, hung đồ phi mi.
Mạnh Đức Xích Bích chi sư, đàm tiếu phi hôi.
Phục Kiên Hợp Ph́ chi trận, tu du tống tử.
Chí kim giang lưu, chung bất tuyết sỉ.
Tái tạo chi công, thiên cổ xưng mĩ.
Tuy nhiên:
Tự hữu vũ trụ, cố hữu giang sơn.
Tín thiên tiệm chi thiết hiểm, lại nhân kiệt dĩ điện an.
Mạnh Tân chi hội, ưng dương nhược lă.
Duy thủy chi chiến, quốc sĩ như hàn.
Duy thử giang nhi đại tiệp, do đại vương chi tặc nhàn.
Anh phong khả tưởng, khẩu bi bất san.
Hoài cổ nhân hề vẫn thế,
Lâm giang lưu hề hậu nhan.
Hành thả ca viết: "đại giang hề cổn cổn, hồng đào cự lăng hề triều tông vô tận. nhân nhân hề văn danh, phỉ nhân hề câu mẫn."khách ṭng nhi canh ca viết: "nhị thánh hề thùy minh, tựu thử giang hề tẩy giáp binh.
Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng b́nh.
Tín tri:
Bất tại quan hà chi hiểm hề, duy tại ư đức chi mạc kinh.
volamtieutu
12-08-2005, 06:36 PM
(Khảo về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong tạp-chí, tập XIV số 8, tháng 6-1924).)
Khách có kẻ: Chèo bể bơi trăng, buồm mây giang, gió. Sớm ngọn Tương kia, chiều hang Vũ nọ. Vùng vẫy Giang, Hồ: tiêu dao Ngô, Sở. Đi cho biết đây, đi cho biết đó. Chằm Vân-mộng chứa ở trong kho tư-tưởng, đă biết bao nhiêu, mà cái trí khí tứ phương, vẫn c̣n hăm hở!
Mới học thói Tử-trương: bốn bể ngao du. Qua cửa Đại-than sang bến Đông-triều, đến sông Bạch-Đằng, đứng đỉnh phiến-chu. Trắng xóa sông kềnh muôn dặm, xanh ŕ dặng ác một màu. Nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa thu. Ngàn lau quạnh cơi, bến lách đ́u-hiu. Giáo gậy đầu sông, cốt khô đầy g̣. Ngậm ngùi đứng lắng ngắm cuộc sống phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá, mà đây dấu vết hăy c̣n lưu.
Kia ḱa, bến sông, phu lăo người đâu. Lượng trong bụng ta, chứng có sở cầu. Hoặc gậy trống trước, hoặc thuyền bơi sau. Vái tạ mà thưa rằng: Đây là chỗ chiến địa vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu của vua Ngô phá quân Lưu đây.
Đương khi: muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm tuốt sáng ḷe, cờ bay đỏ khí! Tướng Bắc quân Nam đôi bên đối lũy. Đă nổi gió mà bay mây, lại kinh thiên mà động địa. Ḱa quân Nam-Hán nó mưu sâu, nọ Hồ-Nguyên có sức khỏe. Nó bảo rằng: phen này đạp đổ nước Nam, tưởng chừng có dễ.
May sao: Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích khi xưa, giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở nọ. Ấy cái nhục tày trời của họ, há những một thời, mà cái công tái tạo của ta lưu danh thiên cổ.
Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang-san. Trời đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy cuộc tồn-an. Hội này bằng hội Mạnh-tân, như vương-sự họ Lă; trận nào bằng trận Dung-thủy, như quốc sĩ họ Hàn. Ḱa trận Bạch-Đằng này mà đại-thắng, bởi chưng Đại-vương coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm c̣n măi, bia miệng hao ṃn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ ḿnh với nước non!
Rồi vừa đi vừa hát rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê!
Cuồng to sóng lớn dồn về biển Đông.
Trời Nam sinh kẻ anh hùng.
Tăm kềnh yên lặng, non sông vững-vàng
Khách vừa đi vừa hát rằng:
Vua Trần hai vị Thánh-quân.
Sông kia c̣n dấu tẩy trần giáp-binh
Ngh́n xưa gẫm cuộc thăng-b́nh.
Tài đâu đất hiểm, bởi ḿnh đức cao.
volamtieutu
12-08-2005, 06:36 PM
Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi
Lướt bể chơi trăng mải miết
Sớm gơ thuyền chừ Nguyên Tương
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt
Cửu Giang, Ngũ Hổ
Tam ngô, Bách Việt
Nơi có người đi
Đâu mà chẳng biết
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn c̣n tha thiết.
Bèn giữa ḍng chừ buông chèo
Học Tử Trường chừ thú tiêu diêu
Qua cửa Đại Than
Ngược bến Đông Triều
Đến sông Bạch đằng
Rong chơi mái chèo
Bát ngát sóng ḱnh muôn dặm
Bập bềnh đuôi trĩ liền nhau
Nước trời: một sắc
Phong cảnh: ba thu
Ngàn lau xào xạc
Bến lách đ́u hiu
Sông ch́m giáo găy
G̣ đầy xương khô
Buồn v́ cảnh thảm
Đứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá?
Tiếc thay dấu vết luống c̣n lưu!
Bên sông, bô lăo hỏi ta sở cầu
Có kẻ gậy lê chống trước
Có người thuyền nhẹ bơi sau
Vái ta mà thưa rằng:
- Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng Nhị thánh bắt Ô Mă
Cũng là băi đất xưa Ngô Chúa phá Hoằng Thao
Đương khi ấy:
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới
T́ hổ ba quân
Gíao gươm sáng chói
Trận đánh thư hùng chửa phân
Chiến lũy Bắc Nam chống đối
ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổi
Ḱa! Tất Liệt thế cường
Lưu Cung chước dối
Những tưởng gieo roi một lần
Quét sạch Nam bang bốn cơi
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người
Hung đồ hết lối
Khác nào như khi xưa :
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay
Trận Hợp Ph́, giặc Bồ Kiên ḥan ṭan chết rụi
Đến nay nước sông tuy chảy ḥai
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi
Tái tạo công lao
Ngh́n thu ca ngợi
Tuy nhiên;
Từ có vũ trụ
Đă có giang sanh
Qủa là trời đất cho nơi hiểm trở
Cũng nhờ nhân tài giữ được điện an
Hội nào bằng Hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lă
Trận nào bằng trận Duy Thủy, có quốc sĩ họ Hàn
Ḱa trận Bạch đằng mà đại thắng
Bởi Đại vương coi thế giặc nhàn
Tiếng thơm đồn măi
Bia miệng không ṃn
Khách chơi sông chừ ủ mặt
Người ḥai cổ chừ lệ chan
Rồi vừa đi vừa ca rằng:
Sông Đằng một dăi dài ghê
Luồng to sóng lớn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Ngh́n thu chỉ có anh hùng lưu danh
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
Anh minh hai vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan, muôn thuở thanh b́nh
Bởi đâu đất hiểm, cốt ḿnh đức cao.
Hắc Nguyệt Hồ
11-24-2007, 03:10 PM
Bài phú này dù là tả cảnh hay tả t́nh đều nói lên được cái chí anh hùng, bất khuất của người dân Việt thời bấy giờ.Trương Hán Siêu đúng là một nhà văn lỗi lạc của dân tộc ḿnh. Đúng là:
Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy bất thịnh Đường
ThanhNam
12-02-2007, 08:10 AM
Bài phú này dù là tả cảnh hay tả tình đều nói lên được cái chí anh hùng, bất khuất của người dân Việt thời bấy giờ.Trương Hán Siêu đúng là một nhà văn lỗi lạc của dân tộc mình. Đúng là:
Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy bất thịnh Đường
Theo tại hạ, văn như Siêu, ở đây là chỉ Nguyễn Văn Siêu, tự là Tốn Ban, Một danh sĩ thời Nguyễn. Người cùng tề danh với Cao Bá Quát. Được đời xưng tụng : Thần Siêu, Thánh Quát.
Còn Trương Hán Siêu, với bài Bạch Đằng Giang phú lừng danh lại là một văn sĩ đời Trần.
Hắc Nguyệt Hồ
12-02-2007, 06:38 PM
Đa tạ sư huynh chỉ giáo
tuimaquau
12-08-2007, 07:45 AM
Theo tại hạ, văn như Siêu, ở đây là chỉ Nguyễn Văn Siêu, tự là Tốn Ban, Một danh sĩ thời Nguyễn. Người cùng tề danh với Cao Bá Quát. Được đời xưng tụng : Thần Siêu, Thánh Quát.
C̣n Trương Hán Siêu, với bài Bạch Đằng Giang phú lừng danh lại là một văn sĩ đời Trần.
Tùng Thiện vương và Tuy Lư vương là thi nhân thời Nguyễn (con vua Minh Mạng) nhất dạ sinh lục "tặc".
...
Tổng kết về văn chương thời ấy, vua Tự Đức viết:
Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường
Câu đó có nghĩa là: Văn chương của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát hay đến nỗi làm mất cái hay của văn chương thời Tiền Hán; thơ của Tùng Thiện vương và Tuy Lư vương (em trai của Tùng Thiện vương) đánh bạt cả thơ ca của thời Thịnh Đường, thời có Lư Bạch và Đỗ Phủ bên Trung Quốc.
Thần Siêu, Thánh Quát và Tùng, Tuy là những tên tuổi lớn của lịch sử văn học Việt Nam.
...
(lượm lặt trên mạng)
Vua Tự Đức ... bốc phét hơi quá! Làm sao mà "thất thịnh Đường" được cơ chứ!:bt:
tuimaquau
12-08-2007, 08:21 AM
Đây là một bài thơ "thất thịnh Đường" của Tùng Thiện vương:
Dạ bạc nguyệt biều
Trúc âm lương xứ, dạ đ́nh thuyền
Thủy nguyệt, giang phong,vị nhẫn miên
Cách dạ chung lâu Thiên Mụ tự
Thanh thanh xao phá viễn đinh yên.
Dịch nghĩa:
Tối đỗ thuyền dưới bóng tre mát
Gió sông mát, trăng sông mát không nỡ ngủ
Đêm nghe vọng tiếng chuông chùa Thiên Mụ
Tiếng, từng tiếng làm tan khói sông.
Có "cầm nhầm" chút đỉnh ư tứ của bài "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Kế!
楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天
江楓魚火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船
Phiên âm Hán-Việt:
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
* Bản dịch tiếng Việt của nhà thơ Nguyễn Hàm Ninh (thường bị nhầm là bản dịch của Tản Đà) (chuyển thể thành lục bát):
Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(lượm lặt trên mạng)
Nguyệt Sinh
09-06-2008, 04:35 AM
I
Vũ dư khai phố di căn thực,
Sương hậu tuần li trích nhị thu.
Mạc đạo u nhân hồn lãi tán,
Nhất niên mang sứ thị thâm thu.
II
Nhất thu đa vũ hựu đa phong,
Khởi ý thu hoa thượng mãn tùng.
Ưng thị thiên công lân lãnh lạc,
Cố lưu hàn nhị bạn suy ông.
III
Trùng dương thời tiết kim triêu thị,
Cố quốc hoàng hoa khai vị khai.
Khước ức cầm tôn tiền nhật nhã,
Kỷ hồi tao thủ phú quy lai.
IV
Khứ niên kim nhật hữu hoa đa,
Đối khách sầu vô tửu khả xa.
Thế sự tương vi mỗi như thử,
Kim triêu hữu tửu khước vô hoa.
Dịch nghĩa:
VỊNH HOA CÚC
I
Mưa tạnh, mở cửa vườn đánh gốc trồng,
Sau khi sương xuống, dạo quanh giậu nhặt nhi hoa.
Chớ bảo người ở ẩn vốn lười nhác,
Lúc bận rộn nhất trong năm là cuối mùa thu.
II
Cả mùa thu nhiều mưa lại nhiều gió,
Đâu ngờ hoa thu vẫn đầy khóm.
Đúng là thợ trời thương kẻ quạnh hiu,
Nên dành lại loài hoa chịu được rét để làm bạn với ông già ốm yếu.
III
Sáng nay là tiết trùng dương.
Không hiểu hoa vàng nơi quê cũ đã nở chưa?
Lại nhớ tới thú vui tao nhã uống rượu gảy đàn ngày trước,
Mấy lần gãi đầu làm bài thơ "quy lai".
IV
Ngày nay năm ngoái hoa đang nở rộ,
Những buồn vì không có rượu để cùng khách thỏa thuê.
Việc đời thường vẫn trái ngược nhau như thế,
Hôm nay có rượu lại không có hoa.
Dịch thơ
I
Mưa tạnh ra vườn tỉa gốc trồng,
Sương gieo, quanh giậu lượm từng bông.
Chớ rằng nhàn ẩn nên lười nhác,
Bận rộn khi ngày sắp tới đông.
(ĐÀO PHƯƠNG BÌNH)
II
Trời thu lắm gió lại nhiều mưa,
Khóm trĩu hoa thu thật chẳng ngờ.
Tạo hóa, phải chăng thường quanh vẳng,
Dành bông hoa lạnh bạn già nua.
(ĐÀO PHƯƠNG BÌNH)
III
Sớm nay vừa tiết trùng dương,
Chẳng hay quê cũ hoa vàng nở chưa?
Rượu đàn trạnh nhớ thú xưa,
Vò đầu, mấy bận làm thơ "đi về"
(HUỆ CHI)
Trùng Dương chợt đến sáng nay
Hoa vàng đất cũ chẳng hay thế nào?
Rượu, đàn nhớ thú thanh tao
Muốn về đành gửi lòng vào trong thơ.
(Nguyệt Sinh)
IV
Ngày này năm ngoái hoa đương rộ,
Không rượu, ngồi suông khách với ta.
Trái ngược, việc đời thường vẫn thế,
Hôm nay có rượu lại không hoa.
(LÊ QUÝ ĐÔN)
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.