rongdat
01-24-2004, 12:26 AM
Tiểu sử
Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long như chính ông đă không ngần ngại kư kèm theo bút hiệu của ḿnh. (Duyên Anh dịch sang chữ Pháp có nghĩa là Ma Chance, Mon Amour). Ông sanh năm 1935 tại Thị xă Thái B́nh, nhưng theo lời ông, lại được khai là đẻ ở làng Trường An là quê cha của ông, thuộc huyện Vũ Tiên, Thái B́nh. Chính vùng quê hương Thái B́nh này đă xuất hiện phẩm tự thuật. Vùng quê hương đó đă được dựng lại, đẹp hơn bao giờ hết, trong bộ trường thiên tiểu thuyết mang tên VẺ BUỒN TỈNH LỴ.
Ông đă theo học nhiều trường. Những năm tiểu học, ông không học hết niên học ở một trường nào v́ cứ phải đổi trường theo sự xe dịch của cha. Chỉ có năm lớp Ba (Élémentairei), năm 1942, ông mới được học trọn niên khóa ở trường Phụ Dực. Những ngày ở đây đă để lại nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm bàng bạc trong các truyện ngắn đầu tay của ông (Khúc Rẽ Cuộc Đời, Hoa Thiên Lư) trong các tác phẩm tự thuật (Trường Cũ) cũng như trong nhiều tác phẩm viết ở ngôi thứ ba (Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ, Tuổi Mười Ba...) Nếu mỗi người viết văn đều đă trải qua một đoạn đời hay một kinh nghiệm nền tảng mai đây không ngừng ám ảnh có thể nói rằng thơ ấu sống trong khung cảnh buồn thiu của tỉnh lỵ chính là h́nh ảnh đậm đà nhất, thân mật nhất của tác phẩm cũng như của tâm hồn Duyên Anh.
"Năm sau tôi bỏ trường Bà Sơ. Nhưng vừa học trường tiểu học thị xă được hai tháng ht́ nhà tôi dọn về huyện lỵ Phụ Dực. Huyện lỵ thật nghèo nàn. Quanh thành quan huyện, giây b́m leo kín. Những mái nhà tranh, những ngọn đèn dầu và tiếng trống trên cḥi canh buồn làm sao ấy. Ngôi trường huyện của tôi buồn hơn"
Đời sống huyện lỵ thật nghèo nàn và nhất là thật buồn tẻ đă tạo cho ông một bối cảnh, một màu sắc tâm hồn. Đời sống đó, vẻ buồn đó đă dạy cho ông những bài học mơ mộng đầu tiên, những bài học mai đây c̣n tiếp tục in sâu vào tâm hồn ông, c̣n tiếp tục bàng bạc trong tác phẩm ông, một cách nào đó, nó mở ra cho ông những cánh cửa, những chân trời. Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ đă cống hiến cho người đọc những trang sách đẹp nhất của Duyên Anh, những trang sách làm sống lại một vùng trời quê hương quen thuộc, một đoạn đời với những giấc mơ và những rung động tuyệt vời của tâm hồn tuổi nhỏ:
"Mùa hạ năm nay thật buồn tẻ. Hoa phưọng vẫn... nhưng màu hoa không rực rỡ. Tại học tṛ đă nghĩ học trước hè, nghỉ từ tháng ba chết đói. Loài ve sầu rên rỉ mỏi miệng cũng chẳng ai thèm cảm xúc. Có lẽ mùa hạ sang năm sẽ buồn tẻ hơn. Côn hồi tưởng những mùa hè năm xưa mà thương tiếc"
"Hai đứa trẻ mong đợi thầy chúng nó trở về Thái, Thầy chúng, chắc chắn, sẽ chở về những mộng ước ấp đầy những con mắt chúng. Hai đứa trẻ thị xă không muốn âm thầm sống trong cái đai b́nh thản. Nó muốn thoát ra. Nỗi thèm khát của chúng bộc lộ rơ rệt. Bây giờ mới đúng lúc khung cảnh cảnh buồn nản của tỉnh lỵ không thích hợp với chúng nó".
Phải chăng đoạn đời đó, vẻ buồn đó đă tạo cho Duyên Anh một ng̣i bút thơ mộng ?
Năm 1944 Duyên Anh rời huyện lỵ Phụ Dực, về thị xă Thái B́nh.
1945, chứng kiến cảnh chết đói tháng ba Ất Dậu, cảnh Nhật đảo chánh Pháp rồi cuộc tổng khởi nghĩa. Như bao nhiêu đứa trẻ lớn lên trong cao trào cách mạng, Duyên Anh đă là một nhi đồng chống Pháp, biết thù hận Pháp gây chiến ở Nam Bộ và đă tham gia cách mạng một cách hồn nhiên, phấn khởi. Những cuốn chuyện THẰNG VŨ, THẰNG CÔN, CON THÚY đă làm sống lại giai đoạn lịch sử này với những nhân vật thuộc lứa tuổi của chính Duyên Anh thời bấy giờ (lên 9, lên 10...) đă sống, đă cảm nhận bằng tất cả tâm hồn ngây thơ trong suốt của chúng, như nhà văn Mai Thảo đă nói:
"... Những sự việc của thế giới và xă hội người lớn như đổi dời, cách mạng đói kém, mất mùa, chân phù lính Tàu, và lưỡi lê Nhật, hết thảy đều được nh́n, sống, nhận thức, phán đoán, tiếp thu bằng những trái tim lên mười. Qua cái lăng kính luân lư, đạo đức phơi phới hồn nhiên, trong vắt và đôn hậu nhất của tuổi thơ".
1946, khi Pháp gây chiến ở Hà Nội, Duyên Anh tản cư về Tiền Hải và theo học trường Huyện.
1947, đậu Sơ học bổ túc và học Thành Chung ở Tŕnh Phố thuộc Kiến Xương (quê hương của Trương Quỳnh Như)
1948, về quê nhà ở Trường An. Trốn nhà đi làm liên lạc viên cho bộ đội một năm. Sau đó lại trở về Trường An.
1959, Pháp chiếm Thái B́nh. Hồi cư về thị xă. Chứng kiến cảnh càn quét của lính viễn chinh Pháp. Học trung học Tỉnh.
1952, lên Hà Nội, học Trung học đệ nhị cấp, Duyên Anh học đến năm 1954 th́ vào Nam sau khi đă trở về Thái B́nh sống ba tháng trong bầu không khí giải phóng tiếp thu. Ông di cư vào Saigon một ḿnh. Sống vô tích sự tại Nhà Hát Tây. Ông đă ghi lại những ngày này trong Áp Tiểu Thư, những ngày đầy thơ mộng và hồn nhiên của thời mới lớn mặc dù những khó khăn về vật chất. Chính trong giai đoạn này, Duyên Anh bỏ học v́ không được ai chu cấp.
Đến giữa năm 1955, ông lên Ban Mê Thuột suốt ngày hạ cây, cưa ngắn, bổ nhỏ, gánh ra thị xă bán để mưu sanh. Nhưng thực ra ông theo đảng Duy Tân lên đó mưu chống chính phủ Ngô Đ́nh Diệm (Ảo vọng tuổi trẻ) chính ông đă từng thú thật về chuyện đi làm "cách mạng" này, là "đói quá theo bừa và một phần cũng v́ mơ mộng tuổi vừa lớn mà", quá nửa năm làm chiến sĩ cách mạng bất đắc dĩ, ông tự tah6'y không đẹp bằng nhân vật Dũng trong tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, nên bỏ về Saigon, sống nhờ trên kho chứa đồ cũ của hăng dệt ở đại lộ Trần Hưng Đạo, sau đó sống nhờ với một người bạn làm cán bộ chấm công. Ông đă kể lại những ngày này trong hồi kư "Làm Báo".
"Chúng tôi sống ở ngoại ô Ḥa Hưng trong một xóm điếm tồi tệ. Xóm điếm thấp hơn mặt đường cả thước. Lên xuống y hệt leo thang. Căn nhà mướn của một me Tây lụp xụp. Mái lá. Tối ngày chuột khiêu vũ. Cạnh nhà có con lạch chảy ra cống thành phố. Thuở ấy lính viễn chinh Pháp chưa chịu về nước. Xóm điếm tấp nập. Đêm nào cũng xảy ra vụ kiếm tục, bố ráp và lính viễn chinh "chơi lường". Điếm chạy lính huỳnh huỵch. Điếm chửi lính viễn chinh ồn ào. Đầy rẫy thảm cảnh và nghịch cảnh của một xă hội về chiều... Tôi thương nhất là những đứa trẻ con lai da trắng, da đen. Những đứa trẻ không có quê hương, tổ quốc ấy cũng là những đứa trẻ không có tuổi thơ. Mười tuổi chúng đă biết ghếch cớm "gác cảnh sát, hễ thấy cảnh sát vào xóm là báo động) cho bọn Tú bà. Sống ở xóm điếm, ở cái vũng bùn tối cùng cực, tôi đă nghĩ phải viết một thiên phóng sự nhan đề Xóm Quốc Tế.
Cũng trong khoảng thời gian này, đời sống vật chất đă đưa đẩy Duyên Anh tới nhiều hoàn cảnh nổi trôi, rày đây, mai đó, hết nghề này lại chuyển sang nghề khác để sinh nhai. Hết lang thang với người sơn đông măi vơ, ông nhập đoàn cải lương lưu diễn miền Tây (Mây Mùa Thu). Ông lại trở về Saigon, làm nghề giữ xe đạp hội chợ. quảng cáo cho đoàn xiếcWoong Bang Phu ở sân bóng Tao Đàn. Dạy học tư gia. Ông đă từng sống dưới chân cầu Tân Thuận với người đồng hương đạp xích lô, sống lẫn lộn trong một xă hội bần cùng nhất với những cảnh bất công ngang trái hàng ngày diễn ra oan nghiệt gấp ngàn lần những cảnh đời trong tiểu thuyết Nguyên - Hồng. Chung đụng với đủ hạng người: phu bến tàu, phu xích lô, buôn gánh bán rong, đánh giày, bán báo, ăn cắp, du thủ du thực... ông đă "sống với họ, sống như họ".
Nếu Duyên Anh chưa viết thiên phóng sự mang tên Xóm Quốc Tế như ông đă từng nghĩ tới, th́ chính ông đă viết hơn một cuốn truyện dài mang nặng màu sắc phóng sự xă hội, nói về những cuộc đời, những cảnh sống đầy tối tăm, nghịch cảnh (Luật Hè Phố, Điệu Ru Nước Mắt...) và trên phương diện này nhiều người đă không ngần ngại gọi ông là một nhà văn xă hội. Điều đáng nói ở đây chính là Duyên Anh đă sống, trực tiếp hay gián tiếp những cảnh đời mà ông đă viết.
Để tiếp tục theo dơi những bước chân của Duyên Anh, năm 1957, ông rời Saigon, rời bỏ "miền bất hạnh không có nổi ánh điện câu để thấy nó hắt hiu, vàng vọt", ông cùng người bạn xuống Mỹ Tho mở lớp dạy đàn sáo lấy tên là Hương Duyên (Cầu Mơ). Thất bại. Ba tháng sau, trở về Saigon. Rồi lên Tây Ninh sống nhờ người quen, ngày ngày gánh nước tưới rau giúp bạn để có cơm ăn ở một trại định cư thuộc Trảng Lớn. Hăy nghe ông nhắc lại những ngày sống vô vị đó:
"Ở đây buồn lắm. Xong công tác tưới rau tôi thường ngồi trên cái nắp quan tài của trại ḥm đánh cờ tướng giết th́ giờ. Mỗi sáng sớm, xe đ̣ về Saigon đều ghé qua, bóp c̣i inh ỏi. Tiếng c̣i như xé nát ḷng tôi. Tuổi trẻ của tôi đành chôn chân ở một chỗ, nghe nỗi buồn đốt cháy hoa mộng. Đọc Một Chuyến Đi của Nguyễân Tuân tôi phát khóc."
1958, Duyên Anh lại trở về Ban Mê Thuột. Rồi lại trở về Saigon sau bốn tháng nằm ở cây số 4. Được đàn anh Duy Dân giới thiệu xuống Ḥa Hảo dạy học tại một ngôi trường bán công, mỗi giờ được bốn chục bạc. Dạy được ba tháng bị đàn anh đuổi về v́ dám dẫn đám học tṛ sang Tân Huề ăn thịt ḅ, thịt chó và đá bóng với học tṛ. Tội nặng nhất là dám mặc rà rông sang văn pḥng lănh lương. Duyên Anh ra Long Xuyên xin dạy ở Quang Trung. Nhưng rồi việc dạy học cũng không được bền bĩ ở đây. Hết niên khóa ông bỏ về Saigon, rồi lại lang thang khắp miền Tây và đói dài ở Saigon. Lại trở về Ḥa Hưng sống nhờ gia đ́nh người bạn. Chính trong những ngày này, Duyên Anh đă tập tễnh những bước chân đầu tiên vào cuộc đời làm văn làm báo.
Đó vào khoảng 1960, Duyên Anh được nhà văn Trúc Sĩ tiến dẫn tới tạp chí Chỉ Đạo của Bộ Quốc Pḥng. Sáng tác đầu tiên của Duyên Anh được đăng trên mặt báo này là một bài thơ nhan đề Bà Mẹ Tây Ninh. Tháng sau, Chỉ Đạo đang truyện ngắn Hoa Thiên Lư, sáng tác đầu tiên của ông được viết trong "một đêm mưa mù mịt chân cầu Tân Thuận" trong nỗi "nhớ nhà và thương tiếc tuổi thơ của ḿnh". Bút hiệu Duyên Anh cũng đă bắt đầu xuất hiện từ truyện ngắn mang h́nh bóng quá khứ và kỷ niệm đó. Ông có truyện ngắn đăng thường xuyên trên tạp chí Chỉ Đạo. Từ đó những chuyện sau này được gom lại thành tập truyện đầu tay của Duyên Anh với nhan đề Hoa Thiên Lư do nhà Giao Điểm ấn hành. Chi tiết nổi bật nhất trong giai đoạn khởi nghiệp của Duyên Anh có lẽ là sụ nâng đỡ tận t́nh của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, lúc bấy giờ làm Chủ bút Chỉ Đạo. Truyện ngắn Con Sáo Của Em Tôi được Nguyễn Mạnh Côn xếp vào "loại truyện đặc biệt" được trả ngót năm ngàn bạc, số tiền nhuận bút được xem là rất cao vào thời đó, năm 1960, và được nhà văn này viết cho một cái "chapeau" nồng hậu. Duyên Anh cho đó là một hân hạnh ông chưa hề mơ tưởng tới. Một sự may mắn. Và:
"Nhờ truyện ngắn Con Sáo Của Em Tôi mà một số độc giả biết đến tôi và dành cho tôi nhiều cảm t́nh. Lần đầu tiên tôi nhận được bức thư của độc giả. Bức thư không một lời "ái mộ" chỉ vỏn vẹn một gịng ÔNG DUYÊN ANH, TÔI BẮT ĐỀN ÔNG ĐẤY, V̀ CON SÁO CỦA EM TÔI MÀ TẾT NĂM NAY TÔI BUỒN MUỐN KHÓC. Gịng chữ trách móc đó, tôi giữ thật kỹ. Thuở ban đầu mà. Bây giờ nhận được thư độc giả, tôi đọc vẫn c̣n xao xuyến nhưng không thể xao xuyến như thuở ban đầu".
Nguyễn Mạnh Côn rời Chỉ Đạo, Duyên Anh bắt đầu viết cho các tờ báo khác: Sinh Lực của ông Lê Văn Thắng, Gió Nam của ông Lại Tư. Ông tiếp tục viết truyện. Sau đó, nhờ sự cất nhắc của ông Nguyễn Bích Liên, giám đốc Tâm Lư Chiến của Tổng Nha Thanh Niên thời bấy giờ, Duyên Anh bắt đầu "làm công chức dể dàng, thua phó đốc sự có vài trăm". Một lần nữa, Duyên Anh thú thật là ḿnh may mắn. Luôn luôn may mắn. Cũng như sau này, thành công với nghề văn, được liệt vào hàng tác giả có sách bán chạy nhất, ông vẫn thường cho rằng ḿnh may mắn. Thánh cho lộc mà.
1962, Duyên Anh lấy vợ và tiếp tục làm công chức. Được biệt phái trông coi bán tuần báo Chiến Đấu cùng với nhà văn lăo thành Tam Lang.
1963, bị trả về nhiệm sở cũ. Cũng năm này tập truyện Hoa Thiên Lư ra đời. Những ngày Phật giáo phát động cuộc đấu tranh, Duyên Anh ngồi ở sở hoàn thành THẰNG VŨ, cuốn truyện dài đầu tay cũng là gác phẩm mở đầu cho bộ trường thiên tiểu thuyết VẺ BUỒN TỈNH LỴ. THẰNG VŨ được nhà văn Nguyễn Mạnh Côn khen hay và viết cho một bài giới thiệu nồng nhiệt.
1964, Duyên Anh rời bỏ nghề công chức đi làm nhật báo. Ông viết cho Xây Dựng, rồi Sống, Công Luận. Ông viết đủ các mục: Tiểu thuyết, phiếm luật, tường thuật... như ông đă từng kể lại khá tường tận trong hồi kư Làm Báo đăng tải trên Tuổi Ngọc. Ông làm chủ bút tuần báo Con Ong, viết "Article de Fonb" cho báo này và đặc biệt ông đă viết gần hết các trang cho báo này trong những số đầu. Ông làm chủ nhiệm các tờ Người, Búp Bê, Tuổi Ngọc (bộ cũ). Chính trong khoảng thời gian thật sự sống với nghề báo (bên cạnh nghề văn), Duyên Anh đă tạo cho ḿnh tên tuổi qua những truyện dài đăng báo được độc giả nhất là giới trẻ tiếp đón nồng hậu: ẢO VỌNG TUỔI TRẺ, ĐIỆU RU NƯỚC MẮT, NƯỚC MẮT LƯNG TR̉NG (chưa xuất bản), CẦU MƠ, TRƯỜNG CŨ, NHÀ TÔI...Và cũng chính trong khoảng thời gian này, với những thiên phóng sự đầy sự sống sượng, với những bài phiếm luận độc địa kư dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Sinh, Mơ Báo, Thập Nguyên, Thập Thành, Nả Cẩu..., Duyên Anh đă gây nhiều sóng gió, đă tạo nhiều tiếng tăm nhưng cũng đồng thời tai tiếng cũng không kém. Độc giả cũng như những người quen biết it' nhiều với ông vẫn thắc mắc không hiểu tại sao ở ông có thể dung ḥa được hai h́nh ảnh con người hoàn toàn đối nghịch nhau: con người nhà văn luôn ca ngợi tuổi thơ trong sáng, mơ mộng và t́nh người, và con người nhà báo ngỗ ngáo, độc điạ, bất chấp mọi sự. Về điểm người đọc có thể t́m đến câu trả lời của chính Duyên Anh trong phần "nói chuyện với Duyên Anh" ở những trang sau.
Có lẽ v́ muốn chấm dứt những sóng gió cùng những ân oán giang hồ hoặc như ông đă thú thật để khỏi phải tiếp tục "đổ vỡ của ḿnh trong sự nghiệp làm báo, Duyên Anh từ giă nghề báo sau bảy năm vùng vẫy thật lực.
Năm 1971, ông làm chủ nhiệm Tuổi Ngọc, "tuần báo của tuổi vừa lớn", trông coi nhà xuất bản cùng mang tên Tuổi Ngọc và tiếp tục sự nghiệp nhà văn của ḿnh, sự nghiệp đă mang đến cho ông một sự thành công không chối căi, đă tạo cho ông một chỗ đứng biệt lập trong văn nghệ miền Nam của những năm 60.
Trên đây là những nét phác họa về cuộc đời của Duyên Anh, căn cứ trên chính những ǵ do Duyên Anh kể lại một cách trực tiếp hay gián tiếp, qua những bài viết của ông hay qua những câu chuyện của ông. Dĩ nhiên người ta không thể thu gọn một đoạn đời trên một số trang ngắn ngủi. Nhưng thiết tưởng bao nhiêu đó đủ để giới thiệu h́nh ảnh một đời người. Với nụ cười và nước mắt. Tất cả làm thành chất liệu quí báu cho Tác Phẩm. Đời sống hăy c̣n dang dở đối với Duyên Anh cũng như Tác Phẩm của nhà văn 37 tuổi này vẫn c̣n tiếp tục. Vậy th́, đă không thể kết luận về Tác Phẩm, người ta lại càng khó ḷng đi tới một câu kết vềø chính cuộc đời nhà văn. Điều tôi muốn nói ở đây là Duyên Anh đă sống như một cách chuẩn bị cho tác phẩm của ḿnh. Mặc dù như ông vẫn thường tuyên bố, ông coi chuyện viết văn như một sự đùa chơi mà thành công và ông không ấp ủ mộng văn chương từ thiếu thời. Điều Duyên Anh không chối căi là ông vẫn sống bằng kỷ niệm và ở mỗi chuyện của ông đều dàn trải ít nhiều kỷ niệm riêng. Sống như một cách chuẩn bị cho tác phẩm của ḿnh. Tôi muốn nói: viết đối với Duyên Anh dường như là một cơ hội để tiếp tục sống, hoàn tất cuộc đời ḿnh hăy c̣n dang dở ở ngoài những trang sách, ở ngoài những ḍng chữ. Trước khi thể hiện những tính cách mơ mộng và lư tưởng trong tác phẩm của ông, Duyên Anh đă từng thể hiện chúng vào cuộc đời của chính ông, một tâm hồn mang nặng căn bệnh của thời thơ ấu, của quá khứ, của kỷ niệm. Đọc Duyên Anh, tôi luôn có cảm tưởng bắt gặp một h́nh ảnh, một hứ tiếng nói quen thuộc không ngớt trở về dưới ng̣i bút của ông. Phải chăng đó là h́nh ảnh, là tiếng nói của tâm hồn ông mà chính ông đă không ngừng đánh mất vàt́m lại được. Nhà văn không ngớt đồng hóa ḿnh vào chính những nhân vật ḿnh tạo nên. Nhà văn không ngớt viết lại đời ḿnh đồng thời tra hỏi măi mài không thôi về chính tâm hồn ḿnh. Tôi không có ư khẳng định rằng cuộc đời Duyên Anh đă là một tác phẩm hoặc tác phẩm Duyên Anh là phản ảnh trung thật và trọn vẹn của con người ông. Cuộc đời và tác phẩm Duyên Anh là hai thực thể không ngớt đến gần với nhau và có thể không bao giờ trùng hợp hay tan biến vào với nhau. (Vả chăng điều này có thể chỉ là một ảo tưởng). Trong ư nghĩa đó, cuộc đời không bao giờ là tác phẩm cũng như ngược lại. Nhưng nếu không thay thế cho nhau, chúng vẫn có thể là cơ hội của nhau. Tác phẩm Duyên Anh không ngớt t́m cách thu ngắn khoảng cách với tâm hồn của tác giả, với thế giới kỳ diệu của mộng mơ và kỷ niệm, với nguồn suối khôn cùng không tận đó.
Duyên Anh là một người viết truyện đúng hơn là một người kể truyện. Có lẽ không phải vô t́nh mà ông đă ghi chú dưới những tựa sách của ông bằng "tập truyện" hay "truyện dài" thay v́ tiểu thuyết, đoản văn hay tùy bút. Sự kiện này cho thấy đặc tính nổi bật, sở trường của ng̣i bút Duyên Anh thể hiện qua những câu truyện, dài hay ngắn, của ông. Nói cách khác, Duyên Anh đă mặc nhiên chọn lựa cho ḿnh một cách viết và từ đó một thế giới, một vũ trụ. Với ông, dường như viết trước tiên có nghĩa là kể. Viết tức là kể truyện. Viết tức là kể lại một cái ǵ, nói lên một cái ǵ cho người đọc. Ông không chú trọng tới vấn đề làm văn. Ông không đặt nặng vấn đề sáng tạo văn chương. Ông không có tham vọng chinh phục người đọc bằng một bút pháp tân kỳ hay quyến rũ.
Duyên Anh trước tiên (và sau cùng?) chỉ là một nhà văn của những câu truyện được dựng lên, những nhân vật được tạo thành, những t́nh tiết, những nhân vật được đặt ra và giải quyết. Có lẽ v́ nhờ đó mà người đọc có thể đi thẳng vào tác phẩm của ông một cách dể dàng không phải vượt qua những bức rào kiên cố của ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở đây chỉ c̣n là phương tiện tác giả dùng để chuyên chở hay gởi gấm ư tưởng hay rung động của ḿnh tới người đọc. Để nói theo một cách nói bây giờ, ta có thể xem Duyên Anh là một người dùng chữ, một người xử dụng ngôn ngữ như một phương tiện, một công cụ. Rơ ràng quá, ông không viết để thí nghiệm hay tra hỏi ngôn ngữ. Ông viết để kể chuyện đời sống, đời sống trăm mặt, ông bắt gặp dưới mắt, trong tầm tay, cũng là đời sống muôn màu muôn vẻ xuất hiện trong hồi tưởng hay dự tưởng của ông. Hơn là một nhà văn của những câu truyện kể, Duyên Anh đă làm nổi bật tính cách tự thuật trong hầu hết tác phẩm của ông. Đọc Duyên Anh, người ta dể dàng bắt gặp một h́nh ảnh cố định, bá chủ mà ông vẫn không ngớt trở về đào sâu, h́nh ảnh của chính ông với những kinh nghiệm ông từng biết tới, sống qua. Truyện ngắn đầu tiên của ông HOA THIÊN LƯ là một thiên tự thuật với những rung động và xúc động thật chân thành của một tâm hồn nghiêng về quá khứ. Bước đầu tiên cũng là bước định đoạt. Hẳn Duyên Anh đă t́m thấy con đường của ông ngay trong thử thách đầu tiên đó. Những tác phẩm sau này của ông đă lần lượt mở rộng cái thế giới vừa manh nhau thành h́nh trong truyện ngắn đầu tay đó. Có thể nói với Duyên Anh, mỗi cuốn sách đều đánh dấu một chặng đường của chính ông. Mỗi cuốn sách nói một cách nào đó, là một phần đời ông đă biết tới, sống qua, một phần đời c̣n hứ hẹn trở về không ngớt trong hồi tưởng. Và mặc dù ông chưa từng ghi chú cho tác phẩm ông là hồi kư hay tự thuật bao giờ, người ta vẫn có thể đi tới kết luận rằng tác phẩm Duyên Anh đă được xây dựng một phần lớn từ những chất liệu sống. Thật chất của một đời người. Tác phẩm Duyên Anh không là tiểu thuyết, không là một thứ "sản phẩm" thuần túy của trí tưởng tượng. Nó chính là h́nh ảnh của cuộc đời, và của kinh nghiệm. Quá khứ và kỷ niệm luôn luôn chiếm giữ một địa vị quan trọng trong tác phẩm Duyên Anh. Viết, điều này cũng có nghĩa là hồi tưởng. Viết điều naỳ cũng có nghĩa là nhớ lại chính ḿnh, tra hỏi quá khứ của ḿnh, soi sáng tâm hồn của ḿnh. Ở Duyên Anh dường như không có một khoảng cách khốc liệt giữa cuộc đời và tác phẩm, giữa sống và viết. Trái lại ông đă thể hiện được một sự liên tục, một sự ḥa hợp giữa kinh nghiệm sống và kinh nghiệm viết. Ông viết như một cách kéo dài đời sống, kêu gọi đời sống. Ông viết như, một cách nào đó, ông đă sống.
Do đó, tiểu sử Duyên Anh, con người thật của Duyên Anh, tâm hồn của Duyên Anh, tất cả sẽ giúp cho người đọc không ít trong việc t́m hiểu tác phẩm của chính Duyên Anh đă viết trong ám ảnh của những đoạn đời đă mất, trong t́nh yêu mến quá khứ và kỷ niệm. Trong khắp các tác phẩm Duyên Anh đều bàng bạc những h́nh ảnh, những chất liệu thật của chính đời sống Duyên Anh. Và người đọc nếu cần, có thể gom góp những h́nh ảnh, những chất liệu đó thành một tác phẩm duy nhất và tác phẩm đó chính là cuộc đời thật của Duyên Anh vậy. Tác phẩm trường thiên mang tên VẺ BUỒN TỈNH LỴ chỉ là một cái nh́n say đắm gửi về một quá khứ thân yêu đă mất trong đó tác phẩm gặp lại chính ḿnh, gặp lại những tâm hồn tí hon đă từng san sẻ với ông đoản đời kỳ diệu dưới bầu trời kỳ ảo của quê hương Thái B́nh. ÁO TIỂU THƯ, TRƯỜNG CŨ, CẦU MƠ, MÂY BAY ĐI, LUẬT HÈ PHỐ... tất cả đều đánh dấu một đoạn đường, một tâm trạng của chính tác giả. Tất cả đều mang ư nghĩa một cuộc kiểm điểm. Mỗi cuốn sách là một cơ hội để tác giả nh́n lại, sống lại đoạn đời đă mất. Mỗi cuốn sách là một cuộc thăm ḍ quá khứ, hạch hỏi kỷ niệm. Có thể nói rằng Duyên Anh đă "sống" khá trọn vẹn những cảnh đời hay đoạn đời thể hiện trong tác phẩm của ông.
Trừ những tác phẩm đầu tiên, có thể nói Duyên Anh luôn kư tên thật của ḿnh kề bên bút hiệu: Duyên Anh Vũ Mộng Long. Sự kiện tuy nhỏ nhặt nhưng không kém phần hàm xúc. Thông thường các nhà văn hoặc kư bút hiệu hoặc kư tên thật của họ và điều này không hẳn chỉ là một sở thích t́nh cờ hay đơn giản. Dù muốn dù không, sự lựa chọn giữa bút hiệu và tên thật để kư dưới tác phẩm luôn thể hiện một thái độ rơ rệt: lựa chọn cái này tức là phủ nhật cái kia. Lựa chọn cho ḿnh bút hiệu nhà văn, mặc nhiên bôi xóa tên tuổi thật của ḿnh. Lựa cho ḿnh một bút hiệu nhà văn đương nhiên tự cho ḿnh có hơn một đời sống, hơn một thân phận: ở hẳn con người nhà văn với một tên tuổi riêng có thể không ngó ngàng ǵ tới con người. Thí dụ: Nhất Linh, tác giả Đoạn Tuyệt, Bướm Trắng có thể không nhất thiết phải dung ḥa, trùng hợp khít khao với con người Nguyên Tường Tam, nhà cách mạng. Và người ta không thể độc đoán dùng quan điểm hành động của nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam để soi sáng vũ trụ mộng tưởng, phi thực của nhà văn Nhất Linh, cũng như ngược lại. Bởi hai thân phận có t hể khác biệt và nếu cần mâu thuẫn chống đối nhau trong cùng một con người: con người Nhất Linh, Nguyễn Trường Tam (tôi dùng nét gạch ở giữa bút hiệu và tên thật để nói lên một trạng thái chia ĺa, theo tôi, có tính cách cần thiết trong một giới hạn nào đó).
Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long như chính ông đă không ngần ngại kư kèm theo bút hiệu của ḿnh. (Duyên Anh dịch sang chữ Pháp có nghĩa là Ma Chance, Mon Amour). Ông sanh năm 1935 tại Thị xă Thái B́nh, nhưng theo lời ông, lại được khai là đẻ ở làng Trường An là quê cha của ông, thuộc huyện Vũ Tiên, Thái B́nh. Chính vùng quê hương Thái B́nh này đă xuất hiện phẩm tự thuật. Vùng quê hương đó đă được dựng lại, đẹp hơn bao giờ hết, trong bộ trường thiên tiểu thuyết mang tên VẺ BUỒN TỈNH LỴ.
Ông đă theo học nhiều trường. Những năm tiểu học, ông không học hết niên học ở một trường nào v́ cứ phải đổi trường theo sự xe dịch của cha. Chỉ có năm lớp Ba (Élémentairei), năm 1942, ông mới được học trọn niên khóa ở trường Phụ Dực. Những ngày ở đây đă để lại nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm bàng bạc trong các truyện ngắn đầu tay của ông (Khúc Rẽ Cuộc Đời, Hoa Thiên Lư) trong các tác phẩm tự thuật (Trường Cũ) cũng như trong nhiều tác phẩm viết ở ngôi thứ ba (Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ, Tuổi Mười Ba...) Nếu mỗi người viết văn đều đă trải qua một đoạn đời hay một kinh nghiệm nền tảng mai đây không ngừng ám ảnh có thể nói rằng thơ ấu sống trong khung cảnh buồn thiu của tỉnh lỵ chính là h́nh ảnh đậm đà nhất, thân mật nhất của tác phẩm cũng như của tâm hồn Duyên Anh.
"Năm sau tôi bỏ trường Bà Sơ. Nhưng vừa học trường tiểu học thị xă được hai tháng ht́ nhà tôi dọn về huyện lỵ Phụ Dực. Huyện lỵ thật nghèo nàn. Quanh thành quan huyện, giây b́m leo kín. Những mái nhà tranh, những ngọn đèn dầu và tiếng trống trên cḥi canh buồn làm sao ấy. Ngôi trường huyện của tôi buồn hơn"
Đời sống huyện lỵ thật nghèo nàn và nhất là thật buồn tẻ đă tạo cho ông một bối cảnh, một màu sắc tâm hồn. Đời sống đó, vẻ buồn đó đă dạy cho ông những bài học mơ mộng đầu tiên, những bài học mai đây c̣n tiếp tục in sâu vào tâm hồn ông, c̣n tiếp tục bàng bạc trong tác phẩm ông, một cách nào đó, nó mở ra cho ông những cánh cửa, những chân trời. Vẻ Buồn Tỉnh Lỵ đă cống hiến cho người đọc những trang sách đẹp nhất của Duyên Anh, những trang sách làm sống lại một vùng trời quê hương quen thuộc, một đoạn đời với những giấc mơ và những rung động tuyệt vời của tâm hồn tuổi nhỏ:
"Mùa hạ năm nay thật buồn tẻ. Hoa phưọng vẫn... nhưng màu hoa không rực rỡ. Tại học tṛ đă nghĩ học trước hè, nghỉ từ tháng ba chết đói. Loài ve sầu rên rỉ mỏi miệng cũng chẳng ai thèm cảm xúc. Có lẽ mùa hạ sang năm sẽ buồn tẻ hơn. Côn hồi tưởng những mùa hè năm xưa mà thương tiếc"
"Hai đứa trẻ mong đợi thầy chúng nó trở về Thái, Thầy chúng, chắc chắn, sẽ chở về những mộng ước ấp đầy những con mắt chúng. Hai đứa trẻ thị xă không muốn âm thầm sống trong cái đai b́nh thản. Nó muốn thoát ra. Nỗi thèm khát của chúng bộc lộ rơ rệt. Bây giờ mới đúng lúc khung cảnh cảnh buồn nản của tỉnh lỵ không thích hợp với chúng nó".
Phải chăng đoạn đời đó, vẻ buồn đó đă tạo cho Duyên Anh một ng̣i bút thơ mộng ?
Năm 1944 Duyên Anh rời huyện lỵ Phụ Dực, về thị xă Thái B́nh.
1945, chứng kiến cảnh chết đói tháng ba Ất Dậu, cảnh Nhật đảo chánh Pháp rồi cuộc tổng khởi nghĩa. Như bao nhiêu đứa trẻ lớn lên trong cao trào cách mạng, Duyên Anh đă là một nhi đồng chống Pháp, biết thù hận Pháp gây chiến ở Nam Bộ và đă tham gia cách mạng một cách hồn nhiên, phấn khởi. Những cuốn chuyện THẰNG VŨ, THẰNG CÔN, CON THÚY đă làm sống lại giai đoạn lịch sử này với những nhân vật thuộc lứa tuổi của chính Duyên Anh thời bấy giờ (lên 9, lên 10...) đă sống, đă cảm nhận bằng tất cả tâm hồn ngây thơ trong suốt của chúng, như nhà văn Mai Thảo đă nói:
"... Những sự việc của thế giới và xă hội người lớn như đổi dời, cách mạng đói kém, mất mùa, chân phù lính Tàu, và lưỡi lê Nhật, hết thảy đều được nh́n, sống, nhận thức, phán đoán, tiếp thu bằng những trái tim lên mười. Qua cái lăng kính luân lư, đạo đức phơi phới hồn nhiên, trong vắt và đôn hậu nhất của tuổi thơ".
1946, khi Pháp gây chiến ở Hà Nội, Duyên Anh tản cư về Tiền Hải và theo học trường Huyện.
1947, đậu Sơ học bổ túc và học Thành Chung ở Tŕnh Phố thuộc Kiến Xương (quê hương của Trương Quỳnh Như)
1948, về quê nhà ở Trường An. Trốn nhà đi làm liên lạc viên cho bộ đội một năm. Sau đó lại trở về Trường An.
1959, Pháp chiếm Thái B́nh. Hồi cư về thị xă. Chứng kiến cảnh càn quét của lính viễn chinh Pháp. Học trung học Tỉnh.
1952, lên Hà Nội, học Trung học đệ nhị cấp, Duyên Anh học đến năm 1954 th́ vào Nam sau khi đă trở về Thái B́nh sống ba tháng trong bầu không khí giải phóng tiếp thu. Ông di cư vào Saigon một ḿnh. Sống vô tích sự tại Nhà Hát Tây. Ông đă ghi lại những ngày này trong Áp Tiểu Thư, những ngày đầy thơ mộng và hồn nhiên của thời mới lớn mặc dù những khó khăn về vật chất. Chính trong giai đoạn này, Duyên Anh bỏ học v́ không được ai chu cấp.
Đến giữa năm 1955, ông lên Ban Mê Thuột suốt ngày hạ cây, cưa ngắn, bổ nhỏ, gánh ra thị xă bán để mưu sanh. Nhưng thực ra ông theo đảng Duy Tân lên đó mưu chống chính phủ Ngô Đ́nh Diệm (Ảo vọng tuổi trẻ) chính ông đă từng thú thật về chuyện đi làm "cách mạng" này, là "đói quá theo bừa và một phần cũng v́ mơ mộng tuổi vừa lớn mà", quá nửa năm làm chiến sĩ cách mạng bất đắc dĩ, ông tự tah6'y không đẹp bằng nhân vật Dũng trong tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, nên bỏ về Saigon, sống nhờ trên kho chứa đồ cũ của hăng dệt ở đại lộ Trần Hưng Đạo, sau đó sống nhờ với một người bạn làm cán bộ chấm công. Ông đă kể lại những ngày này trong hồi kư "Làm Báo".
"Chúng tôi sống ở ngoại ô Ḥa Hưng trong một xóm điếm tồi tệ. Xóm điếm thấp hơn mặt đường cả thước. Lên xuống y hệt leo thang. Căn nhà mướn của một me Tây lụp xụp. Mái lá. Tối ngày chuột khiêu vũ. Cạnh nhà có con lạch chảy ra cống thành phố. Thuở ấy lính viễn chinh Pháp chưa chịu về nước. Xóm điếm tấp nập. Đêm nào cũng xảy ra vụ kiếm tục, bố ráp và lính viễn chinh "chơi lường". Điếm chạy lính huỳnh huỵch. Điếm chửi lính viễn chinh ồn ào. Đầy rẫy thảm cảnh và nghịch cảnh của một xă hội về chiều... Tôi thương nhất là những đứa trẻ con lai da trắng, da đen. Những đứa trẻ không có quê hương, tổ quốc ấy cũng là những đứa trẻ không có tuổi thơ. Mười tuổi chúng đă biết ghếch cớm "gác cảnh sát, hễ thấy cảnh sát vào xóm là báo động) cho bọn Tú bà. Sống ở xóm điếm, ở cái vũng bùn tối cùng cực, tôi đă nghĩ phải viết một thiên phóng sự nhan đề Xóm Quốc Tế.
Cũng trong khoảng thời gian này, đời sống vật chất đă đưa đẩy Duyên Anh tới nhiều hoàn cảnh nổi trôi, rày đây, mai đó, hết nghề này lại chuyển sang nghề khác để sinh nhai. Hết lang thang với người sơn đông măi vơ, ông nhập đoàn cải lương lưu diễn miền Tây (Mây Mùa Thu). Ông lại trở về Saigon, làm nghề giữ xe đạp hội chợ. quảng cáo cho đoàn xiếcWoong Bang Phu ở sân bóng Tao Đàn. Dạy học tư gia. Ông đă từng sống dưới chân cầu Tân Thuận với người đồng hương đạp xích lô, sống lẫn lộn trong một xă hội bần cùng nhất với những cảnh bất công ngang trái hàng ngày diễn ra oan nghiệt gấp ngàn lần những cảnh đời trong tiểu thuyết Nguyên - Hồng. Chung đụng với đủ hạng người: phu bến tàu, phu xích lô, buôn gánh bán rong, đánh giày, bán báo, ăn cắp, du thủ du thực... ông đă "sống với họ, sống như họ".
Nếu Duyên Anh chưa viết thiên phóng sự mang tên Xóm Quốc Tế như ông đă từng nghĩ tới, th́ chính ông đă viết hơn một cuốn truyện dài mang nặng màu sắc phóng sự xă hội, nói về những cuộc đời, những cảnh sống đầy tối tăm, nghịch cảnh (Luật Hè Phố, Điệu Ru Nước Mắt...) và trên phương diện này nhiều người đă không ngần ngại gọi ông là một nhà văn xă hội. Điều đáng nói ở đây chính là Duyên Anh đă sống, trực tiếp hay gián tiếp những cảnh đời mà ông đă viết.
Để tiếp tục theo dơi những bước chân của Duyên Anh, năm 1957, ông rời Saigon, rời bỏ "miền bất hạnh không có nổi ánh điện câu để thấy nó hắt hiu, vàng vọt", ông cùng người bạn xuống Mỹ Tho mở lớp dạy đàn sáo lấy tên là Hương Duyên (Cầu Mơ). Thất bại. Ba tháng sau, trở về Saigon. Rồi lên Tây Ninh sống nhờ người quen, ngày ngày gánh nước tưới rau giúp bạn để có cơm ăn ở một trại định cư thuộc Trảng Lớn. Hăy nghe ông nhắc lại những ngày sống vô vị đó:
"Ở đây buồn lắm. Xong công tác tưới rau tôi thường ngồi trên cái nắp quan tài của trại ḥm đánh cờ tướng giết th́ giờ. Mỗi sáng sớm, xe đ̣ về Saigon đều ghé qua, bóp c̣i inh ỏi. Tiếng c̣i như xé nát ḷng tôi. Tuổi trẻ của tôi đành chôn chân ở một chỗ, nghe nỗi buồn đốt cháy hoa mộng. Đọc Một Chuyến Đi của Nguyễân Tuân tôi phát khóc."
1958, Duyên Anh lại trở về Ban Mê Thuột. Rồi lại trở về Saigon sau bốn tháng nằm ở cây số 4. Được đàn anh Duy Dân giới thiệu xuống Ḥa Hảo dạy học tại một ngôi trường bán công, mỗi giờ được bốn chục bạc. Dạy được ba tháng bị đàn anh đuổi về v́ dám dẫn đám học tṛ sang Tân Huề ăn thịt ḅ, thịt chó và đá bóng với học tṛ. Tội nặng nhất là dám mặc rà rông sang văn pḥng lănh lương. Duyên Anh ra Long Xuyên xin dạy ở Quang Trung. Nhưng rồi việc dạy học cũng không được bền bĩ ở đây. Hết niên khóa ông bỏ về Saigon, rồi lại lang thang khắp miền Tây và đói dài ở Saigon. Lại trở về Ḥa Hưng sống nhờ gia đ́nh người bạn. Chính trong những ngày này, Duyên Anh đă tập tễnh những bước chân đầu tiên vào cuộc đời làm văn làm báo.
Đó vào khoảng 1960, Duyên Anh được nhà văn Trúc Sĩ tiến dẫn tới tạp chí Chỉ Đạo của Bộ Quốc Pḥng. Sáng tác đầu tiên của Duyên Anh được đăng trên mặt báo này là một bài thơ nhan đề Bà Mẹ Tây Ninh. Tháng sau, Chỉ Đạo đang truyện ngắn Hoa Thiên Lư, sáng tác đầu tiên của ông được viết trong "một đêm mưa mù mịt chân cầu Tân Thuận" trong nỗi "nhớ nhà và thương tiếc tuổi thơ của ḿnh". Bút hiệu Duyên Anh cũng đă bắt đầu xuất hiện từ truyện ngắn mang h́nh bóng quá khứ và kỷ niệm đó. Ông có truyện ngắn đăng thường xuyên trên tạp chí Chỉ Đạo. Từ đó những chuyện sau này được gom lại thành tập truyện đầu tay của Duyên Anh với nhan đề Hoa Thiên Lư do nhà Giao Điểm ấn hành. Chi tiết nổi bật nhất trong giai đoạn khởi nghiệp của Duyên Anh có lẽ là sụ nâng đỡ tận t́nh của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, lúc bấy giờ làm Chủ bút Chỉ Đạo. Truyện ngắn Con Sáo Của Em Tôi được Nguyễn Mạnh Côn xếp vào "loại truyện đặc biệt" được trả ngót năm ngàn bạc, số tiền nhuận bút được xem là rất cao vào thời đó, năm 1960, và được nhà văn này viết cho một cái "chapeau" nồng hậu. Duyên Anh cho đó là một hân hạnh ông chưa hề mơ tưởng tới. Một sự may mắn. Và:
"Nhờ truyện ngắn Con Sáo Của Em Tôi mà một số độc giả biết đến tôi và dành cho tôi nhiều cảm t́nh. Lần đầu tiên tôi nhận được bức thư của độc giả. Bức thư không một lời "ái mộ" chỉ vỏn vẹn một gịng ÔNG DUYÊN ANH, TÔI BẮT ĐỀN ÔNG ĐẤY, V̀ CON SÁO CỦA EM TÔI MÀ TẾT NĂM NAY TÔI BUỒN MUỐN KHÓC. Gịng chữ trách móc đó, tôi giữ thật kỹ. Thuở ban đầu mà. Bây giờ nhận được thư độc giả, tôi đọc vẫn c̣n xao xuyến nhưng không thể xao xuyến như thuở ban đầu".
Nguyễn Mạnh Côn rời Chỉ Đạo, Duyên Anh bắt đầu viết cho các tờ báo khác: Sinh Lực của ông Lê Văn Thắng, Gió Nam của ông Lại Tư. Ông tiếp tục viết truyện. Sau đó, nhờ sự cất nhắc của ông Nguyễn Bích Liên, giám đốc Tâm Lư Chiến của Tổng Nha Thanh Niên thời bấy giờ, Duyên Anh bắt đầu "làm công chức dể dàng, thua phó đốc sự có vài trăm". Một lần nữa, Duyên Anh thú thật là ḿnh may mắn. Luôn luôn may mắn. Cũng như sau này, thành công với nghề văn, được liệt vào hàng tác giả có sách bán chạy nhất, ông vẫn thường cho rằng ḿnh may mắn. Thánh cho lộc mà.
1962, Duyên Anh lấy vợ và tiếp tục làm công chức. Được biệt phái trông coi bán tuần báo Chiến Đấu cùng với nhà văn lăo thành Tam Lang.
1963, bị trả về nhiệm sở cũ. Cũng năm này tập truyện Hoa Thiên Lư ra đời. Những ngày Phật giáo phát động cuộc đấu tranh, Duyên Anh ngồi ở sở hoàn thành THẰNG VŨ, cuốn truyện dài đầu tay cũng là gác phẩm mở đầu cho bộ trường thiên tiểu thuyết VẺ BUỒN TỈNH LỴ. THẰNG VŨ được nhà văn Nguyễn Mạnh Côn khen hay và viết cho một bài giới thiệu nồng nhiệt.
1964, Duyên Anh rời bỏ nghề công chức đi làm nhật báo. Ông viết cho Xây Dựng, rồi Sống, Công Luận. Ông viết đủ các mục: Tiểu thuyết, phiếm luật, tường thuật... như ông đă từng kể lại khá tường tận trong hồi kư Làm Báo đăng tải trên Tuổi Ngọc. Ông làm chủ bút tuần báo Con Ong, viết "Article de Fonb" cho báo này và đặc biệt ông đă viết gần hết các trang cho báo này trong những số đầu. Ông làm chủ nhiệm các tờ Người, Búp Bê, Tuổi Ngọc (bộ cũ). Chính trong khoảng thời gian thật sự sống với nghề báo (bên cạnh nghề văn), Duyên Anh đă tạo cho ḿnh tên tuổi qua những truyện dài đăng báo được độc giả nhất là giới trẻ tiếp đón nồng hậu: ẢO VỌNG TUỔI TRẺ, ĐIỆU RU NƯỚC MẮT, NƯỚC MẮT LƯNG TR̉NG (chưa xuất bản), CẦU MƠ, TRƯỜNG CŨ, NHÀ TÔI...Và cũng chính trong khoảng thời gian này, với những thiên phóng sự đầy sự sống sượng, với những bài phiếm luận độc địa kư dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Sinh, Mơ Báo, Thập Nguyên, Thập Thành, Nả Cẩu..., Duyên Anh đă gây nhiều sóng gió, đă tạo nhiều tiếng tăm nhưng cũng đồng thời tai tiếng cũng không kém. Độc giả cũng như những người quen biết it' nhiều với ông vẫn thắc mắc không hiểu tại sao ở ông có thể dung ḥa được hai h́nh ảnh con người hoàn toàn đối nghịch nhau: con người nhà văn luôn ca ngợi tuổi thơ trong sáng, mơ mộng và t́nh người, và con người nhà báo ngỗ ngáo, độc điạ, bất chấp mọi sự. Về điểm người đọc có thể t́m đến câu trả lời của chính Duyên Anh trong phần "nói chuyện với Duyên Anh" ở những trang sau.
Có lẽ v́ muốn chấm dứt những sóng gió cùng những ân oán giang hồ hoặc như ông đă thú thật để khỏi phải tiếp tục "đổ vỡ của ḿnh trong sự nghiệp làm báo, Duyên Anh từ giă nghề báo sau bảy năm vùng vẫy thật lực.
Năm 1971, ông làm chủ nhiệm Tuổi Ngọc, "tuần báo của tuổi vừa lớn", trông coi nhà xuất bản cùng mang tên Tuổi Ngọc và tiếp tục sự nghiệp nhà văn của ḿnh, sự nghiệp đă mang đến cho ông một sự thành công không chối căi, đă tạo cho ông một chỗ đứng biệt lập trong văn nghệ miền Nam của những năm 60.
Trên đây là những nét phác họa về cuộc đời của Duyên Anh, căn cứ trên chính những ǵ do Duyên Anh kể lại một cách trực tiếp hay gián tiếp, qua những bài viết của ông hay qua những câu chuyện của ông. Dĩ nhiên người ta không thể thu gọn một đoạn đời trên một số trang ngắn ngủi. Nhưng thiết tưởng bao nhiêu đó đủ để giới thiệu h́nh ảnh một đời người. Với nụ cười và nước mắt. Tất cả làm thành chất liệu quí báu cho Tác Phẩm. Đời sống hăy c̣n dang dở đối với Duyên Anh cũng như Tác Phẩm của nhà văn 37 tuổi này vẫn c̣n tiếp tục. Vậy th́, đă không thể kết luận về Tác Phẩm, người ta lại càng khó ḷng đi tới một câu kết vềø chính cuộc đời nhà văn. Điều tôi muốn nói ở đây là Duyên Anh đă sống như một cách chuẩn bị cho tác phẩm của ḿnh. Mặc dù như ông vẫn thường tuyên bố, ông coi chuyện viết văn như một sự đùa chơi mà thành công và ông không ấp ủ mộng văn chương từ thiếu thời. Điều Duyên Anh không chối căi là ông vẫn sống bằng kỷ niệm và ở mỗi chuyện của ông đều dàn trải ít nhiều kỷ niệm riêng. Sống như một cách chuẩn bị cho tác phẩm của ḿnh. Tôi muốn nói: viết đối với Duyên Anh dường như là một cơ hội để tiếp tục sống, hoàn tất cuộc đời ḿnh hăy c̣n dang dở ở ngoài những trang sách, ở ngoài những ḍng chữ. Trước khi thể hiện những tính cách mơ mộng và lư tưởng trong tác phẩm của ông, Duyên Anh đă từng thể hiện chúng vào cuộc đời của chính ông, một tâm hồn mang nặng căn bệnh của thời thơ ấu, của quá khứ, của kỷ niệm. Đọc Duyên Anh, tôi luôn có cảm tưởng bắt gặp một h́nh ảnh, một hứ tiếng nói quen thuộc không ngớt trở về dưới ng̣i bút của ông. Phải chăng đó là h́nh ảnh, là tiếng nói của tâm hồn ông mà chính ông đă không ngừng đánh mất vàt́m lại được. Nhà văn không ngớt đồng hóa ḿnh vào chính những nhân vật ḿnh tạo nên. Nhà văn không ngớt viết lại đời ḿnh đồng thời tra hỏi măi mài không thôi về chính tâm hồn ḿnh. Tôi không có ư khẳng định rằng cuộc đời Duyên Anh đă là một tác phẩm hoặc tác phẩm Duyên Anh là phản ảnh trung thật và trọn vẹn của con người ông. Cuộc đời và tác phẩm Duyên Anh là hai thực thể không ngớt đến gần với nhau và có thể không bao giờ trùng hợp hay tan biến vào với nhau. (Vả chăng điều này có thể chỉ là một ảo tưởng). Trong ư nghĩa đó, cuộc đời không bao giờ là tác phẩm cũng như ngược lại. Nhưng nếu không thay thế cho nhau, chúng vẫn có thể là cơ hội của nhau. Tác phẩm Duyên Anh không ngớt t́m cách thu ngắn khoảng cách với tâm hồn của tác giả, với thế giới kỳ diệu của mộng mơ và kỷ niệm, với nguồn suối khôn cùng không tận đó.
Duyên Anh là một người viết truyện đúng hơn là một người kể truyện. Có lẽ không phải vô t́nh mà ông đă ghi chú dưới những tựa sách của ông bằng "tập truyện" hay "truyện dài" thay v́ tiểu thuyết, đoản văn hay tùy bút. Sự kiện này cho thấy đặc tính nổi bật, sở trường của ng̣i bút Duyên Anh thể hiện qua những câu truyện, dài hay ngắn, của ông. Nói cách khác, Duyên Anh đă mặc nhiên chọn lựa cho ḿnh một cách viết và từ đó một thế giới, một vũ trụ. Với ông, dường như viết trước tiên có nghĩa là kể. Viết tức là kể truyện. Viết tức là kể lại một cái ǵ, nói lên một cái ǵ cho người đọc. Ông không chú trọng tới vấn đề làm văn. Ông không đặt nặng vấn đề sáng tạo văn chương. Ông không có tham vọng chinh phục người đọc bằng một bút pháp tân kỳ hay quyến rũ.
Duyên Anh trước tiên (và sau cùng?) chỉ là một nhà văn của những câu truyện được dựng lên, những nhân vật được tạo thành, những t́nh tiết, những nhân vật được đặt ra và giải quyết. Có lẽ v́ nhờ đó mà người đọc có thể đi thẳng vào tác phẩm của ông một cách dể dàng không phải vượt qua những bức rào kiên cố của ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở đây chỉ c̣n là phương tiện tác giả dùng để chuyên chở hay gởi gấm ư tưởng hay rung động của ḿnh tới người đọc. Để nói theo một cách nói bây giờ, ta có thể xem Duyên Anh là một người dùng chữ, một người xử dụng ngôn ngữ như một phương tiện, một công cụ. Rơ ràng quá, ông không viết để thí nghiệm hay tra hỏi ngôn ngữ. Ông viết để kể chuyện đời sống, đời sống trăm mặt, ông bắt gặp dưới mắt, trong tầm tay, cũng là đời sống muôn màu muôn vẻ xuất hiện trong hồi tưởng hay dự tưởng của ông. Hơn là một nhà văn của những câu truyện kể, Duyên Anh đă làm nổi bật tính cách tự thuật trong hầu hết tác phẩm của ông. Đọc Duyên Anh, người ta dể dàng bắt gặp một h́nh ảnh cố định, bá chủ mà ông vẫn không ngớt trở về đào sâu, h́nh ảnh của chính ông với những kinh nghiệm ông từng biết tới, sống qua. Truyện ngắn đầu tiên của ông HOA THIÊN LƯ là một thiên tự thuật với những rung động và xúc động thật chân thành của một tâm hồn nghiêng về quá khứ. Bước đầu tiên cũng là bước định đoạt. Hẳn Duyên Anh đă t́m thấy con đường của ông ngay trong thử thách đầu tiên đó. Những tác phẩm sau này của ông đă lần lượt mở rộng cái thế giới vừa manh nhau thành h́nh trong truyện ngắn đầu tay đó. Có thể nói với Duyên Anh, mỗi cuốn sách đều đánh dấu một chặng đường của chính ông. Mỗi cuốn sách nói một cách nào đó, là một phần đời ông đă biết tới, sống qua, một phần đời c̣n hứ hẹn trở về không ngớt trong hồi tưởng. Và mặc dù ông chưa từng ghi chú cho tác phẩm ông là hồi kư hay tự thuật bao giờ, người ta vẫn có thể đi tới kết luận rằng tác phẩm Duyên Anh đă được xây dựng một phần lớn từ những chất liệu sống. Thật chất của một đời người. Tác phẩm Duyên Anh không là tiểu thuyết, không là một thứ "sản phẩm" thuần túy của trí tưởng tượng. Nó chính là h́nh ảnh của cuộc đời, và của kinh nghiệm. Quá khứ và kỷ niệm luôn luôn chiếm giữ một địa vị quan trọng trong tác phẩm Duyên Anh. Viết, điều này cũng có nghĩa là hồi tưởng. Viết điều naỳ cũng có nghĩa là nhớ lại chính ḿnh, tra hỏi quá khứ của ḿnh, soi sáng tâm hồn của ḿnh. Ở Duyên Anh dường như không có một khoảng cách khốc liệt giữa cuộc đời và tác phẩm, giữa sống và viết. Trái lại ông đă thể hiện được một sự liên tục, một sự ḥa hợp giữa kinh nghiệm sống và kinh nghiệm viết. Ông viết như một cách kéo dài đời sống, kêu gọi đời sống. Ông viết như, một cách nào đó, ông đă sống.
Do đó, tiểu sử Duyên Anh, con người thật của Duyên Anh, tâm hồn của Duyên Anh, tất cả sẽ giúp cho người đọc không ít trong việc t́m hiểu tác phẩm của chính Duyên Anh đă viết trong ám ảnh của những đoạn đời đă mất, trong t́nh yêu mến quá khứ và kỷ niệm. Trong khắp các tác phẩm Duyên Anh đều bàng bạc những h́nh ảnh, những chất liệu thật của chính đời sống Duyên Anh. Và người đọc nếu cần, có thể gom góp những h́nh ảnh, những chất liệu đó thành một tác phẩm duy nhất và tác phẩm đó chính là cuộc đời thật của Duyên Anh vậy. Tác phẩm trường thiên mang tên VẺ BUỒN TỈNH LỴ chỉ là một cái nh́n say đắm gửi về một quá khứ thân yêu đă mất trong đó tác phẩm gặp lại chính ḿnh, gặp lại những tâm hồn tí hon đă từng san sẻ với ông đoản đời kỳ diệu dưới bầu trời kỳ ảo của quê hương Thái B́nh. ÁO TIỂU THƯ, TRƯỜNG CŨ, CẦU MƠ, MÂY BAY ĐI, LUẬT HÈ PHỐ... tất cả đều đánh dấu một đoạn đường, một tâm trạng của chính tác giả. Tất cả đều mang ư nghĩa một cuộc kiểm điểm. Mỗi cuốn sách là một cơ hội để tác giả nh́n lại, sống lại đoạn đời đă mất. Mỗi cuốn sách là một cuộc thăm ḍ quá khứ, hạch hỏi kỷ niệm. Có thể nói rằng Duyên Anh đă "sống" khá trọn vẹn những cảnh đời hay đoạn đời thể hiện trong tác phẩm của ông.
Trừ những tác phẩm đầu tiên, có thể nói Duyên Anh luôn kư tên thật của ḿnh kề bên bút hiệu: Duyên Anh Vũ Mộng Long. Sự kiện tuy nhỏ nhặt nhưng không kém phần hàm xúc. Thông thường các nhà văn hoặc kư bút hiệu hoặc kư tên thật của họ và điều này không hẳn chỉ là một sở thích t́nh cờ hay đơn giản. Dù muốn dù không, sự lựa chọn giữa bút hiệu và tên thật để kư dưới tác phẩm luôn thể hiện một thái độ rơ rệt: lựa chọn cái này tức là phủ nhật cái kia. Lựa chọn cho ḿnh bút hiệu nhà văn, mặc nhiên bôi xóa tên tuổi thật của ḿnh. Lựa cho ḿnh một bút hiệu nhà văn đương nhiên tự cho ḿnh có hơn một đời sống, hơn một thân phận: ở hẳn con người nhà văn với một tên tuổi riêng có thể không ngó ngàng ǵ tới con người. Thí dụ: Nhất Linh, tác giả Đoạn Tuyệt, Bướm Trắng có thể không nhất thiết phải dung ḥa, trùng hợp khít khao với con người Nguyên Tường Tam, nhà cách mạng. Và người ta không thể độc đoán dùng quan điểm hành động của nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam để soi sáng vũ trụ mộng tưởng, phi thực của nhà văn Nhất Linh, cũng như ngược lại. Bởi hai thân phận có t hể khác biệt và nếu cần mâu thuẫn chống đối nhau trong cùng một con người: con người Nhất Linh, Nguyễn Trường Tam (tôi dùng nét gạch ở giữa bút hiệu và tên thật để nói lên một trạng thái chia ĺa, theo tôi, có tính cách cần thiết trong một giới hạn nào đó).