Tay Doc
08-16-2002, 03:53 PM
Bài kư bia chùa Báo Ân (1)
Bài kư Hội Thích giáo Thiền tự già (2) chùa Báo Ân
Bậc thí chủ xuất tiền làm cảnh chùa thêm đẹp, được các vị hào kiệt hơn đời tôn kính.
Nay có ông Phong trị động chương công giám thần, Kim tử quang hoằng thái trưởng trưởng tử thái tử nhật trung huệ môn hạ thị công, đặc tiến phong Ân sĩ đại phu văn công, quốc công, lệnh công đem hơn trăm mẫu ruộng thế nghiệp và hơn hai ngh́n quan tiền, cúng Như Lai để nêu cao công đức một nhà, cho việc mai sau thêm long trọng, và tỏ ḷng thành kính măi măi không quên.
Xưa nay sách phật dậy không sai mà chứng quả lớn của ḷng từ rành rành c̣n đó. Trải bao thế đại vẫn không ngừng, nay gặp hội rực hồng đuốc thiện. Nắng tỏa trăng soi nền phúc nguy nga, điềm lành ṿi vọi; cổ kim tiếp nối, bè từ chói lọi, cậy đức ngất trời. Vận nước huy hoàng; núi sông tráng lệ. Thấm thía như cây nhờ ơn nước, cảnh mai sau xanh tốt thắm tươi; rạt rào ơn Phật lẫn ơn trời, nguồn nhân hậu lưu dành chan chứa. Văn ghi bia dựng, lưu lại ngàn đời; đạo cả ḷng từ, khắc sâu muôn thủa. ư tốt tỏa hương thơm, ḷng nhân ngời đức thiện. Nhân là lớn, đạo là lành, để lại phúc lành cho con cháu. Minh là đẹp, tùng là thơm, lẽ báo đền âu cũng hiển nhiên.
Ngọc mài th́ sáng, vàng chuốt th́ tươi. Như núi sông nhật nguyệt trường tồn, thêm đạo lư văn chương tô điểm. Sùng thượng th́ được hưởng phúc lành, sáng tuốt là khắc sâu chữ hiếu vậy chăng?
Tiếng nói và thể phách chết đi là mất, của cải cúng vào chùa ghi tạc trong bia (3), muôn thuở lưu truyền, tiếng tăm lừng lẫy như ánh mặt trời mới mọc. Tấm ḷng ngưỡng mộ, danh vẻ vang măi măi không mờ.
Bẩy gian san sát vừa xây, một xóm sáng tươi rực rỡ. Quy mô ấy đă nên ghi, công nghiệp nọ càng đáng khắc. Ghi nhớ ư tốt, ngợi ca việc thiện, hẳn cũng nên làm vậy. Sách Thấu hải nói: phong tục theo đời cổ là hay. Lại nói: đạo đức vốn tự trời sẵn phú. Nay thái tử thấy cảnh chùa Tự già Báo Ân: điện thánh tầng tầng, vầng dương tỏa chiếu; phật đài sừng sững, dáng núi vút cao. Thường khi ba ngày ăn chay, thường khi một ḷng phát nguyện. Thái tử bèn bỏ ra hơn bảy trăm quan, sửa sang tiệc cúng; lại đem các đồ thất bảo (4), dâng lên ṭa sen. Thực là: đức rộng bằng sông biển, ḷng sáng như trăng sao.
Lúc ấy các sư săi ở nhà ông đều là những người vâng mệnh triều đ́nh cùng chung một chí hướng, dù trí hay ngu, dù lớn hay nhỏ, dốc ḷng trụ tŕ, tu sửa mở mang, cơi phúc được trang hoàng tốt đẹp. Nguyễn công là cháu trưởng Đề công dưới triều Cao Tông hoàng đế (5), gặp thời thịnh trị đă làm cho cửa nhà rạng rỡ, tháp đất xuân tươi nhuần. Nguyễn công sâu sắc khéo giữ phép nhà, nên được giao xem xét thị vệ ở Long cung, cùng công chúa bắc cầu, xây tháp. Ngày tháng năm ấy sinh con trai, được Tín quận công Phạm Công Trác (6) lập đàn cầu mát. Tiếp đó có chỉ thăng hàm Trung siêu quận quốc (7).
Khi ấy Nguyễn Bá Công là Công Lượng, Tể tướng Phạm Côn, người Ninh Ơn (8), trúng ất khoa, được vào chầu sân rồng, hàm ṭng nhị phẩm, vâng mệnh hoàng đế và thái thượng hoàng (9) cất nhắc ông làm vơ tướng. Cơ đồ mở rộng, dân thảy dân Nghiêu; bờ cơi vững bền, càng tôn phép Phật.
Bố thí rộng th́ đức sáng cửa nhà; khéo dạy bảo th́ người vui theo đạo Phúc báo nào có xa đâu; việc ghi vẫn c̣n rơ lắm (10). Ơn vua thấm khắp, cây cỏ xanh tươi; đuốc tuệ rộng soi, non sông bền vững. Nguyễn công phúc lộc dồi dào, thân bằng toàn vẹn; làng xóm khí thiêng chung đúc, sinh lắm trai tài. Chuông khánh trước ṭa Phật, từng đă đúc nên; pháp khí (11) trên ban thờ, nhiều phen dâng cúng. Đức thấu trời xanh, ơn lưu hậu thế; giận dữ ác độc, thảy đều tiêu tan (12), ngh́n xưa vẫn vậy. Nhờ có sự bố thí rộng răi, mới có cảnh chùa đẹp đẽ ngày nay.
Nguyễn công trước kia từng tới thăm chùa, khuyến hóa mọi người báo ơn trời Phật. Từ hư không dựng cảnh chiền xán lạn, làm nơi cực lạc tiêu dao, thật đáng gọi là điềm tốt đẹp.
Nguyễn công vừa tới trụ tŕ, chùa đă nổi danh, vui đạo diệu thiền, chăm theo giáo pháp. Dốc ḷng cung kính, một niềm báo đáp Phật ân; phép báu giữ ǵn, thành kính báo đền tổ đức.
[Thế rồi]: thuê người vẽ kiểu, tính toán vật tư; xem tháng bói ngày, hẹn kỳ khởi tạo. Vâng mệnh trên, người người gấp rút lo toan, khắp cả quan ty bốn bộ. Mọi kẻ thừa hành răm rắp, xem quẻ chọn được ngày lành. Các bậc cung phi, ai ai cũng góp. Muôn dân trong nước, nhà nhà đều quyên. Như đàn chim họp bày ríu rít, như chúng sinh vui được siêu thăng.
[Kết quả là]: cột sơn hoa thắm, màu ngọc tươi chiếu rọi non sông; cung điện huy hoàng, ánh nhật nguyệt chói ngời sáng láng. Tượng Phật trang hoàng; ṭa sen đĩnh đạc. Chuông to gác phượng, chẳng bao lâu tu tạo đă xong; khánh quư khám rồng, vẻ lộng lẫy uy nghiêm rơ rệt. Vững như vách núi, cảnh đẹp bao ṃn. Lại c̣n ruộng xứ đồng Bi, ghi chép giới phân càng rơ. Trong đồng, ngoài băi rành rành, cúng Phật, cho dân minh bạch. Trong đồng th́ xứ Phan Thượng 30 mẫu, xứ Phan hạ 30 mẫu, xứ Tửu Bi 20 mẫu, xứ Đồng Hấp 30 mẫu. Ngoài băi th́ xứ Đồng Chài 8 mẫu, xứ Đường Sơn 5 mẫu, xứ Đồng Nhe 3 mẫu. Các xứ cộng 126 mẫu, cúng làm ruộng oản nuôi sư, 3 mẫu cho người giữ chùa, c̣n bao nhiêu để lại cho dân, pḥng khi tu sửa, cùng là sắm cỗ chay oản quả, dịp hội hè, bố thí cô hồn.
Ôi, cảnh chùa này phía tây tiếp giáp cầu Đằng, suốt ngày nhộn nhịp, tiếng chèo khua, thuyền mảng qua lại. Phía nam có non Huyền cao ngất, cảnh sắc xinh tươi, chim về ríu rít. Bên bờ cây xuân thơm phức, cảnh đẹp nhờ vẻ linh thiêng. Phía bắc bát ngát đồng Bi, ruộng từng khoảnh tiếp liền một dải. Phía đông mênh mông nội cỏ, sáo mục đồng [hôm sớm vi vu]. Hơn trăm mẫu ruộng xứ Bi Đàm là do Nguyễn công bỏ ra hơn 1000 quan tậu cúng làm ruộng oản. Chùa đặt tên là Tự Già Báo Ân, có thể gọi là xây nền phúc vậy. Nguyễn công nghĩ rằng: công lao tu tạo, ấy mới là duyên đẹp của một nhà; lại kết thắng nhân, kể tên đủ chín vị trong Hội hăn. Năm năm cúng vài quan tiền tốt, việc từ tâm nào kể ít nhiều; tháng tháng dâng trăm tấm lụa hồng, hàng áo mũ nệ ǵ cao thấp. Phướn bay khoe sắc, phất phơ muôn đóa hoa tươi; tàn ngọc phơi màu, lấp lánh ngàn đèn đuốc rọi. Quả đẹp hoa thơm dâng tượng thánh, phúc tràn thế giới ba ngh́n: chân tiên tinh tú, hưởng tiệc hoa, chứng giám ḷng thành hạ giới. Khua chiêng gơ trống, tiếng vang vang thấu đến tầng trời; phẩm oản mâm chay, mùi ngon ngọt rỡ ràng tiệc cả. Ngọn đèn soi thấu, cơi u minh siêu độ kẻ tiên vong (13); hương khói ngạt ngào, nơi đất Phật phúc lưu người hậu hóa (14). Trước hết chúc; đương kim hoàng đế và thái thượng hoàng, vâng mệnh trời mà trị v́, nối Thuấn Nghiêu mà giữ nghiệp. Sống muôn năm để trị dân đen, thọ ngh́n tuổi để hộ tŕ Phật pháp. Thứ đến chúc tất cả các vị công hầu khanh tướng (15), ngọc vàng giàu có, lộc vị cao, thăng, giúp thánh chúa ngày ngày đổi mới, trồng thiện nhân măi măi không ngừng.
Tôi nay tài mỏng cánh ve, lạm dùng chữ nghĩa rông dài, thẹn không ư đẹp lời hay, gượng thuật đạo trời cao cả.
Minh rằng:
Chân như, đă định,
Đạo Phật đang hưng thịnh.
Cái tâm phút chốc đạt đến chỗ lặng lẽ,
ư càn rỡ hung hăng chợt lắng trong.
Kẻ chết trước, người tịch sau,
Đều lên thiên đường.
Muốn thoát khỏi cảnh ch́m đắm [trong bể khổ],
Phải kính trọng Phật và sư.
Kính cẩn xây dựng chùa,
Đó là việc làm của Nguyễn công.
Một lần khoác áo chiến bào,
Là bọn giặc tan rạp như cỏ lướt theo gió.
Vài quan tiền,
Trăm tấm lụa hồng,
Để sửa sang cảnh chùa,
[Cho nên] được phúc lớn.
Phướn hoa, lọng báu,
Phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ.
Rung chuông đánh trống,
Thổi sáo, thổi tù và.
Tiệc chay thanh đạm,
Trăm vị thơm ngon.
Bố thí không kể nhiều ít,
Ban phát không kể trẻ già
ánh đèn nến sáng rực,
Thấu khắp nơi nơi.
Nguyễn công tích phúc thiện,
Nhiều đời được phong tước.
Giúp vua ức vạn năm,
Tôn sùng Phật pháp không lúc nào thiếu sót.
Dịch nghĩa:
Đạo chân như đă định,
Phật giáo đang khơi ḍng.
Tâm trở về hư tịch,
ư càn rông lắng trong
Người hóa sau, tịch trước,
Thiên đường, một lối chung.
Muốn thoát ṿng bể khổ,
Phật tăng phải kính sùng.
Chùa Báo Ân lộng lẫy,
Là do sức Nguyễn công.
áo chiến bào vừa khoác,
Cỏ lướt gió hăi hùng.
Vài ngh́n quan tiền tốt,
Mấy trăm tấm lụa hồng.
Sửa sang đồ pháp khí,
Được phúc thỏa ước mong.
Phướn hoa và lọng ngọc,
ánh mặt trời linh lung.
Trống chuông khua rộn ră,
Kèn sáo thổi tưng bừng.
Nào cỗ chay thanh đạm.
Nào trăm thức thơm lừng
Bố thí dầu nhiều ít,
Già trẻ đều hưởng cùng.
ánh đen soi rực rỡ,
Sáng chói cả một vùng.
Nguyễn công dày phúc thiện,
Đời nối đời tước phong.
Muôn năm giúp thánh chúa,
Thờ Phật, dốc một ḷng.
Trấn ti viên ngoại lang Ngụy Tự Hiền soạn.
Tháng 12 năm Trị B́nh Long ứng thứ năm (1209) ngày tốt dựng bia (16)
Ngô Thế Long và Băng Thanh dịch
Khảo Đính:
Văn bản khảo đính: bản dập
Để khảo đính bài bia này, chúng tôi dựa vào bản dập mang kư hiệu 4102 - 4103 của Thư viện Khoa học xă hội. Bản dập cho ta biết bia cao 129 cm rộng 78 cm, do: Ngụy Tự Hiền soạn, kể công đức bố thí làm chùa của Nguyễn công, một tướng vơ dưới thời Lư Cao Tông. Nét chữ trên bản dập c̣n rơ nhưng một số câu văn rất tối ư và rất khó dịch chính xác. Có lẽ bia đă được khắc lại và nhiều chữ bị sai lạc đi. Điều đó cũng thường gặp. Tuy nhiên, có một chi tiết đáng được lưu ư khi xếp niên đại của tấm bia này. Bia ghi rơ "dựng ngày tốt tháng Chạp năm Trị B́nh Long ứng thứ năm" (1209), mười tháng trước khi Cao Tông chết. Như vậy bài văn chắc chắn phải viết xong trước thời điểm đó. Vậy mà trong bia lại có câu: "... thị Cao Tông đại Đề công trưởng tôn"; nghĩa là: "... là cháu trưởng Đề công đời Cao Tông". Cao Tông là thụy hiệu, mà ai cũng biết, thụy hiệu chỉ được đặt sau khi vua đă chết. Có nghĩa là có một sự mâu thuẫn giữa ngày tháng đề trên bia và sự kiện trong bài văn. Mặc dầu vậy, sau khi nghiên cứu, chúng tôi thấy có thể có hai nguyên nhân dẫn đến sự khập khiễng trên:
1. Thường thường từ khi bài văn bia viết xong đến lúc tấm bia hoàn thành phải trải qua một thời gian, có khi đến mấy chục năm (như trường hợp bia Linh Xứng). Cho nên, có thể bài văn này Ngụy Tự Hiền viết xong vào năm Trị B́nh Long ứng thứ năm nhưng lại được khắc sau khi vua đă mất. Và lúc đó, người khắc tự tiện thay đại từ chỉ Cao Tông bằng thụy hiệu đă ban bố.
2. Cũng có thể sự sửa đổi này xảy ra vào lần bia khắc lại, mà khắc lại khá muộn. Cho nên, bên cạnh hai chữ Cao Tông, ta c̣n thấy cả tên những đơn vị hành chính rất mới như: xă, bản xă.
Chú thích:
(1) Chùa Báo Ân: hồ sơ của bia ghi chú chùa ở xă Tháp Miếu, tổng Bạch Trĩ, huyện Yên Lăng, tỉnh Phúc Yên. Theo ĐNVNQCĐ, Yên Lăng là tên đặt sau đời Lư. ở đời Lê, huyện Yên Lăng thuộc trấn Sơn Tây. Trấn Sơn Tây đời Lư là miền đất thuộc lộ Quốc Oai. Hiện nay Yên Lăng thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
(2) Hội Thích giáo thiền tự già: có lẽ là hội của những người theo đạo Phật nhưng không xuất gia. Hiện chưa t́m được tài liệu ghi chép rơ về kiểu tổ chức này.
(3) Tiếng nói và thể phách chết đi là mất, của cải cúng vào chùa c̣n ghi tạc trong bia: nguyên văn: âm thể viễn nhi viễn dă: sở dụng chí hoàn nhi bi chi khắc. Câu này rất khó hiểu. Trong Phật học, khái niệm âm và thanh rất quan trọng. Câu này cũng có thể hiểu theo nghĩa chữ là: "cái thể" của âm th́ xa và càng xa măi, nhưng "cái tác dụng" của nó th́ tuần hoàn (tồn tại) và bia được khắc lại. Nhưng chủ ư của tác giả định nói về vấn đề ǵ cũng chưa rơ ràng.
(4) Thất bảo: c̣n gọi là thất trân.
(5) Cao Tông: tức Lư Long Trát.
(6) Đoạn này mạch văn rất rối, tạm dịch như trên. Các nhân vật này cũng chưa rơ tiểu sử.
(7) Hàm Trung Siêu quận quốc: nguyên văn: "Phụng cấp Trung siêu quận quốc" nghĩa là vàng và chỉ trao hàm Trung siêu quận quốc. Chưa rơ hàm tước này.
(8) Ninh Sơn: Trong Lĩnh Nam chích quái, Ninh Sơn là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Dư địa chí của Nguyễn Trăi cũng có ghi. ở đời Lê, Ninh Sơn thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, có lẽ ở đời Lư thuộc lộ Quốc Oai chăng? Phủ Quốc Oai nay là huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
(9) Hoàng đế và thái thượng hoàng: chế độ vua và thái thượng hoàng cùng coi chính sự là đặc điểm của nhà Trần. ở thời Lư sử sách chỉ ghi có hai trường hợp: Lư Thần Tông (1128-1137) sau khi lên ngôi tôn Sùng hiền hầu là thái thượng hoàng. Lư Huệ Tông (1211-1224) sau khi nhường ngôi cho Lư Chiêu Hoàng cũng xưng là thái thượng hoàng. Tuy nhiên, bài văn bia này được viết vào năm Trị B́nh Long ứng thứ năm (1209), lúc t́nh h́nh chính sự rối ren. Theo Việt sử lược và Đại Việt sử kư toàn thư, lúc đó có các cuộc chống đối của Quách Bốc, Phạm Du, Trần Tự Khánh làm cho triều đ́nh ly tán. Lư Cao Tông chạy ra Quy Hóa, hai con trai chạy về mạn Lưu Gia. Một trong hai con trai đó là Lư Hạo Sảm được bọn Trần Lư tôn lên ngôi, xưng là Thắng Vương, có phong chức tước cho một số người và lập nguyên phi. Trước sự kiện đó, có lẽ nhiều người đă coi Lư Cao Tông là thái thượng hoàng chăng?
(10) Nguyên văn: viễn quán hưu viễn, minh thẩm do minh, ư chưa rơ ràng, chúng tôi tạm dịch như trên.
(11) Pháp khí: ở đây chỉ các đồ thờ Phật như đèn, hương, chiêng, mơ...
(12) Nguyên văn: án diễn Trụ trừng. án diễn là chữ trong bài Cầm phú của Kê Khang, có nghĩa là vẻ bất b́nh. Trụ là vua cuối cùng của nhà Ân, rất tàn bạo độc ác. ở đây tác giả muốn nói mọi sự độc ác giận dữ đều được lắng đi.
(13) (14) Tiên vong, hậu hóa: thuật ngữ đạo Phật, đều có nghĩa là chết.
(15) Công hầu khanh tướng: dịch ư chữ ngũ đẳng, tức là các hàng quan to trong triều được phong theo tước công, hầu, bá, tử, nam.
(16) Sau đoạn này, bia c̣n một đoạn ghi tên 10 người trong Hội và địa giới ruộng chùa.
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.