View Full Version : Nguyễn Trăi
Vo^ Ta^m
10-02-2002, 02:54 AM
Rồi , hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp trương .
Thạch lựu hiên c̣n phun thức đỏ ,
Hồng liên tŕ đă tịn mùi hương .
Lao xao chợ cá làng ngư phủ ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tích hương .
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng ,
Dân giàu đủ khắp đ̣i phương .
Vo^ Ta^m
10-02-2002, 03:05 AM
Tự bén hơi xuân , tốt lại thêm ,
Đây buồng lạ , màu thâu đêm .
T́nh thư một bức phong c̣n kín ,
Gió nơi đâu gượng mở xem .
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:24 AM
Tiểu Sử tác giả :
Nhà văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng Việt nam kiệt xuất. Hiệu ức Trai; quê ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà đông.
Là con Danh sĩ Nguyễn ứng Long- tức Nguyễn Phi Khanh và là cháu ngọai quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán- tôn thất nhà Trần. Mẹ là bà Trần thị Thái, con gái đầu quan Tư đồ.
Thuở niên thiếu sống trong dinh ông ngọai tại Thăng long, măi đến năm 1390 ông trở về làng Nhị Khê sống với bố, lúc này đang dạy học tại quê nhà.
Năm 1400, ông đỗ Thái học sinh, đời nhà Hồ; làm chức Ngự sử đài chánh chưởng. Cha ông cũng ra làm quan với nhà Hồ dưới cái tên Nguyễn Phi Khanh.
Năm 1407, nhà Minh sang cướp nước ta, cha ông bị chúng bắt giải về Kim Lăng, ông cùng anh là Phi Hùng đến Nam quan gặp cha. Cha ông khuyên hăy trở về lo việc báo thù cho cha rửa hận cho nước. Ông vâng lời nhưng khi trở về, ông bị chúng bắt giam lỏng ở phía Nam thành Đôngquan.
Khỏang năm 1418, ông cùng Trần Nguyên Hăn trốn thóat vào Lam sơn, tham dự cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lănh đạo. Suốt 10 năm kháng chiến cứu nước, ông đă ra tài về chiến lược quân sự, ngọai giao giúp cuộc kháng chiến thành công.
Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và quản công việc ở Viện Khu mật. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, phong ông tước Quan Phục Hầu và cho theo họ Vua
Đến khi Lê Thái Tổ mất, ông bị bọn gian thần gièm pha, nên phải cáo quan, ẩn dật ở Côn sơn, thuộc Chí linh, Hải dương.
Năm 1434, Lê Thái Tông lại triệu ông ra, tỏ vẻ tin dùng, ông đành trở lại triều đ́nh lo việc chính trị, văn hóa. Nhưng không bao lâu, Lê Thái Tông đi duyệt binh ở Chí linh, ngụ nơi Vườn Vải (Lệ Chi viên) của ông, rồi đột ngột bịnh mất tại đấy. Đám gian thần nhân đó ghép tội ông vào tội đă khiến nàng hầu Nguyễn thị Lộ giết Vua, rồi bắt giam ông vào ngục
Ngày 19/09/1442 cả gia đ́nh Nguyễn Trăi nhận bản án Tru di tam tộc.
Sang đời Lê Thánh Tông, nỗi oan của ông được giải, Vua truy phong là Tế văn hầu, và các con cháu c̣n sót lại (Nguyễn anh Vơ, Tô Gíam, Tô Kiên ...) đều được trọng dụng. Đồng thời cử riêng Trần Khắc Kiệm sưu tầm lại di cảo Thơ văn Nguyễn Trăi
Với những cống hiến về nhiều mặt, Nguyễn Trăi xứng đáng là một nhà văn hóa lớn của dân tộc ta.
Tác phẩm chính:
B́nh Ngô đại cáo
Quân trung từ mệnh tập
Phú núi Chí Linh
Lam Sơn Vĩnh lăng thần đạo bi
ức Trai thi tập
Quốc âm thi tập
Ngọc Đường di cảo
Dư địa chí
.....
--------------------------------------------
B́nh Ngô Đại Cáo
Ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần
Thính Vũ
Tặng hữu nhân
Dục Thúy sơn
Trại đầu xuân độ
Mộ xuân tức sự
Bạch Đằng hải khẩu
Chu trung ngẫu thành I
Chu trung ngẫu thành II
Chu trung ngẫu thành III
Côn Sơn ca
Thơ chữ Nôm của Nguyễn Trăi - Quốc âm thi tập
Giang Hành
Hoa Bông Bụt
Quá Thần Phù Hải Khẩu
Trong Động Thanh Hư
Qui Côn Sơn Chu Trung Tác
Thu Dạ Khách Cảm I
Mạn Hứng I
Mạn Hứng III
Mạn Hứng V
Ngẫu Thành
Tức Hứng
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:35 AM
Ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần
Trần Thị Băng Thanh
Ức Trai thi tập là một tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Trăi, cũng là tập thơ hay vào bậc nhất của ḍng thơ chữ Hán Việt Nam.
Tập thơ đă giúp người đọc hiểu thêm nhiều điều về thân thế, tâm hồn và tài năng Nguyễn Trăi, đồng thời cũng đánh dấu bước chuyển của chặng đường thơ chữ Hán Việt Nam từ đời Trần sang thời Lê sơ. Ở đây Nguyễn Trăi vừa kế thừa được những thành tựu thơ thời Trần, vừa đưa vào những nét mới, nét riêng của ông và thời đại ông. Chính v́ vậy Ức Trai thi tập gần gũi với thơ đời Trần mà lại mới mẻ. Gần gũi v́ không kể những đề bài, đề tài đă trở thành cổ điển cho thơ chữ Hán nói chung như mạn thuật, tức sự, ngẫu hứng, tùng, cúc, trúc, mai..., ở đây người đọc c̣n gặp lại những chân lư, quan niệm đă được nhân dân ta xây dựng từ những thế kỷ trước, gặp lại những cảnh, những người, những sự kiện lịch sử và đôi khi cả những mô-típ nghệ thuật từng quen thuộc với thơ đời Trần. Đó là ḷng yêu đất nước thiết tha; ư thức về một quốc gia hoàn toàn độc lập tự chủ, ngang hàng với nước người. Đó cũng là t́nh yêu đằm thắm đối với cảnh sắc thiên nhiên của Tổ quốc mà mỗi tấc đất, ḍng sông, ngọn núi... đều gắn liền với những trang lịch sử anh hùng của dân tộc, vận mệnh của đất nước và công sức khai phá giữ ǵn của người dân bao thế hệ. ở phần thơ chữ Hán này, Nguyễn Trăi "giữ lại" nét hào hùng, kiên nghị, khí phách của các nhà thơ thời chống quân Nguyên thế kỷ XIII, Nguyễn Trăi cũng "giữ lại" tính triết lư sâu sắc mà phóng khoáng, táo bạo của tinh thần thiền đời Thịnh Trần, đồng thời với sự tiếp thu nét ưu tư, thương dân, băn khoăn về trách nhiệm kẻ sĩ của các nhà thơ cuối Trần mà nổi bật hơn cả là Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh... Người đọc đă gặp ở thơ ức Trai ḷng vững tin vào tiền đồ dân tộc khi đuổi xong giặc Minh, mừng trở về Lam Sơn:
Sóc tẩm dĩ thanh ḱnh lăng tức,
Nam châu vạn cổ cựu giang san.
(Hạ quy Lam Sơn)
(Yêu khí phương Bắc đă tan, sóng ḱnh đă lặng,
Nam châu vẫn non nước xưa ngh́n thuở)
Đánh giặc để "non sông xưa muôn thuở" vững bền, đó là chân lư mà Trần Quang Khải từng tuyên bố khi ông Theo xe vua về kinh sư và Trần Nhân Tông cũng khẳng định lúc ông trở về lễ thái miếu sau khi đánh tan giặc Thát. Người đọc cũng gặp ở Nguyễn Trăi niềm hân hoan được thấy bốn biển thanh b́nh:
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ,
Tứ minh ṭng thử tức ḱnh ba.
(Quá Thần Phù hải khẩu)
(Hồ Việt một nhà may được thấy,
Từ nay bốn biển lặng tăm ḱnh)
Các thi sĩ đời Trần cũng đă nói đến niềm vui ấy, bởi v́ đó chính là ước nguyện thiết tha của nhân dân ta, một dân tộc đă trải nhiều hy sinh mất mát; đối với họ không ǵ lớn hơn là được cùng dân nước láng giềng sống trong cảnh thái b́nh và tôn trọng lẫn nhau:
Hồ Việt nhất gia kim nhật sự
Biên dân ṭng thử lạc tàm canh.
(Thơ Nguyễn Trung Ngạn)
(Hồ Việt một nhà là câu chuyện hôm nay,
Người dân biên giới từ đây được vui với dâu tằm, cày cấy)
Song gần gũi với thơ đời Trần hơn cả là mảng thơ về thiên nhiên của Nguyễn Trăi. ở đây có nét hào hùng của những di tích lịch sử của Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh; có nét nghiêm trang mà khỏe khoắn, siêu thoát mà chân chất của những ngôi chùa núi, cảnh chiều hôm của Trần Nhân Tông, Huyên Quang; có cái thanh thoát đượm chút bâng khuâng của nhóm thơ Bích Động và cả cái cảnh sông hồ bát ngát, sáng tươi của Mạc Đĩnh Chi... Có điều, cũng như các thi nhân đời Trần, nhiều khi Nguyễn Trăi miêu tả thiên nhiên cũng chính là để ca ngợi, tưởng nhớ các bậc anh hùng hào kiệt của đất nước; để suy tư về những vấn đề lớn lao của cuộc sống dân tộc; để phát biểu những liên tưởng mang ư nghĩa triết học về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa cái đă qua, đang qua và sắp tới... Quan hải, Bạch Đằng hải khẩu, Long Đại sơn, v.v... là những bài như vậy. Đối với Nguyễn Trăi, non sông đất nước Việt Nam không thiếu những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử rất đáng tự hào. Chúng không thua ǵ cảnh đẹp Trung Quốc và là nguồn cảm hứng kỳ tuyệt của thi nhân nước Việt:
Tam thập niên tiền hồ hải thú,
Tư du kỳ tuyệt thắng Tô tiên.
(Vọng Doanh)
(Thú biển hồ đă ham từ ba mươi năm trước,
Cuộc chơi này tuyệt lạ, c̣n hơn cuộc chơi của ông tiên họ Tô)
Chính v́ vậy, Nguyên Trăi đă đặt chân lên hầu hết những nơi chốn đă trở thành danh thắng đối với các nhà thơ đời Trần: chùa Đông Sơn, núi Dục Thúy, cửa Thần Đầu, núi Long Đại, Côn Sơn, chùa Hoa Yên, núi Yên Tử... Bút pháp của Nguyễn Trăi trong mảng thơ này cũng rất gần gũi với bút pháp của Trần Nhân Tông. Hai ông cùng chú ư đến sắc thái mơ hồ của một cảnh chiều:
Chiều mưa thưa khói vẻ mông lung,
ánh nước mầu trời nửa có không.
Muôn thuở đất trời tươi cảnh sắc,
V́ ta vẽ mới bức non sộng
(Nguyễn Trăi - Tĩnh Yên văn lập)
Thôn trước thôn sau tự khói lồng,
Trời chiều như có lại như không.
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,
C̣ trắng từng đôi liệng xuống đồng.
(Trần Nhân Tông - Thiên Trường văn vọng)
C̣n cái yên tĩnh, thanh đạm đến trống trải chỉ có "sách đầy giường" bóng hoa và cái lạnh mùa thu của một thư pḥng th́ Vân Oa của Nguyễn Trăi và pḥng sách của ông vua nhà Trần thật giống nhau. Và chính sự mâu thuẫn giữa cái bề bộn của sách vở và cái trống vắng những tiện nghi sinh hoạt đă chứng tỏ chỗ gặp nhau trong tính cách giữa hai nhà thơ cách nhau gần hai thế kỷ, đó là ḷng ham hiểu biết, ham suy nghĩ:
Nửa rèm hoa ánh, sách giường đầy,
Xào xạc ngoài sân bóng trúc lay.
Ngày trọn Vân Oa không có việc,
Hé song một giấc ngủ ngon say .
(Nguyễn Trăi - Đề Vân Oa)
Đèn song chếch bóng sách đầy giường,
Đêm vắng sân thu ướt đẫm sương.
Tỉnh dậy tiếng chày đâu vẳng tới,
Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương.
(Trần Nhân Tông - Nguyệt)
Có thể nói những bài thơ về thiên nhiên của Nguyễn Trăi và Trần Nhân Tông là những bức tranh chấm phá nét thanh mà tươi và thường bao quát một không gian rộng lớn. Ng̣i bút tả thực b́nh dị ở những tác phẩm này không cản trở chút nào đến tính chất bay bổng, phóng khoáng và hàm súc, những phát hiện mới mẻ độc đáo của nhà thơ.
Tuy nhiên, t́m những nét kế thừa của Nguyễn Trăi đối với thơ đời Trần cũng chính là để t́m ra nét khác biệt của thơ ông. Thơ Nguyễn Trăi có rất nhiều nét độc đáo. Ngay ở mảng thơ gần gũi với thơ đời Trần nhất th́ sắc thái cá nhân ông cũng rất rơ. Nguyễn Trăi đă vượt qua cái mộc mạc của thơ đời Trần mà nâng cao độ sâu sắc, tinh tế trong cách nh́n, cách cảm nghĩ, nhất là ông chú trọng đến tính hài ḥa trong mỗi tác phẩm. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trăi không có những cảnh buồn tê tái và trễ biếng như trong thơ Chu Văn An, mặc dù Nguyễn Trăi từng gặp những điều "bất như ư" như Chu Văn An. Sau khi xin chém bảy tên nịnh thần không được chấp nhận, dưới con mắt nhà thơ họ Chu, thiên nhiên ch́m trong cảnh buồn đến lạnh ḷng người:
Tùng thu thâm tỏa nhật tương tịch,
Yên Thảo như đài mê loạn thạch.
Âm đạm thiên sơn phong cánh sầu,
Tiêu trầm vạn cổ vân vô tích.
(Vọng Thái Lăng)
(Mấy rặng tùng thu khóa kín, trời sắp về chiều,
Cỏ non như rêu che lấp đá núi ngổn ngang.
Ngàn non ảm đạm gió thổi càng thêm buồn,
Muôn thuở tiêu tan, mây bay không để lại dấu vết)
Hoặc uể oải đến chán nản:
Thê ngô tỉnh cực hoàn thành lăn,
án thượng tàn thư phong tự khai.
(Sơ hạ)
(Phượng hoàng đậu cành ngô, tĩnh quá thành lười nhác,
Trên án, cuốn sách nát gió tự lật trang)
Nguyễn Trăi không như thế. Dường như thiên nhiên bao giờ cũng làm dịu lại tâm hồn ông, đem đến cho ông sự b́nh tĩnh và thanh thản. Cho nên cuộc đời Nguyễn Trăi dù có nhiều đau buồn, nhiều bài thơ của ông "chất nặng tâm tư", nhưng những vần thơ nói về thiên nhiên của Nguyễn Trăi không buồn. Thảng hoặc có đôi cảnh buồn th́ cũng không đến nỗi làm cho người đọc hoàn toàn chán nản, thất vọng. Bài Mộ xuân tức sự sau đây là một dẫn chứng:
Trọn ngày thong thả khép pḥng văn,
Khách tục bên ngoài chẳng bén chân.
Khắc khoải cuốc kêu xuân đă muộn,
Hoa xoan mưa nhẹ nở đầy sân
Rơ ràng cảnh vật ngày cuối xuân này không đi tới xu hướng tàn lụi, bế tắc. Trong cái vắng lặng ấy, một sự vật này đang tàn đi, "xuân hướng lăo" - mùa xuân đang già đi, th́ sự vật khác lại nảy nở, khỏe khoắn: "Một sân hoa xoan nở dưới mưa nhẹ".
Sự hài ḥa giữa các phạm trù đối lập và nhất là sự đối lập mang ư nghĩa triết học là một nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Trăi. ở đây có sự hài ḥa giữa nét thanh nét đậm, mầu sẫm mầu nhạt; cái hiện thực cái hư ảo; cái bay bổng cái chân chất, cái b́nh thường cái kỳ diệu; cái hùng vĩ cái thanh nhẹ, cái tĩnh cái động; cái đang lụi tàn và cái đang phát triển...
"Bến đ̣ xuân đầu trại" cỏ tốt xanh biếc như khói, mưa xuân làm cho nước đầy, sóng vỗ vào nền trời. Cảnh bến sông xuân ấy trẻ trung, rạo rực như được điều chỉnh lại bằng cái tĩnh lặng của con đường đồng vắng ít người đi và chiếc thuyền lẻ loi ghếch trên cát ngủ thâu ngày:
Cỏ xuân đầu bến biếc như mây,
Thêm lại mưa xuân trời nước đầy.
Đường nội vắng teo hành khách ít,
Thuyền côi gác băi ngủ thâu ngày
(Trại đầu xuân độ)
Cũng vậy, trong bài Du sơn tự, cái hư ảo của ánh tà dương đă được "buộc" vào một mái chèo có thực; cái vội vă của người khách lên thăm chùa được điều chỉnh lại bằng cái tĩnh của ngôi chùa b́nh lặng; cái lạnh lẽo của giường thiền khi mây kéo về được ấm lại bằng ḍng suối ngát hương khi hoa rơi; cái nhanh gấp của tiếng vượn kêu trong chiều tà được thư thả lại bởi bóng trúc ngả dài trên núi quang. Và cuối cùng là sự đối lập giữa cái "hữu" và cái "vô" ở chính trong ḍng suy tư của tác giả:
Bóng xế thuyền con buộc,
Vội lên lễ Phật đài.
Mây về giường săi lạnh,
Hoa rụng suối hương trôi.
Chiều tối vượn kêu rộn,
Núi quang trúc bóng dài.
ở trong dường có ư,
Muốn nói bỗng quên rồi
Sử dụng phép đối vốn là một thủ pháp quen thuộc của thơ cổ Việt Nam và Trung Quốc. ở đời Trần, các nhà thơ đă sử dụng phép đối và những thế kỷ sau người ta vẫn tiếp tục sử dụng, nhưng Nguyễn Trăi là người đă khai thác được triệt để tác dụng của thủ pháp nghệ thuật này. Dưới ng̣i bút thần diệu của ông, thể đối càng cân xứng hoàn chỉnh th́ tứ thơ càng hài ḥa và sinh động. Phải chăng vấn đề không chỉ là chuyện kỹ thuật, kỹ xảo? Cho nên một nét đặc sắc quan trọng nữa của thơ Nguyễn Trăi chính là việc thơ ông đă đề cập đến nhiều vấn đề thời sự lớn lao, nóng hổi của đất nước với cách nh́n, cách lư giải tiến bộ của ông. Nguyễn Trăi đă viết một loạt bài về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và mười năm đầu thời kỳ quân Minh tạm chiếm đất nước (Điều này các nhà thơ đời Trần không làm được đối với cuộc kháng chiến chống quân Nguyên anh hùng của dân tộc ta lúc bấy giờ). Với những bài Loạn hậu cảm tác, Quy Côn Sơn chu trung tác, Kư cữu Dịch Trai Trần công... Nguyễn Trăi đă tố cáo tội ác, sự thâm độc của quân Minh đối với dân tộc ta. Đó cũng là một lời giải thích nguyên nhân của t́nh trạng nhân tài tuấn kiệt thưa vắng đến "như sao buổi sớm, như lá mùa thu" khi Lê Lợi mới dựng cờ khởi nghĩa.
Cạnh đó, với những bài Hạ quy Lam Sơn, Đề kiếm, Nguyễn Trăi trực tiếp ca ngợi vị vua anh hùng Lê Lợi và cũng là ca ngợi cuộc kháng chiến của dân tộc. ở đây ông đă tóm tắt một cách tài t́nh mục đích, đường lối của cuộc khởi nghĩa:
Quyền mưu bản thị dụng trừ gian,
Nhân nghĩa duy tŕ quốc thế an.
(Hạ quy Lam Sơn I - bài 33)
(Quyền mưu vốn dĩ để trừ gian,
Nhân nghĩa giữ ǵn thế nước an)
Ức tích Lam Sơn ngoạn vơ kinh,
Đương thời chí dĩ tại thương sinh.
(Hạ quy Lam Sơn II - bài 34)
(Nhớ khi xưa c̣n xem sách vơ kinh ở Lam Sơn,
Bấy giờ chí hướng đă đặt ở dân đen rồi)
Yêu thương dân, suốt đời lo nghĩ thực hiện một phương sách để nước trị dân yên là một nét lớn trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Trăi. Trong thơ ông, đó cũng là một điểm mới so với thơ đời Trần. ở đời Trần, Minh Tông đă từng nói đến dân:
Sinh dân nhất thị ngă bào đồng,
Tứ hải hà tâm sử khốn cùng.
Tiêu tướng bất tri Cao Tổ ư,
Vị Ương hư phí nhuận thanh hồng.
(Nghệ An hành điện)
(Dân chúng đều là đồng bào của ta,
Nỡ ḷng nào khiến bốn bể khốn cùng.
Tướng Tiêu Hà không hiểu ư Hán Cao Tổ,
Đă phí tiền trang điểm xanh, đỏ cung Vị Ương)
Dù sao, Minh Tông cũng mới dừng lại ở ư "khoan sức dân", đừng bắt dân khốn cùng v́ việc xây dựng cung điện xa hoa. Trần Nguyên Đán tiến thêm một bước: yên dân, lo cho dân những khi mùa màng thất bát:
Niên lai hạ hạn hựu thu lâm,
Ḥa cảo miêu thương hại chuyển thâm.
Tam vạn quyển thư vô dụng xứ,
Bạch đầu không phụ ái dân tâm.
(Nhâm Dần niên lục nguyệt tác)
(Mấy năm nay hết mùa hè hạn lại mùa thu mưa dầm,
Lúa khô, mạ thối, tai hại càng nhiều.
Đọc ba vạn quyển sách mà chẳng dùng được vào đâu,
Đến lúc bạc đầu chỉ ôm suông tấm ḷng yêu dân)
Nhưng chỉ đến Nguyễn Trăi, quan niệm về dân mới toàn diện, sâu sắc. Ông thấy rơ vai tṛ của người "cùng dân" trong việc dựng nước và giữ nước. Ông thông cảm với t́nh cảnh người dân trong chiến tranh loạn lạc:
Thần châu nhất tự khởi can qua,
Vạn tính ngao ngao khả nại hà?
(Loạn hậu cảm tác)
(Thần châu từ buổi nổi cuộc can qua,
Muôn dân nháo nhác biết làm thế nào?)
Về điểm này, Nguyễn Trăi cũng vượt thân phụ ông. Nguyễn Phi Khanh đă từng lo nghĩ đến cảnh người dân mất mùa đói kém mà vẫn bị quan lại ra sức vơ vét đến cạn kiệt:
Lại tư vơng cổ hồn đa kiệt,
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu.
(Thôn cư cảm sự kư tŕnh Băng Hồ tướng công)
(Lưới tham quan lại vơ vét hết kiệt,
Mỡ màng của dân đă cạn mất nửa)
Nhưng khi phải lánh giặc chạy vào núi, ông cũng chỉ nhắc đến mẹ và t́nh cảnh của chính ḿnh (Tỵ khấu sơn trung).
Nguyễn Trăi cũng vượt Trần Nhân Tông, ông vua có quan điểm "thân dân" nhất đời Trần. Nguyễn Trăi và Nhân Tông đều cùng có một bài thơ về đề tài "khuê oán", nhưng nhân vật của Nguyễn Trăi không phải là những cô gái khuê các nhàn rỗi của Trần Nhân Tông, chỉ có một việc ngủ dậy cuốn rèm ngồi ngắm hoa rụng cho đến khi mặt trời lặn về phía tây:
Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng,
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong.
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại,
Hoa ảnh chi đầu tân hướng đông.
(Ngủ dậy cuốn rèm xem hoa rụng,
Chim hoàng ly không hót, oán gió đông.
Không dưng mặt trời lặn xuống phía tây ṭa lầu,
Bóng hoa đầu cành thảy đều ngoảnh về đông)
Nhân vật của Nguyễn Trăi là những người phụ nữ lao động có chồng chinh chiến ngoài quan ải, tận đêm khuya c̣n phải đập vải ngoài sông (Thôn xá thu châm). Và có lẽ đây là lần đầu tiên trong thơ Việt Nam tiếng chày nện vải không chỉ là tiếng của mùa thu buồn mà c̣n là tiếng ḷng của những người chinh phụ, là lời than phiền về cảnh ngộ vất vả của họ.
ở phần thơ chữ Hán, mặc dầu Nguyễn Trăi không nói được rơ như trong thơ chữ Nôm và trong văn chính luận, nhưng ḷng "lo trước" của ông chính là v́ đám "dân đen": "Thương sinh tại niệm độc tiên ưu" (Mạn hứng, bài 2). Và điều đó là một ư nghĩ thường trực trong Nguyễn Trăi.
Ngoài ra, c̣n có thể t́m thấy nhiều nét đặc sắc, mới mẻ khác của Nguyễn Trăi ở ngay những vấn đề, đề tài dường như rất chung của các nhà nho nhiều thế hệ, như thú nhàn dật, quan niệm "xuất xứ, hành tàng", thói đời đen bạc, nhân t́nh nóng lạnh... Có thể nói, chưa nhà thơ nào trước Nguyễn Trăi đă để lại trong thơ phong độ cá nhân rơ nét như ông. Đọc ức Trai thi tập có thể h́nh dung khá rơ Nguyễn Trăi là một con người đằm thắm trong t́nh cảm gia đ́nh, bè bạn; sâu nặng trong nghĩa nước t́nh dân; hào hoa phóng khoáng giữa thiên nhiên; thanh đạm, nhàn dật mà nhập cuộc... Không những thế, c̣n có thể h́nh dung ra Nguyễn Trăi trong những khung cảnh, tư thế rất cụ thể. Khi th́ khoác tấm chăn mỏng ngồi suốt đêm hay trăn trở bên song thuyền đến sáng, suy nghĩ trầm ngâm; khi th́ tựa ghế dạo đàn hay ủ tay trong tay áo ngồi ngâm thơ khe khẽ hứng thú hoặc sầu muộn; khi ung dung, nhanh nhẹn và say mê dạo giữa thiên nhiên... Như vậy, một nét đặc sắc nữa của thơ Nguyễn Trăi cũng c̣n là sự tự bộc lộ ḿnh chân thành và tha thiết... Tất cả những nét chung và riêng đó chứng tỏ ức Trai thi tập không dứt đoạn với truyền thống thơ chữ Hán các triều đại trước mà là bước kế tục, phát triển và một đỉnh cao.
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:41 AM
Thính vũ
Tịch mịch u trai lư,
Chung tiêu thính vũ thanh.
Tiêu tao kinh khách chẩm,
Điểm trích sổ tàn canh.
Cách trúc xao song mật,
Ḥa chung nhập mộng thanh.
Ngâm dư hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Pḥng văn vắng vẻ, khi tỏ khi mờ,
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi.
Lạnh lùng ghê ghê nơi đất khách cô đơn,
Thánh thót mưa rơi, như thánh thót đồng hồ điểm canh.
Mưa xuyên qua khóm trúc tạt vào cánh cửa sổ,
Rồi ḥa với tiếng chông mà đi vào cơi mộng.
Ngâm thơ xong mà ḷng vẫn nao nao, không chợp mắt,
Cứ thế, thức nhắp cho đến tận sáng mai.
Dịch thơ:
Nghe mưa
Tỏ mờ pḥng văn vắng,
Thâu đêm nghe mưa rơi.
Lạnh lùng ghê gối khách,
Giọt giọt trống canh vơi.
Xuyên trúc mưa gơ cửa,
Ḥa chuông nhập mộng đời.
Ngâm xong ḷng trăn trở,
Thức nhắp tận sáng mai.
Hồ Ngọc Băng Tâm dịch
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:43 AM
Tặng hữu nhân
Bần, bệnh dư lân nhữ,
Sơ cuồng, nhữ tựa dư.
Đồng vi thiên lư khách,
Câu độc sổ hàng thư.
Hộ lạc tri hà dụng,
Thê tŕ lương hữu dư.
Tha niên Nhụy (Nhị) Khê ước,
Đoản lạp hạ xuân sừ.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Tôi thương anh nghèo mà có bệnh,
Và anh cũng giống tôi tính ngang tàng.
Cũng là khách ngàn dặm như nhau,
Và cũng đă từng đọc mấy hàng chữ sách.
Tự biết ḿnh như quả bầu rỗng, vô dụng ở đời
May c̣n có chỗ để tựa nương
Chúng ta đă hẹn nhau nơi Nhị Khê này,
Cùng đội nón cùng bừa buổi xuân sang.
Dịch thơ:
Tặng bạn
Tôi thương anh nghèo bệnh,
Anh giống tôi ngang tàng.
Cùng làm khách ngh́n dặm,
Cùng đọc sách vài hàng.
Như bầu rỗng vô dụng,
May c̣n chỗ náu nương.
Nhị Khê từng ước hẹn,
Cày bừa buổi xuân sang.
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:46 AM
Dục Thúy sơn(1)
Hải khẩu hữu tiên san,
Niên tiền lũ văng hoàn.
Liên hoa phù thủy thượng,
Tiên cảnh trụy nhân gian.
Tháp ảnh, trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thúy hoàn.
Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
Bi khắc tiễn hoa tan.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Gần cửa biển có núi tiên,
Năm xưa thường đi về.
Hoa sen nổi trên mặt nước,
Đúng là cảnh tiên nơi cơi trần.
Bóng tháp như cài trâm ngọc xanh,
ánh sáng trên sóng soi mái tóc biết,
Chạnh nhớ quan Trương Thiếu Bảo(2),
Tấm bia đá nói về ông đă lốm đốm rêu phong.
Dịch thơ:
Núi Dục Thúy
Cửa biển có núi tiên,
Năm xưa lối về quen.
Non bồng nơi cơi tục,
Mặt nước nổi đài sen.
Bóng tháp ngời trâm ngọc,
Tóc mây gợn ánh huyền.
Chạnh nhớ Trương Thiếu Bảo,
Bia rêu lốm đốm nền.
Huy Cận dịch
----------------
1. Tức núi Non Nước ở Ninh B́nh, tên Dục Thúy là do Trương Hán Siêu đặt.
2. Tức Trương Hán Siêu đời Trần, được phong hàm Thiếu Bảo, sau khi mất được thăng Thái bảo, hàm chánh nhất phẩm.
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:48 AM
Trại đầu xuân độ
Độ dầu xuân thảo lục như yên,
Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.
Dă kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô chu trấn nhật các sa miên.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Bến đ̣ mùa xuân ở đầu trại
Cỏ xuân ở đầu bến đ̣, xanh biếc như khói,
Lại thêm mưa xuân nước tiếp ngang trời.
Đường đồng nội vắng tanh, ít người qua lại,
Ngày thường chiếc đ̣ cô độc ghếch mái chèo lên băi cát mà nằm yên.
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:51 AM
Mộ xuân tức sự
Nhân trung tận nhật bế thư trai,
Môn ngoại toàn vô tục khách lai.
Đỗ vũ thanh trung xuân hướng lăo,
Nhất đ́nh sơ vũ luyện hoa khai.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Nhân thong thả, buồng văn khép cửa cả ngày,
Ngoài ngơ, chẳng có khách nào tới thăm.
Cuối mùa xuân, tiếng cuốc đă kêu ra rả(1),
Trước sân mưa lác đác, cây xoan đang độ nở hoa.
Dịch thơ:
Cuối xuân tức sự
Ngày nhàn khép chặt cửa buồng văn,
Khách tục không ai bén đến gần.
Tiếng cuốc gào xuân, xuân sắp hết,
Hoa xoan mới nở đượm mưa nhuần.
---------------
1. Theo truyền thuyết xưa, vua nước Thục là Vọng đến, tên là Đỗ Vũ, v́ mất nước hóa thành chim cuốc, kêu ra rả suốt mùa hè, do đó chim cuốc có biệt danh là Đỗ Vũ, hoặc Đỗ Quyên.
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:53 AM
Bạch Đằng hải khẩu
Sóc phong xung hải khí lăng lăng,
Khinh khí ngâm phàm quá Bạch Đằng.
Ngạc đoạn ḱnh khoa sơn khúc khúc,
Qua tŕnh kích chiết ngạn tằng tằng.
Quan hà bách nhị do thiên thiết,
Hào kiệt công danh thử địa tằng.
Văn sự hồi đầu ta dĩ hĩ,
Lâm lưu phủ cảnh ư nan thăng.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Cửa bể Bạch Đằng(1)
Cửa biển lồng lộng, gió bấc thổi băng băng;
Buồm thơ nhẹ lướt qua sông Bạch Đằng.
Nh́n núi từng khúc, như cá mập, cá sấu bị chặt từng đoạn,
Nh́n bờ từng lốp, như giáo kích gươm đao bị găy ch́m.
Cảnh núi sông hiểm yếu, tạo ra cái thế "lấy ít địch nhiều"(2),
Đây là nơi hào kiệt từng lập nên công danh oanh liệt.
Việc xưa nghĩ lại, ôi tất cả đă qua rồi!
Tới đây viếng cảnh, nỗi ḷng sao biết nên chăng?
Dịch thơ:
Biển rung, gió bấc thổi băng băng,
Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.
Ḱnh ngạc băm vằm non mấy khúc,
Giáo gươm ch́m găy băi bao tầng.
Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
Hào kiệt công danh đất ấy từng.
Việc cũ quay đầu, ôi vắng ngắt,
Nh́n sông, nh́n cảnh, nói sao chăng(3).
---------------
1. Cửa Bạch Đằng: vốn xưa kia, nay đă chuyển hướng, hiện thuộc Hải Pḥng. Đây là nơi mà Trần Hưng Đạo đă đánh tan giặc Nguyên Mông.
2. Rút ư từ việc nhà Tần dựa vào địa thế hiểm yếu, nên hai người có thể địch với trăm người.
3. Bài thơ được chỉnh lư vài chỗ, đặc biệt là câu cuối cùng, vốn câu cũ là: "Tới ḍng ngắm cảnh dạ bâng khuâng", được chữa lại cho sát như trên.
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:54 AM
Chu trung ngẫu thành I (1)
Vũ hậu xuân triều trướng hải môn;
Thiên phong xuy khỉ lăng hoa phun.
Bán lâm tàn chiếu sư yên thụ;
Cách thủy cô chung đảo nguyệt thôn.
Phong cảnh khả nhân thi nhập họa;
Hồ sơn măn mục tửu doanh tôn.
Cựu du lịch lịch dư tằng kư;
Văng sự trùng tầm chỉ mộng hồn.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Thơ ứng trong thuyền (Bài 1)(1)
Sau cơn mưa, nước triều cửa biển dâng lên,
Gió nổi lên, sóng phun giống như tung hoa.
Quá nửa rừng, nắng tàn rây qua cḥm cây quyện khói,
Bên kia sông, tiếng chuông văng vẳng nện trong xóm đầu trăng.
Cảnh khá chiều người, nên t́nh thơ nhập vào cảnh thành bức họa,
Nước non lai láng trước mắt, nên chén rượu tràn trề.
Bao nhiêu cảnh xưa ta từng ngắm, ta nhớ rơ mồn một,
Có điều, tất cả đó chỉ qua trong hồn mộng mà thôi.
Dịch thơ:
Sau mưa, cửa biển, nước xuân trào,
Hoa sóng tung trời gió nổi cao.
Bóng xế nửa rừng cây khói biếc,
Chuông đâu phía băi nện trăng chiều.
Ưa người, phong cảnh thơ vào họa,
Đầy mắt non sông rượu ắp bầu.
Từng cuộc chơi xưa ta nhớ rơ,
Chuyện qua, t́m lại giữa chiêm bao.
Khương hữu dụng dịch
Mưa tạnh trào lên sóng bể đầy
Như hoa trên nước phất phơ bay
Bên rừng nắng xế cành cây ngả
Trên bến chuông rền bóng nguyệt lay
Phong cảnh giục người thi với họa
Núi hồ trước mặt rượu thêm cay
Cuộc chơi khi trước nay mà nhớ
Việc cũ coi như nửa tỉnh say
Bản dịch của Hoàng Khôi
-------------------
1. Chùm thơ ba bài này tả tâm trạng tác giả ở đất khách, hướng về quê nhà.
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:55 AM
Chu trung ngẫu thành II (Kỳ nhị)
Hải giốc thiên nhai tứ ư ngao,
Kiền khôn đáo xứ phóng ngâm hào.
Ngư ca tam xướng yên hồ khoát,
Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao.
Thanh dạ bằng hư quan vũ trụ,
Thu phong thừa hứng giá ḱnh ngao.
Du nhiên vạn sự vong t́nh hậu,
Diệu lư chân kham phó trọc giao.
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Thơ ứng trong thuyền (Bài 2)
Góc biển chân trời, tự ư rong chơi,
Trong trời đất, đến đâu cũng phóng bút làm thơ.
Mấy tiếng hát ông chài tỏa rộng như khói lan mặt hồ,
Một tiếng sáo trẻ chăn trâu vút lên theo trăng cao.
Giữa đêm vắng, theo khoảng không ngắm xem vũ trụ,
Trong gió thu, nhân cơn hứng muốn cưỡi cá ḱnh ngao.
Ḷng ta lâng lâng, quên hết mọi việc trên đời,
Lẽ mầu nhiệm đáng phó cho chén rượu ngon.
Dịch thơ:
Góc biển chân mây, thỏa bước hào,
Kiền không đâu cũng hứng thơ trào.
Ca chài sớm nổi hồ lan rộng,
Sáo mục chiều vang trăng vút cao.
Đêm vắng khoảng không vang vũ trụ,
Gió thu cơn hứng cưỡi ḱnh ngao.
Sau khi muôn vật lâng lâng trút,
Gửi chén quỳnh kia lẽ nhiệm mầu.
Khương Hữu Dụng dịch
Bach Van Phi
03-25-2003, 01:55 AM
Chu trung ngẫu thành III (Kỳ tam)
Bộ kiếm huề thư đởm khí thô,
Hải sơn vạn lư phiến phàm cô.
Đồ trung nhật nguyệt tam đông quá,
Khách lí thân bằng nhất tự vô.
Dị cảnh mỗi kinh tân tuế nguyệt,
Biên chu trùng ức cựu giang hồ.
Tứ phương tráng chí b́nh sinh hữu,
Thử khứ ninh từ ngă bộc nô?
(Ức Trai thi tập)
Dịch nghĩa:
Thơ ứng trong thuyền (Bài 3)
Đeo gươm, cắp sách kể cũng to gan lớn mật,
Biển núi muôn dặm, với cánh buồm trơ trọi!
Trên đường đi, tháng ngày trôi quá ba đông rồi,
Nơi đất khách, chẳng có tin nào của bà con, bạn bè.
Giữa cảnh lạ, rất e ngại mỗi khi sang năm mới,
Trong thuyền nhỏ, lại như thú chơi sông hồ thời xưa.
Tráng chí bốn phương, vốn ta sẵn có,
Chuyến này, không lẽ v́ đầy tớ ta mệt, mà từ chối?
Dịch thơ:
Cắp sách đeo gươm chí khí hùng,
Biển non muôn dặm chiếc buồm dong.
Đường đi ngày tháng ba năm quá,
Đất khách thân bằng một chữ trông.
Cảnh lạ thưởng kinh khi Tết đến,
Thuyền con lại nhớ thuở b́nh bồng.
Bốn phương tráng chí ta hằng có,
Chẳng lẽ phen này lại chối "không"!(1)
Xuân Diệu dịch
--------------
1. Rút từ câu: "Ngă bộc bô lăi" (Đầy tớ ta mệt rồi) trong Kinh Thi, chối "không" là dịch ư, v́ tác giả tự nói.
Bach Van Phi
03-25-2003, 02:22 AM
Côn Sơn ca
Côn Sơn hữu tuyền,
Kỳ thanh linh linh nhiên.
Ngô dĩ vi cầm huyền,
Côn Sơn hữu thạch.
Vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nam trung hữu tùng,
Vạn cái thúy đồng đồng.
Ngô ư thị hồ yên tức kỳ trung.
Lâm trung hữu trúc,
Thiên mẫu ân hàn lục,
Ngô ư thị hồ ngấn khiếu kỳ trắc.
Vấn quân hà bất quy khứ lai,
Bán sinh trần thổ trường giao cốc,
Vạn chung, cửu đỉnh hà tất nhiên,
ẩm thủy, phạn sơ tùy phân túc.
Quân bất kiến Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ,
Nguyên Tái hồ tiêu bát bách hộc,
Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề.
Thú Dương ngă tử bất thực túc.
Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu,
Diệc các, tự cầu kỳ sở dục.
Nhân sinh bách tức nội,
Tất cánh đồng thảo mộc,
Bi hoan ưu lạc diệc văng lai,
Nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục.
Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên,
Tử hậu thùy vinh, cánh thùy nhục?
Nhân gian nhược hữu Sào, Do đồ,
Khuyến cừ thính ngă sơn trung khúc.
Dịch thơ:
1) Dịch theo nguyên điệu "đoản trường cú" (tức "thể tự do" câu ngắn câu dài.)
Bài Ca Côn Sơn (1)
Côn Sơn có suối,
Tiếng nước chảy ŕ rầm.
Ta coi như đàn cầm.
Côn Sơn có đá,
Mưa dội rêu phô xám,
Ta coi như chiếu thảm.
Trên đèo có thông,
Muôn dặm biếc mông lung,
Ta thảnh thơi nằm nghỉ bên trong.
Giữa rừng có trúc,
Ngh́n mẫu xanh chen chúc,
Ta đủng đỉnh ca ngâm dưới gốc.
Hỡi ai, sao chẳng sớm quay về?
Nửa đời vùi măi trong lầm đục,
Muôn chung, chín vạc để làm ǵ (2).
Nước lă, cơm rau hằng tri túc.
Ḱa chẳng thấy Đổng Trác bạc vàng đầy một ổ ,(3)
Nguyên Tài hồ tiêu tám trăm hộc .(4)
Lại chẳng thấy Bá Di, cùng Thúc Tề,
Thú Dương chết đói, không ăn thóc (5).
Hiền ngu tuy có khác nhau xa,
Đều chạy theo sau ḷng sở dục (6).
Người sống nội trăm năm,
Tất cùng cây cỏ mục.
Vui buồn, sướng khổ đổi thay nhau,
Một héo, một tươi thường tiếp tục.
Đồi rậm lầu hoa cũng ngẫu nhiên,
Chết rồi hỏi ai vinh, ai nhục?
Thế gian nếu c̣n bọn Sào, Do (7),
Khuyên hăy nghe ta hát một khúc.
--------------------------
1. Bài ca này Nguyễn Trăi làm khi về nghỉ ở Côn Sơn, cạnh chùa Hun, nhân dịp sưu tập, sắp xếp tập thơ Băng hồ Ngọc hác tập của Trần Nguyên Đán, ông ngoại ḿnh.
2. Chung, vạc (đỉnh: chung ở đây là hộc lớn (gồm 6 hộc nhỏ 44 đấu), và vạc để nấu ăn, chỉ nhà giàu sang.
3. Đổng Trác: một nhân vật đời Hán và đời Tam Quốc, rất giàu.
4. Nguyên Tái: một nhân vật đời Đường, cũng rất giàu, chứa hồ tiêu để buôn.
5. Bá Di, Thúc Tề: bề tôi cũ nhà Ân Thương, đă từng đón đường vua Chu Vũ Vương để can ngăn, về sau nhất định không theo nhà Chu, vào ẩn ở núi Thú Dương ăn rau củ, rồi chết đói.
6. Sở dục: ḷng tham muốn.
7. Sào Phủ, Hứa Do: Sào Phủ là ẩn sĩ, bạn của Hứa Do. Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho Hứa Do, Hứa Do không nhận, sau mới truyền cho Thuấn.
2) Dịch theo thể lục bát:
Côn Sơn có suối nước trong,
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm.
Côn Sơn có đá tần vần,
Mưa tuôn, đá sạch ta nằm ta chơi.
Côn Sơn thông tốt ngất trời.
Ngả nghiêng dưới bóng ra thời tự do.
Côn Sơn trúc mọc đầy g̣,
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao.
Sao không về phắt đi nào,
Đời người vướng vất xiết bao cái lầm!
Cơm rau nước lă an thân,
Muôn chung, chín vạc có cần quyền chi.
Sao không xem:
Gian tà những kẻ xưa kia,
Trước th́ họ Đổng, sau th́ họ Nguyên.
Đổng: Th́ mấy vực kim tiền,
Nguyên: hồ tiêu chứa mấy ngh́n muôn cân.
Lại chẳng xem:
Di, Tề hai đấng thánh nhân,
Thú Dương ẩn náu, nhịn ăn đến già.
Nào ai khôn dại ru mà,
Chẳng qua chỉ tự ḷng ra sở cầu.
Trăm năm trong cuộc bể dâu,
Người cùng cây cỏ, khác nhau chút nào.
Khóc cười mừng sợ xôn xao,
Đang tươi bỗng héo biết bao nhiêu lần!
Nhục vinh thân cũng là thân,
Lầu hoa đồi rậm trăm năm c̣n ǵ!
Sào, Do hai bạn tương tri,
Hăy xem tớ đọc cho nghe bài này!
Bach Van Phi
03-25-2003, 02:25 AM
Thơ chữ Nôm của Nguyễn Trăi - Quốc âm thi tập
Với Quốc âm thi tập gồm 254 bài, Nguyễn Trăi được xem như nhà thơ lớn đầu tiên viết thơ chữ Nôm, đồng thời cũng là người sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số lượng nhiều bậc nhất trong nền thơ cổ điển dân tộc. Xem xét giá trị tự thân cũng như vai tṛ, vị trí tập thơ trong toàn cảnh nền văn học truyền thống, Quốc âm thi tập gợi mở nhiều phương hướng tiếp cận, nhiều vấn đề lư thú về nội dung và nghệ thuật ngôn từ, về văn học và văn hóa, về chính ư nghĩa tập thơ trong sự phát triển chung của ngôn ngữ dân tộc.
Khác với bộ phận thơ chữ Hán, Quốc âm thi tập là thơ Nôm, thơ tiếng Việt. V́ lẽ đó mà lời thơ uyển chuyển, dung dị, gần gũi đời thường và gần với nếp cảm nếp nghĩ dân tộc. Đây cũng là lư do khiến các thi nhân và giới nghiên cứu cùng quan tâm viết b́nh giảng, b́nh thơ, cảm thụ thơ Nôm Nguyễn Trăi chi tiết với từng đề tài, từng bài thơ, thậm chí từng câu từng chữ. Đó là cả loạt bài b́nh về mùa xuân, về mùa hè, về trăng, về hoa lá, về cây tùng, cây trúc, cây chuối... Nói riêng về bài thơ Cây chuối cũng đă lôi cuốn nhiều tay thi bá vào cuộc, đưa đến nhiều cách giảng, cách hiểu, cách mở rộng và khai thác đề tài khác nhau như Xuân Diệu, Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Đ́nh Chú, Quang Huy, Nguyễn Thị Bích Hải, Phạm Tú Châu, Đoàn Thu Vân, Nguyễn Phạm Hùng, v.v. Có thể nói những bài b́nh của họ đă giúp bạn đọc hiểu thêm vẻ đẹp và tính thẩm mỹ của thơ Nôm Nguyễn Trăi được thể hiện thông qua những bài, những câu thơ cụ thể và sinh động bậc nhất.
So với thơ chữ Hán, tập thơ Nôm đại thành của Nguyễn Trăi có khả năng thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc, cảm quan về thiên nhiên, quê hương, đất nước. Đây cũng chính là vấn đề nhạy cảm, dễ khơi gợi niềm yêu thương, gắn bó cùng xứ sở, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đạt tới những trang viết lắng sâu, ân nghĩa . Ngoài ra, nhờ sử dụng ngôn ngữ dân tộc, Nguyễn Trăi có thể bộc lộ các cung bậc t́nh cảm, các sắc thái trữ t́nh, thế giới nội tâm và mọi nỗi ưu phiền một cách tự do, linh động hơn. Cảm nhận rơ điều này, các nhà nghiên cứu đă tập trung t́m hiểu những vấn đề về con người cá nhân trong thơ, những đường biên giữa nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ, tính chất đa dạng của hồn thơ và t́nh cảm vũ trụ với tâm hồn nhà thơ . Bước đầu những quan niệm nghệ thuật về con người trong bối cảnh văn hóa thời trung đại, cái nh́n tư duy về thể loại và ngay cả khả năng "vượt thời gian" trong tư cách nhà nghệ sĩ Nguyễn Trăi đều đă được đề cập và hứa hẹn mở ra những chiều hướng nghiên cứu sâu sắc, mới mẻ.
Có thể nói thêm rằng, với Quốc âm thi tập, các vấn đề về ngôn ngữ, từ loại, thể thơ, tiếng nói triết lư, tính bác học và dân gian, phong cách thơ và đóng góp của Nguyễn Trăi đối với tiếng Việt, việc chú giải câu chữ và phân biệt thơ Nôm Nguyễn Trăi với thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)... đều đă được đề cập . Về điều này, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng đă có chỉ dẫn cụ thể: "Về thơ của Nguyễn Trăi, chúng ta nên quư trọng hơn nữa thơ chữ Nôm, tiếng ta của Nguyễn Trăi, đó là vốn rất quư của văn học dân tộc. B́nh luận về thơ tưởng không bằng đọc một vài câu thơ:
Nước biếc non xanh, thuyền gối băi,
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu...
Thơ của Nguyễn Trăi hay là như vậy! Vườn văn học của nước nhà có những hoa quả đẹp và thơm ngon, thế mà chúng ta h́nh như chưa thấy hết giá trị; tiếng nói của chúng ta có cái giàu và đẹp của nó, phải biết yêu nó, dùng nó, trau dồi nó, v́ sao phải đi mượn đâu đâu?"
Nh́n chung, có thể nói Quốc âm thi tập đă được nghiên cứu khá toàn diện, tương xứng với tầm vóc, giá trị và vị trí tác phẩm trong tiến tŕnh văn học sử dân tộc.
Bach Van Phi
03-25-2003, 11:53 AM
1.
Từ ngày gặp hội phong vân (1),
Bổ báo chưa hề đặng mỗ phân (2).
Gánh khôn đương quyền tướng phủ (3),
Lui ngơ được đất nho thần.
ước bề giả ơn minh chúa,
Hết khỏe, phù hoa thánh nhân.
Quốc phú binh cường chăng có chước,
Bằng tôi nào thuở ích chưng dân.
--------------------------------
1. Hội phong vân: theo nghĩa Kinh Dịch nói rồng mây, hổ gió, để ngụ ư việc vua tôi hợp ư với nhau.
2. Đặng mỗ phân: phần đóng góp của ḿnh.
3. Tướng phủ: nơi Tể tướng (Thủ tướng) làm việc, Nguyễn Trăi chưa hề được giao nhiệm vụ tương đương Tể tướng bao giờ cả, chỉ mới Thượng thư là cao nhất, ngang chánh tam phẩm, theo Quan chế đời Lê Thánh Tông là ṭng nhị phẩm, dưới Thượng thư là Thị lang hành chính tam phẩm (Ngô Th́ Nhậm đời Tây Sơn đă giữ chức này). Thời Nguyễn đặt thêm chức Tham tri trên Thị lang hàm ṭng nhị phẩm, nên đưa Thượng thư lên chính nhị phẩm (Nguyễn Du đă từng giữ chức Thanh tri).
Bach Van Phi
03-25-2003, 11:57 AM
4.
Lồng lộng trời tư (1) chút đâu,
Nào ai chẳng đội ở trên đầu.
Song cửa ngọc vân yên cách (2),
Dại ḷng đan (3) nhật nguyệt thâu.
Chim đến cây cao chim nghỉ đỗ,
Quạt hay thu lạnh, quạt sơ thu (4).
Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế,
Ắt đă tṛn bằng nước ở bầu.
------------------------------------
1. Tư: riêng rẽ. Trời: chỉ vua.
2. Song... vân yên: song: cửa sổ, vân yên: mây khói, song cửa ngọc: chỉ nơi vua ở.
3. Dại ḷng đan: dại: cái dại bằng phên kiểu b́nh phong, dùng che nắng mưa trước hiên nhà... ḷng đan (hoặc đón): ḷng son. Dại ḷng đan: chỉ nhà ở của kẻ bề tôi trung nghĩa, đây là nhà Nguyễn Trăi.
4. Sơ thu: dần dần xếp lại, cất đi. Nguyễn Trăi dùng hai từ "thu" khác nhau.
Bach Van Phi
03-25-2003, 11:59 AM
5.
Con cờ khoái (1), rượu đầy bầu,
Đ̣i (2) nước non, chơi quản dầu.
Đạp áng mây, ôm bó củi,
Ngồi bên suối, gác cần câu.
Giang sơn mặt thấy nên quen thuộc,
Danh lợi ḷng nào ước chác (3) cầu.
Vương Chất (4) t́nh cờ ta ướm hỏi,
Diều (5) phơi phới thấy tiên đâu?
-------------------------------
1. Bài này Nguyễn Trăi làm khoảng năm 1431 - 1432 lúc ông ngoài 50 tuổi, sau vụ Trần Nguyên Hăn, Phạm Văn Xảo.
ư thơ trong bài này giống như ư thơ trong bài thơ chữ Hán: Ngục trung tác (tức bài Oán thán). Trong Bạch vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có bài này, mang số thứ tự 59 (xem sách đă dẫn do Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú thích, giới thiệu, Nhà xuất bản Giáo dục, 1989). Nguyễn Bỉnh Khiêm năm 55 tuổi, 56 tuổi xin về hưu, vẫn được vua Mạc trọng vọng, không thể có tâm sự như Nguyễn Trăi.
Khoái:Bản A ghi là khoái (chữ Hán) vốn có 3 nghĩa: sắc sảo, mau chóng, thích thú, c̣n Bản B lại ghi là quải (chữ Hán) nghĩa là quảy (bỏ lên vai mà vác). Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh đều theo Bản B, phiên là quảy. Tôi theo Bản A, v́ khoái, tức nói con cờ đi khoái, nước cờ hay, đối với rượu đầy bầu, chứ con cờ th́ có ǵ mà phải quảy?
2. Đ̣i: đôi nơi.
3. Chác: đánh đổi hàng với hàng, không cần tiền.
4. Vương Chất: nhân sĩ có tài đời Tống (Trung Quốc), ra làm quan, bị gièm pha, bỏ đi tu tiên, rồi mất tích.
5. Diều: Phạm Trọng Điềm phiên là lèo nói là lèo thuyền buồm, không khớp với ư thơ ở đây, nếu nói là lèo diều giấy th́ c̣n có lư, Đào Duy Anh phiên là riều, nói riều trên núi tu tiên, riều th́ không thể phơi phới được, mà gió thả diều mới phơi phới. Đây nói chỉ thấy diều giấy của các trẻ chăn nuôi, mà không thấy tiên đâu cả.
Tieu_long_vuong
04-05-2003, 09:19 PM
Giang Hành
Tây tân sơ nghĩ trạo
Phong cảnh tiện giang hồ
Vũ quá sơn dung sấu
Thiên trường nhạn ảnh cô
Thương Lương hà xứ thị
Ngư điếu hảo vi đồ
Hồi thủ Đông Hoa địa
Trần ai giác dĩ vô
(Ức Trai Thi Tập )
Dịch thơ
Thuyền Đi Trong Sông
Bến tây mái chèo tới
Cảnh dục chí tang bồng
Mưa giội trơ sườn núi
Giời dài rơ cánh hồng
Thương Lương chưa biết tới
Ngư điếu tạm chơi cùng
Ngoảnh lại Đông Hoa cũ
Bụi trần thoáng thấy không
Bản dịch của Hoàng Khôi
Tieu_long_vuong
04-05-2003, 09:20 PM
Hoa Bông Bụt
Ánh nước hoa in một đóa hồng
Vẩn nhơ chẳng bén, bụt là ḷng
Chiều mai nở, chiều hôm rụng
Sự lạ cho hay thuyết sắc không.
Tieu_long_vuong
04-05-2003, 09:23 PM
Quá Thần Phù Hải Khẩu
Thần Phù hải khẩu dạ trung qua
Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà
Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn
Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà
Giang sơn như tạc anh hùng thệ
Thiên địa vô t́nh sự biến đa
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ
Tứ minh ṭng thử tức ḱnh ba
(Trích Ức Trai thi tập)
Dịch thơ
Qua Cửa Bể Thần Phù
Thần Phù qua bến ánh giăng lồng
Gió mát canh khuya cảnh vĩ hùng
Ngh́n ngọn theo bờ , h́nh lá trúc
Một chiều giữa bể uốn thân rồng
Nuớc non như cũ người đâu vắng
Giời đất vô t́nh việc rối bồng
Hồ Việt một nhà may được thấy
Từ nay ḱnh ngạc sạch gịng sông
Bản dịch của Hoàng Khôi
*Thần Phù là tên cửa bể ở huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung (Thanh Hóa), nay đă bị lấp
Tieu_long_vuong
04-05-2003, 09:24 PM
Trong Động Thanh Hư
Trong động Thanh Hư trúc ngàn cây,
Phơi phới thác gieo đá lạnh thay .
Đêm qua trăng sáng trời như nước
Mơ đến tiên cung, cưỡi hac bay
do Kiều Văn dịch
************************
Thanh Hư : thuộc núi Côn Sơn .
Co Kiem Hung
03-28-2004, 02:03 AM
Qui Côn Sơn chu trung tác
Thập niên phiêu chuyển thán bồng b́nh
Qui tứ dao dao nhật tự tinh
Kỉ thác mộng hồn tầm cố lí
Không tương huyết lệ tẩy tiên oanh
Binh dư cân phủ ta nan cấm
Khách lí giang sơn chỉ thử t́nh
Uất uất thốn hoài vô nại xứ
Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh
Nguyễn Trăi
Dịch thơ: Trong thuyền về Côn Sơn cảm tác
Mười năm phiêu giạt than thân bồng bèo
Ḷng muốn về ngày ngày lay động như đuôi cờ
Bao lần nhờ chiêm bao đi t́m làng cũ
Luống đem nước mắt lẫn máu rửa mồ tổ tiên
Sau cơn binh lửa, thương ơi, nạn búa ŕu khó ngăn
Non không đất khách chỉ đeo đẳng mối t́nh này
Tấc ḷng bùi ngùi chẳng biết làm sao
Nằm ở cửa sổ thuyền trăn trở gối đến sáng
Co Kiem Hung
03-28-2004, 02:09 AM
Thu dạ khách cảm (bài 1)
Lữ xá tiêu tiêu tịch tác môn
Vi ngâm tụ thủ quá hoàng hôn
Thu phong lạc diệp ki t́nh tứ
Dạ vũ thanh đăng khách mộng hồn
Loạn hậu phùng nhân phi túc tích
Sầu trung tống mục ngụ càn khôn
Đáo đầu vạn sự giai hư huyễn
Hưu luận Phàm vong dữ Sở tồn (1).
Nguyễn Trăi
Dịch thơ: Đêm thu ở đất khách cảm hoài
Quán trọ đ́u hiu cửa chiếu giăng,
Khoanh tay ngâm khẽ suốt hoàng hôn.
Gió thu lá rụng – t́nh cô lữ,
Mưa tối đèn xanh – khách mộng hồn.
Sau loạn, người trông người mặt lạ,
Trong sầu, mắt gửi ư càn khôn.
Rốt cùng muôn việc đều hư ảo,
Nước mất hay đâu, nước hăy c̣n.
Co Kiem Hung
03-28-2004, 02:14 AM
Mạn hứng (bài 1)
Thế lộ sa đà tuyết thượng điên
Nhất sinh lạc thác cánh kham liên
Nhi tôn chủng phúc lưu tâm địa
Ngư điểu vong t́nh lạc tính thiên
Tảo tuyết chử trà hiên trúc hạ
Phần hương đối án các mai biên
Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng
Nguyệt măn B́nh Than tửu măn thuyền
Nguyễn Trăi
Dịch thơ: Mạn hứng (bài 1)
Tuyết trắng đỉnh đầu vẫn chửa nên,
Một đời luân lạc cảm niềm riêng.
Đất lành vun xới truyền con cháu,
Tánh gốc thong dong vui cá chim.
Đọc sách hương trầm mai cạnh gác,
Nấu trà nước tuyết trúc bên hiên.
Đêm qua núi cũ triền miên mộng,
Trăng ngập đầy sông, rượu ngập thuyền.
Co Kiem Hung
03-28-2004, 02:16 AM
Mạn hứng (ḱ tam)
Ô thố thông thông văn bất lưu
Hồi đầu vạn sự tổng nghi hưu
Không hoa huyễn nhăn miên tiêu lộc (1)
Tục cảnh kinh tâm suyễn nguyệt ngưu (2)
Ải ốc thê thân kham độ lăo
Thương sinh tại niệm độc tiên ưu (3)
Bành thương (4) tang cốc (5) đô hưu luận
Cổ văng kim lai lạc nhất khưu
Nguyễn Trăi
Dịch thơ: Mạn hứng (bài 3)
Vầng ô bóng thỏ níu sao mà,
Nh́n lại muôn điều đáng bỏ qua.
Choáng mắt hư không hươu chuối lấp,
Ghê ḷng trâu suyễn ánh trăng loà.
Mái nghèo nương náu thong dong lăo,
Dân khổ lo toan canh cánh ta.
Yểu thọ, dở hay thôi căi cọ,
Xưa nay chồn cáo một g̣ qua
Chú thích:
(1) Tiêu lộc 蕉鹿: Do điển Tiêu lộc mộng 蕉鹿夢,xưa có người tiều phu nước Trịnh 鄭 bắt được con hươu, đem giấu một nơi, che dưới lá chuối. Sau t́m lại không được, cho rằng ḿnh đă chiêm bao.
(2) Suyễn nguyệt ngưu 喘月牛: Ở miền Giang Hoài 江淮 đất Ngô 吳 có loài trâu rất sợ nắng, thấy trăng lên tưởng là mặt trời, sợ thở hổn hển.
(3) Tiên ưu 先憂: Phạm Trọng Yêm 范仲淹(989-1052): Nhiên tắc hà thời nhi lạc da? Ḱ tất viết: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" 然則何時而樂耶?其必曰: 先天下之憂而憂,後天下之樂而樂 (Nhạc Dương Lâu kí 岳陽樓記) Mà lúc nào mới được vui? Tất đáp rằng: "Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ".
(4) Bành thương 彭殤: Bành là sống lâu, thương là chết non.
(5) Tang cốc 臧穀: Theo sách Trang Tử 莊子 (chương Biền mẫu 駢拇), Tang và Cốc cùng chăn cừu. Tang ham đọc sách, Cốc mê cờ bạc. Cả hai đều đánh mất cừu như nhau.
Co Kiem Hung
03-28-2004, 02:20 AM
Mạn hứng (ḱ ngũ)
Tiểu viện âm âm thạch kính tà
Tiêu nhiên (1) hoạn huống tự tăng gia
Quan t́nh dị khiếp thương cung điểu
Mộ cảnh nan lưu phó hác xà
Mộng giác cố viên tam kính cúc
Tâm thanh hoạt thủy nhất âu trà
Hồi đầu lục thập niên tiền sự
Song mấn tinh tinh lưỡng nhăn hoa
Nguyễn Trăi
Dịch thơ: Mạn hứng (bài 5)
Đường đá chênh chênh, viện nhỏ mờ,
Nhà quan cảnh huống tựa nhà sư.
Quan trường dễ sợ chim cung bắn,
Chiều tối khôn ngăn rắn hố ḅ.
Tỉnh mộng, vườn xưa ba luống cúc,
Sạch ḷng, nước suối một âu trà.
Sáu mươi năm trước quay nh́n lại,
Tóc trắng tinh đầu, mắt đổ hoa.
(1) Tiêu nhiên 翛然: Không chút ǵ bó buộc, tự do tự tại. Trang Tử 莊子 (Đại Tông Sư 大宗師): Tiêu nhiên nhi văng, tiêu nhiên nhi lai dĩ hĩ 翛然而往,翛然而來而已矣。Nhượng Tống dịch: "Phất phơ mà đi, phất phơ mà lại, thế mà thôi" (Trang Tử Nam Hoa kinh, trang 126). Hai chữ tiêu nhiên 翛然 khác với 蕭然,có nghĩa là "tịch mịch, vắng lặng, tiêu điều". Như Đào Uyên Minh 陶淵明 có câu: Hoàn đổ tiêu nhiên, bất tế phong nhật 環堵蕭然,不蔽風日 (Ngũ Liễu tiên sinh truyện 五柳先生傳). Nguyễn Hiến Lê dịch: "Tường vách tiêu điều, không đủ che mưa nắng" (Cổ văn Trung quốc, trang 181).
Co Kiem Hung
03-28-2004, 02:30 AM
Ngẫu thành
Hỉ đắc thân nhàn quan hựu lănh
Bế môn tận nhật thiểu tương qua
Măn đường vân khí triêu phần bách
Nhiễu chẩm tùng thanh dạ thược trà
Tu kỉ đăn tri vi thiện lạc
Trí thân vị tất độc thư đa
B́nh sinh vu khoát chân ngô bệnh
Vô thuật năng y lăo cánh gia
Nguyễn Trăi
Dịch thơ: Ngẫu thành
Thân nhàn lại rỗi việc quan,
Suốt ngày đóng cửa, qua sang ít người.
Trầm sáng đốt, tỏa mây trời,
Nước trà đêm nấu, gối lời thông reo.
Tu thân việc thiện chắt chiu,
Lập thân chưa hẳn đọc nhiều sách đâu.
Viển vông ta bệnh từ lâu,
Thuốc nào chữa được, già đầu nặng thêm.
Co Kiem Hung
03-28-2004, 02:34 AM
Tức hứng
Lăm thuư đ́nh đông trúc măn lâm
Sài môn trú tảo tịnh âm âm
Vũ dư sơn sắc thanh thi nhăn
Lạo thoái giang quang tịnh tục tâm
Hộ ngoại điểu đề tri khách chí
Đ́nh biên mộc lạc thức thu thâm
Ngọ song thuỵ tỉnh hồn vô mị
Ẩn kỷ phần hương lư ngọc cầm
Nguyễn Trăi
Dịch thơ: Cao hứng làm ngay
Lăm Thuư bên đông trúc ngập rừng,
Cửa sài ngày quét sạch lâng lâng.
Sau mưa, núi sáng trong con mắt,
Bớt lụt, sông quang tịnh ư trần.
Ngoài cửa chim kêu, hay khách đến,
Bên sân lá rụng, biết thu thâm.
Song trưa giấc tỉnh, thôi đ̣i mộng,
Tựa ghế, thiêu hương, gảy điệu đàn
Ngao_0p
03-28-2005, 10:03 PM
Trúc
Hoa liễu chiều xuân cũng hữu t́nh,
Ưa mi v́ bởi tiết mi thanh.
Đă từng có tiếng trong đời nữa,
Quân tử, ai chẳng mảng danh?
Danh quân tử, tiếng nhiều ngày,
Bảo khách tri âm mới biết hay.
Huống lại nhưng nhưng sinh biến tục,
Trượng phu tiết cứng khác người thay!
Nguyễn Trăi
Ngao_0p
03-28-2005, 10:05 PM
Tùng
Đống lương tài có mấy bằng mày,
Nhà cả đ̣i phen chống khỏe thay.
Cội rễ bền, dời chẳng động,
Tuyết sương thấy đă đặng nhiều ngày.
Tuyết sương thấy đă đạng nhiều ngày,
Có thuốc trường sinh cành khỏe thay.
Hổ phách, phục linh nh́n mấy biết,
Dành, c̣n để trợ giúp dân này.
Nguyễn Trăi
Ngao_0p
03-28-2005, 10:07 PM
Cúc
Người đua nhan sắc thửa xuân dương,
Nghỉ, chờ thu: cực lạ nhường!
Hoa nhan rằng đeo danh "ẩn dật",
Thức c̣n phô, bạn khách văn chương.
Tính t́nh nào đoái bề ong bướm,
Tiết muộn chẳng nài thủa tuyết sương.
Dầu thấy xuân lan cùng lọn được,
Ai ai đều có mỗi mùi hương.
Nguyễn Trăi
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.