Thien Sat Ma Yeu
11-07-2003, 04:48 AM
Nhà thơ Thu Bồn
Nhà thơ Thu Bồn đặc biệt thành công với thể loại trường ca. Ông viết bằng bản năng, bằng trí tuệ, và bằng cả thực tế sống và chiến đấu trong nhiều năm tháng ở Trường Sơn..
Tiểu sử
Tên thật là Hà Ðức Trọng, sinh ngày 1-12-1935 tại xã Ðiện Thắng, huyện Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hiện sống ở thôn Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Ði bộ đội năm mười một tuổi, thiếu sinh quân đơn vị biệt động chiến đấu. Trong thời chống Mỹ cứu nước làm phóng viên chiến trường Liên khu V sau về công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Làm thơ viết văn viết báo với bút danh Hà Ðức Trọng, Bờ Lốc, Thu Bồn.
Là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ miền trung Trung Bộ và ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV.
Tác phẩm chính
Bài ca chim Chơ Rao (Trường ca, NXB Văn học, 1965); Tre xanh (thơ, NXB Giải phóng, 1965); Mặt đất không quên (thơ, NXB Giải phóng, 1970); Quê hương mặt trời vàng (Trường ca, NXB Ðà Nẵng); Ba-dan khát (Trường ca, NXB Thanh niên, 1976); Cam-pu-chia hy vọng (Trường ca, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1978); O Ran 76 ngọn (Trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1979); Người vắt sữa bầu trời (Trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1985); Thông điệp mùa xuân (Trường ca, NXB Ðà Nẵng, 1985); 100 bài thơ tình nhờ em đặt tên (Thơ, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1992); Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1999); Trường ca tuyển tập (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1999); Chớp trắng (Tiểu thuyết, NXB Giải phóng, 1970); Những đám mây mầu cánh vạc (tiểu thuyết, 2 tập, NXB Thanh niên, 1975); Hòn đảo chân ren (Tiểu thuyết, NXB Kim Ðồng, 1972); Dòng sông tuổi thơ (Tiểu thuyết, NXB Kim Ðồng, 1973); Ðỉnh núi (Tiểu thuyết, NXB Thanh niên, 1986); Mắt bồ câu và rừng phi tiển (Tiểu thuyết, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1986); Vùng pháo sáng (Tiểu thuyết, NXB Thuận Hóa, 1986); Cửa ngõ miền tây (Tiểu thuyết, NXB Giao thông, 1986); Em bé vào hang cọp (Tiểu thuyết, 2 tập, thiếu nhi, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1986); Em bé trong rừng thốt nốt (Truyện vừa, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1979); Dưới tro (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 1986).
Giải thưởng
Giải thưởng Báo Thống Nhất - 1960; Giải thưởng Nguyễn Ðình Chiểu - 1965; Giải thưởng LOTUS Hội Nhà văn á Phi - 1973; Giải thưởng Báo Hà Nội - 1969; Giải thưởng Phan Chu Trinh Quảng Nam Ðà Nẵng - 1975.
Tự Bạch
Hoa hồng nói với mặt trời rằng tôi yêu cả bốn mùa nên lúc nào tôi cũng nở để dâng Người những đóa hồng thơm.
Hoa mai nói với mùa đông ta không thể nào làm theo những lời năn nỉ của người xin ta những đóa hoa để làm nắng sớm vì ta giữ lời hứa chỉ nở hết mình cho một mùa xuân.
Chàng trai nói với người yêu rằng tôi làm lụng suốt tháng năm suốt đêm ngày dành dụm bao nhiêu vàng bạc để có ngày cưới em. Nhà thơ nói với nhân loại rằng ta vắt hết óc hòa với máu trái tim để làm nên những vần thơ cho đời.
Con ong nói với hoa tôi bay khắp rừng cây hút nhụy ngàn hoa để làm nên mật ngọt.
Con tằm nói với khung cửi tôi ăn bao nhiêu lá dâu xanh để rút từ ruột ra những sợi tơ vàng.
Họa Mi bật cười bay lên nói với hết thảy muôn loài: Tôi chẳng có cái gì để tự bạch - nhưng hãy nghe tôi hót!
Suối Lồ ồ, 10-1997
Nhà thơ Thu Bồn đặc biệt thành công với thể loại trường ca. Ông viết bằng bản năng, bằng trí tuệ, và bằng cả thực tế sống và chiến đấu trong nhiều năm tháng ở Trường Sơn..
Tiểu sử
Tên thật là Hà Ðức Trọng, sinh ngày 1-12-1935 tại xã Ðiện Thắng, huyện Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hiện sống ở thôn Nội Hóa, xã Bình An, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Ði bộ đội năm mười một tuổi, thiếu sinh quân đơn vị biệt động chiến đấu. Trong thời chống Mỹ cứu nước làm phóng viên chiến trường Liên khu V sau về công tác ở Tạp chí Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Làm thơ viết văn viết báo với bút danh Hà Ðức Trọng, Bờ Lốc, Thu Bồn.
Là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ miền trung Trung Bộ và ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV.
Tác phẩm chính
Bài ca chim Chơ Rao (Trường ca, NXB Văn học, 1965); Tre xanh (thơ, NXB Giải phóng, 1965); Mặt đất không quên (thơ, NXB Giải phóng, 1970); Quê hương mặt trời vàng (Trường ca, NXB Ðà Nẵng); Ba-dan khát (Trường ca, NXB Thanh niên, 1976); Cam-pu-chia hy vọng (Trường ca, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1978); O Ran 76 ngọn (Trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1979); Người vắt sữa bầu trời (Trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1985); Thông điệp mùa xuân (Trường ca, NXB Ðà Nẵng, 1985); 100 bài thơ tình nhờ em đặt tên (Thơ, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1992); Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1999); Trường ca tuyển tập (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1999); Chớp trắng (Tiểu thuyết, NXB Giải phóng, 1970); Những đám mây mầu cánh vạc (tiểu thuyết, 2 tập, NXB Thanh niên, 1975); Hòn đảo chân ren (Tiểu thuyết, NXB Kim Ðồng, 1972); Dòng sông tuổi thơ (Tiểu thuyết, NXB Kim Ðồng, 1973); Ðỉnh núi (Tiểu thuyết, NXB Thanh niên, 1986); Mắt bồ câu và rừng phi tiển (Tiểu thuyết, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1986); Vùng pháo sáng (Tiểu thuyết, NXB Thuận Hóa, 1986); Cửa ngõ miền tây (Tiểu thuyết, NXB Giao thông, 1986); Em bé vào hang cọp (Tiểu thuyết, 2 tập, thiếu nhi, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1986); Em bé trong rừng thốt nốt (Truyện vừa, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1979); Dưới tro (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 1986).
Giải thưởng
Giải thưởng Báo Thống Nhất - 1960; Giải thưởng Nguyễn Ðình Chiểu - 1965; Giải thưởng LOTUS Hội Nhà văn á Phi - 1973; Giải thưởng Báo Hà Nội - 1969; Giải thưởng Phan Chu Trinh Quảng Nam Ðà Nẵng - 1975.
Tự Bạch
Hoa hồng nói với mặt trời rằng tôi yêu cả bốn mùa nên lúc nào tôi cũng nở để dâng Người những đóa hồng thơm.
Hoa mai nói với mùa đông ta không thể nào làm theo những lời năn nỉ của người xin ta những đóa hoa để làm nắng sớm vì ta giữ lời hứa chỉ nở hết mình cho một mùa xuân.
Chàng trai nói với người yêu rằng tôi làm lụng suốt tháng năm suốt đêm ngày dành dụm bao nhiêu vàng bạc để có ngày cưới em. Nhà thơ nói với nhân loại rằng ta vắt hết óc hòa với máu trái tim để làm nên những vần thơ cho đời.
Con ong nói với hoa tôi bay khắp rừng cây hút nhụy ngàn hoa để làm nên mật ngọt.
Con tằm nói với khung cửi tôi ăn bao nhiêu lá dâu xanh để rút từ ruột ra những sợi tơ vàng.
Họa Mi bật cười bay lên nói với hết thảy muôn loài: Tôi chẳng có cái gì để tự bạch - nhưng hãy nghe tôi hót!
Suối Lồ ồ, 10-1997