Tay Doc
06-04-2002, 02:10 AM
ĐÔI D̉NG TIỂU SỬ
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới.
Thuở nhỏ ông học trung học ở Huế (1928-1930), làm viên chức sở đạc điền ở Quy Nhơn (1932-1933), vào Sài G̣n làm báo rồi lại trở về Quy Nhơn (1934-1935).
Ông mắc bệnh phong từ năm 1937, phải vào nhà thương Quy Ḥa tháng 9 năm 1940, và rồi mất ở đấy ngày 11 tháng 11 năm 1940.
Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường luật và bút danh Minh Duệ thị, Phong Trần; nổi tiếng v́ được cụ Phan Bội Châu họa thơ và đề cao. Từ năm 1935 ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mạc Tử, và cuối cùng Hàn Mặc Tử.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Gái Quê ( 1936, tập thơ duy nhất được xuất bản trong sinh thời tác giả ), Thơ Điên (hay Đau Thương), Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi Giữa Mùa Trăng...
Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm b́nh dị, trong trẻo, chan chứa t́nh quê là các tác phẩm đầy những cảm hứng lạ lùng, huyền bí, thậm chí đến điên loạn, phản ảnh trực tiếp các cơn bệnh đau đớn dày ṿ.
Từng phút - Anh đến gần cửa huyệt
Từng phút - anh tan vào cơi thiêng
Ôm riết từng giây từng nhân ảnh
Khuôn ngọc tṛn trăng , mặt chữ điền
Thính sắc đồng trinh nguyên vẹn trắng
Vẫn c̣n bẽn lẽn lúc quy tiên
.....
Thi tài lĩnh vận vào oan nghiệt
Xuân mấy mươi tàn , huyết chữa tan
Tâm linh tinh biến trong vô thức
Để hồn trang trải nợ trần gian
Tiểu sử theo trong sách
Hoài Thanh - Hoài Chân
(dưới sự đánh máy của Bạch Nha Đầu )
Hàn Mặc Tử (1912-1940)
Nhà thơ với cuộc đời đau thương có một không hai này, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mỹ (Đông Hới). Ông làm thơ từ thuở nhỏ. Lấy hiệu là Phong Trần và Lệ Thanh trong những năm 16 tuổi. Vốn ở Qui Nhơn từ nhỏ, cha mất sớm, nhà nghèo, học đến năm thứ ba ở trường Qui Nhợn Kế đó, ông mắc bịnh hủi, đưa vào nhà thương Qui Ḥa rồi mất ở đó, ngày 11-10-1940.
Ông từng chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử.
Đă đăng thơ: Phụ Nữ Tân Văn, Saigon, Trong Khuê Pḥng, Đông Dương Tuần Báo, Người Mới.
Đă xuất bản: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1959) gồm có: Thơ Đường Luật, Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ư.
Tất cả các thi phẩm nầy được nhà xuất bản Tân Việt in lại (1959). Càng ngày thơ Hàn Mặc Tử càng được phổ biến rộng và có nhiều người say sưa. Phần nhiều những người mê thơ Hàn Mặc Tử, lớp thanh niên ngày nọ... thường lê thê lếch thếch ở cá hè quán dơ bẩn và điên loạn... họ điên loạn để tỏ ra giống Hàn Mặc Tử, họ bày đặt đau thương khốn đốn, thơ th́ dùng chữ cho sáo, cho kêu, tiếc rằng không t́m được một Hàn Mặc Tử thứ hai để cho ḿnh chiêm ngưởng.
Ngày nào c̣n b́nh tỉnh tôi chỉ thích đọc thơ Xuân Diệu, thơ Lưu Trọng Lư với những linh hồn sầu mộng muôn đời đó, cũng như những người làm thơ hôm nay... cái nhẹ và cao sâu của Trần Dạ Từ, Đỗ Qui Toàn và những bài thơ lục bát của Trần Đức Uyển vậy... nhưng, lúc tỉnh cũng như lúc điên... gịng thơ Việt với đôi h́nh sắc lạ thường rẻ thành hai nẻo... cùng hướng vọng về ân sủng của Thượng Đế, chỉ có Huy Cận ngày xưa, không cầu mong Thượng Đế điều ǵ, v́ thi nhân mang cả cái linh hồn trần gian nầy mà trả lại cho Người. Nhưng đến lúc sầu hận điên đảo khôn nguôi, tôi trở về với Ôn Như Hầu... với Chế Lan Viên... và nhất là với Hàn Mặc Tử. Thơ không vốn để vỗ về lấy đau thương của ai cũng không phải để nói lên cái đau khổ, mà để tạo lập một vũ trụ một cơi mới lạ... điều nói của Loài Người cả đấy thôi... th́ dù ở đâu, ở hoang đảo nào, ở một thế giới nào đi nữa, chúng ta vẫn cắm lều cô độc, chúng ta vẫn đến cái đỉnh chót vót của tâm hồn tẻ quạnh của ta và chừng đó hoặc là trở về cô độc bằng thái độ sống, nếu không, th́ chúng ta sẽ điên, điên như Chế Lan Viên, kinh dị như Hàn Mặc Tử và sau này trên một nguồn đó c̣n có nhà thơ Viên Linh với Hóa Thân xuất bản vừa rồi.
Nhà thơ đi lọc ánh sáng để gieo vần, đơn độc đắm ḿnh trong suối ngọc cỏ thơm, trong niềm đau thương xô đẩy đến một thế giới trăng sao lộng lẫy. Thi ca là nguồn suối ở trên cơi siêu h́nh đảo lộn cả mọi suy tưởng đậm đà của t́nh nhân gian sầu mộng. Ở đó chỉ có linh hồn thi nhân và trân châu ngọc bích của Thượng Đế. Ở đó sự kỳ lạ được nhà thơ điểm vào óng ánh tinh khí, thực thể trơ thành huyền hoặc lư lẽ cơi đời không có đất nẩy mầm, cơi điên loạn dị thường được soi trong cặp kính của một v́ Sáng Thế, được gảy bởi cung đàn thiên tiên bất tuyệt.
Từ lắng nghe niềm đau thương vọt máu của sự t́nh đến khao khát ân ái của nhục thể, từ lang thang cô đơn ở trong xă hội gọi là chỗ hợp quần này tương trợ và thông cảm này... rốt lại chỉ c̣n ṿ vơ từng đêm, hoảng hốt và đau buốt xương da từng đêm trong bệnh viện Qui Ḥa. Từ cơi bị đày này, thi nhân xưa vẫn là người tiên ở thượng giới cho đến cơi tạm bợ đày đọa này, rồi lại bị đày thêm lần nữa ở một vũng cô liêu cũ vạn đời...
Với niềm đau thương của Hàn Mặc Tử người đời c̣n có thể nhắc tới. Nhưng tiếc rằng nhắc tới để cảm thấy một cuộc đời rất là say đắm... rất là khốn cùng... rất là thơ mộng!!! Chứ nào ai đă cảm nhận một người đó vượt khỏi cái âm u, hoang lạnh của hư vô bủa vây trùng điệp... đen tối mịt mù như thứ mê hồn trận. Những giờ phút tê điên hồn phách, sượng sùng xương da, ở giữa một căn nhà với ngọn nến, trông ra bốn bể đêm tối bủa vây, băi tha ma hoang lạnh. Linh hồn kinh dị đến tột cùng, choáng ngộp cơ hồ nghẹt thở... đau đớn bốc dậy cùng từng sớ thịt, từng đường gân, từng mạch máu, từng phút từng lo âu và khẩn nguyện.
Như một kẻ lâm vào ác mộng, vũ trụ quay cuồng, vang vọng đến tiếng gọi rợn người của tử thần ŕnh rập. Cựa quậy khôn thoát, cuối cùng thể xác đành ngă gục... đành tê điên, đành tan rả, nhưng linh hồn Người đă đến một nơi cư ngụ b́nh yên... Trong đời ta, ít nhất là ta đă va chạm một lần với cái chết khủng khiếp, ta mê cuồng và thét gọi; ta điên đảo và bấu víu vào đời sống này một cách vừa bi thảm vừa run sợ. Ít nhất là như thế... ta mới cảm thông với một người trải nhiều ác mộng, luôn luôn thấy bàn tay lông lá của tử thần vương đến chụp xuống đầu cổ, ṿ bóp xương da. Cuộc chiến đấu bất lực của con người với định mệnh ác nghiệp, cuộc chiến đấu giữa thể xác tanh hôi gh́ kéo linh hồn ch́m ngập trong đó, và ư chí thi bay vượt lên, điểm linh hồn với cơi trú ngụ mông lung mù mịt của thế giới trăng sao huyền hoặc của tho Người.
Thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc trong lúc b́nh tỉnh v́ nó sẽ dẫn ta vào chơi vơi hoang đảo trong đêm biển mù tăm. Nhưng lúc quá đau thương, ta vào cơi thơ của người để mà lảo đảo, hít làn tinh khí trăng sao, của hoa trái thanh tân, nh́n thấy ngất trời tinh đẩu, với nỗi đau đớn lạ thường, cảm giác lạnh tê. Ở đó, ta chịu nhận hồn ta vào cơi vô cùng nọ, ta cùng lùa ánh sáng như lùa một thứ t́nh mộng, như lù những làn sóng trong ngần của bầu trời tinh mơ, của biển vàng rực rỡ. Ta sẽ vơi bớt nỗi đau đớn mà cảm thấy một hồng ân, bánh mật của Thượng Đế. Và kẻ nào từ chối thứ bánh mật đó, từ chối mọi ân sủng thiêng liêng đó... cũng đứng lên than văn cơi đời ô trọc làm chi nữa, đừng t́m làm chi nữa hạnh phúc ở trong cơi trần này. Nếu có gan liều phó mặc với triều sóng thời gian đẩy ra khơi măi th́ đừng đọc thơ Hàn Mặc Tử nữa, sẽ tự dựng lấy một thế giới riêng, ở đó mặc t́nh vùng vẫy.
Nói về thơ Hàn Mặc Tử, ngẫm nghĩ lại, ḿnh không nói được ǵ cả... bao nhiêu lời từ trước đến giờ như là cây mục, như là cỏ khô... bởi v́ thơ người quá ư tràn trề ánh sáng, nhưng lúc tắm trong vùng ánh sáng nọ, thoát nó lại biến mất... lúc ta ngỡ thơ chàng là ánh sáng thái dương th́ thơ chàng lại là vầng trăng thiên cổ... lúc ta nắm được linh hồn, nắm được bản chất thơ của Người ở cơi đời này... th́ thơ chàng đâu có... mà ta cầm nắm đâu, v́:
Người thơ chưa thấy ra đi nhỉ?
Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ.
Và chân lư mà ta thấy được ở tận cơi xa mù nào... không thể hiểu nỗi nữa!
Trần Tuấn Kiệt
_______________________________________
* Trích Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại - Quyển I của Trần Tuấn Kiệt.
Tác Giả
Tôi đă nghe người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm. Có người bảo: "Hàn Mạc Tử? thơ với thẩn ǵ! toàn là nói nhảm." Có người c̣n nghiêm khắc hơn nữa: "Thơ ǵ mà rắc rối thế! ḿnh tưởng có ư nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, th́ ra nó lừa ḿnh!" Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mạc Tử trong khi việt đoạn này: "Hăy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! tôi điên đây! -- Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống."
Nhưng tôi cũng đă nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử. Trong ư họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ. Đă khúc mắt mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập. Họ thuộc hết và chọnn những lúc đêm khuya thang vắng, họ sẽ cao giọng, ngâm một ḿnh. Bài thơ đă biến thành bài kinh và người thơ đă trở nên một v́ giáo chủ. Chế Lan Viên nói quả quyết: "Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và c̣n lại của cái thời kỳ này, chút ǵ đáng kể đó là Hàn Mạc Tử."
Ngót một tháng trời tôi đă đọc thơ Hàn Mạc Tử. Tôi đă theo Hàn Mạc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội. Và tôi đă mệt lả. Chính như lời Hàn Mạc Tử nói trong bài tựa Thơ Điên, vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh. Bây giờ đă ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đă trở về với cuộc đời tầm thường mà ư nhị, tôi thử xếp đặt lại những cảm tưởng hỗn độn của tôi.
Thơ Đường Luật: Theo Ông Quách Tấn, Phan Sào Nam hồi trước xem Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử có viết trên báo đại khái nói: "Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song chưa gặp được bài nào hay đến thế... Ôi hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó." Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử làm ra nhiều nhưng bị thất lạc gần hết, tôi không được xem mấy bài. Song trong những bài tôi được xem, tôi cũng đă gặp ít câu hay, chẳng hạn như:
Nằm gắng đă không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi.
Dầu sao tôi vẫn nghĩ cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện cho sử nẩy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mạc Tử.
Gái Quê: Nhiều bài có thể là của ai cũng được. C̣n th́ tả t́nh quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ b́nh dị. Nhưng t́nh ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối t́nh ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ t́nh nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy h́nh ảnh khêu gợi. Ông Phạm Văn Kỳ đề tựa tập thơ ấy là phải lắm: Gái Quê và Une voix sur la voie đều bắt nguồn trong t́nh dục.
Thơ Điên: Thơ Điên gồm có ba tập:
1) Hương Thơm
2) Mật Đắng
3) Máu Cuồng và Hồn Điên
Hương Thơm: Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, t́nh yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói. Một trời t́nh ái mới dựng lên đâu đây. Tuy có đôi vần đẹp, cảm giác chung nhạt tẻ thế nào.
Mật Đắng: Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhưng thỉnh thoảng một luồn sáng lạ chói cả mắt. Nguồn sáng tỏa ra từ một linh hồn vô cùng khổ năo. Ta bắt gặp dấu tích c̣n hoi hóp của một t́nh duyên vừa chết yểu. Thất vọng trong t́nh yêu, chuyện ấy trong thơ ta không thiếu ǵ, nhưng thường là một thứ buồn dầu có thấm thía vẫn dịu dịu. Chỉ trong thơ Hàn Mạc Tử mới thấy một nỗi đau thương mănh liệt như thế. Lời thơ như dính máu.
Máu Cuồng và Hồn Điên: Đến đây ta đă hoàn toàn ra khỏi cái thế giới thực và cái thế giới mộng của ta. Xa lắm rồi. Ta thấy những ǵ chung quanh ta? Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao, ghê tởm, linh động như một người hay đúng hơn một yêu tinh. Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng náo nức dục t́nh. Hàn Mạc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người... Ta rùng ḿnh, ngơ ngác, ta đă lục lọi khắp trong đáy ḷng ta, ta không thấy có tí ǵ giống cái cảnh trước mắt. Trời đất này thực của riêng Hàn Mạc Tử. Ta không hiểu được và chắc cũng không bao giờ ai hiểu được. Nghĩ thế ta bỗng thương con người cô độc. Đă cô độc ở kiếp này và e c̣n cô độc đến muôn kiếp. Hàn Mạc Tử chắc cũng biết thế nên lúc sinh thời người đă nguyền với Chúa sẽ không bao giờ cho xuất bản Thơ Điên. Một tác phẩm như thế, ta không có thể nói hay hay dở, nó đă ra ngoài ṿng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có ǵ kinh dị hơn. Ta chỉ biết ta đương đứng trước một người sượng sần v́ bệnh hoạn, điên cuồng v́ đă quá đau khổ trong t́nh yêu. Cuộc t́nh duyên ra đời với tập Hương Thơm, hấp hối với tập Mật Đắng, đến đây th́ đă chết thiệt rồi, nhưng khí lạnh c̣n tỏa lên nghi ngút.
Một nhà chuyên môn nghiên cứu những trạng thái kỳ dị của tâm linh người ta xem tập Máu Cuồng và Hồn Điên có lẽ sẽ lấy được nhiều tài liệu hơn một nhà phê b́nh văn nghệ. Tuy thế, đây đó ta gặp những câu rất hay.
Như tả cảnh đồi núi một đêm trăng có câu:
Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ
Đầy ḿnh lốm đốm những hào quang.
Lên chơi trăng có câu:
Ta bay lên! Ta bay lên!
Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thềm.
Ta ở cơi cao nh́n trở xuống:
Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm.
Đọc những câu ấy có cái thú vị ở xứ lạ gặp người quen, v́ đó là những cảm giác ta có thể có. Lại có khi những cảm giác ở ta rất thường mà trong trí Hàn Mạc Tử rất dễ sợ. Một đám mây in h́nh dưới ḍng nước thành ra:
Mây chết đuối ở ḍng sông vắng lặng
Trôi thây về xa tận cơi vô biên.
Cái ư muốn mượn lời thơ để tả tâm sự ḿnh cũng trở nên điên cuồng và đau đớn dị thường:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút;
Mỗi lời thơ đều dính năo cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,
Như mê man chết điếng cả làn da.
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết,
Trải niềm đau trên mảnh giấy monh manh;
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đương siết,
Cả ḷng ta trong nhớ chữ rung rinh.
Tôi chỉ trích ra vào đoạn có thể thích được. C̣n bao nhiêu đoạn nữa tuy ta không thích v́ nó không có ǵ hợp với ḷng ta, nhưng ta cũng biết rằng với Hàn Mạc Tử hẳn là những câu tuyệt diệu. Nó đă tả đúng tâm trạng của tác giả. Lời thơ có vẻ thành thực, thiết tha lắm.
Xuân Như Ư: Mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với Chúa Jésus, có khi h́nh như chỉ là mùa xuân đầu năm. Nhưng dầu sao cũng không phải là một mùa xuân ta vẫn quen biết. Đây là một mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ư muốn của thi nhân, đầy dẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Với Hàn Mạc Tử thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để ban ơn phước cho cả và thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng -- sao lại há miệng? -- cho thơ trào ra, làm chín từng mây náo động, muôn v́ tinh tú xôn xao. Người sẽ thấy:
Đường thơ bay sáng láng như sao sa
Trên lụa trắng mười hai hàng chữ ngọc
Thêu như thêu rồng phượng kết tinh hoa.
H́nh như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo khôngcó có ǵ giống như vậy. Hàn Mạc Tử đă dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa. Thiếu ḷng tin, tôi chỉ là một du khách bỡ ngỡ không thể cùng quỳ lạy với thi nhân. Nhưng ḷng tôi có dửng dưng, trí tôi làm sao không ngợp v́ cái vẻ huy hoàng, trang trọng, linh lung, huyền ảo của lâu đài kia? Có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng láng. Xuân Như Ư rơ ràng là tập thơ hay nhất của Hàn Mạc Tử.
Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đă t́m lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ đời Thượng cổ. Ta thấy phảng phất cái không khí Athalie. Cho nên mặc dầu thỉnh thoảng c̣n sót lại một hai dấu tích Phật Giáo, chắc những người đồng đạo chẳng v́ thế mà làm khó dễ chi với di thảo của thi nhân.
Huống chi thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đă tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những t́nh cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những t́nh cảm đă thấm tận đáy hồn đoàn thể.
Thượng Thanh Khí: Một vài bài đặc sắc ghi lại những cảnh đă thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các v́ tinh tú trên kia Đại khái không khác cảnh Xuân Như Ư mấy, chỉ thiếu tính cách tôn giáo, huyền bí nhưng không thiêng liêng.
Cẩm Châu Duyên: Một hai năm trước khi mất, sự t́nh cờ đưa đến trong đời Hàn Mạc Tử h́nh ảnh một giai nhân có cái tên khải ái: nàng Thương Thương. Nàng Thương Thương có lẽ chỉ yêu thơ Hàn Mạc Tử và Hàn Mạc Tử h́nh như cũng không biết ǵ hơn ngoài hai chữ Thương Thương. Nhưng như thế cũng đủ để thi nhân đưa nàng vào tháp thơ. Nàng sẽ luôn luôn đi về trong những giấc mơ của người. Có khi người mơ thấy ḿnh là Tư Mă Tương Như đương nghe lời Trác Văn Quân năn nỉ:
Đă mê rồí! Tư Mă chàng ôi!
Người thiếp lao đao sượng cả người.
Ôi! ôi! hăm bớt cung cầm lại,
Ḷng say đôi má cũng say thôi.
Song những phút mơ khoái lạc ấy có được là bao. Tỉnh dậy, người thấy:
Sao tŕu mến thân yêu đâu vắng cả?
Trơ vơ buồn và không biết kêu ai!
Bức thư kia sao chẳng viết cho dài,
Cho khăng khít nồng nàn thêm chút nữa.
Ta tưởng nghe lời than của Huy Cận.
Nhưng cuộc đời đau thương kia đă đến lúc tàn, và nguồn thơ kia cũng đă đến lúc cạn. Hàn Mạc Tử chốc chốc lại ra ngoài biên giới thơ, lạc vào thế giới đồng bóng.
Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội: Mối t́nh đối với nàng Thương Thương c̣n khiến Hàn Mạc Tử viết ra hai vở kịch bằng thơ này nữa. Quần Tiên Hội viết chưa xong và không có ǵ. Duyên Kỳ Ngộ hay hơn nhiều. Đây là một giấc mơ t́nh ái, ngắn ngủi nhưng xinh tươi, đặt vào một khung cảnh tuyệt diệu. Thi nhân dẫn ta đến một chốn nước non thanh sạch chưa từng in dấu chân người. Ở đó tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân đều biến thành những lời thơ t́nh tứ. Ở đó Hàn Mạc Tử sẽ gặp nàng Thương Thương mà người không mong được gặp ở kiếp này. Nàng sẽ nói với người những lời nồng nàn âu yếm khiến chim nước đều say sưa. Nhưng rồi người sẽ cùng tiếng tiêu cùng đi như vụt nhớ đến cái nghiệp nặng nề đương chờ người nơi trần thế. Và giữa lúc nàng gục đầu khóc, cảnh tiên lại rộn ră tiếng suối ca.
Trong thi phẩm Hàn Mạc Tử có lẽ tập thơ này là trong trẻo hơn cả. C̣n từ Thơ Đường Luật với những câu:
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối;
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.
cho đến Gái Quê, Thơ Điên, Xuân Như Ư và các tập khác, lời thơ thường vẩn đục.
* * *
Tôi đă nói hết cảm tưởng của tôi trong lúc đọc thơ Hàn Mạc Tử. Không có bao giờ tôi thấy cái việc phê b́nh thơ tàn ác như lúc này. Tôi nghĩ đến người đă sống trong một túp lều tranh phải lấy b́ thư và giấy nhựt tŕnh che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đưa đến người không sao nuốt được v́ ăn khổ quá. Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đă bắt người chịu bao nhiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy. Sau cùng người bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi người thân thích. Tôi nghĩ đến bao nhiêu năm người bó tay nh́n cả thể phách lẫn linh hồn cùng tan ră...
Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có ǵ bất nhẫn.
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới.
Thuở nhỏ ông học trung học ở Huế (1928-1930), làm viên chức sở đạc điền ở Quy Nhơn (1932-1933), vào Sài G̣n làm báo rồi lại trở về Quy Nhơn (1934-1935).
Ông mắc bệnh phong từ năm 1937, phải vào nhà thương Quy Ḥa tháng 9 năm 1940, và rồi mất ở đấy ngày 11 tháng 11 năm 1940.
Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường luật và bút danh Minh Duệ thị, Phong Trần; nổi tiếng v́ được cụ Phan Bội Châu họa thơ và đề cao. Từ năm 1935 ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mạc Tử, và cuối cùng Hàn Mặc Tử.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Gái Quê ( 1936, tập thơ duy nhất được xuất bản trong sinh thời tác giả ), Thơ Điên (hay Đau Thương), Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi Giữa Mùa Trăng...
Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm b́nh dị, trong trẻo, chan chứa t́nh quê là các tác phẩm đầy những cảm hứng lạ lùng, huyền bí, thậm chí đến điên loạn, phản ảnh trực tiếp các cơn bệnh đau đớn dày ṿ.
Từng phút - Anh đến gần cửa huyệt
Từng phút - anh tan vào cơi thiêng
Ôm riết từng giây từng nhân ảnh
Khuôn ngọc tṛn trăng , mặt chữ điền
Thính sắc đồng trinh nguyên vẹn trắng
Vẫn c̣n bẽn lẽn lúc quy tiên
.....
Thi tài lĩnh vận vào oan nghiệt
Xuân mấy mươi tàn , huyết chữa tan
Tâm linh tinh biến trong vô thức
Để hồn trang trải nợ trần gian
Tiểu sử theo trong sách
Hoài Thanh - Hoài Chân
(dưới sự đánh máy của Bạch Nha Đầu )
Hàn Mặc Tử (1912-1940)
Nhà thơ với cuộc đời đau thương có một không hai này, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mỹ (Đông Hới). Ông làm thơ từ thuở nhỏ. Lấy hiệu là Phong Trần và Lệ Thanh trong những năm 16 tuổi. Vốn ở Qui Nhơn từ nhỏ, cha mất sớm, nhà nghèo, học đến năm thứ ba ở trường Qui Nhợn Kế đó, ông mắc bịnh hủi, đưa vào nhà thương Qui Ḥa rồi mất ở đó, ngày 11-10-1940.
Ông từng chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử.
Đă đăng thơ: Phụ Nữ Tân Văn, Saigon, Trong Khuê Pḥng, Đông Dương Tuần Báo, Người Mới.
Đă xuất bản: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1959) gồm có: Thơ Đường Luật, Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ư.
Tất cả các thi phẩm nầy được nhà xuất bản Tân Việt in lại (1959). Càng ngày thơ Hàn Mặc Tử càng được phổ biến rộng và có nhiều người say sưa. Phần nhiều những người mê thơ Hàn Mặc Tử, lớp thanh niên ngày nọ... thường lê thê lếch thếch ở cá hè quán dơ bẩn và điên loạn... họ điên loạn để tỏ ra giống Hàn Mặc Tử, họ bày đặt đau thương khốn đốn, thơ th́ dùng chữ cho sáo, cho kêu, tiếc rằng không t́m được một Hàn Mặc Tử thứ hai để cho ḿnh chiêm ngưởng.
Ngày nào c̣n b́nh tỉnh tôi chỉ thích đọc thơ Xuân Diệu, thơ Lưu Trọng Lư với những linh hồn sầu mộng muôn đời đó, cũng như những người làm thơ hôm nay... cái nhẹ và cao sâu của Trần Dạ Từ, Đỗ Qui Toàn và những bài thơ lục bát của Trần Đức Uyển vậy... nhưng, lúc tỉnh cũng như lúc điên... gịng thơ Việt với đôi h́nh sắc lạ thường rẻ thành hai nẻo... cùng hướng vọng về ân sủng của Thượng Đế, chỉ có Huy Cận ngày xưa, không cầu mong Thượng Đế điều ǵ, v́ thi nhân mang cả cái linh hồn trần gian nầy mà trả lại cho Người. Nhưng đến lúc sầu hận điên đảo khôn nguôi, tôi trở về với Ôn Như Hầu... với Chế Lan Viên... và nhất là với Hàn Mặc Tử. Thơ không vốn để vỗ về lấy đau thương của ai cũng không phải để nói lên cái đau khổ, mà để tạo lập một vũ trụ một cơi mới lạ... điều nói của Loài Người cả đấy thôi... th́ dù ở đâu, ở hoang đảo nào, ở một thế giới nào đi nữa, chúng ta vẫn cắm lều cô độc, chúng ta vẫn đến cái đỉnh chót vót của tâm hồn tẻ quạnh của ta và chừng đó hoặc là trở về cô độc bằng thái độ sống, nếu không, th́ chúng ta sẽ điên, điên như Chế Lan Viên, kinh dị như Hàn Mặc Tử và sau này trên một nguồn đó c̣n có nhà thơ Viên Linh với Hóa Thân xuất bản vừa rồi.
Nhà thơ đi lọc ánh sáng để gieo vần, đơn độc đắm ḿnh trong suối ngọc cỏ thơm, trong niềm đau thương xô đẩy đến một thế giới trăng sao lộng lẫy. Thi ca là nguồn suối ở trên cơi siêu h́nh đảo lộn cả mọi suy tưởng đậm đà của t́nh nhân gian sầu mộng. Ở đó chỉ có linh hồn thi nhân và trân châu ngọc bích của Thượng Đế. Ở đó sự kỳ lạ được nhà thơ điểm vào óng ánh tinh khí, thực thể trơ thành huyền hoặc lư lẽ cơi đời không có đất nẩy mầm, cơi điên loạn dị thường được soi trong cặp kính của một v́ Sáng Thế, được gảy bởi cung đàn thiên tiên bất tuyệt.
Từ lắng nghe niềm đau thương vọt máu của sự t́nh đến khao khát ân ái của nhục thể, từ lang thang cô đơn ở trong xă hội gọi là chỗ hợp quần này tương trợ và thông cảm này... rốt lại chỉ c̣n ṿ vơ từng đêm, hoảng hốt và đau buốt xương da từng đêm trong bệnh viện Qui Ḥa. Từ cơi bị đày này, thi nhân xưa vẫn là người tiên ở thượng giới cho đến cơi tạm bợ đày đọa này, rồi lại bị đày thêm lần nữa ở một vũng cô liêu cũ vạn đời...
Với niềm đau thương của Hàn Mặc Tử người đời c̣n có thể nhắc tới. Nhưng tiếc rằng nhắc tới để cảm thấy một cuộc đời rất là say đắm... rất là khốn cùng... rất là thơ mộng!!! Chứ nào ai đă cảm nhận một người đó vượt khỏi cái âm u, hoang lạnh của hư vô bủa vây trùng điệp... đen tối mịt mù như thứ mê hồn trận. Những giờ phút tê điên hồn phách, sượng sùng xương da, ở giữa một căn nhà với ngọn nến, trông ra bốn bể đêm tối bủa vây, băi tha ma hoang lạnh. Linh hồn kinh dị đến tột cùng, choáng ngộp cơ hồ nghẹt thở... đau đớn bốc dậy cùng từng sớ thịt, từng đường gân, từng mạch máu, từng phút từng lo âu và khẩn nguyện.
Như một kẻ lâm vào ác mộng, vũ trụ quay cuồng, vang vọng đến tiếng gọi rợn người của tử thần ŕnh rập. Cựa quậy khôn thoát, cuối cùng thể xác đành ngă gục... đành tê điên, đành tan rả, nhưng linh hồn Người đă đến một nơi cư ngụ b́nh yên... Trong đời ta, ít nhất là ta đă va chạm một lần với cái chết khủng khiếp, ta mê cuồng và thét gọi; ta điên đảo và bấu víu vào đời sống này một cách vừa bi thảm vừa run sợ. Ít nhất là như thế... ta mới cảm thông với một người trải nhiều ác mộng, luôn luôn thấy bàn tay lông lá của tử thần vương đến chụp xuống đầu cổ, ṿ bóp xương da. Cuộc chiến đấu bất lực của con người với định mệnh ác nghiệp, cuộc chiến đấu giữa thể xác tanh hôi gh́ kéo linh hồn ch́m ngập trong đó, và ư chí thi bay vượt lên, điểm linh hồn với cơi trú ngụ mông lung mù mịt của thế giới trăng sao huyền hoặc của tho Người.
Thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc trong lúc b́nh tỉnh v́ nó sẽ dẫn ta vào chơi vơi hoang đảo trong đêm biển mù tăm. Nhưng lúc quá đau thương, ta vào cơi thơ của người để mà lảo đảo, hít làn tinh khí trăng sao, của hoa trái thanh tân, nh́n thấy ngất trời tinh đẩu, với nỗi đau đớn lạ thường, cảm giác lạnh tê. Ở đó, ta chịu nhận hồn ta vào cơi vô cùng nọ, ta cùng lùa ánh sáng như lùa một thứ t́nh mộng, như lù những làn sóng trong ngần của bầu trời tinh mơ, của biển vàng rực rỡ. Ta sẽ vơi bớt nỗi đau đớn mà cảm thấy một hồng ân, bánh mật của Thượng Đế. Và kẻ nào từ chối thứ bánh mật đó, từ chối mọi ân sủng thiêng liêng đó... cũng đứng lên than văn cơi đời ô trọc làm chi nữa, đừng t́m làm chi nữa hạnh phúc ở trong cơi trần này. Nếu có gan liều phó mặc với triều sóng thời gian đẩy ra khơi măi th́ đừng đọc thơ Hàn Mặc Tử nữa, sẽ tự dựng lấy một thế giới riêng, ở đó mặc t́nh vùng vẫy.
Nói về thơ Hàn Mặc Tử, ngẫm nghĩ lại, ḿnh không nói được ǵ cả... bao nhiêu lời từ trước đến giờ như là cây mục, như là cỏ khô... bởi v́ thơ người quá ư tràn trề ánh sáng, nhưng lúc tắm trong vùng ánh sáng nọ, thoát nó lại biến mất... lúc ta ngỡ thơ chàng là ánh sáng thái dương th́ thơ chàng lại là vầng trăng thiên cổ... lúc ta nắm được linh hồn, nắm được bản chất thơ của Người ở cơi đời này... th́ thơ chàng đâu có... mà ta cầm nắm đâu, v́:
Người thơ chưa thấy ra đi nhỉ?
Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ.
Và chân lư mà ta thấy được ở tận cơi xa mù nào... không thể hiểu nỗi nữa!
Trần Tuấn Kiệt
_______________________________________
* Trích Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại - Quyển I của Trần Tuấn Kiệt.
Tác Giả
Tôi đă nghe người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm. Có người bảo: "Hàn Mạc Tử? thơ với thẩn ǵ! toàn là nói nhảm." Có người c̣n nghiêm khắc hơn nữa: "Thơ ǵ mà rắc rối thế! ḿnh tưởng có ư nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, th́ ra nó lừa ḿnh!" Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mạc Tử trong khi việt đoạn này: "Hăy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! tôi điên đây! -- Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống."
Nhưng tôi cũng đă nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử. Trong ư họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ. Đă khúc mắt mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập. Họ thuộc hết và chọnn những lúc đêm khuya thang vắng, họ sẽ cao giọng, ngâm một ḿnh. Bài thơ đă biến thành bài kinh và người thơ đă trở nên một v́ giáo chủ. Chế Lan Viên nói quả quyết: "Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và c̣n lại của cái thời kỳ này, chút ǵ đáng kể đó là Hàn Mạc Tử."
Ngót một tháng trời tôi đă đọc thơ Hàn Mạc Tử. Tôi đă theo Hàn Mạc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội. Và tôi đă mệt lả. Chính như lời Hàn Mạc Tử nói trong bài tựa Thơ Điên, vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh. Bây giờ đă ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đă trở về với cuộc đời tầm thường mà ư nhị, tôi thử xếp đặt lại những cảm tưởng hỗn độn của tôi.
Thơ Đường Luật: Theo Ông Quách Tấn, Phan Sào Nam hồi trước xem Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử có viết trên báo đại khái nói: "Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song chưa gặp được bài nào hay đến thế... Ôi hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó." Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử làm ra nhiều nhưng bị thất lạc gần hết, tôi không được xem mấy bài. Song trong những bài tôi được xem, tôi cũng đă gặp ít câu hay, chẳng hạn như:
Nằm gắng đă không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi.
Dầu sao tôi vẫn nghĩ cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện cho sử nẩy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mạc Tử.
Gái Quê: Nhiều bài có thể là của ai cũng được. C̣n th́ tả t́nh quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ b́nh dị. Nhưng t́nh ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối t́nh ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ t́nh nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy h́nh ảnh khêu gợi. Ông Phạm Văn Kỳ đề tựa tập thơ ấy là phải lắm: Gái Quê và Une voix sur la voie đều bắt nguồn trong t́nh dục.
Thơ Điên: Thơ Điên gồm có ba tập:
1) Hương Thơm
2) Mật Đắng
3) Máu Cuồng và Hồn Điên
Hương Thơm: Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, t́nh yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói. Một trời t́nh ái mới dựng lên đâu đây. Tuy có đôi vần đẹp, cảm giác chung nhạt tẻ thế nào.
Mật Đắng: Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhưng thỉnh thoảng một luồn sáng lạ chói cả mắt. Nguồn sáng tỏa ra từ một linh hồn vô cùng khổ năo. Ta bắt gặp dấu tích c̣n hoi hóp của một t́nh duyên vừa chết yểu. Thất vọng trong t́nh yêu, chuyện ấy trong thơ ta không thiếu ǵ, nhưng thường là một thứ buồn dầu có thấm thía vẫn dịu dịu. Chỉ trong thơ Hàn Mạc Tử mới thấy một nỗi đau thương mănh liệt như thế. Lời thơ như dính máu.
Máu Cuồng và Hồn Điên: Đến đây ta đă hoàn toàn ra khỏi cái thế giới thực và cái thế giới mộng của ta. Xa lắm rồi. Ta thấy những ǵ chung quanh ta? Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao, ghê tởm, linh động như một người hay đúng hơn một yêu tinh. Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng náo nức dục t́nh. Hàn Mạc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người... Ta rùng ḿnh, ngơ ngác, ta đă lục lọi khắp trong đáy ḷng ta, ta không thấy có tí ǵ giống cái cảnh trước mắt. Trời đất này thực của riêng Hàn Mạc Tử. Ta không hiểu được và chắc cũng không bao giờ ai hiểu được. Nghĩ thế ta bỗng thương con người cô độc. Đă cô độc ở kiếp này và e c̣n cô độc đến muôn kiếp. Hàn Mạc Tử chắc cũng biết thế nên lúc sinh thời người đă nguyền với Chúa sẽ không bao giờ cho xuất bản Thơ Điên. Một tác phẩm như thế, ta không có thể nói hay hay dở, nó đă ra ngoài ṿng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có ǵ kinh dị hơn. Ta chỉ biết ta đương đứng trước một người sượng sần v́ bệnh hoạn, điên cuồng v́ đă quá đau khổ trong t́nh yêu. Cuộc t́nh duyên ra đời với tập Hương Thơm, hấp hối với tập Mật Đắng, đến đây th́ đă chết thiệt rồi, nhưng khí lạnh c̣n tỏa lên nghi ngút.
Một nhà chuyên môn nghiên cứu những trạng thái kỳ dị của tâm linh người ta xem tập Máu Cuồng và Hồn Điên có lẽ sẽ lấy được nhiều tài liệu hơn một nhà phê b́nh văn nghệ. Tuy thế, đây đó ta gặp những câu rất hay.
Như tả cảnh đồi núi một đêm trăng có câu:
Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ
Đầy ḿnh lốm đốm những hào quang.
Lên chơi trăng có câu:
Ta bay lên! Ta bay lên!
Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thềm.
Ta ở cơi cao nh́n trở xuống:
Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm.
Đọc những câu ấy có cái thú vị ở xứ lạ gặp người quen, v́ đó là những cảm giác ta có thể có. Lại có khi những cảm giác ở ta rất thường mà trong trí Hàn Mạc Tử rất dễ sợ. Một đám mây in h́nh dưới ḍng nước thành ra:
Mây chết đuối ở ḍng sông vắng lặng
Trôi thây về xa tận cơi vô biên.
Cái ư muốn mượn lời thơ để tả tâm sự ḿnh cũng trở nên điên cuồng và đau đớn dị thường:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút;
Mỗi lời thơ đều dính năo cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,
Như mê man chết điếng cả làn da.
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết,
Trải niềm đau trên mảnh giấy monh manh;
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đương siết,
Cả ḷng ta trong nhớ chữ rung rinh.
Tôi chỉ trích ra vào đoạn có thể thích được. C̣n bao nhiêu đoạn nữa tuy ta không thích v́ nó không có ǵ hợp với ḷng ta, nhưng ta cũng biết rằng với Hàn Mạc Tử hẳn là những câu tuyệt diệu. Nó đă tả đúng tâm trạng của tác giả. Lời thơ có vẻ thành thực, thiết tha lắm.
Xuân Như Ư: Mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với Chúa Jésus, có khi h́nh như chỉ là mùa xuân đầu năm. Nhưng dầu sao cũng không phải là một mùa xuân ta vẫn quen biết. Đây là một mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ư muốn của thi nhân, đầy dẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Với Hàn Mạc Tử thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để ban ơn phước cho cả và thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng -- sao lại há miệng? -- cho thơ trào ra, làm chín từng mây náo động, muôn v́ tinh tú xôn xao. Người sẽ thấy:
Đường thơ bay sáng láng như sao sa
Trên lụa trắng mười hai hàng chữ ngọc
Thêu như thêu rồng phượng kết tinh hoa.
H́nh như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo khôngcó có ǵ giống như vậy. Hàn Mạc Tử đă dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa. Thiếu ḷng tin, tôi chỉ là một du khách bỡ ngỡ không thể cùng quỳ lạy với thi nhân. Nhưng ḷng tôi có dửng dưng, trí tôi làm sao không ngợp v́ cái vẻ huy hoàng, trang trọng, linh lung, huyền ảo của lâu đài kia? Có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng láng. Xuân Như Ư rơ ràng là tập thơ hay nhất của Hàn Mạc Tử.
Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đă t́m lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ đời Thượng cổ. Ta thấy phảng phất cái không khí Athalie. Cho nên mặc dầu thỉnh thoảng c̣n sót lại một hai dấu tích Phật Giáo, chắc những người đồng đạo chẳng v́ thế mà làm khó dễ chi với di thảo của thi nhân.
Huống chi thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đă tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những t́nh cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những t́nh cảm đă thấm tận đáy hồn đoàn thể.
Thượng Thanh Khí: Một vài bài đặc sắc ghi lại những cảnh đă thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các v́ tinh tú trên kia Đại khái không khác cảnh Xuân Như Ư mấy, chỉ thiếu tính cách tôn giáo, huyền bí nhưng không thiêng liêng.
Cẩm Châu Duyên: Một hai năm trước khi mất, sự t́nh cờ đưa đến trong đời Hàn Mạc Tử h́nh ảnh một giai nhân có cái tên khải ái: nàng Thương Thương. Nàng Thương Thương có lẽ chỉ yêu thơ Hàn Mạc Tử và Hàn Mạc Tử h́nh như cũng không biết ǵ hơn ngoài hai chữ Thương Thương. Nhưng như thế cũng đủ để thi nhân đưa nàng vào tháp thơ. Nàng sẽ luôn luôn đi về trong những giấc mơ của người. Có khi người mơ thấy ḿnh là Tư Mă Tương Như đương nghe lời Trác Văn Quân năn nỉ:
Đă mê rồí! Tư Mă chàng ôi!
Người thiếp lao đao sượng cả người.
Ôi! ôi! hăm bớt cung cầm lại,
Ḷng say đôi má cũng say thôi.
Song những phút mơ khoái lạc ấy có được là bao. Tỉnh dậy, người thấy:
Sao tŕu mến thân yêu đâu vắng cả?
Trơ vơ buồn và không biết kêu ai!
Bức thư kia sao chẳng viết cho dài,
Cho khăng khít nồng nàn thêm chút nữa.
Ta tưởng nghe lời than của Huy Cận.
Nhưng cuộc đời đau thương kia đă đến lúc tàn, và nguồn thơ kia cũng đă đến lúc cạn. Hàn Mạc Tử chốc chốc lại ra ngoài biên giới thơ, lạc vào thế giới đồng bóng.
Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội: Mối t́nh đối với nàng Thương Thương c̣n khiến Hàn Mạc Tử viết ra hai vở kịch bằng thơ này nữa. Quần Tiên Hội viết chưa xong và không có ǵ. Duyên Kỳ Ngộ hay hơn nhiều. Đây là một giấc mơ t́nh ái, ngắn ngủi nhưng xinh tươi, đặt vào một khung cảnh tuyệt diệu. Thi nhân dẫn ta đến một chốn nước non thanh sạch chưa từng in dấu chân người. Ở đó tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân đều biến thành những lời thơ t́nh tứ. Ở đó Hàn Mạc Tử sẽ gặp nàng Thương Thương mà người không mong được gặp ở kiếp này. Nàng sẽ nói với người những lời nồng nàn âu yếm khiến chim nước đều say sưa. Nhưng rồi người sẽ cùng tiếng tiêu cùng đi như vụt nhớ đến cái nghiệp nặng nề đương chờ người nơi trần thế. Và giữa lúc nàng gục đầu khóc, cảnh tiên lại rộn ră tiếng suối ca.
Trong thi phẩm Hàn Mạc Tử có lẽ tập thơ này là trong trẻo hơn cả. C̣n từ Thơ Đường Luật với những câu:
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối;
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.
cho đến Gái Quê, Thơ Điên, Xuân Như Ư và các tập khác, lời thơ thường vẩn đục.
* * *
Tôi đă nói hết cảm tưởng của tôi trong lúc đọc thơ Hàn Mạc Tử. Không có bao giờ tôi thấy cái việc phê b́nh thơ tàn ác như lúc này. Tôi nghĩ đến người đă sống trong một túp lều tranh phải lấy b́ thư và giấy nhựt tŕnh che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đưa đến người không sao nuốt được v́ ăn khổ quá. Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đă bắt người chịu bao nhiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy. Sau cùng người bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi người thân thích. Tôi nghĩ đến bao nhiêu năm người bó tay nh́n cả thể phách lẫn linh hồn cùng tan ră...
Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có ǵ bất nhẫn.