PDA

View Full Version : Trần Thái Tông



Co Kiem Hung
03-28-2004, 03:52 AM
Trần Cảnh sinh ngày 16 tháng Sáu năm Mậu Dần (1218), niên hiệu Kiến Gia thứ 8 đời Lư Huệ Tông. Lên tám tuổi làm Chi hậu chính chi ứng cục, hầu cận Lư Chiêu Hoàng. Do sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh kết duyên cùng Lư Chiêu Hoàng. Ngày 11 tháng Chạp năm ất Dậu (1226), Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, ông lên ngôi mở đầu cho nhà Trần, chấm dứt nhà Lư. Năm Bính Thân (1236), do sức ép của Thủ Độ, ông giáng vợ làm công chúa, lấy Thuận Thiên (là chị của Chiêu Hoàng, lại là vợ của anh là Trần Liễu). Năm 1257 chỉ huy và giành thắng lợi trong cuộc đọ sức với quân Nguyên - Mông lần thứ nhất. Năm 1258, nhường ngôi cho con là Trần Hoảng (tức Thánh Tông), làm Thái thượng hoàng. Ngày 1 tháng Tư năm Đinh Sửu (1277), ông mất, miếu hiệu: Thái Tông. Từ đây gọi là Trần Thái Tông. Ông là điển h́nh của sự dung hợp Nho - Phật. Là một ông vua rồi Thái thượng hoàng, trị v́ suốt 50 năm, nhưng các tác phẩm hiện c̣n của ông lại chuyên bàn về Phật.

Một ngày mùa xuân năm 1236...

Trần Thái Tông cùng vài người hộ giá ít ỏi rời bỏ kinh thành Thăng Long, từ bỏ ngôi báu hướng về phía núi Yên Tử. Ông ra đi như một kẻ chạy trốn. Nhưng ông chạy trốn cái ǵ và đi t́m ǵ ở nơi thẳm xa và tĩnh lặng ấy?

Đến Yên Tử, khi nghe Quốc sư hỏi: "Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, t́m sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu điều ǵ mà đến chốn này?" (Thơ văn Lư - Trần, Tập II, Q. thượng. Nxb. Khoa học xă hội, Hà Nội, 1989, tr.28. Các trích dẫn dưới đây không ghi xuất xứ đều lấy từ sách này), Thái Tông trả lời: "Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ tựa nương; lại nghĩ sự nghiệp các đế vương thuở trước, thay đổi bất thường, cho nên t́m đến núi này chỉ muốn được thành Phật".

Ta biết là Thượng hoàng vừa mất năm 1234, khi Thái Tông đă 17 tuổi và đă làm vua được ngót mười năm. Xem ra cái lư do: "Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất" không được thuyết phục lắm. C̣n "trơ vơ đứng trên thiên hạ, không chỗ tựa nương" cũng thế. Chẳng phải ông đă từng có Trần Thủ Độ - một người giúp rập hết ḷng luôn ở bên cạnh đó sao? Nhưng rắc rối chính lại nằm ở ông này. Thái Tông tránh không nói, c̣n quốc sử lại chép khá rơ rằng: "Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực mật mưu với vua" (Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II, Kỷ nhà Trần, Nxb. Khoa học xă hội, Hà Nội, 1971, tr.15) để cướp vợ của anh là Trần Liễu. V́ sao? v́ măi đến lúc ấy Chiêu Hoàng vẫn chưa có con (Hành động này có vẻ vội vàng, bởi Chiêu Hoàng sau này được gả cho Lê Phụ Trần và có tới 5 con) mà Thuận Thiên th́ đang có mang được ba tháng. Làm như thế là để lo cho sự tiếp nối ḍng dơi của vương triều, tộc họ, nhưng khi Trần Liễu khởi loạn th́ Thái Tông không khỏi "áy náy" và đă trốn đi Yên Tử là v́ thế. Cái hơn, cái được của Thái Tông là đă không những không giết mà c̣n che chở cho Trần Liễu khi Trần Liễu biết ḿnh thế cô tự nguyện đến hàng. Hành động ấy sau này được Dụ Tông ca ngợi:

Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ xưng Trinh Quán, ngă Nguyên Phong.
Kiến Thành tru tử, Yên Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
(Sáng nghiệp Việt, Đường hai Thái Tông,
Đường là Trinh Quán, Việt Nguyên Phong.
Kiến Thành bị giết, Yên Sinh sống,
Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng) (Sđd, tr.45)

Nhưng cũng có thể là Thái Tông đă ân hận thật sự - điều mà đă có mấy vị "nhân chủ" có được? Bởi có quyền là có thể làm tất cả! Thái Tông th́ khác. Ông tuy phạm sai lầm nhưng không ngại ngần hoặc đă biết cách làm giảm bớt sai lầm như tiên nho từng chỉ dạy và an ủi: "Quá, tắc vật đạn cải". Lại có thể Thái Tông tự nghĩ ḿnh đă giải quyết ổn thỏa mối quan hệ trên với anh ruột nên đă cố t́nh lờ đi để hướng tới một nguyên nhân sâu xa hơn, bao trùm hơn khi ông cảm nhận được một cách sâu sắc về sự "bất thường" của "sự nghiệp các đế vương thuở trước". Cái thịnh, cái suy như một nghiệp chướng và muốn t́m thấy đạo thường để tránh khỏi cả suy lẫn thịnh, đạt đến mức "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy" th́ chỉ có cách cầu "thành Phật". Nhưng Quốc sư đă trả lời ông thật xác đáng: "Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong ḷng. Ḷng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật". Vậy th́ ông lên núi để làm ǵ khi mà Phật đă tiềm ẩn ngay trong cơi ḷng ḿnh và chỉ cần lặng lẽ mà hiểu thôi! Cái động thái lặng lẽ tưởng chừng như quá giản đơn ấy, Thái Tông đă làm được chưa?

Quả t́nh, trước khi có lời chỉ bày của Quốc sư, ḷng ông chưa lặng lẽ, ông mới chỉ hy vọng t́m thấy sự lặng lẽ, tịch nhiên của Cảnh (cái giả tướng) mà chưa t́m được lối thoát bằng cách quay trở lại với Tâm (cái chân tướng). Do vậy, có thể nói Quốc sư đă cho ông một phương pháp để đi đúng con đường mà ông hằng sở nguyện...

Theo Trần Thủ Độ quay lại Kinh đô gánh vác tiếp trọng trách của người phải "lấy tấm ḷng của muôn dân làm tấm ḷng ḿnh", Thái Tông đă quay về nơi ông từng ngộ nhận.

Với tư cách là vị hoàng đế đầu tiên của cả một vương triều, ông để lại khá nhiều chính tích trên cả hai phương diện: nội trị và bang giao.

Sắp xếp lại cái giang sơn đă cũ nát và suy yếu của nhà Lư, Thái Tông một mặt biết dùng lại những nhân vật có tài của tiền triều, một mặt biết dùng pháp trị để đưa đất nước vào thế ổn định trở lại. Năm năm sau khi lên ngôi, vào tháng Ba năm 1230 ông đă cho "xét các lệ của triều trước, định làm thông chế của quốc triều và sửa đổi h́nh luật lễ nghi, phàm 20 quyển (Sđd, tr.10). Thiết lập những thiết chế hành chính chặt chẽ trên toàn Đại Việt, bắt đầu từ Thăng Long,

Thái Tông cho: "Định các phường về hai bên tả, hữu kinh thành... chia làm 61 phường. Đặt ty B́nh bạc(Chức Kinh doăn xét việc kiện tụng ở Kinh đô, chú theo Sđd, tr.280). "Hoặc có làm rộng thêm phía ngoài thành. Đại La, bốn cửa thành th́ quân Tứ sương, thay phiên nhau canh giữ" (Sđd, tr.10-11). Để công việc triều chính đi vào thường lệ, ông cũng cho "chép công việc của quốc triều làm bộ Quốc triều thường lễ, 10 quyển" (Sđd, tr.10-11). Khi Thượng hoàng cho tô tượng Phật để thờ ở các đ́nh trạm, Ngô Sĩ Liên xem việc này cũng giống như việc "Vạn Hạnh bảo Lư Thái Tổ" (Sđd, tr.12) và phê nhà Trần là "đầu têu của việc sùng Phật" (Sđd, tr.12). Nhưng sùng Phật th́ có ǵ sai? Chưa kể đến thâm ư của hành động này là để nhắm vào việc cố kết lại nhân tâm, làm cho ḷng người bớt hoang mang, ly tán. Ai cũng biết Phật giáo đời Lư và cả trước đó nữa đă từ lâu trở thành một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tinh thần dân tộc, nhà Trần là một triều đại mới lên, muốn phát triển và được ḷng người không ǵ bằng phải căn bản dựa vào và đề cao yếu tố đó, làm ngược lại nghĩa là chỉ tự chuốc lấy thất bại!

Như trên, ta đă thấy Trần Thái Tông đă dám đứng ra ngăn Thủ Độ, che trở cho An Sinh vương, và có lẽ cũng từ đấy ông mới thực sự tự ḿnh làm chủ vai tṛ của ḿnh - vai tṛ của người đứng đầu xă tắc.

Năm 1238, Thái Tông sai Trần Thủ Độ "duyệt định số đinh phủ Thanh Hóa" (Sđd, tr.17). Bốn năm sau (1242), chia nước thành 12 lộ, đặt quan chức, duyệt hộ khẩu đến từng đơn vị xă và để "trí thức hóa" hàng ngũ quan lại, hai năm sau (1244) ông "sai các văn thần đi trị nhậm các phủ lộ trong nước" (Sđd, tr.20), lại hai năm nữa (1246) định ra lệ "khảo duyệt các quan văn vơ trong ngoài" (Sđd, tr.21) và cũng định lệ thi Tiến sĩ, cứ 7 năm một khoa" (Sđd. tr.21)...

Thực ra, trước khi có lệ, nhà Trần đă tổ chức thi Thái học sinh vào các năm 1232 và 1239, chưa kể một khoa thi Tam giáo vào năm 1227. Như vậy chính sách nội trị của Thái Tông rất chú trọng việc đào tạo nhân tài, tạo ra một tầng lớp có học mới. Và chỉ 5 tháng sau khi có lệ, Thái Tông mở ngay một khoa thi, khoa này lấy đỗ được những kẻ sĩ kiệt hiệt như: Nguyễn Hiền (đỗ Trạng nguyên), Lê Văn Hưu (đỗ Bảng nhăn, v.v... và cũng từ khoa này mới có lệ lấy Tam khôi. Nhưng Thái Tông (và nói chung cả nhà Trần sau này) không độc tôn Nho học; nếu như tháng Hai thi Tiến sĩ th́ tháng Tám mở ngay kỳ "thi các khoa thông Tam giáo" (Sđd, tr.21) và cũng chia giáp, ất khoa để lấy đỗ người giỏi. Điều này nói lên một chính sách không kỳ thị và biết thâu nhận chất xám trong toàn thể cộng đồng của Thái Tông.

Từ cuối năm 1243, Thái Tông đă ra sắc lệnh "đắp thành bên trong gọi là thành Long Phượng và chữa lại Quốc Tử Giám" (Sđd, tr.19), mười năm sau vào tháng Sáu năm 1253 ông lại "lập Quốc học viện, tô tượng Khổng Tử, Chu Công và á thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ" (Sđd, tr.25), rồi đến tháng Chín th́ xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng học tứ thư lục kinh" (Sđd, tr.25). Năm 1256, Thái Tông lại mở khoa thi nữa lấy đỗ 2

Trạng nguyên (một kinh, một trại), 1 Bảng nhăn, 1 Thám hoa và 43 Thái học sinh (Tiến sĩ). Xem ra trong khoảng 30 năm và nhất là 20 năm sau (kể từ 1236 đến 1256) chính sách đào tạo nhân tài của Thái Tông đă đi vào nề nếp, quy củ và có kết quả, thể hiện một tầm nh́n vừa tinh sâu vừa thoáng rộng.

Có tài về nội trị nhưng phải nói khả năng bang giao và quân sự của Thái Tông cũng rất đặc sắc, mang đậm dấu ấn của tuổi trẻ và cá tính ông.

Nhà Lư suy yếu, Chiêm Thành sang cướp luôn. Từ khi Trần Thái Tông lên ngôi, sứ Chiêm sang cống khá nhiều nhưng lại có ư đ̣i đất cũ và nḥm ngó Đại Việt, Thái Tông thân chinh cầm quân đi đánh dẹp, vừa răn đe, vừa để tỏ rơ chủ quyền. Trước đó, Thái Tông cũng tự cầm quân đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh B́nh rồi lại giả xưng Trai lang để đi qua các châu Khâm và Liêm. Giữ ḥa hiếu với nước Tống ở phương Bắc nhưng ư thức về độc lập dân tộc ở Thái

Tông là rất rơ rệt. Chỉ v́ một gói phẩm vật tiến cống không đến nơi thôi, Thái Tông đă cho Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kính đánh lấy Bằng Tường để "được thông hiếu". Chịu nhận sự thụ phong của nhà Tống nhưng biên ải lúc nào cũng nghiêm mật, và kể cả khi bị quân Nguyên vây ép - khi mà Tướng quốc thái úy Nhật Hạo đă tỏ ra nao núng và lấy tay viết lên mạn thuyền hai chữ "nhập Tống", Thái Tông cũng kiên quyết chối từ. Nhà Tống đă mất về tay quân đội Nguyên - Mông, nhưng nhà Trần th́ không những trụ lại được, mà Thái Tông c̣n trực tiếp xông pha tên đạn và chỉ huy cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Hào khí Đông A, có thể nói bắt đầu là từ Thái Tông vậy!

Có ai ngờ một ông vua như thế lại đă từng là người tự vứt bỏ ngai vàng, từ giă cả kinh kỳ để lên núi đi t́m Phật. Mới nghe tưởng chừng như mâu thuẫn và cũng tưởng như trong con người Thái Tông đồng thời có hai con người khá cách biệt nhau. Nhưng chẳng phải chính ông đă quan niệm rất hay về tính thống nhất và sự cần thiết phải tựa nương nhau giữa hai hệ phái Nho và Phật khi viết: "Phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh [...] Như thế đủ biết đại giáo của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời". Do thế, ngay trong thời gian trị v́ ông vẫn nhớ lời Quốc sư, rất chăm chỉ nghiên tầm giáo lư nhà Phật, ông c̣n lập Viện Tả nhai (Theo Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1 Nxb Văn học, Hà Nội, 1992, tr 261, 262) để cùng các vương hầu tham vấn Phật đạo và đặt ra chức Tả nhai để phong cho người có phẩm trật cao nhất của Tăng đạo. Tại Viện này ông đă học các bậc thầy như Trúc Lâm và Tức Lự, ông cũng đă chịu ảnh hưởng không ít của các đạo hữu như Đại Đăng, ứng Thuận và Thiên Phong. Trong đó, đặc biệt ông hội nhập được nhiều công phu tu tập của phái thiền Lâm Tế qua Thiên Phong.

Trong quá tŕnh ấy, khi đọc đến một bộ kinh Phật nổi tiếng là kinh Kim cương gặp câu: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (cái tâm là kỳ diệu, tự đầy đủ, trong sáng, trường tồn, bất biến, không bị lệ thuộc vào một sự vật, nơi chốn nào) ông thốt lên vui sướng, thường "gấp sách lại mà ngâm nga" măi câu này. Rồi ông tự viết bài Tựa cho bộ kinh. Ông băn khoăn: "Chúng sinh từ lâu đă bị thói quen của "nghiệp" hun nhiễm, thần thức lại thường chịu sóng gió của "tri kiến" lung lay, th́ làm thế nào?", trong khi chẳng có mấy ai chịu: "Rời bỏ nết ô trọc che trùm" và "xoay vầng sáng [của] tuệ chiếu soi", cho nên "những khiến lang thang khắp chốn, mờ mịt lối về", cũng tức là lâm vào t́nh trạng: "Thật giả khó phân. Vàng ṛng lẫn với đồng thau; trăng sáng hiện cùng bụi bặm", đến nỗi "Quê hương, lầm về nơi "không chốn"; mặt mũi, quên dáng nét nguyên xưa".

T́nh trạng đó thật mờ mịt và thảm hại. Luận về Bốn núi (Tứ sơn: sinh, lăo, bệnh, tử), Thái Tông vẫn triển khai ư tưởng này. Người ta sinh ra đẹp đẽ là thế, mà theo ông:

Vĩnh vi lăng đăng phong trần khách,
Nhật viễn gia hương vạn lư tŕnh.
(Măi măi làm khách phong trần trôi dạt,
Ngày càng xa quê hương muôn vạn dặm đường).

đến khi già lăo rồi, mọi việc như càng buông xuôi hơn:

Thế sự thao thao hồn bất cố,
Tịch dương Tây khứ, thủy Đông lưu.
(Đoái nh́n chi cuộc đời cuồn cuộn,
Mặt trời ngả về Tây và nước chảy về Đông).

và khi đă tật bệnh mới cảm thấy phải:

Tảo nguyện viễn ly ma cảnh giới,
Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân.
(Mong sớm rời xa cơi ma quỷ,
Hồi tâm về đạo, nuôi dưỡng thiên chân).

nhưng h́nh như đă quá chậm bởi lẽ cái chết đă gần kề. Và có chăng chỉ có cái chết mới đạt được một giải pháp:

Tạm thời trần liễm thiên biên tĩnh,
Nguyệt lạc trường giang dạ kỷ canh.
(Tạm thời bụi cuốn bên trời trong sạch,
Trăng rơi trên sông dài, đêm đă mấy canh).

lại cũng chỉ là một giải pháp "tạm thời". Tất cả đều có vẻ ắng lặng, mơ hồ, không gian thời gian lẫn lộn, nhạt nḥa nhưng vẫn không phải niết bàn, vẫn không phải nơi về đích thực dù đă được đặt cược bằng cái chết. Vậy, vấn đề là phải vượt lên cả Bốn núi, vượt lên được "sắc thân", mới mong thoát được cái cảnh: "Khởi đầu, sinh thực hóa sinh, nơi đến, mộng tràn nói mộng. Lăn lăn lộn lộn, vội vội vàng vàng; lấy ảo làm chân, bỏ không theo sắc", mới mong thoát được cái kết cục: "Hết thảy đều để cho "Tâm" rời bỏ; không làm sao trở gót quay về".

Viết được những lời bàn luận như trên Thái Tông đă không quản ngại bỏ ra hàng chục năm ṛng để vừa "học sách Nho rồi c̣n học kinh Phật". Ông không hề nói suông khi muốn răn dạy, chỉ đường cho chúng sinh. Theo ông, muốn tinh tiến không ǵ bằng phải dày công tu học. Thái Tông từng viết ở Tựa Thiền tông chỉ nam: "Mỗi khi được rảnh việc trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo Thiền. C̣n như các kinh điển của Đại giáo th́ không kinh nào không nghiên cứu" và nhấn mạnh lại ở Tựa Kim Cương tam muội: "Trẫm lượng đức chủ tŕ ngôi báu, rồi trước sau chăn dắt muôn dân. Từng lo vất vả; chẳng ngại sớm hôm. Tuy một ngày trăm việc, cũng trộm lúc rảnh rang. Chăm việc tiếc giờ; học càng tăng tiến. Một chữ "đinh" lo chưa biết đến, đêm canh hai c̣n gắng t́m xem"...

Trên kia, ta đă thấy làm vua có mấy ai nhân và thứ được như Thái Tông, giờ đây ta lại thấy làm vua có mấy ai biết cách học và học được rộng, được nhiều như ông? Nhưng ngoài việc học rộng, học nhiều, Thái Tông c̣n bỏ sức tu tập, nghiệm sinh bằng chính đời sống tu hành của ḿnh và rút ra được điều cốt tử của đời sống đó nằm ở Giới, Định và Tuệ: "Giới nghĩa là uy nghi; định nghĩa là không loạn; tuệ nghĩa là hiểu biết". Ba điều cốt tử này không biệt lập nhau mà là một quá tŕnh chuyển tiếp. Nếu chỉ có Giới th́ Tâm chưa thể định, nên phải có Định làm cho "Tâm đứng vững", Tâm vững rồi mới "nhận biết được sự chân thực" và Tuệ phát sinh là dựa trên cơ sở nhận biết được sự chân thực này. Có được Giới, Định, Tuệ rồi th́ màn vô minh sẽ bị xé bỏ, con người được giải thoát và "dùng giới để trừ xu hướng theo điều ác; dùng định để trừ ḷng ham muốn; dùng tuệ để trừ mọi ư thức về cái hiện hữu", Quốc sư Yên Tử khuyên Thái Tông "lặng lẽ mà hiểu" để đến được với "chân Phật" là như vậy.

* * *

Có thể chia cuộc đời của Trần Thái Tông thành hai giai đoạn lớn: một, làm vua ở Thăng Long từ 1225 đến 1258 và hai, lui về làm Thái thượng hoàng từ 1258 đến khi mất. Trong đó, biến cố năm Bính thân (1236) là một sự kiện có ư nghĩa quyết định về mặt tư tưởng. Từ Kinh đô, ông t́m lên Yên Tử rồi lại quay trở lại giữa kinh thành vừa trị nước vừa tu Phật, rồi cuộc hành tŕnh đi t́m cái "bản lai diện mục", cái "gia hương" đích thực của ông thực chất là cuộc hành tŕnh đi t́m chính cái Tâm của ḿnh và Trần Thái Tông đă đạt được điều đó qua học hỏi, qua tu hành, và nhờ có ánh sáng của Tuệ giác nữa.

lại văn hùng

Kư Thanh Phong am tăng Đức Sơn

Sơ nhật vô thường kệ

Tựa thiền tông chỉ nam I

Thử thời vô thường kệ

Co Kiem Hung
03-28-2004, 03:53 AM
Kư thanh phong am tăng đức sơn
Phong đả tùng quan 1* nguyệt chiếu đ́nh,
Tâm kỳ phong cảnh cảnh cộng thê thanh.
Cá trung tư vị vô nhân thức,
Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh.

Dịch nghĩa:

Gửi nhà sư đức sơn ở am thanh phong
Gió đập cổng thông, trăng sáng trước sân,
Ḷng hẹn với phong cảnh cùng trong sạch lặng lẽ,
Bao nhiêu thú vị trong đó không ai hay,
Mặc cho nhà sư trong núi vui đến sáng.

Dịch thơ:

Gió đập cửa thông, trăng lấp loáng,
Ḷng đây, cảnh đấy cùng thanh sảng,
Bao nhiêu thú vị chẳng ai hay,
Mặc kệ cho sư vui đến sáng,
Nguyễn đổng Chi
(Việt Nam cổ văn học sử)

---------------------------

Khảo đính:
1* Trong Toàn Việt thi lục: gian

Co Kiem Hung
03-28-2004, 03:55 AM
Tựa thiền tông chỉ nam (1)

Trẫm thầm nhủ: Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà t́m; tính người có trí ngu, cũng nhờ giác ngộ mà thành đạt. V́ vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê muội; con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh. Cho nên Lục tổ (2) có nói: "Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác ǵ nhau". Như thế đủ biết đại giáo của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời. Thế th́ nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của ḿnh, giáo lư của đức Phật là giáo lư của ḿnh ư!

Vả thuở trẫm c̣n niên thiếu, hiểu biết mới vơ vẽ, được nghe loáng thoáng lời dạy bảo của thiền sư đă dập tắt ngay mọi điều vương vấn; ḷng thốt nhiên trong lặng, để tâm vào nội giáo (3), tham cứu đạo Thiền, dốc ḷng t́m thầy, thành khẩn mộ đạo. Tuy nhiên, cái ư hồi tâm hướng đạo đă nảy mầm mà cái cơ cảm xúc c̣n chưa thấu. Vừa mười sáu tuổi, Thái hậu đă chán cơi trần; trẫm nằm rơm gối đất, huyết lệ nát ḷng; ngoài nỗi ưu phiền, nghĩ đâu việc khác. Thế rồi mới vài năm sau, Thái Tổ hoàng đế lại bỏ ngôi trời (4). Niềm nhớ mẹ chưa nguôi, t́nh thương cha càng nặng (5). Ngổn ngang đau xót, khó nỗi khuây ḷng. Trẫm nghĩ: cha mẹ vỗ về nuôi nấng con không thiếu cách ǵ, con dù thịt nát xương tan cũng không đủ báo đền trong muôn một. Huống chi, đấng hoàng khảo Thái Tổ ta xây dựng cơ nghiệp rất mực gian nan, trị nước giúp đời lại càng khó nhọc. Người đem ngôi báu trao lại cho trẫm từ lúc ấu thơ, khiến trẫm đêm ngày lo sợ, không chút thảnh thơi. Trẫm tự bảo ḿnh: trên đă không có cha mẹ để tựa nương, dưới lại e chẳng xứng với ḷng dân trông đợi, biết làm thế nào? Suy đi nghĩ lại, không ǵ hơn lui về chốn núi rừng t́m học đạo Phật, để hiểu rơ nghĩa lớn của việc sống chết, cũng đền đáp công ơn khó nhọc của mẹ cha, thế chẳng tốt hơn sao? Thế là chí trẫm đă quyết. Đêm mồng ba tháng Tư năm Bính Thân, niêu hiệu Thiên ứng Chính B́nh thứ năm (6), trẫm cải dạng ra khỏi cửa cung rồi bảo với tả hữu rằng: "Trẫm muốn ra ngoài chơi để lắng nghe tiếng nói của dân, xem xét ḷng dân, ngơ hầu biết được mọi khó khăn của công việc".

Bấy giờ tả hữu đi theo trẫm chỉ bảy tám người. Giờ hợi đêm ấy trẫm cưỡi một ngựa lặng lẽ ra đi; qua sông về hướng đông, mới mang t́nh thực nói với tả hữu. Họ đều ngạc nhiên, rơi nước mắt. Giờ măo hôm sau đến bến đ̣ núi Phả Lại, sông Đại Than. Sợ có người biết, trẫm lấy áo che mặt qua sông rồi đi tắt theo đường núi. Đến tối vào nghỉ ở chùa Giác Hạnh, đợi sáng lại đi. Lặn lội vất vả, núi hiểm, suối sâu, ngựa mỏi không tiến lên được nữa, trẫm liền bỏ ngựa vin vách đá mà lần bước. Giờ mùi mới đến sườn núi Yên Tử (7). Sáng hôm sau lên thẳng đỉnh núi, vào yết kiến vị Quốc sư là đại sa môn phái Trúc Lâm. Quốc sư vừa thấy trẫm th́ mừng rỡ, rồi ung dung bảo rằng:

- Lăo tăng ở nơi sơn dă đă lâu, xương gầy mặt vơ, ăn rau đắng, nếm trái cây, chơi cảnh rừng, uống nước suối, ḷng như mây nổi, theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, t́m sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu điều ǵ mà đến chốn này?

Trẫm nghe sư nói, rơi hai hàng nước mắt, đáp lại rằng:

- Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, chơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ tựa nương; lại nghĩ sự nghiệp các đế vương thuở trước, thay đổi bất thường, cho nên t́m đến núi này chỉ muốn được thành Phật, chứ không cầu ǵ khác.

Sư nói:

- Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong ḷng. Ḷng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó th́ lập tức thành Phật, không cần khổ công t́m kiếm bên ngoài.

Bấy giờ thúc phụ Trần Công (8) là em họ tiên quân, người được gửi gắm đứa con côi khi tiên quân bỏ quần thần, trẫm đă phong làm Thái sư, tham dự quốc chính, nghe tin trẫm bỏ trốn liền sai người t́m kiếm khắp nơi; rồi ông cùng các bậc quốc lăo t́m đến núi này. Gặp trẫm, ông đau đớn nói:

- Thần nhận sự ủy thác của tiên quân, tôn phụng bệ hạ làm chúa tể dân thần. Ḷng dân kính yêu trông đợi bệ hạ chẳng khác nào con nhỏ quyến luyến mẹ cha. Huống chi các cố lăo trong triều ngày nay chẳng một ai không là bề tôi thân thuộc, chúng dân sĩ thứ chẳng người nào không vui vẻ phục ṭng. Cho đến đứa trẻ lên bảy (9) cũng biết bệ hạ là bậc cha mẹ dân. Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nắm đất trên mồ chưa khô, lời trăng trối bên tai c̣n đó. Thế mà bệ hạ lại lánh gót ẩn cư nơi núi rừng để theo đuổi cái chí riêng ḿnh. Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đă vậy nhưng c̣n quốc gia xă tắc th́ sao? Nếu chỉ để lời nói suông lại cho đời sau, sao bằng đem thân ḿnh làm gương trước cho thiên hạ. Nhược bằng bệ hạ không nghĩ lại th́ chúng thần và người trong nước xin cùng chết ngay hôm nay, quyết không trở về nữa!

Trẫm thấy Thái sư cùng các kỳ lăo khăng khăng không chịu bỏ trẫm, liền đem lời nói ấy bày tỏ với Quốc sư. Quốc sư cầm tay trẫm nói:

- Phàm đă là bậc nhân quân tất phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh; lấy tấm ḷng của thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh. Nay muôn dân đă muốn đón bệ hạ về th́ bệ hạ không về sao được! Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng chút sao lăng mà thôi.

V́ thế trẫm cùng mọi người trở về Kinh, miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng hơn chục năm, mỗi khi được rảnh việc trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo Thiền. C̣n như các kinh điển của đại giáo th́ không kinh nào không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim cương, đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" (10) vừa gấp sách lại ngâm nga, bỗng nhiên tỉnh ngộ, liền đem những điều giác ngộ được làm bài ca này, đặt tên là Thiền tông chỉ nam.

Năm ấy Quốc sư từ núi Yên Tử về Kinh, trẫm cho ở chùa Thắng Nghiêm để trông coi việc khắc bản in kinh sách. Nhân đó, trẫm đưa bài ca cho Quốc sư xem. Mới đọc qua một lần, sư đă mấy phen tán thưởng, nói:

- Tấm ḷng của chư Phật ở cả trong bài ca này, sao không khắc in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ hậu học?

Trẫm nghe lời sư, sai thợ viết chữ chân phương rồi truyền cho khắc bản. Chẳng riêng để chỉ dẫn đường mê cho đời sau mà c̣n muốn mở mang công nghiệp của các thánh nhân thuở trước. V́ thế trẫm làm bài tựa này.

Nguyễn đức Vân - Băng Thanh dịch


Chú thích:

(1) Theo Đại Việt sử kư toàn thư, v́ hoàng hậu Chiêu Thánh lâu chưa có con, Trần Thủ Độ bắt Trần Thái Tông phế đi, và cướp vợ Trần Liễu (anh ruột ông; bà này là chị ruột Chiêu Thánh) lúc đó đang có thai lập làm hoàng hậu. Trần Liễu tức giận họp quân làm loạn. Thái Tông v́ thế chán việc đời, bỏ ngôi vua vào tu ở núi Yên Tử. Sau Thủ Độ dắt quần thần t́m đến khuyên giải và ép trở về.Tác phẩm Thiền Tông chỉ nam ca đă mất, chỉ c̣n lại bài tựa này.

(2) Lục tổ: tức sư Tuệ Năng (?-713), họ Lư, người Lĩnh Nam, là học tṛ Thiền sư Hoằng Nhẫn, tổ thứ năm ḍng Thiền tông Trung Quốc, trụ tŕ ở chùa Bảo Lâm, núi Tào Khê, Thiều Châu. Ông được Hoằng Nhẫn truyền y bát làm tổ thứ sáu, nhưng Thiền tông đến ông th́ chia làm hai: Nam tông và Bắc tông, Tuệ Năng là người mở đầu của Nam tông. Bắt đầu từ ông, Thiền tông không truyền y bát nữa.

(3) Nội giáo: cũng như đại giáo đều chỉ đạo Phật; các thuật ngữ như nội điển, đại tạng đều chỉ kinh sách của đạo Phật.

(4) Sau khi lên ngôi, Thái Tông tôn bố (Trần Thừa) làm thượng hoàng và mẹ làm hoàng thái hậu. Theo bài tựa này, bà mẹ Trần Thái Tông mất năm ông 16 tuổi, nhưng Đại Việt sử kư toàn thư lại chép hoàng thái hậu mất năm Canh Dần (1230) lúc Thái Tông 12 tuổi, Trần Thừa mới mất năm Giáp Ngọ (1224), Thái Tông 16 tuổi. Không rơ tài liệu nào đúng.

(5) Niềm nhớ mẹ (bôi quyên chi mộ): bôi quyên là cái chén, cái môi. Kinh Lễ chép: mẫu một nhi bôi quyên bất năng ẩm yên: nghĩa là: mẹ chết, cái chén, cái môi không nỡ uống.Ḷng thương cha (sang cự chi tâm): Sang cự là vết thương lớn, xuất xứ từ chữ sang cự thống thâm: vết thương đau xót. Tác giả ví nỗi đau xót mất cha như một vết thương lớn.

(6) Mồng 3 tháng Tư năm Bính Thân tức 9-5-1236.

(7) Yên Tử: một dăy núi thuộc huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, nay là huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

(8) Trần Công: tức Trần Thủ Độ, chú của Trần Cảnh; người rất có công trong việc xây dựng nhà Trần và đất nước thời đó.

(9) Đứa trẻ lên bảy: nguyên văn: đứa trẻ cao ba xích, khoảng 1m20, ước chừng 7, 8 tuổi.

(10) Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm: một câu quan trọng của kinh Kim cương (tên gọi đầy đủ là Kim cương bát nhă ba la mật đa, tiếng Phạn là Vajraprojna - poramita - Sutra, tên kinh có nghĩa là bộ kinh giúp cho người ta phá bỏ mọi phiền năo một cách nhanh chóng để đến bờ chính giác, thành Phật). Bộ kinh này vốn được viết bằng tiếng Phạn, Cưu-ma-la-thập (Kumara-jiva), đầu thế kỷ thứ năm sang Trung Quốc mới đem dịch ra tiếng Hán. Câu Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm được nhiều người đề cập đến, Lục tổ giảng như sau:Hà kỳ tự tính? Bản tự thanh tịnh. Hà kỳ tự tính? Bản tự sinh diệt. Hà kỳ tự tính? Bản tự cụ túc. Hà kỳ tự tính? Bản vô động dao? Hà kỳ tự tính? Năng sinh vạn pháp. Thức đắc thử tâm, diệu trạm viên tịch, bất nệ phương sở, bản vô sở sinh.

Nghĩa là:

Thế nào là tự tính? Vốn tự nó thanh tịnh. Thế nào là tự tính? Vốn nó tự sinh ra và mất đi. Thế nào là tự tính? Vốn tự nó đầy đủ. Thế nào là tự tính? Vốn nó không lay động. Thế nào là tự tính? Nó có thể sinh muôn vạn sự vật. Phải hiểu cái tâm ấy kỳ diệu sâu sắc, tṛn vẹn lặng lẽ, không lệ thuộc vào nơi chốn, không từ đâu sinh ra. Câu này muốn khuyên người học đạo phải hiểu được vạn vật là không, cái tâm là kỳ diệu, tự đầy đủ, trong sáng, trường tồn bất biến, không bị lệ thuộc vào một sự vật, nơi chốn nào.

Co Kiem Hung
03-28-2004, 03:59 AM
Sơ nhật vô thường kệ

Sơ nhật vô thường kệ
Dạ sắc sơ phân hiểu,
Thần quang tiệm xuất không.
ám thôi tân phát bạch,
Tiệm cải cựu nhan hồng.
Bất giác niên hoa xúc,
Do tranh nghiệp quả hùng.
Thân như băng kiến hiện,
Mệnh tự chúc đương phong.
Mạc tác trường niên khách,
Chung quy tảo chiếu công.

Dịch nghĩa:

Kệ vô thường(1) buổi sớm
Sắc đêm mới vừa hửng sáng,
ánh ban mai hiện dần trên bầu trời.
Ngầm giục mái tóc xanh điểm trắng,
Dần thay vẻ hồng của dung nhan xưa.
Chẳng biết tuổi xuân ngắn ngủi,
C̣n tranh nghiệp quả (2) mạnh hùng.
Thân như băng gặp nắng trời,
Mệnh tựa ngọn đèn trước gió.
Chớ làm người khách trọ măi măi,
Cuối cùng hăy quay về với công soi rọi sớm.

Dịch thơ:

Đêm tối vừa hửng rạng,
Vầng dương ló khoảng không.
Tóc xuân ngầm điểm trắng,
Nét ngọc sắp phai hồng.
Nào biết niên hoa ngắn,
C̣n tranh nghiệp quả hùng.
Thân: lớp băng nắng rọi,
Mệnh: ngọn đuốc gió tung.
Chớ mải làm thân khách,
Sớm về mà thu công.
đào phương b́nh dịch

Chú thích:

Xuất xứ: KHL1, KHL2, KHL3 (Hoá Hư Lục)

(1) Vô thường: thuật ngữ đạo Phật, tức vô thường biến dịch, phản ánh một quan điểm cơ bản của triết học Phật giáo cho rằng tất cả mọi vật trong thế giới hữu vi đều không ngừng vận động theo chu tŕnh: sinh ra, lớn lên và hủy diệt. Kệ vô thường là bài kệ nói về quy luật biến dịch, sự vận động của thế giới hữu vi, ứng dụng vào một thời điểm nhất định. Lúc này là buổi sáng sớm, các th́ sau là buổi trưa, buổi hoàng hôn, chập tối, nửa đêm... mỗi th́ đều có một bài kệ vô thường.

(2) Nghiệp quả: thuật ngữ đạo Phật, nghĩa là kết quả báo ứng do nghiệp của người đời.

Co Kiem Hung
03-28-2004, 04:01 AM
Thử thời vô thường kệ

Thử thời vô thường kệ
Cảnh bức tây sơn mộ,
Hà thời tích thốn âm.
Dủy năng ḅn mă ư,
Na khẳng trụ viên tâm.
Nhật xuất hoàn tương một,
Thân phù hựu 1* phục trầm.
Lăo lai ngu dữ trí,
Tử khứ cổ ḥa câm (kim).
Bất miễn vô thường đáo,
Nan đào đại hạn lâm.
Các nghi 2* hành chính đạo,
Vật sử nhập tà lâm.

Dịch nghĩa:

Kệ vô thường lúc bấy giờ (hoàng hôn)
Cảnh gần về chiều, mặt trời khuất non Tây,
Đến bao giờ mới luyến tiếc tấc bóng.
Chỉ có thể buông lỏng ư ngựa (1),
Nào chịu dừng lại cái ḷng vượn (2).
Mặt trời mọc rồi sẽ lặn,
Tấm thân nổi rồi lại ch́m.
Tuổi già đến, nào kể ǵ khôn dại,
Việc chết th́ xưa cũng như nay.
Không tránh khỏi lúc vô thường dẫn tới,
Khó trốn khỏi cái hạn lớn (3) kéo về.
Ai nấy nên tu hành chính đạo,
Chớ để ḿnh lạc vào rừng tà.

Dịch thơ:

Vừng hồng đà gác núi,
Tấc bóng tiếc chăng ai.
ư ngựa chạy theo măi,
Vượn tâm buông thả hoài.
Mặt trời mọc rồi lặn,
Thân, nổi ch́m luân hồi.
Già, trí ngu nào khác,
Chết, nay như xưa thôi!
Vô thường, khó tránh khỏi,
Hạn lớn, trốn không nơi.
Đạo chính, hăy theo đuổi,
Rừng tà, mau xa rời.
Băng Thanh dịch

Khảo đính:

1* Khóa hư lục AB. 268: khước
2* Khóa hư lục AB. 268 và AB. 367: các các

Chú thích:

(1) (2) ư ngựa (mă ư) và ḷng vượn (viên tâm): tức ư và ḷng phóng túng hung hăng như con ngựa, con vượn không chịu ở yên, không ngừng lại ở một chỗ, luôn luôn mơ ước, vọng cầu...

(3) Hạn lớn: giới hạn lớn của cuộc đời, tức là sự chết.