Tay Doc
08-16-2002, 02:54 PM
Dĩnh Đạt
Dĩnh Đạt là tác giả hai bài văn: Viên Quang tự chúng minh tính tự và Viên Quang tự bi minh tính tự (Văn bia chùa Viên Quang). Bài trước hiện nay Đă mất. Ngoài ra, quê quán, sự nghiệp và năm sinh, năm mất Đều không rơ.
văn bia chùa Viên Quang
Tay Doc
08-16-2002, 03:18 PM
Văn bia chùa Viên Quang (1)
Năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ ba
Giác Hải đại sư khắc bia ở một mặt
Mảng nghe: Núi pháp chon von, ngoài sức tuệ khôn lên đỉnh nọ; bể Thiền bát ngát, nhờ thuyền từ mới tới bờ kia. Cho nên họ Đại Hùng hiện thân ở đất Già-la, mở mang pháp lớn mà trăm tướng trang nghiêm; rộng cứu đường mê mà muôn tinh hun đúc. Gom cái tâm nhơ bẩn; quét cái tính mịt mờ. Đặt cầu bến cho lục độ; gỡ lầm than cho chúng sinh. Cây cỏ vô tri, chép ghi chẳng sót; sâu trùng nhỏ mọn, nhắc bảo nào quên. Tới khi: rừng Song Lâm (2) khuất bóng; cơi tịch diệt trở về. Tăng chúng (3) nghiêng ḷng, nghe lời dặn bảo. Thế là, chốn kinh kỳ nhớ ghi phúc Phật, lập đền son rải rắc lựa sao đêm; nơi châu huyện mong trả ơn sâu, xây điện báu dọc ngang như cờ thế.
Chùa Viên Quang này, là chùa Lư Anh Tông sáng lập; là nơi sư Giác Hải trụ tŕ. Sư ra đời nơi thôn xóm nhân từ; trí khác kẻ man di nhơ nhuốc. Như hoa sen vượt trên bùn đọng, hương tỏa hiên lam; như gốc tùng mọc dưới đáy khe, sắc vờn trời biếc. Công "tùy cơ hóa vật" vượt hẳn ngh́n xưa; đạo "tổn kỷ lợi nhân" cách xa sáu bụi. Hoa tâm rực rỡ bốn mùa tươi; trăng Phật chơi vơi ngh́n dặm tỏ. Đúng là: then khóa cửa Thiền; ánh sao đêm tối. Cho nên: cắm chàng phan nơi sông Hán thắm tươi; rung tích trượng chốn suối ngàn u tịch. Mây ra khỏi động, gió nhẹ dễ bay; hạc vút từng không, bụi trần khó nhuốm. Riêng sang thượng quốc; thân tới thềm son. Kẻ thấy sư như kiến nọ bậu tanh; người nghe tiếng như cá kia gặp nước. Khơi một mạch Tào Khê; tỏa tám phương thần điện (4). Dù Chí Công (5) thời Lương Vũ (6), hay Trúc Pháp (7) thuở Hán Minh (8), cũng không thể hơn được.
Chúng sinh đă hóa độ; Thiền sư đă già nua. Người bèn: chống gậy lại làng xưa; xuôi thuyền về quê cũ. Xem đất đẹp đầu rồng, cách xóm tanh máu thú. Phía trước mẫu nam, muôn khoảnh mây vàng giăi đất; phía sau sông lớn, ngh́n trùng sóng biếc liền trời. Bên tả hành cung đất Hải (9), thuế cày đều giảm nhẹ xuân thu; bên hữu chùa cổ Long Kiều (10), chuông kệ thảy lắng nghe sớm tối. Vua riêng nghĩ tới nơi này; sư cũng ưa vui chốn ấy. Cho nên dầu năm Thiệu Minh nhà vua ra sắc chỉ cho quan hữu tư bắt đầu sang sửa. Thế là thợ thuyền họp lại như mây; gỗ đá chất cao như núi. Búa ŕu đẽo gọt, xuất hiện cung trời; vàng tía điểm tô, trở thành điện báu. Ṭa giữa Di Đà giáo chủ, mắt xanh mây trắng long lanh; phía bên Trụ thế thượng nhân (11), my đậm thân gầy lồ lộ. Siêu phàm thánh chúng, sắp hàng thị vệ nghe kinh; giầu sức thiên thần, đối diện vung qua hộ pháp. Biển đề "Chùa Viên Quang", là để biểu thị Thiền sư là bậc đạo bồ đề đă viên măn, tâm chân như đă sáng ngời vậy.
Lại có lầu cao riêng dựng nơi đây, sớm tối tiếng kinh ngân vọng; gác rộng nhô lên phía Bắc, tấc gang tháp nhạn vời trông. Nhà chay ngang dọc phía sau, thờ phụng sáu đời sư tổ (12); cổng chính trang nghiêm phía trước, mở thông mười dặm đường dài. Mây sớm vấn vương bên cột; ráng chiều lấp lánh ngoài hiên. Trăng in đáy nước ngỡ châu chim; hoa đọng sương mai ngờ gấm ướt. Một khu cao ráo; bốn phía sâm nghiêm. Là nơi Thần Tông tuần du phương trấn, t́nh cờ để mắt Thiền lâm, chỉnh đốn ngựa xe chiêm bái; là nơi Anh Tông quan sát dân phong, từng đă tôn sùng cảnh Phật, nghiêm trang quân sĩ tới thăm.
Hoàng thượng đương triều là bậc nhân sánh Đường Nghiêu, hiếu ngang Ngu Thuấn. Cảm nơi hai Thánh (13) quan du; mến dạ một người (14) thắng thưởng. Dời hành điện tới lan cung, thuyền rồng lướt sóng; bày trượng nghi thăm đất thánh, ngựa báu ruổi mây. Đi theo có sủng hậu, quư phi, hết thẩy người trời chầu trực; hộ vệ có vũ phu, lương tướng, đều là thần tướng hộ tŕ. Nến bạc hồng bấc hạc dầu lan, sáng thông ba cơi; ḷ vàng rực long duyên trầm thủy (15), hương ngát chín trời.
Lư Tường Đĩnh (16), cháu bốn đời của Thiền sư, thuở nhỏ thông minh, vào chầu cấm nội. Cặn kẽ nói năng then chốt; giữ ǵn thức ngủ sớm hôm. Ngầm mang một tấm ḷng thành; không chút tơ hào sai trái. Được vua yêu mến hơn người, ban khen khác chúng. Lục thượng (17) trao danh; nhất phẩm ban tước. Thanh giá đă bao trùm thời thịnh; vinh hoa c̣n lưu lại đời sau. Thấy lầu chuông đă dựng; nhà bia chưa xây. Lấy ǵ ghi lại thắng nhân; lưu truyền việc thịnh. Sau đó nhà bia đă dựng riêng tô nét vẽ son tươi; đá cứng lại mài, nên khắc lời văn chải chuốt. Nhưng Dĩnh Đạt tôi, học hành lẩn thẩn, bản tính ngu hèn. Thẹn nỗi không tài truyền đạt; nhưng riêng có ư họa theo. Thẹn thùng cầm bút; miễn cưỡng viết minh:
Lớn lao thay đức Phật,
Khi xưa người chuyển pháp luân.
Sáu độ, muôn hạnh,
Bốn tri (18), ba thân.
Mở ra phúc tuệ.
Làm lợi ích cho cơi trời và cơi người.
Ba cỏ (19) thấm nhuần mưa móc,
Hai cây (?) gặp gỡ mùa xuân.
Biến đổi dung nghi vượt trên thế tục,
Dấu kín h́nh tích trở về chân thực.
Lời vàng dặn bảo,
Quốc vương đại thần.
Giác Hải đại sĩ,
Là người cháu họ Lư.
Từ biệt cha mẹ đi tu,
Chứng được chân như, ngộ được diệu lư.
Rồi cưỡi cái h́nh tượng lộng lẫy kia,
Ra mắt thiên tử
Vua Thần Tông tôn sùng,
Vua Anh Tông ngưỡng mộ.
Ban sắc cho họ hàng.
[Và gia ân cho sư] được thảnh thơi nơi làng cũ.
Mọi người đều kinh ngạc,
Đời không ai sánh kịp.
[Sư] bèn t́m nơi thắng cảnh,
Mở mang cơi Phật.
Hiên cửa thênh thang,
Điện đường cao rộng,
Ṭa giữa thờ Di Đà,
Nhà sau thờ sư tổ,
Thênh thang sáng sủa,
Vàng son huy hoàng.
Trải qua nhiều đời,
Cách bao năm tháng.
Ḷng người cầu phúc ngả nghiêng.
Cảnh giới hoang lương.
Lớn lao thay Họ Lư!
Có người cháu làm quan tới chức lục thượng.
Giàu mà không kiêu căng,
Thịnh đạt ít ai sánh kịp.
Tuy rằng thờ vua,
Mà cũng trọng Phật.
Sửa lại chùa xưa,
Lợp lại tịnh thất.
Ṭa báu trang nghiêm,
Như cung trời Đâu Suất
Bể phúc đầy măi,
Nguồn ân không cạn.
Dịch thơ:
Lớn thay đức Phật
Xưa chuyển pháp luân
Sáu độ muôn hạnh,
Bốn trí, ba thân.
Mở mang phúc tuệ,
Lợi ích thiên nhân.
Ba cỏ nhuần thấm
Hai cây gặp xuân.
Cải dung khác tục,
Dấu tích về chân
Lời vàng dặn bảo,
Quốc vương đại thần
Giác Hải đại sĩ
Người cháu họ Lư.
Xuất gia tu hành,
Chứng ngộ chân lư.
Mang h́nh ảnh kia,
Ra mắt thiên tử.
Thần Tông tôn sùng,
Anh Tông hâm mộ.
Sắc ban họ hàng,
Thảnh thơi làng cũ.
Mọi người nể nang,
Đời khôn so đọ.
Bèn t́m cảnh đẹp
Mở mang Phật trường.
Hiên song thoáng đăng,
Điện đài thênh thang.
Di Đà ṭa giữa,
Sư tổ hậu đường.
Đó đây sáng sủa,
Vàng son huy hoàng.
Trải bao năm tháng
Cách mấy tinh sương.
Ḷng người nghiêng ngửa,
Cảnh giới hoang lương.
Tường Đĩnh lớn thay,
Tước ban đệ nhất
Giầu mà không kiêu,
Thịnh, ai sánh kịp.
Tuy rằng thờ vua,
Nhưng cũng trọng Phật.
Tu sửa chùa son,
Lợp lại tịnh thất.
Bảo sở trang nghiêm,
Sánh ngang Đâu Suất.
Bể phúc Tuôn đầy,
Nguồn ân dào dạt.
Nhàn Vân Đ́nh và Đỗ Văn Hỷ dịch
Chú thích:
(1) Chùa Viên Quang được xây dựng ở bên bờ nam của một nhánh sông Hồng thuộc hương Giao Thủy, huyện Giao Thủy, lộ Thiên Trường. Bắt đầu từ năm Tân Sửu, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai (1121) đến năm sau Nhâm Dần (1122) th́ xong, đặt tên là chùa Diêm Phúc. Chùa do Thiền sư Giác Hải sáng lập.
Năm Chinh Long Bảo ứng thứ năm (1167), vua Lư Anh Tông (1137 - 1175) xuống chiếu trùng tu lần thứ ba đổi tên hương thành hương Hộ Xá, tên chùa thành chùa Viên Quang với ư nghĩa là "viên măn quang đại". Đến đời Nguyễn, niên hiệu Tự Đức thứ mười tám (1865), sông lở sát chùa nên chùa được dời vào đất trại của làng Hộ Xá. Về sau Hộ Xá đổi thành xă Nghĩa Xá, nay là xă Xuân Nghĩa, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Bia hiện c̣n trong tiền đường chùa.
(2) Song lâm: có lẽ là rừng Sa-la-song-thụ.
(3) Tăng chúng: dịch thoát chữ tứ chúng tức là tăng, ni, thiện nam và tín nữ.
(4) Thần diện: vùng chung quan kinh đô nhà vua.
(5) Chí Công: tức Phạm Chí Công, cao tăng thời Lương Vũ Đế.
(6) Lương Vũ: tức vua Vũ Đế nhà Lương (502-550), một ông vua tôn sùng đạo Phật.
(7) Trúc Pháp: tức Trúc Pháp Lan.
(8) Hán Minh: tức vua Minh Đế nhà Hán (58-76), cũng là một ông vua tôn sùng đạo Phật.
(9) Hải: tức Hải Thanh.
(10) Chùa Long Kiều: ở địa hạt Xuân Trường, chưa rơ di chỉ.
(11) Trụ thế thượng nhân: tức Bồ Đề Đạt Ma (Boddhi Dharmma) người Thiên Trúc, sang Trung Quốc vào năm 520, là vị tổ thứ hai mươi tám ở Thiên Trúc, và là vị tổ thứ nhất ở Đông Độ (Trung Quốc).
(12) Sáu đời sư tổ: 1. Đạt Ma; 2. Tuệ Khả; 3. Táng Xán; 4. Đạo Tín; 5. Hoằng Nhẫn; 6. Tuệ Năng.
(13) Hai thánh: tức Lư Thần Tông (1127 - 1137) và Lư Anh Tông (1136 - 1175).
(14) Một người: tức Giác Hải.
(15) Long năo, trầm thủy: tên hai loại hương quư.
(16) Lư Tường Đĩnh: cháu bốn đời của người anh hay người em sư Giác Hải, chưa rơ tiểu sử.
(17) Lục thượng: sáu chức quan trong nội điện: thượng thực; thượng dược; thượng liễn; thượng thặng; thượng y; thượng xá.
(18) Bốn trí (tứ trí): bốn trí của Như Lai: 1. Đại viên kinh trí: Như Lai nh́n suốt tất cả như tấm gương lớn; 2. B́nh đăng tính trí: Như Lai coi hết thảy mọi pháp và chúng sinh đều b́nh đẳng; 3. Diệu quan sát trí: Như Lai khéo quan sát mọi pháp và thấu triệt tới cỗi nguồn; 4. Thành sở tác trí: Như Lai có thể dẫn chúng sinh vào đạo, thành tựu được những điều mà bản nguyện muốn làm.
(19) Ba cỏ (tam thảo): tượng trưng cho Đại thừa, Trung thừa và Tiểu thừa trong Phật giáo.
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.