View Full Version : Tú Mỡ
Bach_Y_Nhan
05-27-2003, 04:20 PM
Tú Mỡ, tên thật là Hồ trọng Hiếu hiệu Nguyên Trực, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1900 tức ngày 14 tháng 3 năm Canh Tư, tại phố hàng Ḥm, Hà Nội.
Lên 5 tuổi, ông học vỡ ḷng Hán văn với nội tổ. Vừa học hết pho Tam tự kinh, sang pho Dương tiết th́ nội tổ mất. Thân phụ ông mới bắt đầu cho học Pháp văn, đầu tiên với cụ giáo Quư phố hàng Mành. Được 1 năm, ông được thầy cho chuyển vào học trường nhà nước tức trường hàng Bông ; tiếp theo là trường hàng Vôi, ông học hết lớp nhất và thi đậu bằng sơ học Pháp Việt năm ông 14 tuổi.
Sang năm 1915, ông vào học trường Bưởi ; nơi đây ông tỏ ra là người học tṛ ranh mănh, nghịch ngợm và ham chơi nên chỉ trong một năm ông bị mất học bổng.
Năm 1916, ông bắt đầu « mắc bệnh » làm thơ. Năm ấy ông học triết với cụ Phèn (Dufresne) chung với Hoàng ngọc Phách và Nguyễn Pho.
Năm 1917, người học sinh trường Bưởi bắt đầu yêu 1 cô gái 15 tuổi ở hàng Bông. Mặc dù nó chỉ là thứ t́nh yêu vơ vẩn, nhưng Tú Mỡ cũng cố nặn ra mấy vầng thơ « Tương tư » rồi nhờ Hoàng ngọc Phách sữa hộ. Bài thơ đứng đắn đầu tiên của Tú Mỡ như sau :
V́ ai nên nỗi nhớ cùng thương
Một suối tơ t́nh dạ vấn vương
Sáu khắc mơ màng h́nh bạn ngọc
Năm canh tưởng nhớ bóng người vàng
Ruột tằm chín khúc ṿ tơ rối
Giấc điệp năm canh diễn khắc trường
Muốn nhắc cùng ai, ai nhắc hộ
Ṃn đuôi con mắt giải sông tương
Ư tứ bài thơ này được Hoàng ngọc Phách sửa chữa, phê b́nh. Từ đó Tú Mỡ đâm ra mến phục Hoàng ngọc Phách, một người vừa giỏi vừa hiểu nhiều
Sang năm thứ tư (1918) Tú Mỡ bắt đầu mê thơ Tản Đà, lại thích cả thơ Tú Xương. Có thể nói Tú Xương là ánh đuốc soi đường cho Tú Mỡ. Ông dùng bút hiệu Tú Mỡ là để tỏ sự biết ơn đối với nhà thơ của ḍng sông Vị.
Trong thời kỳ ái t́nh chi phối đời sống t́nh cảm và tinh thần, ảnh hưởng của Tản Đà vẫn không lu mờ trong văn thơ Tú Mỡ, như trong bài “Sầu t́nh” có những câu:
Ḷng c̣n đeo nặng khối t́nh con
Đôi ngọn đèn khuya gợi mối buồn
Ngọn bút t́nh này khôn tả nổi
Biết cùng ai giải tấm ḷng son
chữ màu xanh = tên sách
Sau này ông góp nhặt thành tập thơ cho mang tên “Câu cười tiếng khóc”, lấy ư trong câu: “Cuộc nhân thế câu cười tiếng khóc” của Nguyễn khắc Hiếu. Tập thơ này không xuất bản.
(Trích Việt Nam thi nhân tiền chiến - quyển hạ - Soạn giả: Nguyễn tấn Long, Sài-g̣n, ngày 1 tháng 7 năm 1968.)
… c̣n tiếp … :nc:
Bach_Y_Nhan
05-28-2003, 03:47 PM
Cuối năm 1918 ông đỗ bằng Thành chung, ra trường vào làm sở Tài chính. Sau hai năm của đời cạo giấy, những điều chướng tai gai mắt đă làm nẩy nở ư hài hước của ông vốn sẵn có từ bản chất. Bài thơ hài hước đầu tiên là “Bốn cái mong của thầy Phán”, sau này đăng trên tạp chí Viêt nam thanh niên.
Làm nghề thầy kư với thầy thông
Sống ở trên đời có bốn mong:
Mong tháng chóng qua, tiền chóng lĩnh
Mong giờ mau hết, việc mau xong
Mề đay mong được năm mười chiếc
Lương bổng mong tăng sáu bảy đồng
Hăy tạm thời nay mong thế thế
C̣n bao mong nữa xếp bên ḷng
Bài thứ hai là bài “Phú thầy Phán” được Nguyễn tường Tam sao lục đăng trên Nam phong; v́ Tú Mỡ giấu tên ḿnh nên sau này có nhiều người lầm tưởng của Tú Xương, nhưng xét kỹ nội dung có nhiều sự kiện mà thời đại Tú Xương không có.
Ngày tháng b́nh dị trôi, cho đến năm 1932, năm bắt đầu biến cố văn học. Vốn cùng quen biết nhau từ lúc làm ở sở Tài chính, Nguyễn tường Tam mới cùng Tú Mỡ và Nguyễn tường Long (tức Thạch Lam, em của Nguyễn tường Tam) sáng lập tờ báo trảo phúng “Phong hoá”. Mấy tháng sau mới có sự gia nhập của Khái Hưng, và một năm sau nữa, của Thế Lữ.
---
(Trích Việt Nam thi nhân tiền chiến - quyển hạ - Soạn giả: Nguyễn tấn Long, Sài-g̣n, ngày 1 tháng 7 năm 1968.)
... c̣n tiếp ... :nc:
Bach_Y_Nhan
06-07-2003, 04:56 PM
Tú Mỡ là một nhà thơ khôi hài và trào phúng, ông thích cười, và cười rất lớn trước cái sống của con người. Cười không để chán đời, cũng không để yêu đời. Cười để mà sống. Xem Tú Mỡ ai dám bảo cười là gây thiện cảm với đời. Tú Mỡ hiến cho đời từng chuỗi cười; có khi chứa đựng đủ mùi vị, càng nếm càng thấm thía, đôi lúc nó phô bày trơ trẽn mặt thực của xă hội càng nh́n càng chán ngán ê chề.
Không khóc để khỏi nhục, không rên để khỏi hèn, không câm để khỏi mang tiếng khờ dại. Tú Mỡ đă dùng nụ cười nói lên sự hiện hữu của ḿnh trong một thế hệ.
Khái Hưng đă tặng cho Tú Mỡ danh hiệu nhà thơ b́nh dân. Đưa Tú Mỡ vào khuynh hướng thi ca b́nh dân, Khái Hưng minh định hai tính chất văn chương: b́nh dân và bác học. Hai tính chất ấy được Khái Hưng h́nh dung bằng hai ḍng nước, một ḍng khép ḿnh trong đê, lạch, một ḍng tự do chảy như con suối hoang vu, ông viết:
“… Ḍng bác học ta có thể ví như con sông, hai bên bờ có đê kiên cố để làn nước không tự do tràn ra đồng bằng được, phải lặng lẽ theo ḍng dông mà chảy ra biển. Chổ nào ng̣ng ngoèo quá th́ người ta đào lạch cho nước thông mau, chổ nào nông quá th́ khơi sâu thêm cho nước dễ thoát.
Trái lại ḍng b́nh dân chỉ ví như cái suối chảy trong vùng đồi núi hoang vu, quanh co, lượn khúc cạnh rừng lau mọi rợ, hai bên bờ rậm đầy cỏ sắc hoa dại, có khi th́ thầm róc rách trong khe, có khi ầm ầm đổ xuống thành ngàn thành thác, lại có khi gặp tảng đá lớn ngăn giữa gịng, hung tợn vượt lên cao.”
Ông lại viết thêm:
“ … Văn chương b́nh dân th́ chẳng mấy khi theo luật lệ, qui tắc. Khi nào miễn cưỡng theo cũng hục hặc phá phách như con ngựa bất kham v́ dùng vần thất niêm, thất luật be bét, dùng chữ và tiếng nói sai nghĩa lung tung. Song, chính nhờ đó mà nề quốc văn đă có lắm chữ mới vá lối văn mới, đặt rất bạo, thí dụ như thổ ngữ, những thi ca lục bát, song thất lục bát, tứ tự, cùng là các lối vè có vần giữa câu.
… Lối hành văn thực giản dị mà táo bạo và ngộ nghĩnh ấy không hề thấy có trong văn chương bác học, tuy văn chương bác học cũng nhiều khi nhiểm tư tưởng trào phúng – cái trào phúng nặng nề đầy điển tích và nhút nhát rụt rè đối với kẻ có quyền thế.”
Với quan niệm trên, Khái Hưng quả đă thấu đáo được tính chất b́nh dân. Nhan nhản trong văn chương b́nh dân, chúng ta thấy không một uy quyền nào có thể làm cho họ kính nể. Thản hoặc có bị đe doạ, giày xéo, họ chỉ oằn oại uốn khúc rồi cũng bật lên những phản ứng mỉa mai trào lộng. Điển h́nh cho ngọn đ̣n quật khởi của thứ văn chương bất khuất ấy là bài thơ như sau:
Có quan hùng dũng Nguyễn công Nhàn,
Hùng dũng nhưng mà lại nhát gan.
Giặc tới Bến-tranh run lập cập,
Tàu vô cửa Tiểu, chạy ḅ càng.
Mưu thần chước quỉ ngang song chắn;
Kế dữ sao toan đóng cửa … hàng …
Chúng ta đặt Tú Mỡ vào thi giới b́nh dân cũng chỉ v́ ông đă sống với tâm trạng của một con người b́nh dân.
---
(Trích Việt Nam thi nhân tiền chiến - quyển hạ - Soạn giả: Nguyễn tấn Long, Sài-g̣n, ngày 1 tháng 7 năm 1968.)
Bach_Y_Nhan
06-07-2003, 05:00 PM
Sau đây là vài tác phẩm của Tú Mỡ hầu góp một phần nhỏ cho NMQ đă có nhă ư mở đề mục này giúp mọi giới nói chung, và giới trẻ nói riêng, t́m hiểu thêm về văn chương Việt-nam.
Nhắn nhủ ông nghị
Áo sa, khăn nhiễu, giày ban,
Kính trắng gọng vàng, tay cắp cặp da,
Ấy là ông nghị vùng ta,
Súng sa súng sính đi ra hội đồng.
Mấy lời nhắn nhủ cùng ông :
Có ra hội đồng th́ miệng phải to,
Xin đừng khúm núm co ro,
Nói không ra tiếng họ cho rằng đần,
Cũng đừng ngẩn mặt tần ngần,
Ngồi nghe diễn thuyết, ngủ dần thiu thiu.
Bach_Y_Nhan
06-07-2003, 05:01 PM
Bài phú thầy Phán
Sở có một thầy;
Mặt mũi khôi ngô,
H́nh dung chững chạc,
Quần là ống sớ, áo vận khuy vàng,
Khân lượt vành dây, ô che cán bạc.
Bảnh bao lắm mốt, trời nắng mưa: giày nọ giày kia;
Lịch sự đủ vành, mùa rét, nực: mũ này, mũ khác;
Ra phết quan thông, quan phán đua ngón phong lưu,
Dập d́u tài tử gian nhân, điểm màu đài các,
Trong đóm ngoài đuốc, trông ra mầu mỡ riêu cua.
Tiếng cả nhà thanh, xét kẻ thân h́nh pháo xác.
Cuối tháng ba mươi, ba mốt, giấy bạc rung rinh,
Qua ngày mười một, mười hai, ví tiền rỗng toác …
Bach_Y_Nhan
06-07-2003, 05:02 PM
Kiệu bay
Đám rước làng ta đă tới đền,
Vía bà động cỡn, tốc bay lên.
Các cô chân kiệu siêu lơ chạy,
Mấy mụ đồng quan lẽo đẽo rên.
Pháo đốt, nhang bay mù đảo địa,
Con công, cái bán lễ huyên thiên,
Thánh bà mới biết linh thiêng thật,
Gặp cái ô tô … kiệu đứng liền !
Bach_Y_Nhan
06-07-2003, 05:03 PM
Tự thuật
Ở sở “phi năng” có một thầy,
Người cao dong dỏng lại gầy gầy.
Mặc thường xoàng xĩnh, ưa lành sạch,
Ăn chỉ thều thào, thích tịnh chay.
Tôm cá quanh năm vài bốn bận,
Say sưa mỗi tháng một đôi ngày.
Tính vui tṛ chuyện cười như phá,
Ḷng thẳng căm hờn nói toạc ngay.
Liêm sỉ vào tay hơi kha khá,
Ở ăn th́ nết cũng hay hay !
Yêu người chân thật, người hào hiệp,
Ghét kẻ chui luồn, kẻ quắt quay.
Vơ vẽ hay làm văn Quốc-ngữ,
X́ xồ ít nói tiếng Âu-tây.
Bạn mà bàn đến thi cùng cử,
Thời vội van luôn: “Tớ lạy mày !” …
Bởi tánh ngang phè như nhánh bứa,
Già đời chẳng được cái mề đay.
Bach_Y_Nhan
06-07-2003, 05:05 PM
Mười thương
Một thương tóc lệch đường ngôi,
Hai thương quần trắng, áo mùi, khăn san.
Ba thương hôm sớm điểm trang,
Bốn thương răng ngọc hai hàng trắng phau.
Năm thương lược Huế cài đầu,
Sáu thương ô lục ngả màu thanh thiên.
Bảy thương lắm bạc nhiều tiền,
Tám thương động tí nữ quyền giở ra.
Chín thương cô vẫn ở nhà
Mười thương … thôi để ḿnh ta thương ḿnh …
Bach_Y_Nhan
06-07-2003, 05:06 PM
Phong dao mới
Cụ kia đầu tóc bạc phơ
Gần kề miệng lổ, c̣n chưa trót đời.
Già nua trống bỏi c̣n chơi,
c̣n đi rước lấy một người vợ hai.
Hom hem thở chẳng ra hơi,
Hăy c̣n chuốc lấy nợ đời làm chi ?
Bảy mươi, mười bảy duyên ǵ ?
Ra đường thiên hạ thầm th́: "cháu ông !"
Bach_Y_Nhan
06-19-2003, 05:11 PM
Làm đỏm
Cô kia vừa xấu vừa già
C̣n hay làm đỏm, thật là thêm dơ.
Mặt thời cạo nhẳn trơ trơ,
Lông mày đánh tít, lờ mờ sợi dây.
Kem bôi da mặt lụa lầy,
Phấn trét thật dày như thể quét vôi.
Vàng đeo, lụa đắp, cô ơi,
Càng trang điểm lắm, càng ḷi xấu ra.
Bach_Y_Nhan
06-24-2003, 04:37 PM
Khuyên ai kén vợ
Lấy vợ khuyên ai kén vợ hiền,
Kén người đức hạnh, bậc chân chuyên,
Tốt duyên gặp được người như nguyện,
Giá nọ nhà vàng đúc cũng nên.
Lấy vợ khuyên ai kén vợ xoàng,
Cần chi giàu có với quan sang.
Quư hồ nội trợ tề gia giỏi,
Cái cảnh gia đ́nh mới vẻ vang.
Lấy vợ khuyên ai cốt chữ t́nh,
Xin đừng vụ lợi với ham danh,
Mấy người tiểu kỷ v́ danh lợi,
Khó trọn cùng nhau nghĩa tử sinh.
Lấy vợ không nên lấy vợ giàu,
E rằng ỷ của lại khinh nhau,
Hổ thay (!) cái tiếng nhờ lưng vợ!
Tiếng ấy anh hùng há chịu đâu!
lấy vợ không nên lấy ả đầu,
Hoa tàn, nhuỵ rữa, tiết c̣n đâu.
Chỉ quen nghề nghiệp nhà son phấn,
Chẳng trách phương ngôn đă có câu (*)
lấy vợ không nên lấy vợ nhiều,
Một bà thôi cũng đủ thương yêu,
Ai về nhắn nhủ phường ham thịt,
Cả lẽ làm chi, tổ chỉ eo … !
---
(*) Phương ngôn rầng: “Lấy quan, quan cách, lấy khách, khách về tàu, lấy nhà giàu, nhà giàu hết của”
Bach_Y_Nhan
06-24-2003, 04:41 PM
Hỏi khách chán đời
Nghe nói anh xưa tính chán đời,
Bồng lai suưt nữa định qua chơi,
Bây giờ mỗi tháng lương trăm bạc,
Ướm hỏi anh c̣n chán nữa thôi?
Bach_Y_Nhan
06-25-2003, 02:34 PM
Phong dao hội Lim
Hội lim mỗi năm mở vào ngày 13 tháng giêng tại làng Lim tỉnh Bắc-ninh. Đặc sắc của hội là cuộc hát quan họ; con trai, con gái họp nhau trên đồi, mời trầu nhau rồi hát thi đối đáp theo một điệu riêng. Cuộc hát thường th́ kết cục bằng một cuộc nhân duyên. Bọn “công tử bột” Hà-thành và các tỉnh lân cận thường nhân dịp hội đó để trêu hoa ghẹo nguyệt.
màu xanh dương: Công tử Hà-nội
màu hồng: Tiểu thư cầu Liêm
màu xanh lá cây: cả hai cùng hát
Tiết xuân gặp buổi hôm nay,
Mấy khi hồ dể tới đây gặp ḿnh.
Ta ra vườn sắn tự t́nh,
Hội hè tấp nập linh đ́nh mặc ai.
Thoạt nghe lời nói êm tai,
Xin mời chàng hăy tạm xơi khẩu trầu.
Này trầu này vỏ này cau,
Không trầu tṛ chuyện lấy đâu mặn nồng.
Nàng mời, muôn cảm ơn ḷng,
Con trai Hà-nội vốn không ăn trầu.
Thực t́nh chẳng dám chê đâu,
Gói khăn xin giữ miếng trầu làm duyên.
Trầu này tự tay em têm,
Trầu vàng, vỏ tía, cau mềm lại tươi.
Khuyên mời cốt để chàng xơi,
Kẻo mai trầu héo, cau ôi ích ǵ !
Thấy nàng mời mọc nằng ń,
Ḷng ta luống những nể v́ lắm thay.
Không ăn sợ nàng tủi tay,
Ăn vào thời lại sợ say đứ đừ !
Yêu nhau xin chớ chối từ,
Chàng c̣n ngần ngại ngần ngừ nỗi chi ?
Hay trầu têm vụng chàng chê ?
Hay là sợ có bùa mê ngại ngùng !
Khéo sao ! Lời nói lạ lùng !
Chẳng là không xét tấm ḷng cho nhau.
Bùa mê nào ở đâu trầu,
Ở đôi con mắt dao cầu lẳng lơ !
Thôi đừng tán tỉnh phất phơ,
Ngẵm xem lời nói ỡm ờ khó nghe.
Chúng em là gái thôn quê,
Có đâu cặp mắt bùa mê hỡi chàng ?
Nàng đừng nói nhún nữa nàng,
Chẳng t́nh cũng tiếng gái làng cầu Lim.
Chỉ v́ đôi mắt lim dim
Mỗi năm mỗi nhớ hội Lim ṃ về.
Chúng em ở chốn thôn quê,
Quanh năm công việc nặng nề luôn tay.
Ngày xuân gặp buổi hôm nay,
Mỗi năm mới được một ngày t́m hoa.
Hữu t́nh ta lại gặp ta,
Trầu ăn đỏ thắm, hẳn là tri âm.
Nói xa chi nữa nói gần:
Cùng nàng muốn tính trăm năm vuông tṛn.
Ví bằng thực tấm ḷng son,
Trăm năm kết ngăi thôi c̣n chi hơn.
Cùng nhau gắn bó keo sơn,
Đừng như con bướm chờn vờn lại bay.
Một lời vâng tạc dạ này,
Hăy về hỏi mẹ cùng thầy xem sao.
Bao giờ của vẫn tay trao,
Bấy giờ ta sẽ dồi dào ái ân.
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.