PDA

View Full Version : Nguyễn Du



mickey
09-11-2003, 12:24 AM
Giới thiệu Bắc Hành Tạp Lục (BHTL)


Bắc Hành Tạp Lục (BHTL) gồm 132 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du sáng tác trong ṿng 1 năm, từ tháng hai đến tháng chạp năm Quư Dậu (1813) khi ông cầm đầu một phái đoàn sang sứ Trung Quốc. Mở đầu quyển là bài cảm tác khi trở ra Thăng Long để lên đường sang Trung Quốc. Bài cuối làm khi trở về đến Vơ Xương (Hồ Bắc), từ đó lên thuyền trở về, nên không có đề tài ngâm vịnh nữa. Thơ ghi chép những điều trông thấy, những cảm nghĩ dọc đường.

Đường đến Yên Kinh đă dài, khi về phải tránh giặc giă mà đi ṿng sang phía đông, rồi trở lại Vũ Hán, nên nhà thơ đă đi qua nhiều tỉnh: Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Giang Tô, An Huy và trở lại con đường cũ.

Nguyễn Du

mickey
09-11-2003, 12:25 AM
I

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan băo tử
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Núi Tản sông Lô bao nhiêu năm vẫn thế
Đầu đă bạc (1) rồi mà lại thấy Thăng Long
Những ngôi nhà đồ sộ ngày xưa nay đă thành đường cái quan.
Dăi thành mới làm mất cung điện xưa
Các mỹ nhân ngày trước giờ đă có con bồng
Các bạn hào hiệp thuở xưa giờ đă thành ông
Suốt đêm nghĩ ngơi, thao thức không ngủ
Văng vẳng nghe tiếng sáo trong ánh trăng

----------------------------------------------------
(1) Bạch đầu : Chữ bạch đầu này dùng để nói tuổi già. Bởi Nguyễn Du rời Thăng Long lúc nhà Lê mất (1789). Lúc ấy Nguyễn Du mới 25 tuổi. Đến khi Gia Long lên ngôi (1802) Nguyễn Du từ Hà Tĩnh ra Thăng Long làm quan. Lúc ấy Nguyễn Du 37 tuổi. Đến khi vâng mệnh đi sứ Trung Hoa (1813), Nguyễn Du đến Thăng Long một lần nữa. Bài thơ này làm lúc ra Thăng Long để sang Trung Quốc. Lúc đó Nguyễn Du đă gần ngũ tuần. Cho lên mới nói Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.


Dịch Thơ
Thăng Long bài I

Núi Tản sông Lô vẫn núi sông
Bạc đầu c̣n được thấy Thăng Long
Ngh́n năm cự thất thành quan lộ
Một giải tân thành lấp cố cung
Người đẹp buổi xưa đều bế trẻ
Bạn chơi thưở nhỏ thảy thành ông
Thâu đêm chẳng ngủ ḷng thêm bận
Địch thổi trăng trong tiếng năo nùng

Bản dịch: Quách Tấn

mickey
09-11-2003, 12:25 AM
II

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quí cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Mảnh trăng ngày trước soi xuống ngôi thành mới (thàng Thăng Long vừa được xây lại năm 1805).
Đây vẫn là Thăng Long, đế kinh của các triều vua xưa.
Đường xá dọc ngang, xóa mất dấu vết cũ.
Tiếng đàn sáo cũng đổi khác, lẫn nhiều âm thanh mới.
Ngh́n năm phú quư vẫn làm mồi cho sự tranh đoạt.
Bạn bè lúc nhỏ, kẻ c̣n người mất.
Thôi, đừng than thở cho cảnh đời ch́m nổi.
Mái tóc ta đây cũng bạc rồi.

Dịch Thơ
Thăng Long bài II

Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ
Thăng Long ngh́n trước chốn kinh đô
Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa
Điệu mới xô bồ nhịp trúc tơ
Danh lợi mồi ngon đua cướp giựt
Bạn bằng lớp trước sống lơ thơ
Nổi ch́m thế sự đừng than nữa
Mái tóc ḿnh đây cũng bạc phơ

Bản dịch: Quách Tấn

mickey
09-11-2003, 12:29 AM
Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc qui lai kỷ cá tri
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hỉ nan thu thủy
Đoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả liên do trước khứ thời y


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Sau buổi loạn lạc, nhân vật nơi chốn phồn hoa đă khác xưa.
Con chim hạc đen bay trở lại, nào mấy ai biết? (1)
Ta từng nghe giọng ca uyển chuyển của nàng lúc xưa mặc áo hồng. (2)
Nay đầu đă bạc, mới gặp lại nhau, nghe nàng than thở nỗi lưu ly.
Chậu nước đă đổ rồi, khó ḷng vét lại. (3)
Thương cho ngó sen đă đứt mà tơ vẫn c̣n vương.
Nghe nói nàng đă có chồng và đă có ba con.
Ái ngại thay nàng vẫn phải mặc cái áo xưa (vẫn làm ca cơ).

------------------------------------------

Gia đệ : Em, có thể là em cùng mẹ, mà cũng có thể là em khác me. Đây có thể chỉ người em cùng mẹ là Nguyễn Úc được tập ấm là Hoàng Tín đại phu Trung Thành Môn Vệ Úy. Năm Kỷ Dậu (1789) vua Chiêu Thống chạy sang Tàu, Nguyễn Úc chạy theo không kịp, về ngụ nơi quê vợ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Năm Tân Vị (1811), Gia Long nghe ông có tài khéo, xuống chiếu triệu vào kinh, bổ làm Thiêm Sự bộ Công, tước Hầu. Những miếu điện ở kinh thành đều do ông sáng chế kiểu thức.

(1) Chim hạc đen: Truyền rằng hạc vốn sắc trắng, tu ngh́n năm thành sắc vàng, tu ngh́n năm nữa ra sắc đen. Câu này ư nói, xa Thăng Long lâu này nay mới trở lại.

(2) Hồng tụ: Tay áo hồng, chỉ áo đào hát thường mặc.

(3) Phúc bồn : Chậu nước đổ. Tục có câu : "Phúc thủy nan thâu" nghĩa là nước đổ rồi khó hốt lên được. Ư nói là người ca cơ đă xa em ḿnh rồi không sao tụ hợp đuợc nữa.

Dịch Thơ
Gặp lại người ca cơ cũ của em

Loạn rồi nhân vật đổi thay,
Phồn hoa chốn cũ ai hay hạc về.
Áo hường tưởng dạng cung Nghê,
Tiếng ca uyển chuyển từng nghe những ngày.
Tuổi già gặp lại nhau đây,
Bước đường lưu lạc lệ đầy thương đau.
Đă đành nước đổ khôn thâu,
Than ôi ! Ngó đứt dễ dầu dứt tơ!
Có chồng đă mấy con thơ,
Áo hường ngày cũ bây giờ c̣n mang!

Bản dịch: Quách Tấn

mickey
09-11-2003, 12:30 AM
Long thành giai nhơn
Bất kư danh tự
Độc thiện huyền cầm
Cử thành chi nhơn dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhơn gian đệ nhất thanh
Dư tại thiếu niên tằng nhứt kiến
Giám Hồ hồ biên dạ khai yến
Thử thời tam thất chánh phương niên
Xuân phong yểm ánh đào hoa diện
Đà nhan hám thái tối nghi nhơn
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoăn như luơng phong độ tùng lâm
Thanh như chích hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch
Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
Tận thị Trung Ḥa Đại Nội âm
Tây Sơn chư thần măn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ư khí lăng công hầu
Ngũ lăng niên thiếu bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoán thủ Trường an vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiên (kiến)
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng măi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhứt nhơn phát bán hoa
Nhan xú thần khô h́nh lược tiểu
Lang tạ tàn my bất sức trang
Thùy tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhứt điệu
Cựu khúc tân thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mănh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi
Thành quách suy di nhơn sự cải
Kỷ độ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong
Ca vũ không lưu nhứt nhơn tại
Thuấn tức bách niên tằng kỷ th́
Thương tâm văng sự lệ triêm y
Nam hà quy lai đầu tận bạch
Quái để giai nhơn nhan sắc suy
Song nhăn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri


Nguyễn Du

Dịch Thơ
Chuyện người gảy đàn ở Thăng Long

Thành Thăng Long nhớ từ thửa nọ
Bậc giai nhân tên họ ai hay
Đàn cầm thánh thoát mấy dây
Khắp thành quen miệng gọi ngay Nàng Cầm
“Cung Phụng khúc” xưa ngâm trong Nội
Phổ nên chương tiếng nổi một thời
Nhớ ngày đương độ vui chơi
Giám hồ yến tiệc gặp người tài hoa
Tuổi hăm mốt nơn nà lộng lẫy
Gió xuân êm hây hẩy bông đào
Men tô duyên năo nùng sao
Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời
Theo tay ngọc ḷng người ủ rũ
Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man
Khoan như gió lướt thông ngàn
Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương
Mạnh như sấm phũ phàng xé đá
Tiến Phúc bia nổ phá ầm ầm
Buồn như khúc Việt ai ngâm
Nỗi ḷng Trang Tích âm thầm mà đau
Điệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi
Chính khúc này đại nội triều xưa
Tây Sơn quân tướng thẫn thờ
Ngả nghiêng đến sáng c̣n chưa thỏa ḷng
Quăng lụa thưởng tây đông tíu tít
Vàng tựa bùn cứ việc vung tay
Công hầu hào khí đua say
Ngũ lăng niên thiếu một bày sá chi
Dạo khúc xuân diễm kỳ lả lướt
Băm sáu cung thánh thót xinh xinh
Tràng An treo ngọc liên thành
Phẩm cao vô giá, tài t́nh riêng ai
Thoảng hai chục năm trời từ đấy
Tây Sơn thua, ta trẩy Nam Hà
Long Thành gang tấc c̣n xa
Điệu xưa nhớ mấy cũng là đành thôi
Tuyên phủ sứ lại mời dự tiệc
Thiếu chi người mày biếc má hồng
Cuối bàn phảng phất năo nùng
Một nàng đầu tóc h́nh dung bơ phờ
Ḿnh gầy vơ mày thưa duyên nhạt
Ai biết nàng oanh liệt xưa kia
Khúc đâu lệ chảy đầm đ́a
Khiến người nghe những đê mê xót thầm
Chợt nhớ lại bao năm chuyện cũ
Từng bên ai vui thú hồ xưa
Thành tàn duyên cũng xác xơ
Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh
Rồi một sớm bại thành là thế
Cảm khúc ca trời để một người
Trăm năm một thoáng bao dài
Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau
Ở Nam về, mái đầu đă bạc
Người đẹp xưa cũng khác h́nh xưa
Giương đôi mắt ngó mà mơ
Thảm thay ai biết bây giờ là ai

bản dịch: Học Canh

mickey
09-11-2003, 12:30 AM
Liên phong cao sáp nhập thanh vân
Nam bắc quan đầu tựu thử phân
Như thử hữu danh sinh tử địa
Khả liên vô số khứ lai nhân
Tắc đồ tùng măng tàng xà hổ
Bố dă yên lam tụ quỉ thần
Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt
Kỳ công hà thủ Hán Tướng quân

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Núi liên tiếp, cao vút tận mây xanh.
Nam bắc chia ranh giới ở chỗ này
Là nơi nổi tiếng nguy hiểm đến tính mạng.
Thương thay, bao nhiêu ngướ vẫn phải đi về qua đây.
Bụi gai lấp đường, măng xà, hổ tha hồ ẩn nấp.
Khí độc đầy đồng, quỷ thần mặc sức tụ họp.
Từ thuở xa xưa, gió lạnh đă thổi bao đống xương trắng.
Chiến công của tướng nhà Hán (1) có ǵ đáng khen!

--------------------------------------
Quỉ Môn quan : Ở phía Nam xă Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn. Địa thế hiểm trở. Có núi h́nh như đầu quỉ. Do đó mà mệnh danh là Quỉ Môn quan. Cổ thi có câu :

Quỉ Môn quan ! Quỉ Môn quan !
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn

Người Việt đi sứ Trung Quốc có câu :

Rạng ngày đến Quỉ Môn quan
Tiếng xưa "thập khứ nhất hoàn' là đây

(1) Hán Tướng quân : Chỉ Mă Viện. Mă Viện đem quân đánh hai bà Trưng, tuy đắc thắng nhưng quân lính chết dọc đường không biết bao nhiêu. Như thế có ǵ là chiến công đắng khen ngợi. Cũng có ư nói : Kỳ công của tướng quân nhà Hán không có chi hơn là "đống xương trong gió lạnh bên đường. "


Dịch Thơ
Ải Quỷ Môn

Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây,
Ải chia Nam Bắc chính là đây.
Tử sanh tiếng đă vang đồng chợ,
Qua lại người không ngớt tháng ngày.
Thấp thoáng quỉ đầu nương bóng khói,
Rập ŕnh cọp rắn núp rừng cây.
Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,
Hán tướng công ǵ kể bấy nay?

Bản dịch: Quách Tấn

mickey
09-11-2003, 12:31 AM
Quần phong dũng lăng thạch minh đào
Giao hữu u cung, quyên hữu sào
Tuyền thủy hợp lưu giang thủy khoát
Tử sơn bất cập mẫu sơn cao
Đoàn thành vân thạch tịch tương hậu
Hồng lĩnh thân bằng nhật tiệm dao
Quái đắc nhu t́nh khinh cát đoạn
Khuông trung huề hữu bút như đao


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Núi non trập trùng, gió thổi vào đá, nghe như sóng vỗ.
Ở đây, thuồng luồng có hang kín, đỗ quyên cũng có tổ.
Nước suối ở đây hợp lại thành sông rộng.
Núi con không cao bằng núi mẹ.
Mây đá Đoàn thành chiều hôm nay như có ư đợi ta.
Thân bằng cố hữu ở núi Hồng Lĩnh càng ngày càng xa cách.
Quái lạ, nỗi nhớ nhung lại dễ cắt đứt.
Khi tráp có ngọn bút thay đao (để khuây khỏa).

------------------------------------------
Lạng thành: Lạng sơn.

Dịch Thơ
Trên đường đi Lạng thành

Núi trập trùng, sóng kêu trên đá
Tổ nương chim, hang đă có rồng
Suối gom ḍng nhỏ thành sông
Núi con đọ núi Mẹ không cao bằng
Chiều Lạng Sơn, mây giăng đá ngóng
Hồng Lĩnh thân sao chóng cách xa
Lạ chưa, dứt nhẹ t́nh nhà
Đoạn sầu ngọn bút theo ta bạn đường ...

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 12:32 AM
Táp niên cố hữu trùng phùng nhật
Vạn lư tiền đồ nhất xúc sơ
Đạo lộ nhật lai t́nh vị cánh
Vân sơn biệt hậu ư hà như
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
Lăo hỷ toàn thân bách chiến dư
Tha nhật Nam qui tương hội phỏng
Lục Đầu giang thượng hữu tiều ngư


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Ngày gặp lại người bạn cũ của ba mươi năm trước.
Cũng là ngày tôi bắt đầu cuộc hành tŕnh vạn dặm.
Chưa kể hết những nỗi dọc đường những ngày gần đây.
Sau khi chia tay nhau ở chốn núi mây, ư bạn ra sao ?
Hai ta chia tay nhau ngoài cửa quan, ḷng buồn khôn xiết.
Anh trải qua trăm trận đánh, thân thể vẹn toàn,nhưng nay đă già rồi.
Sau này trở về nước, gặp lại anh, hỏi thăm nhau.
Chắc bây giờ trên sông Lục Đầu, anh đă là một bác tiều phu, hay người đánh cá, cũng chưa biết chừng!

------------------------------------
Cựu khế Hoàng: Người bạn cũ họ Hoàng, không rơ tên. Theo bài thơ th́ ông này chắc quê ở tỉnh Hải Hưng, bấy giờ làm quan ở Lạng Sơn và chắc có lẽ là ông quan vơ.


Dịch Thơ
Từ biệt bạn cũ họ Hoàng

Ba mươi năm cũ gặp đây,
Lên đường vạn dặm cũng ngày tôi đi.
T́nh thâm ơi, biết nói ǵ,
Núi mây ly biệt ư th́ ra sao ?
Muôn trùng quan ải tay chào,
Mừng người bách chiến không sao tuổi già.
Về Nam mai mốt lân la,
Lục Đầu bến nước hỏi tra ngư tiều.

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 12:33 AM
Lư Trần cựu sự diểu nan tâm
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim)
Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Việc cũ đời Lư, Trần xa xôi khó biết.
Chỉ biết cửa ải này có đến ngày nay đă ba trăm năm.
Bức thành lẻ loi phân chia hai nước,.
Cửa ải hùng vĩ đứng trấn giữa muôn ngh́n núi non.
Cách xa nhau, thường có những lời đồn đăi không đích xác, dễ hiểu lầm.
Gần trời mới biết ơn mưa móc thấm sâu dường nào.
Quay đầu trông về cửa khuyết ở ngoài tần mây biếc.
Bên tai c̣n nghe văng vẳng tiếng nhạc quân thiều.


Dịch Thơ
Trấn Nam Quan

Việc Lư Trần xa xưa khó xét,
Ba trăm năm trước đến ngày nay.
Ngăn chia hai nước, thành c̣n đó,
Hùng tráng muôn non, cửa vẫn đây.
Đất xa hay nghe đồn chuyện nhảm,
Trời gần mới biết đội ơn dầy.
Trông về cửa khuyết ngoài mây biếc,
Văng vẳng quân thiều tiếng nhạc bay.

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

mickey
09-11-2003, 12:33 AM
Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan
Vạn lư đan xa độ Hán quan
Nhất lộ giai lai duy bạch phát
Nhị tuần sở kiến đăn thanh san
Quân ân tự hải hào vô báo
Xuân vũ như cao cốt tự hàn
Vượng đạo đăng b́nh hưu vấn tấn
Minh Giang bắc thướng thị Trường An

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Chiếu của nhà vua từ tầng mây năm sắc ban xuống (1)
Trên đường muôn dặm, chiếc xe lẻ loi vượt Hán quan. (2)
Suốt dọc đường cùng ta chỉ có mái tóc bạc
Cả hai mươi ngày chỉ thấy một màu núi xanh
Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp
Mưa xuân như mỡ lạnh buốt xương
Đường cái quan rộng răi bằng phẳng, thôi hỏi thăm chi nữa
Theo ḍng Minh Giang (3) lên hướng bắc, ấy là Trường An (4)
---------------------------------------
(1)Ngọc thư : Sắc chiếu nhà vua. Ngũ vân đoan: mây năm sắc. Ư nói lệnh đi sứ.
(2) Hán quan : Cửa ải trên đường sang Trung quốc. Tức trấn Nam Quan
(3) Minh Giang : Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Đông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.
(4) Trường An: tức Yên Kinh (Bắc Kinh). Trường An chỉ là tiếng nói kinh đô nói chung.

Dịch Thơ
Trên đường Nam Quan

Tầng mây năm sắc chiếu vua ban
Muôn dặm xe đơn vượt Hán quan
Một mạch đường dài trơ tóc bạc
Hai mươi ngày mỏi rặt non xanh
Mưa xuân như mỡ, xương thêm buốt
Ơn nước bằng trời, nợ nặng mang
Rộng phẳng đường vua thôi thắc mắc
Minh Giang lên bắc ấy Trường An

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 12:34 AM
Triệt dạ la thanh bất tạm đ́nh
Cô đăng tương đối đáo thiên minh
Kinh tuần khứ quốc tâm như tử
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh
Sơn lộc tích nê thâm một mă
Khê tuyền phục quái lăo thành tinh
Khách t́nh chí thử dĩ vô hạn
Hựu thị Yên sơn vạn lư hành

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Suốt đêm, tiếng thanh la không ngớt.
Ta ngồi bên ngọn đèn cô đơn cho đến sáng.
Xa nước mấy tuần, ḷng như chết.
Dọc đường gặp toàn người lạ.
Ở chân núi bùn ngập đến bụng ngựa.
Quái vật ẩn nấp hai bên bờ suối lâu ngày đă thành tinh.
Đến đây, t́nh cảm người viễn khách đă vô hạn rồi.
Huống chi cuộc hành tŕnh đến Yên sơn (kinh đô) c̣n vạn dặm.

Dịch Thơ
Trạm nghỉ chân tức sự

Suốt đêm tiếng lệnh giục không ngơi,
Đối ngọn đèn hiu đến sáng trời.
Xa nước mấy tuần ḷng tựa chết,
Dọc đường toàn gặp khách quê người.
Bùn khe đọng lại lút ḿnh ngựa,
Ma quái thành tinh khắp mọi nơi.
T́nh cảnh khách xa đây khó tả,
Yên kinh muôn dặm bước đường dài.

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

mickey
09-11-2003, 12:35 AM
Lục thập lăo nhân cân lực suy
Cứ an bị giáp tật như phi
Điện đ́nh chỉ bác quân vương tiếu
Hương lư ninh tri huynh đệ bi
Đồng trụ cận năng khi Việt nữ
Châu xa tất cánh lụy gia nhi
Tính danh hợp thướng Vân đài họa
Do hướng Nam trung sách tuế th́

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Miếu thờ Mă Viện ở Giáp thành

Người già tuổi sáu mươi th́ gân sức suy.
Ông c̣n mặc giáp nhảy lên ngựa nhanh như bay.
Chỉ chuốc một nụ cười của nhà vua nơi cung điện.
Đâu biết anh em nơi quê hương thương xót cho ông! (1)
Cột đồng chỉ dối được đàn bà con gái Việt. (2)
Chứ như xe ngọc châu chở về, thị lại để lụy cho con cháu ông. (3)
Tên tuổi ông (đáng lẽ) được ghi nơi bức họa Vân Đài. (4)
Sao lại đ̣i nước Nam hằng năm phải cúng tế? (5)
---------------------------------------------------
Giáp thành : Nơi ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.
Mă Phục Ba : Tên Mă Viện hiệu phục ba tướng quân, 60 tuổi c̣n đi đánh giặc lập công. Vua thương tuổi cao không nỡ cho đi, Mă Viện liền mặc áo giáp nhảy lên yên ngựa tỏ ra ḿnh c̣n khỏe mạnh. Vua cười nói : Ông này quắc thước lắm.
(1) Huynh đệ bi : Người em họ Mă Viện là Thiếu Du thấy Mă Viện ham lập công danh, thường than rằng chỉ mua lấy khổ cho thân.
(2) Đồng trụ : Truyền rằng Mă Viện sau khi thắng hai bà Trưng, dựng trụ đồng ở địa phận Quảng Tây.
(3) Lụy gia nhi : Ở Giao Chỉ về, sau khi thắng trận, Mă Viện có chở theo một xe hạt ư dĩ để chữa bệnh tê thấp. Khi Mă Viện chết, có người tố cáo với vua rằng Mă Viện chở một xe châu báu về làm của riêng. Vua giận. Vợ con sợ hăi không dám đưa thi hài về quê, phải chôn ở phía Tây kinh thành.
(4) Vân Đài : Đài mây. Vua Hán Quang Vũ cho lập một đài cao, gọi là Vân Đài, và truyền vẽ tượng 28 vị công thần treo nơi đài để tuyên công.
(5) Sách tuế th́ : Sau khi Mă Viện chết rồi vua Trung Quốc bắt dân Việt lập đền thờ. Đền ở Giáp là một.


Dịch Thơ
Miếu thờ Mă phục ba ở Giáp Thành

Người sáu mươi kém suy gân sức,
Ông lẹ làng mặc giáp lên yên.
Cung rồng chuốc một tiếng khen,
Quê hương đâu biết nỗi phiền người thân!
Sợ cột đồng riêng phần Việt nữ,
Dèm xe châu để lụy gia nhi.
Đài mây công cán không ghi,
Trời Nam muôn dặm mắc ǵ khói hương ?

Bản dịch: Quách Tấn

mickey
09-11-2003, 12:36 AM
Tiêu cổ đông đông sơ xuất môn
Vạn sơn trung đoạn nhất sà bôn
Phù vân sạ tán thạch dung sấu
Tân lạo sơ sinh giang thủy bồn
Biệt hậu quan sơn tư đệ muội
Vọng trung nham tụ kiến nhi tôn
Nhật tà mạc hướng Hoa Sơn quá
Phạ hữu thanh thanh trường đoạn vôn (viên)

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Vừa ra khỏi cửa, tiếng tiêu, tiếng trống nổi lên ầm ầm.
Một chiếc thuyền vút nhanh giữa muôn ngọn núi.
Mây vừa tan, núi trông có vẻ gầy.
Lụt mới về, nước sông đụt ngầy.
Sau lúc chia biệt chỗ quan san, đă nhớ đến em trai, em gái
Nh́n giữa đá núi, tưởng chừng thấy con cháu
Lúc mặt trời xế bóng, đừng đi qua Hoa Sơn
Sợ nghe tiếng vượn kêu buồn đứt ruột

---------------------------------------------
Minh Giang : Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Đông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa. Đoàn sứ Nguyễn Du đi theo sông này qua núi Hoa Sơn, thuộc tỉnh Quảng Tây, lên phía bắc.



Dịch Thơ
Thuyền ra đi trên sông Minh

Chiêng trống thùng thùng ra cửa sông
Một thuyền lướt sóng giữa muôn trùng
Mây tan bất chợt hao gầy núi
Nước lụt mới về vẩn đục ḍng
Dặm biệt, anh em đà tưởng nhớ
Đá chồng, con cháu cứ ngờ trông
Hoa Sơn chớ vượt khi chiều xế
Sợ vẳng bên tai vượn năo nùng

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 12:37 AM
Việt Tây sơn trung đa giản tuyền
Thiên niên hợp chú thành nhất xuyên
Tự cao nhi hạ như bát thiên
Than thượng hà sở văn?
Ưng long kích nộ lôi điền điền
Than hạ hà sở kiến?
Nỗ cơ kịch phát thỉ ly huyền
Nhất tả vạn lư vô đ́nh yên
Cao sơn giáp ngạn như tường viên
Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên
Hữu như long, xà, hổ, báo, ngưu, mă la kỳ tiền
Đại giả như ốc, tiểu như quyền
Cao giả như lập, đê như miên
Trực giả như tẩu, khúc như tuyền
Thiên h́nh vạn trạng nan tận ngôn
Giao ly xuất một thành trùng uyên
Dũng đào phún mạt nhật dạ tranh hôi huyền
Hạ lạo sơ trướng phí như tiên
Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền
Tâm huyền huyền đa sở úy
Nguy hồ đăi tai cốt một vô để
Cộng đạo Trung Hoa lộ thản b́nh
Trung Hoa đạo trung phù như thị
Oa bàn khuất khúc tự nhân tâm
Nguy vong khuynh phúc giai thiên ư
Cao tài mỗi vị văn chương đố
Nhân nhục tối vi ly mị hỷ
Phong ba na đắc tận năng b́nh
Trung tín đáo đầu vô túc thị
Bất tín "xuất môn giai úy đồ"
Thí vọng thao thao thử giang thủy

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Trong núi miền Việt Tây có nhiều khe suối
Ngh́n năm hợp lại thành một sông
Như nước rót xuống từ trời cao
Trên thác nghe thấy ǵ ?
Rồng hiện giận dữ, sấm động ầm ầm
Máy nỏ bật mạnh, tên vút khỏi dây
Một ḍng vạn dặm không ngừng
Núi cao bên bờ như bức tường
Trong có đá h́nh thù kỳ dị chen chúc
Như rồng, rắn, hổ, báo, trâu, ngựa la liệt trước phía trước
Lớn như nhà, nhỏ bằng nắm tay
Cao như đứng, thấp như ngủ
Thẳng như chạy, cong như xoay ṿng
Muôn h́nh vạn trạng khó nói hết
Thuồng luồng, ly long ra vào thành vực thẳm
Sóng vỗ bọt phun ngày đêm ầm ĩ
Lụt mùa hè vừa dâng nước sôi sục
Đi một mạch ba ngày, ḷng chơi vơi
Ḷng chơi vơi v́ sợ hăi
Thiệt là nguy hiểm ch́m sâu không đáy
Mọi người đều nói đường đi Trung Hoa bằng phẳng
Đường Trung Hoa như thế này ư !
Sâu hiểm quanh co như ḷng người
Nguy vong nghiêng đổ đều do ư trời
Tài cao thường bị văn chương ganh ghét
Thịt người là thứ ma quỷ thích nhất
Sóng gió làm sao yên cho hết
Giữ trung tín rốt cuc không đủ cậy nhờ (1)
Ai không tin rằng "ra ngoài cửa mọi đường đều đáng sợ"
Th́ hăy thử nh́n nước sông cuồn cuộn đó
-------------------------------------------
Ninh Minh Giang : Tức Minh Giang, khi chảy qua huyện Ninh Minh th́ gọi là Ninh Minh giang.

(1) Lấy tích Đường Giới, người thời Tống, tính t́nh cương trực, phải biếm đi nơi hẻo lánh. Khi thuyền qua sông Hoài, sóng to gió lớn. Ông ngồi ngay ngắn đọc câu thơ:

B́nh sinh thượng trung tín
Kim nhật nhiệm phong ba!
(Ngày thường giữ ḷng trung tín,
Bây giờ (th́) mặc sóng gió!)

Nhà thơ dùng điển này, nhưng với ư ngược lại: ḿnh giữ ḷng trung tín nhưng gặp hiểm nguy vẫn không tin cậy được.

Dịch Thơ
Đi thuyền trên sông Ninh Minh

Núi Việt Tây có nhiều khe suối
Bao nhiêu năm tụ hội thành sông
Trời cao đổ xuống đùng đùng
Từ trên thác tựa như rồng nổi cơn
Nghe như thể ầm ầm sấm nổ
Vuột khỏi dây tên nỏ bật tung
Một ḍng vạn dặm không ngừng
Bên bờ núi dựng như tường chênh vênh
Ở trong nước đá h́nh quái lạ
Như rắn, rồng, hổ, báo, trâu, ngựa liệt la
Nhỏ tay nắm, lớn như nhà
Cao như đứng, thấp như là ngủ say
Cong như xoay, thẳng như đuổi chạy
Muôn vẻ kỳ nói mấy cho vừa
Thuồng luồng vực thẳm ghê chưa
Ngày đêm ầm ĩ sóng đùa bọt phun
Lụt mùa hè nước dâng sôi sục
Đi ba ngày một mạch, chơi vơi
Chơi vơi v́ sợ ai ơi
Nước sâu không đáy đi đời nhà ma
Mọi người nói Trung Hoa bằng phẳng
Đường Trung Hoa thật chẳng ai ngờ
Như ḷng người lắm quanh co
Nguy vong nghiêng đổ đều do ư trời
Văn chương đời tài cao hay ghét
Thịt người ma quỷ thích vô cùng
Làm sao yên lặng băo bùng
Giữ trung tín mấy cũng không đủ nhờ
Không tin "ra cửa, nguy cơ"
Nh́n sông cuồn cuộn đó ngờ nữa thôi!

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 12:51 AM
Tạc thông lĩnh đạo định Viêm khư
Cái thế công danh tại sử thư
Hướng lăo đại niên căng quắc thước
Trừ y thực ngoại tẫn doanh dư
Đại Than phong lăng lưu tiền liệt
Cổ miếu tùng sam cách cố lư
Nhật mộ thành tây kinh cức hạ
Dâm Đàm di hối cánh hà như


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Đề miếu Mă Phục Ba ở thác Đại Than (1)

Đục xuyên qua đường Ngũ lĩnh, b́nh định cơi Nam (2)
Công danh trùm đời ghi trên sử sách
Già lớn tuổi rồi c̣n khoe quắc thước (3)
Ngoài cơm áo ra, mọi thứ là thừa (4)
Sóng gió Đại Than c̣n để dấu công oanh liệt thời trước
Cây tùng, cây sam ở ngôi miếu cổ xa cách quê nhà
Chiều tà dưới đám gai gọc phía tây thành (5)
Nỗi hận ở Dâm Đàm (6), sau cùng ra làm sao?
------------------------------------------------
(1) Đại Than: Một ghềnh lớn của sông Minh Giang hay Tả Giang. Truyền thuyết cho rằng Mă Viện đem quân sang nước ta đă phá thác, ghềnh để dễ đi thuyền. Cho nên những chỗ có ghềnh, thác trên các sông miền Nam Trung quốc đều có miếu thờ Mă Viện.
(2) Viêm : Nóng. Viêm bang chỉ những xứ nóng phía Nam Trung Hoa.
(3) Quắc thước : Mă Viện ngoài 60 tuổi c̣n xin vua đi đánh giặc. Vua Hán không cho, Viện mặc áo giáp nhảy lên ngựa. Vua cười khen : "Ông này quắc thước lắm !" (Quắc thước tại thị ông !).
(4) Tẫn doanh dư : Thiếu Dư, em họ của Mă Viện, nói : "Kẻ sĩ chỉ cần lo cơm áo cho đủ, ở quê hương trông nom mồ mả rung vườn. Cần ǵ vất vả đi kiếm công danh mà khổ thân".
(5) Thành Tây : Mộ Mă Viện chôn ở Tây Thành.
(6) Dâm Đàm : Tên đầm. Mă Viện đem quân đánh Hai Bà Trưng măi không được, phải lui quân về Lăng Bạc. Trời nóng bức, hơi độc từ hồ bốc lên, diều hâu bay không được. Viện hối hận đă không nghe lời em ḿnh.

Dịch Thơ
Đề miếu Mă phục ba ở Đại Than

Mở đường Ngũ Lĩnh đánh Viêm bang,
Công trạng ghi trong cuốn sách vàng.
Già lăo khoe khoang c̣n có sức,
Áo cơm no đủ há cầu sang!
Ghềnh cao sóng dữ nêu oanh liệt,
Miếu cũ thông xưa cách cố hương.
Chiều dưới chân thành gai góc nọ,
Dâm Đàm hối cũ nhớ hay chăng?

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

mickey
09-11-2003, 12:53 AM
Đại tiểu Hoa Sơn sổ lư phân
Hoàng Sào di tích tại giang tân
Khởi tri Kim Thống Tấn trung đế
Năi xuất Tôn sơn bảng ngoại nhân
Ngộ quốc mỗ nhân câu hạng lượng
Cùng thời tự khả biến phong vân
Viễn lai nghĩ vấn thiên niên sự
Giang hộ dao đầu nhược bất văn

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Nơi Hoàng Sào đóng binh mă

Núi Hoa Sơn lớn nhỏ cách nhau vài dậm
Trên bến sông hăy c̣n di tích Hoàng Sào
Há biết vua Kim Thống đất Tấn (1)
Lại là người đi thi bị đánh rớt (2)
Đôi khi chỉ v́ câu nệ, hẹp ḥi mà làm lỡ việc nước.
Con người ta đến lúc cùng có thể làm biến gió đổi mây.
Ta từ xa đến, muốn hỏi chuyện ngh́n năm cũ.
Nhưng ông lái đ̣ lắc đầu như không nghe thấy!

------------------------------------
Hoàng Sào: người đời Đường, quê ở Sơn Đông, học giỏi, nhiều lần thi Tiến Sĩ không đổ, thích đánh gươm, cưỡi ngựa, hay giúp người nghèo, sau cầm đầu một cuộc khởi nghĩa trên mười năm (875-884). Khi vào Trường An, Hoàng Sào lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Tề, niên hiệu Kim Thống.

(1) Hoàng Sào khởi nghĩa ở Sơn Đông, nhưng kéo quân đi khắp nước, xuống tận Quảng Đông, Quảng Tây. Kim Thống là niên hiệu của Hoàng Sào.
(2) Tôn Sơn: tên người đỗ cuối bảng. Tôn Sơn ngoại bảng là hỏng thi.


Dịch Thơ
Nơi Hoàng Sào đóng binh mă

Mấy dậm Hoa Sơn núi chập chùng,
Hoàng Sào dấu cũ ở bên sông.
Con người thủa ấy lên ngôi đế,
Là gă xưa kia trượt bảng rồng.
Câu nệ thói thường hư việc nước,
Gió mây biến đổi bởi đường cùng.
Từ xa muốn biết đầu đuôi chuyện,
Ông lái tuồng như chẳng tỏ tường.

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

mickey
09-11-2003, 12:54 AM
Y thùy tuyệt cảnh cấu đ́nh đài
Phạt tận tùng chi trụy hạc thai
Thạch huyệt hà niên sơ tạc phá
Kim thân tiền dạ khước phi lai
Đ́nh vân xứ xứ tăng miên định
Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai
Nhất chú đàn hương tiêu tuệ nghiệp
Hồi đầu dĩ cách vạn trùng nhai


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Trông lên miếu Quan Âm

Ai người dựng nên đ́nh đài ở chốn tận cùng này?
Chặt hết cành tùng, rớt trứng hạc
Hang đá, năm nào bắt đầu đục phá?
Tượng Phật (ḿnh vàng) (1) mới bay đến đêm qua (2)
Khắp chốn mây ngừng trôi, sư yên giấc
Núi núi bóng chiều rơi, vượn kêu thương
Đốt nén hương đàn để tiêu tan nghiệp chướng do trí tuệ gây ra
Quay đầu lại đă cách núi muôn trùng
---------------------------
(1) Kim thân : Ḿnh vàng, chỉ tượng Phật.
(2) Phi lai : Do chữ ‘phi lai thạch‘. Lấy tích chùa Tương Sơn có ḥn đá bay đến thành Phật.


Dịch Thơ
Trông lên miếu Quan Âm

Đ́nh đài ai dựng tận nơi đây
Trứng hạc rơi tùng chặt hết cây
Hang đá năm nào vừa đục phá
Tượng vàng đêm trước mới qua bay
Mây ngưng chốn chốn sư an giấc
Chiều rụng non non vượn oán ai
Đốt nén hương đàn tiêu tuệ nghiệp
Muôn trùng đă cách thoáng đầu quay

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 12:55 AM
Tây Việt trùng sơn nhất thủy phân
Lưỡng sơn tương đối thạch lân tuân
Viên đề thụ diểu nhược vô lộ
Khuyển phệ lâm trung tri hữu nhân
Tứ vọng vân sơn nhân độc lăo
Đồng chu Hồ Việt các tương lân
Thập niên dĩ thất hoàn hương lộ
Ná đắc gia hương nhập mộng tần


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Đêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang

Nơi núi non trập trùng ở Tây Việt, một ḍng nước chia hai
Hai ngọn núi đối nhau, đá chồng chất
Vượn hú trên ngọn cây, tưởng như không có đường đi
Chó sủa trong rừng, biết là có người
Nh́n bốn bề đều là mây và núi, chỉ có người thấy già
Cùng thuyền, người Hồ kẻ Việt thân thiết với nhau
Mười năm đă mất đường về làng cũ
Sao được quê nhà đi vào trong mộng


Dịch Thơ
Đêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang

Một ḍng nước xẻ núi muôn trùng
Hai dăy nh́n nhau đá chất chồng
Vượn hú ngọn cây dường lạc lối
Chó kêu rừng thẳm chắc gần thôn
Núi mây bốn ngả t́nh cô quạnh
Hồ Việt chung thuyền mối thiết thân
Làng cũ mười năm quên mất hướng
Quê nhà nẻo mộng nhớ về thăm

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 12:57 AM
Ngân hà tạc dạ tự thiên khuynh
Giang thủy mang mang giang ngạn b́nh
Vị tín quỉ thần năng tướng hựu
Tẫn giao long hổ thất tinh linh
B́nh cư bất hội giảng trung tín
Đáo xứ vô phương tề tử sinh
Cánh hữu hiểm hy nhiêu thập bội
Ngô tương hà dĩ khấu thần minh


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Thuyền xuôi ghềnh Đại Than, nước lũ dâng cao, ngập cả những chỗ hiểm trở

Đêm qua sông Ngân từ trời đổ xuống
Nước sông mênh mông, bờ sông ngập bằng
Chưa tin quỉ thần có thể giúp được ǵ
Ngay cả rồng cọp cũng hết linh thiêng
Ngày thường không thấu hiểu hai chữ "trung tín"
Th́ đến đâu cũng không giải quyết được vấn đề "sống và chết"
Trên đường đi, sau này c̣n có chỗ hiểm nguy gấp mười
Ta sẽ lấy ǵ để cầu xin với thần minh?


Dịch Thơ
Thuyền xuôi ghềnh Đại Than, nước lũ dâng cao, ngập cả những chỗ hiểm trở

Đêm trước sông Ngân đổ nước trời,
Bờ sông ngập phẳng, nước băng vời.
Quỉ thần phù hộ chưa tin được,
Rồng hổ linh thiêng mất cả rồi.
Trung tín ngày thường không giữ được,
Chết c̣n lúc đó phải đành thôi.
Hiểm nguy c̣n gấp mười phần nữa,
Muốn khấn thần minh, khó ngỏ lời.

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

mickey
09-11-2003, 01:00 AM
Tâm hương bái đảo tướng quân tỳ (từ)
Nhất trạo trung lưu tứ sở chi
Đáo xứ giang sơn như thức thú
Hỷ nhân xà hổ bất thi uy
Vạn châu tùng thụ tăng nhân ốc
Nhất đái hàn yên Yến Tử ky (cơ)
Tịch tịch thuyền song vô cá sự
Ngư ca giang thượng khán tà huy


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Tả nỗi mừng khi xuống thác

Tấm ḷng thành dâng hương khấn trước đền tướng quân
Một thuyền giữa ḍng nước mặc cho trôi đi
Đến đâu cũng thấy sông núi như đă quen biết
Mừng cho người, hùm rắn đă không ra oai
Muôn cụm tùng kia là nơi nhà sư ở
Một dải khói lạnh, đó là Ḥn Én
Lặng lẽ ngồi bên cửa thuyền, không làm ǵ cả
Nghe thuyền chài hát, ngắm chiều tà


Dịch Thơ
Mừng xuống khỏi thác

Thành khẩn dâng hương vái trước đền
Một thuyền theo nước cứ lênh đênh
Mừng người rắn cọp không làm dữ
Thích cảnh non sông như đă quen
Muôn cụm tùng xanh sư trú ngụ
Một Ḥn Én lạnh khói dâng lên
Bên song lặng lẽ không ǵ bận
Nghe khúc chài ca, ngó nắng nghiêng

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 01:01 AM
Thái B́nh thành ngoại tây phong khởi
Xuy trừu Ninh Minh nhất giang thủy
Giang thủy trừu hề giang nguyệt hàn
Thùy gia hoành địch bằng lan can
Nhị thập thất nhân cộng hồi thủ
Cố hương dĩ cách vạn trùng san

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Bên ngoài thành Thái B́nh, nghe tiếng sáo thổi

Ngoài thành Thái B́nh gió tây thổi lên
Làm cho nước sông Ninh Minh gợn sóng
Nước sông gợn sóng, trăng sông lạnh
Có người nào tựa lan can thổi sáo
Khiến cho hai mươi bảy người trong đoàn đều quay lại nh́n
Nhưng cố hương đă cách muôn trùng núi non!

Dịch Thơ
Bên ngoài thành Thái B́nh, nghe tiếng sáo thổi

Ngoài thành Thái B́nh gió tây lộng,
Thổi trên sông Minh nước gợn sóng.
Nước sông gợn sóng, lạnh trăng sông,
Ai đâu thổi sáo tựa bên song?
Hai mươi bảy người đều ngoái cổ
Quê nhà đă cách núi muôn trùng!

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

mickey
09-11-2003, 01:02 AM
Thái B́nh cổ sư thô bố y
Tiểu nhi khiên văn hành giang mi
Vân thị thành ngoại lăo khất tử
Mại ca khất tiền cung thần xuy
Lân chu thời hữu hiếu âm giả
Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ
Thử thời thuyền trung ám vô đăng
Khí phạn bát thủy thù lang tạ
Mô sách dẫn thân hướng tọa ngung
Tái tam cử thủ xưng đa tạ
Thủ văn huyền sách khẩu tác thanh
Thả đàn thả ca vô tạm đ́nh
Thanh âm thù dị bất đắc biện
Đăn giác liêu lượng thù khả thinh
Chu tử tả tự vị dư đạo
Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành
Quan giả thập số tịnh vô ngữ
Đăn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh
Khẩu phún bạch mạt, thủ toan súc
Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc
Đàn tận tâm lực cơ nhất canh
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục
Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai
Do thả hồi cố đảo đa phúc
Ngă sạ kiến chi, bi thả tân
Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần
Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn băo
Trung Hoa diệc hữu như thử nhân
Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ
Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ
Hành nhân băo thực tiện khí dư
Tàn hào lănh phạn trầm giang để.


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Người hát rong ở thành Thái B́nh

Ở phủ Thái B́nh có người mù mặc áo vải thô
Có đứa trẻ dẫn đi bờ sông
Nói rằng ông già ăn xin ở ngoài thành
Hát mướn xin tiền nấu ăn
Thuyền bên có người ưa nghe hát
Cầm tay dẫn xuống thuyền dưới cửa sổ
Lúc này trong thuyền tối không đèn
Cơm thừa canh cặn đổ bừa băi
Ông già lần ṃ ngồi vào một góc
Hai ba lần giơ tay xin cám ơn
Tay nắn dây đàn, miệng cất tiếng hát
Vừa đàn vừa ca không nghỉ
Tiếng nghe lạ hoắc không hiểu được
Nhà thuyền viết chữ bảo ta rằng :
Khúc hát này nói về Thế Dân và Kiến Thành
Người nghe khoảng chục người đều im lặng
Chỉ thấy gió sông vi vu dưới trăng sáng
Miệng sùi nước bọt, tay mỏi ră rời
Ngồi xuống, xếp đàn, nói rằng hát đă xong
Hết ḷng hết sức đàn gần một trống canh
Văy mà chỉ đuợc năm sáu đ̣ng
Đứa em dẫn ra khỏi thuyền
C̣n quay đầu lại chúc lành
Chợt thấy ta bồi hồi thương xót
Phàm nguuời ta thà chết hơn sống nghèo
Nghe nói ở Trung Hoa mọi người đều được ấm no
Ở Trung Hoa cũng có người nghèo như thế sao
Anh không thấy lệ cung phụng thuyền đi sứ mỗi ngày
Từng thuyền từng thuyền thịt gạo đày
Người đi thuyền ăn no, thừa vứt bỏ
Cơm nguội, thức ăn đổ ch́m xuống đáy sông


Dịch Thơ
Người hát dạo ở Thái B́nh

Ở phủ Thái B́nh có ông lăo
Hai mắt mù mặc áo vải thô
Nắm tay trẻ dắt ngoại ô
Ven sông hát dạo lần ṃ kiếm ăn
Thuyền bên có kẻ ham nghe hát
Dẫn ông già xuống sát cửa thuyền
Lúc này thuyền tối không đèn
Cơm thừa canh cặn đổ tràn tứ tung
Ḷ ḍ vô trong cùng, một góc
Hai ba lần lóc ngóc cám ơn
Miệng ca, tay nắn dây đàn
Một hơi đàn hát chẳng lần nghỉ ngơi
Thanh âm lạ, lẽ lời không hiểu
Lắng nghe ra th́ điệu cũng hay
Nhà thuyền viết chữ : "khúc này"
"Thế Dân tranh đoạt quyền oai Kiến Thành"
Chục người xem mà đành phăng phắc
Gió ru trăng vằng vặc trên sông
Miệng sùi, tay mỏi lăo ông
Cất đàn, ngồi lại, thưa rằng đă xong
Gần một canh, hết ḷng hết sức
Năm sáu đồng kiếm được thế thôi
Đứa em dẫn khỏi thuyền rồi
C̣n quay đầu lại gửi lời chúc may
Chợt nh́n thấy cảnh này đau xót
Phàm người ta chết tốt hơn nghèo
Trung Hoa no ấm, nghe nhiều
Trung Hoa cũng có người nghèo thế ư
Ḱa không thấy sứ từ xa lại
Gạo thịt đầy thuyền cái thuyền con
Người ăn no ứ vẫn c̣n
Đáy sông cơm ngọt món ngon đổ ch́m.

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 01:02 AM
Tây Việt sơn xuyên đa hiểm hi
Hành hành ṭng thử hướng thiên nhi (nhai)
Băng nhai quái thạch nộ tương hướng
Thủy điểu sa cầm hiệp bất phi
Thiên địa biên chu phù tự diệp
Văn chương tàn tức nhược như ti
Vị liên thượng quốc phong quang hảo
Quan tỏa hương t́nh vị phóng qui


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Đi thuyền hứng viết

Núi sông Tây Việt nhiều hiểm trở
Từ đây cứ đi về hướng chân trời
Bờ núi lở, đá h́nh quái dị giận dữ nh́n nhau
Chim nước c̣ bờ dạn dĩ không bay khi thấy người
Chiếc thuyền con như chiếc là nổi giữa đất trời
Hơi tàn văn chương tàn yếu như sợi tơ
V́ yêu phong cảnh đẹp của thượng quốc
Nên khóa t́nh quê lại, chưa thả cho về


Dịch Thơ
Đi thuyền hứng viết

Tây Việt non sông hiểm trở đầy
Chân trời nhắm hướng kể từ đây
Đá kỳ núi quái nh́n hung tợn
Chim nước c̣ bờ ngó chẳng bay
Trời đất mênh mông thuyền lá nổi
Văn thơ thoi thóp sợi tơ lay
Bởi yêu phong cảnh xứ người đẹp
Khóa chặt t́nh quê chửa vút bay

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 01:03 AM
Ngọ mộng tỉnh lai văn
Tà nhật yểm song phi
Phong kính duy thuyền tảo
Sơn cao đắc nguyệt tŕ
Ỷ bồng thiên lư vọng
Hợp nhăn cách niên ti (tư)
Mạc cận thương nhai túc
Đề viên triệt dạ bi


Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Đêm đậu thuyền ở Sơn Đường

Nằm ngủ trưa, tỉnh dậy th́ đă muộn
Bóng chiều dọi vào phải khép cửa sổ lại.
Gió thổi mạnh, phải neo thuyền sớm
Núi cao, thật lâu mới thấy trăng
Dựa mui thuyền trông ra xa ngh́n dặm
Chớp mắt, nghĩ đă xa nhà một năm rồi
Chớ đỗ thuyền lại gần núi xanh
Tiếng vượn hú sẽ làm ta buồn suốt đêm


Dịch Thơ
Đêm đậu thuyền ở Sơn Đường

Mộng trưa tỉnh giấc muộn
Bóng xế ngậm song tây
Gió mạnh neo thuyền sớm
Non cao ngắm trăng chầy
Dựa mui trông dặm trở
Chớp mắt nhớ năm đầy
Chớ ngủ gần bên núi
Thâu đêm vượn oán ai

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

Giấc ngủ trưa dậy muộn
Bóng xế khép song tây
Gió mạnh buộc thuyền sớm
Non cao thấy trăng chầy
Tựa mui trông ngh́n dặm
Nhắm mắt nhớ những ngày
Chớ nghỉ gần bên núi
Thâu đêm vượn hú rầy!

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

mickey
09-11-2003, 01:04 AM
Ngu Đế nam tuần cánh bất hoàn
Nhị phi sái lệ trúc thành ban
Du du trần tích thiên niên thượng
Lịch lịch quần thư nhất vọng gian
Tân lạo sơ thiêm tam xích thủy
Phù vân bất biện Cửu Nghi san
Tầm thanh dao tạ tỳ bà ngữ
Thiên lư thanh sam bất nại hàn

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Tức cảnh ở Thương Ngô

Vua Ngu đi tuần phương nam chẳng trở về. (1)
Hai bà phi khóc, nước mắt vương vào cây trúc thành những vệt lốm đốm. (2)
Dấu cũ ngh́n xưa ghi trong sử sách, nay nh́n thấy rơ trước mắt.
Nước lũ mới đổ về cao hơn ba thước.
Mây che khuất không nh́n rơ núi Cửu Nghi. (3)
Nghe vẳng tiếng tỳ bà nhưng phải từ tạ. (4)
Kẻ mặc áo xanh này từ ngh́n dậm đến, không chịu lạnh nổi.
-------------------------------
Thương Ngô: Tên núi, tức là núi Cửu Nghi. Sử chép, xưa vua Thuấn đi tuần phương nam, mất ở Thương Ngô rồi chôn ở đó.
(1) Ngu đế: Vua nước Ngu, tức vua Thuấn.
(2) Nhị phi: Chỉ hai bà phi của vua Thuấn, tức Nga Hoàng và Nữ Anh. Vua Thuấn đi tuần phương nam, chết ở Thương Ngô. Hai phi đi t́m, khóc nước mắt nhỏ xuống những cây trúc thành vết lốm đốm và tự trầm chết theo bên ḍng sông Tương.
(3) Cửu Nghi: núi có chín ngọn giống nhau, khó phân biệt nên đặt tên ra thế.
(4) Tỳ bà ngữ: Lấy ư từ bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị. Trong Tỳ bà hành có câu : 'Giang châu tư mă thanh sam thấp' (Quan Tư mă châu Giang khóc ướt vạt tràng áo xanh), Nguyễn Du dịch là : 'Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng, Giọt châu tầm tă, đẫm tràng áo xanh'.


Dịch Thơ
Tức cảnh ở Thương Ngô

Vua Ngu đi mất không về
Trúc xanh đốm lệ hai phi khóc t́m
Ngh́n năm cách biệt cổ kim
Lật trang phương cảo nỗi niềm rưng rưng
Lụt về ba thước triều dâng
Mây mờ che phủ mấy tầng Cửu Nghi
Xa nghe réo rắt tiếng tỳ
Áo xanh từ tạ c̣n đi ngh́n trùng

Bản dịch: Đặng Thế Kiệt

mickey
09-11-2003, 01:05 AM
Vũ trệ Tầm giang hiểu phát tŕ
Ngô thành bạc mộ thượng phi phi
Nhất giang tân lạo b́nh Tam Sở
Đại bán phù vân trú Cửu Nghi
Trách trách tiểu chu nan quá Hạ
Sam sam trường phát tự tri Di
B́nh ba nhật mộ Tương Đàm viễn
Bôi tửu bằng lan điếu nhị phi

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Mưa chiều ở Thương Ngô

Trời mưa phải dừng lại ở sông Tầm, lúc sáng khởi hành muộn.
Gần chiều, trên thành Thương Ngô vẫn c̣n mưa tầm tă.
Lũ mới đổ về, nước sông tràn ngập đất Sở,
Phần lớn mây bao trùm núi Cửu Nghi,
Ta ngồi trong thuyền nhỏ chật hẹp khó qua được đất Hạ (hoa hạ),
Búi tóc dài nói rơ ta là người nước khác (di).
Sóng lặng trời tối mà Tương Đàm c̣n xa,
Đành rót rượu viếng hai bà phi vậy.
----------------------------------------
Tầm giang: tên con sông thuộc huyện Quế B́nh, tỉnh Quảng Tây, chảy qua Thương Ngô.
Tam Sở: ba vùng đất Tây Sơ, Nam Sở, và Đông Sở, nay thuộc Hồ Nam, Hồ Bắc.

Dịch Thơ
Mưa chiều ở Thương Ngô

Mưa trú Tầm Giang trễ chuyến đi,
Thành Ngô chiều xuống vẫn đầm đ́a.
Lũ về ngập hết vùng Tam Sở,
Mây vẫn bao trùm núi Cửu Nghi.
Người lạ tóc dài nh́n dễ biết,
Đất Hoa thuyền nhỏ khó qua ghê.
Chiều hôm sóng lặng vời Tương Phố,
Chén rượu khoan thuyền viếng nhị phi.

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang