PDA

View Full Version : Trần Quang Khải



Bach Van Phi
08-15-2002, 12:10 PM
Trần Quang Khải
(1241-1294)

    Ông tự là Chiêu Minh, sinh vào mùa Đông năm Tân Sửu (1241), là con trai thứ ba Trần Thái Tông.
    Dưới triều Trần Thánh Tông (1258-1278), ông làm Tướng quốc thái úy, tước Đại Vương; Đến triều Nhân Tông (1279-1293) lại được thăng chức Thượng Tướng Thái Sư. Cùng với Trần Quốc Tuấn, ông cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đă đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước đương thời.
      Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông (1284-1285, 1287-1288) Quang Khải là một trong những người đóng vai tṛ chủ chốt. Ông có mặt ở nhiều chiến trường quan trọng và đă tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở Hàm Tử, Chương Dương giải phóng kinh thành Thăng Long.
    Trần Quang Khải học rộng biết nhiều, chẳng những là một tướng cầm quân giỏi mà c̣n là một nhà ngoại giao có tài, một nhà thơ với những vần thơ "sâu xa lư thú". Ông là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học thời thịnh Trần. Trong thơ văn ông có thể t́m thấy một tinh thần yêu nước kiên cường, một tấm ḷng gắn bó với con người và tạo vật, một khí phách anh hùng tiêu biểu cho dân tộc. Khi ông đi chiến trận, Trần Thánh Tông đă tặng lá cờ với hai câu thơ:

Nhất đại công danh thiên hạ hữu,
Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô.

Công danh trọn một đời, thiên hạ c̣n có người như ông,
Tấm ḷng trung hiếu với hai triều vua th́ thế gian không ai có.

Ông mất ngày 3 tháng 7 năm Giáp Ngọ (26-7-1294).

Tác phẩm: Trần Quang Khải có tập thơ Lạc Đạo, nhưng đă mất, chỉ c̣n lại 10 bài.

Phúc Hưng Viên

Tụng giá hoàn kinh sư

Xuân nhật hữu cảm I , II

Tham khảo:

Người anh hùng- thi nhân trong thơ Trần Quang Khải

Bach Van Phi
08-15-2002, 12:25 PM
Người anh hùng -
thi nhân trong thơ Trần Quang Khải

    Trần Quang Khải, tự Chiêu Minh, sinh vào mùa đông năm Tân Sửu (1241), là con trai thứ ba Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Dưới triều Trần Thánh Tông, ông giữ chức Tướng quốc thái úy, tước Đại vương; được thăng chức Thượng tướng Thái sư dưới triều vua Nhân Tông. Cùng với Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải cũng là một nhân vật trọng yếu của vương triều, đă đóng góp nhiều công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông (1284 - 1288), ông đă tham gia trận phản công lớn, đánh tan quân giặc ở Hàm Tử và Chương Dương, giải phóng Thăng Long.
    Trần Quang Khải là người học rộng, biết nhiều, văn vơ song toàn, ngoài ra ông c̣n là một nhà ngoại giao, nhà thơ có tài.
    Trong số các thi sĩ - chính khách thời Trần, Trần Quang Khải có lẽ là người để lại cho người đọc một ấn tượng tươi tắn mà sâu đậm. Trước hết, tuy chỉ c̣n lại vẻn vẹn có 10 bài thơ thôi (Trong 10 bài thơ này th́ có một bài Đề đền Bạch Mă, chỉ được chép trong Việt điện u linh tập, một bài Hạ Hồ Thành trúng Trạng nguyên, e không đúng, và một bài Đề dă thự trùng với bài Tĩnh Bang cảnh vật của Trần Tung trong Thượng Sĩ ngữ lục. Điều kiện tư liệu hiện nay chưa cho phép khẳng định dứt khoát vấn đề tác giả đích thực của các bài đó), song, thơ ông bài nào cũng mang cốt cách khoáng đạt của một thi nhân cỡ lớn. Trần Quang Khải có làm thơ xă giao thù tạc cũng là cái thù tạc không cần phải gắng gượng hay khách sáo, mà trái lại dung dị, tự nhiên, hiếm người có được:

Nhất đàm tiếu khoảnh ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sàng.

(Vừa nói cười đó mà thoắt đă ngậm ngùi dứt áo .
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau)

(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh) (Tức Sài Thung)

    Và Trần Quang Khải có ngắm nh́n đồng quê trong tư cách một vị chủ nhân trang trại th́ vẫn là cái nh́n đột xuất, t́nh tứ khác thường:

Dă thự tân khai, cảnh vật tân,
Phương phi đào lư, tứ thời xuân.
Nhất thanh ngư địch, thanh lâu nguyệt,
Kỷ phiến nông thoa, bích lũng vân.

(Trang trại mới mở, cảnh vật thật mới mẻ,
Đào mận tốt tươi, xuân suốt cả bốn mùa.
Một tiếng sáo trẻ chăn trâu, xanh thêm mặt trăng trên lầu,
Vài tấm áo tơi nông phu, biếc hẳn đám mây dưới lũng).
(Đề dă thự)

    Sau nữa, ấn tượng tươi tắn của chúng ta đối với Trần Quang Khải - thi nhân c̣n ở chỗ, ta biết tác giả những vần thơ khoáng đạt này là một vị Thái sư Thượng tướng, cùng với Trần Quốc Tuấn là hai nhân vật đứng đầu hàng văn và hàng vơ, đă từng góp nhiều công lao hiển hách vào công cuộc dựng nước và giữ nước đời Trần. Là con trai thứ ba vua Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, sinh năm 1241 và mất năm 1294, với tước Chiêu Minh vương, Trần Quang Khải đă thực sự đóng một vai tṛ chủ chốt trong triều chính nhà Trần suốt nhiều năm tháng, kể từ khoảng mươi năm sau cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất (1258). Ṛng ră gần hai thập niên tạm gọi là ḥa b́nh mà kỳ thực là chuẩn bị lực lượng rất khẩn trương ấy, với cương vị một ông quan đầu triều, Trần Quang Khải đă ra sức chèo chống về nội trị, ngoại giao, đưa vương triều Trần vượt qua nhiều thử thách, nhất là những cuộc đấu trí mệt nhọc, căng thẳng với đám sứ giả Nguyên Mông. Những bài thơ ông làm trong các dịp này cũng giống như những bài thơ tiếp sứ của Trần Nhân Tông và nhiều người khác, có cái mềm mỏng, nhún nhường về lời lẽ, nó là một sách lược nhất quán trong quan hệ nhiều đời giữa nước ta với các đế chế phương Bắc vốn luôn luôn tự thị vào cái "lớn", cái "khỏe" của ḿnh:

Khẩu hàm uy phúc quân bao biếm,
Thân bội an nguy quốc trọng khinh.
Cảm chúc tứ hiền quân phiếm ái,
Hảo vi noăn dực Việt thương sinh.

(Miệng nói lời oai phúc thay vua mà khen chê,
Thân mang theo sự an nguy quan hệ đến việc lớn nhỏ của nước nhà.
Dám xin cầu chúc bốn vị sứ giả hiền tài có ḷng yêu thương rộng lớn,
Ra sức che chở cho con dân nước Việt).

(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lư Chấn Văn đẳng).

    Nhưng hết sức mềm mỏng đấy - và có thể không kém thân t́nh nữa kia đấy - mà vẫn giữ được hiên ngang cứng cỏi sau từng chữ từng câu, nó là cái tư thế b́nh đẳng của chủ đối với khách, cái phong thái đàng hoàng của những con người luôn luôn tự chủ được ḿnh:

Tống quân quy khứ độc bàng hoàng,
Mă thủ xâm xâm chỉ đế hương.
Nam Bắc tâm linh huyền phản bái,
Chủ tân đạo vị phiếm ly trường.
Nhất đàm tiếu khoảnh, ta phân quệ,
Cộng xướng thù gian, tích đối sáng.
Vị thẩm hà thời trùng đổ diện,
Ân cần ác thủ tự huyên lượng

(Tiễn ông ra về, ḿnh tôi luống những bâng khuâng,
Ngựa xăm xăm hướng về nẻo quê hương nhà vua.
Nỗi ḷng Nam Bắc lưu luyến trên ngọn cờ người ra đi,
T́nh chủ khách dạt dào trong chén rượu giă biệt.
Vừa nói cười đó mà thoắt đă ngậm ngùi dứt áo,
Tiếc những lúc hai giường đối diện, xướng họa cùng nhau.
Biết bao giờ lại được gặp mặt,
Để nắm tay ân cần kể nỗi hàn huyên).

(Tống Bắc sứ Sài Trang Khanh)

    Thế rồi, khi t́nh thế xă tắc không c̣n tài nào ngăn được cuộc xâm lăng ào ạt của lũ giặc Mông Thát, Trần Quang Khải lập tức cởi áo pḥng văn, khoác áo tướng sĩ, dẫn đầu một đạo quân, ra đi. Và cứ thế, dưới quyền tiết chế của quốc công Trần Quốc Tuấn, ông xông pha trận mạc khắp nơi, hết Nghệ An ra Thăng Long, lại đi các trấn phía bắc... cho đến ngày toàn thắng.
    Cái tấm ḷng hăng hái bất kỳ việc ǵ cũng không từ nan, cũng thung dung nhận lấy và làm hết ḿnh đó, Trần Quang Khải giữ được cho măi đến già. Và cái nét dung dị mà khoáng đạt, hào hùng trong con người ông cũng vậy, vẫn là một cốt tính đặc sắc làm trẻ trung măi ng̣i bút của nhà thơ. Bài thơ Cảm xuân có lẽ làm ít lâu trước lúc mất là biểu hiện kết hợp cả hai mặt khoáng đạt và hăng hái nói trên.

Vũ bạch ph́ mai tế nhược ti,
Bế môn ngột ngột tọa thư si.
Bán phần xuân sắc nhàn sai quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm tùy phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân tŕ.
Sinh b́nh đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.

(Lâm râm mưa bụi gội hoa mai,
Khép chặt pḥng thơ ngất ngưởng ngồi.
Già nửa phần xuân cam bỏ uổng,
Tới năm chục tuổi biết suy rồi.
Mơ màng nước cũ chim bay mỏi,
Khơi thẳm nguồn ân, cá khó bơi.
Đảm khí ngày nào rày vẫn đó,
Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi!)
(Ngô Tất Tố dịch)
(Cảm xuân I)

    Bài thơ gợi một cảm xúc thực man mác, bâng khuâng! Trước mặt người đọc hiện ra hai con người: một người thơ và một anh hùng. Người thơ ngồi lặng trong pḥng như si như ngây, suy tưởng mênh mang về đất nước, về tuổi trẻ và những tháng năm đă trôi vào dĩ văng; c̣n người anh hùng th́ luôn luôn tỉnh táo, nghiêm trang canh giữ xă tắc trong bao nhiêu năm không lúc nào lơi lỏng, và vẫn chờ đợi với tấm ḷng hăng hái những nhiệm vụ hệ trọng mà xă tắc phó thác cho ḿnh! Tưởng chừng hai con người là hai nhân vật khác hẳn nhau, đồng hành trên suốt một chặng đường dài... vừa chẵn năm mươi năm. Nhưng nào đâu có phải! Phải nói, có được cái mê si đầy khoái cảm của chàng thi nhân kia - mê si trong khung cảnh yên b́nh, nhàn nhă của đất nước - cũng là nhờ cái tỉnh táo trường kỳ, không biết mệt mỏi của người tráng sĩ nọ, và quả t́nh là ở phần cuối bài thơ, cả anh hùng và thi nhân đều đă nhập trở lại trong một h́nh tượng nhất trí. Cảm hứng của người thơ có vẻ như lâng lâng, dàn trải ở phần đầu, đến đây cũng được xác định lại cụ thể, là niềm hứng khởi, là ư thức sắc bén trước nhiệm vụ đối với đất nước, đúng y như cảm hứng của anh hùng:

Sinh b́nh đởm khí luân khuân tại,
Giải đảo đông phong phú nhất thi.

(Chí khí dũng lược lúc b́nh sinh hăy c̣n hăng hái,
Muốn quật ngă gió đông mà ngâm lên một bài thơ).

    Như vậy, nền tảng của sự thống nhất giữa hai con người trong thơ Trần Quang Khải chính là sức mạnh và yêu cầu thường trực về sự vững mạnh của xă tắc giang sơn; nhờ có nó người ta nhận thức được rằng ḿnh vẫn c̣n và tất yếu phải c̣n nguyên "đởm khí" - dồi dào sức trẻ. Cũng nhờ có nó, mặt khác, người ta lại cảm thấy cái hạnh phúc được sống và quên bẵng rằng ḿnh đang sống, nghĩa là được thoải mái đắm ḿnh theo nhịp trôi chảy của thời gian, để rồi đôi khi nh́n lại mà bỗng thốt giật ḿnh.
    Sự thống nhất giữa người thơ và anh hùng trong thơ Trần Quang Khải c̣n là sự thống nhất giữa hai b́nh diện khác nhau của cùng một con người Việt Nam ở thời đại Lư - Trần: con người biết mê mải vui say trong nhiều niềm vui của cuộc sống đang lên, và ngược lại, cũng biết tự cảnh giác với mọi đam mê vô ích, để nhân sức mạnh của ḿnh lên mà tỉnh táo chống trả với mọi kẻ thù đang ḍm ngó sơn hà xă tắc.
    Con người đó, ngay trước khi bước vào giấc ngủ cũng đă mở to con mắt: "đề pḥng" dơi nh́n về những miền biên giới thân yêu:

Nam vọng lang yên vô phục khởi,
Đồi nhiên nhất tháp, mộng thiên an.

(Trông về Nam khói lửa không c̣n tái diễn,
Trên giường nằm ngủ yên tâm trong giấc mộng).
(Phúc Hưng viên)

    Con người đó, giữa lúc chuếnh choáng vài chén giải khuây vẫn không quên phận sự, trái lại, c̣n biết nâng cao tấm ḷng tráng chí: "Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa", làm cho sự giải khuây tăng thêm phần ư nghĩa:

Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố sơn.

(Tiêu khiển nay nhờ ba chén rượu,
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa)
(Ngô Tất Tố dịch)
(Cảm xuân, II)

    Và con người đó, khi soi bóng trên ḍng sông mà mặc cảm về mái tóc bạc trắng, cũng vẫn giữ được niềm lạc quan thanh thản, v́ biết tin vào lịch sử trường tồn của đất nước, nó là cái bảo đảm vững chắc nhất cho những ǵ c̣n lại của cá nhân ḿnh và sự nghiệp của ḿnh:

Thái b́nh đồ chí kỷ thiên lư,
Lá đại quan hà nhị bách niên.
Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa như tuyết chiếu t́nh xuyên.

(Cơ đồ đất nước lúc thái b́nh rộng mấy ngh́n dặm,
Non sông nhà Lư trải hai trăm năm.
Khách thơ trở lại đây đầu đă bạc,
Hoa mai như tuyết chiếu xuống ḷng sông buổi trời tạnh).
(Lưu Gia Độ)

    Từ một con người đặc sắc nhiều mặt như thế, Trần Quang Khải đă để lại rất nhiều mối cảm t́nh cho người đọc thơ ông. Có thể nói, chân dung một Trần Quang Khải nhà thơ đă ḥa quyện với chân dung một Trần Quang Khải ở trong sử sách, cũng như một Trần Quang Khải ở trong sử sách, đă làm giàu thêm sức sống và thi liệu cho một Trần Quang Khải trong thơ. ấn tượng sâu sắc của người đọc thơ Trần Quang Khải càng trở nên rất đẹp khi được gắn liền với những giai thoại trong mối quan hệ giữa ông và Trần Quốc Tuấn: hai ông đă v́ việc nước lúc ấy mà bỏ hết hiềm khích cũ, trở thành hai ông quan đầu triều gương mẫu, cũng là hai người anh em rất mực thân t́nh. Đại Việt sử kư toàn thư đă có những ḍng rất cảm động để kể về điều này: "Một hôm Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp đến, Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới về. Lại tính Quang Khải lười tắm gội, Quốc Tuấn th́ thích xông tắm, từng nói đùa với Quang Khải rằng: "Thân cáu bẩn xin tắm giùm". Rồi Quốc Tuấn cởi áo Quang Khải ra, lấy nước thơm tắm cho ông và nói: "Hôm nay được tắm cho Thượng tướng". Quang Khải cũng nói: "Hôm nay được Quốc công tắm cho". Từ đấy hai người vui chơi với nhau, t́nh thân càng mặn" (Đại Việt sử kư toàn thư, bản dịch, Tập II. NXB Khoa học xă hội, Hà Nội, 1967, tr.72).
    Trong vô vàn cái đẹp của đời sống, tưởng không có ǵ đẹp hơn là những con người biết tự vượt ḿnh. Nhưng trong số những con người biết tự vượt ḿnh, tưởng không có ǵ cao cả hơn là những người biết gắng sức theo cùng tầm thước lịch sử mà lớn vượt lên. Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải và nhiều nhân vật đời Trần đă chiến thắng oanh liệt kẻ thù phương Bắc và sống măi cho đến ngày nay, chính là những con người như vậy!

      Nhưng tất cả những điểm nổi bật ở thi sĩ Trần Quang Khải mà ta vừa viện dẫn cũng sẽ không hoàn toàn thu hút được sự chú ư rộng răi của các thế hệ sau, nếu như trong văn nghiệp của ông không có một bài thơ tuyệt tác: bài Tụng giá hoàn kinh sư (Pḥ giá trở về kinh). Bài thơ làm vào khoảng những ngày cuối thượng tuần tháng Bảy năm 1285, tức là trong những ngày thắng lợi tưng bừng của cuộc kháng chiến lần thứ hai. Ngày 9 tháng Bảy năm này, Trần Quang Khải được lệnh hộ giá hai vua Trần trở lại kinh đô đă sạch bóng quân giặc. Và bài thơ của ông đă ra đời vào dịp ấy, gồm vẻn vẹn 4 câu thơ 5 chữ:

Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm hồ Hàm Tử quan.
Thái b́nh tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.

    Bốn câu thơ thật ngắn gọn, ư tứ cũng không có ǵ hóc hiểm, nhưng đă sống trong mọi trí nhớ, đem lại niềm bồi hồi, xúc cảm cho rất nhiều thế hệ, không khác ǵ một bài B́nh Ngô đại cáo, một bài Hịch tướng sĩ, một bài Nam quốc sơn hà.
    Hăy bàn về hai địa danh Chương Dương, Hàm Tử của bài thơ. Đối với tác giả th́ đây là những sự kiện hăy c̣n quá mới mẻ. Chỉ mới trước khi ông đặt bút viết bài thơ đúng hai tháng thôi, hai trận thắng oanh liệt Chương Dương, Hàm Tử đă diễn ra, làm kinh hoàng quân giặc, và cũng mở ra cơ hội để quân Trần lật lại thế cờ. Nhưng mới có hai tháng mà hai địa danh chưa ai quen biết đă bước hẳn vào địa hạt của thơ, y như những điển cố quen thuộc nói về chiến công vẫn thường gặp trong sách vở. Trước Trần Quang Khải, chiến công anh hùng của dân tộc cũng đă có nhiều, và thơ nói về chiến công cũng không ít, nhưng một địa danh cụ thể của một chiến công nào được văn thơ ghi lại th́ chưa hề có. Thế mà ở đây, lần đầu dùng những địa danh Việt Nam để nói về chiến trận, người viết lại không chút bỡ ngỡ, lúng túng, trái lại, vẫn dồi dào cảm xúc. Đấy quả là điều lạ!
    Vậy, cái lư do ǵ làm cho Trần Quang Khải nói đến Chương Dương, Hàm Tử mà xúc động thành thơ? Phải nói đây là hai cái tên tượng trưng cho cả một chiến dịch lớn của quân dân nhà Trần. Bấy giờ, sau nhiều ngày tháng liên tiếp đuổi theo hai vua Trần không có kết quả, đạo quân Nguyên Mông hùng hổ và kiêu căng, chỉ biết ỷ vào sức mạnh đă dần dần lâm vào thế bị động. Hai vua Trần và Trần Quốc Tuấn liền hạ lệnh cho quân sĩ phản công.       Tháng Năm năm 1285, Trần Nhật Duật cùng một số tướng sĩ được lệnh đem quân đến đón giặc ở cửa Hàm Tử - nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Giặc Nguyên đại bại. Thừa thắng, Trần Quang Khải cùng một số tướng sĩ khác lại được lệnh đem quân đánh úp Chương Dương - nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Tây. Cuốn Kinh thế đại điển tự lục đời Nguyên đă thừa nhận: "Thủy lục đến đánh vào đại doanh, vây thành mấy ṿng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông. Quan quân - nhà Nguyên - sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới đều kiệt" (Dẫn theo Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ 13, Nxb. Khoa học xă hội, Hà Nội, 1968, tr. 235). Và thế là bắt đầu một cuộc tháo chạy của đám tàn quân Trung Quốc ra khỏi thủ đô của Đại Việt, rồi từng bước, từng bước rút lui thục mạng về nước.
    Trên đường trở về kinh đô đúng giữa ngày toàn thắng, tất cả những h́nh ảnh sốt dẻo của cái chiến dịch mà chính ḿnh vừa tham gia, chắc vẫn chưa thôi xôn xao trong tâm trí Trần Quang Khải, chưa hết làm ngạc nhiên, sảng khoái tâm hồn nhà thơ. Cái nhân tố ǵ đă giúp cho non sông xă tắc ta giành được thắng lợi? Trước một kẻ địch thiện chiến và kiêu hùng đến như vậy, làm sao quân ta lại có thể giáng cho chúng những đ̣n thất điên bát đảo, và thần tốc đến chính người trong cuộc cũng ít ai có thể ngờ? Lạ lùng quá đi thôi! Nhưng mà sự thực vẫn c̣n kia: này đây là Chương Dương, này đây là Tây Kết, này đây là Hàm Tử. Ḷng nhà thơ bỗng rộn lên một niềm bâng khuâng khôn tả. Ông ngẫm lại những ngày long đong xa giá triều đ́nh đă phải ra đi, ngẫm lại bao nhiêu cái giá đă phải trả cho cuộc chiến thắng... và đột nhiên, một chân lư bỗng lóe hiện trong óc ông: chiến thắng này phải đâu giờ đây mới đến. Nó đă được chuẩn bị từ ngày đất nước c̣n thanh b́nh. V́ chính vào những ngày đó, cả nước đă biểu hiện sự chung sức chung ḷng; người trên biết "nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc"; kẻ dưới biết quyết tâm "Sát Thát" và có tinh thần thắng giặc. Chân lư đến với Trần Quang Khải và cảm hứng thi ca cũng đến cùng một lúc. Nhà thơ thấy không thể không thốt lên, bằng những lời rất tiết kiệm và súc tích, để nhắc nhở con cháu, cũng là để nhắc nhở với ḷng ḿnh:

Cướp giáo Chương Dương đó!
Bắt thù Hàm Tử đây!
Thái b́nh nên gắng sức,
Muôn thuở nước non này!
(Trinh Đường dịch)

    Không có ǵ gọn ngắn và đơn giản hơn nữa. Quả là buột thốt thành thơ! Song cái ư chứa đựng bên trong, cái ư nhắc nhở của nhà thơ, th́ không chút tầm thường và đơn giản. ở đâu và bao giờ cũng cần một lời nhắc như vậy! Những chiến công chói lọi của ông cha thật đáng tự hào cho con cháu. Nhưng càng tự hào, càng không quên quá khứ, th́ càng phải làm sao sống những phút giây hiện tại cho thật ư nghĩa. Trên hay dưới, ai cũng như ai, đều phải sử dụng thích đáng từng phút từng giây thanh b́nh vô giá đó. Có thế mới xứng đáng tiếp nối được cái "nước non" mà cha ông trao vào tay ḿnh, mới làm cho "nước non này" trở thành "nước non muôn thuở".

      Hơn một trăm năm sau bài thơ của Trần Quang Khải, chúng ta lại được đọc bài Quá Hàm Tử quan của Trần Lâu, một nhà thơ đồng thời là nhà giáo đời Hồ. Không ai biết nhiều về cuộc đời và văn nghiệp của nhà thơ họ Trần này, chỉ biết ông đỗ đến Tiến sĩ (Thái học sinh) và để lại cho hậu thế chỉ có bài thơ duy nhất, cảm tác về cửa Hàm Tử ấy. Nhưng có lẽ cũng chính nhờ bài thơ duy nhất đó mà tên tuổi ông c̣n được lưu truyền. Bài thơ như sau:

Thuyết trước sa trường cảm khái đa,
Nhi kim Hàm Tử mạn kinh qua.
Cổ chinh húng dũng triều thanh cấp,
Kỳ bái sâm si trúc ảnh tà.
Vương đạo hồi xuân nồng cổ thụ,
Hồ quân băo hận thấu hàn ba.
Toa Đô thụ thủ tri hà xứ?
Thủy lục sơn thanh nhập vọng xa.
(Cảm khái bao nhiêu cuộc chiến này!
Mà nay Hàm Tử mới qua đây.
Trống chiêng rộn rịp: triều lên gấp,
Cờ xí tưng bừng: tre lả lay.
Vương đạo hồi xuân, cây thắm lại,
Quân Hồ ôm hận, sóng vùi thây.
Toa Đô nộp mạng nơi nào nhỉ?
Nước biếc non xanh mắt chứa đầy!)

    Rơ ràng là trên cùng một sự kiện lịch sử mà cảm hứng thơ đă khác xưa. ở đây, nhịp điệu thơ trầm tĩnh hơn, h́nh tượng thơ tỏa rộng xen lẫn chất trầm tư, tứ thơ trở nên man mác. Quả là lời thơ của người đời sau, tức cảnh mà cảm khái về lịch sử, chứ không c̣n là người trong cuộc hào hứng xúc động về sự kiện nóng bỏng của thời đại ḿnh.
    Và nói chung, những điều nhận xét về Trần Lâu cũng hoàn toàn đúng đối với tất cả những thơ văn cảm tác về Chương Dương, Hàm Tử làm ra sau bài Pḥ giá trở về kinh: chúng đều là những đóng góp có tính chất bổ sung hay tô đậm thêm vào cái phần sáng tạo căn bản của Trần Quang Khải; song chúng không thể làm lu mờ, càng không thể thay thế bốn câu thơ tinh túy của nhà thơ đời Trần.
    Lại cũng có thể ngờ rằng mấy câu:

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă
    Trong B́nh Ngô đại cáo của Nguyễn Trăi là bắt mạch xa gần từ trong h́nh tượng thơ của bài Pḥ giá trở về kinh. Mấy chi tiết lẫn lộn về lịch sử ở đây - Toa Đô không phải bị bắt ở Hàm Tử mà bị giết chết ở trận Tây Kết lần thứ hai; trái lại Ô Mă Nhi không phải bị giết mà bị bắt sống ở Bạch Đằng chẳng làm người đọc bận ḷng cho lắm, nhưng cái h́nh ảnh bắt giặc ở cửa Hàm Tử th́ cứ y như thoát thai từ nguồn cảm hứng tươi rói của câu thơ: Hàm Tử bắt quân thù.
    C̣n như mấy câu lục bát của tác giả Đại Nam quốc sử diễn ca.

Chương Dương một trận phong đào,
Ḱa ai cướp giáo ra vào có công.
Hàm Quan một trận ruổi rong,
Ḱa ai bắt giặc uy phong c̣n truyền.

Th́ không nghi ngờ ǵ nữa, đó là dư âm trực tiếp của hai câu thơ đầu trong bài Tụng giá... nổi tiếng của Trần Quang Khải

Nguyễn Huệ Chi

Bach Van Phi
08-15-2002, 12:32 PM
Tụng giá hoàn kinh sư

Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái b́nh tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.

Dịch nghĩa:

Pḥ giá về kinh
Bến Chương Dương cướp giáo giặc,
Cửa Hàm Tử bắt quân Hồ.
Buổi thái b́nh nên dốc toàn sức lực,
Th́ non sông này muôn đời dài lâu.

Dịch thơ:

Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái b́nh nên gắng sức,
Non nước ấy ngh́n thu.

Trần Trọng Kim dịch

Cướp giáo Chương Dương đó,
Bắt thù Hàm Tử đây.
Thái b́nh nên gắng sức,
Muôn thủa nước non này.

Trinh Đường dịch

-----------------------------------------
- Ngày 6 tháng Sáu năm ất Dậu (9-7-1285), sau khi đă đuổi đạo quân Thoát Hoan chạy dài lên phía Bắc, giải phóng Thăng Long, hai vua Trần trở về lại Kinh đô, Trần Quang Khải đi theo pḥ giá và làm bài thơ trên.
-Chương Dương: Nay thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Theo Đại Việt sử kư toàn thư, tháng Tám năm ất Dậu (1285), Trần Quang Khải cùng các tướng Trần Quốc Toản, Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh thắng một trận lớn ở đây rồi tiến về giải phóng Thăng Long. Quân Nguyên tan vỡ, Thoát Hoan và A Lạt phải chạy qua sông Lô.
-Hàm Tử: Một địa điểm trên sông Hồng, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, tháng Tư năm ất Dậu (1285), Trần Nhật Duật cùng các đạo quân khác cũng giành chiến thắng lớn.

Bach Van Phi
08-15-2002, 12:37 PM
Phúc Hưng Viên

Phúc Hưng nhất khúc thủy hồi hoàn,
Trung hữu b́nh viên sổ mẫu khoan.
Mai ổ tuyết tiêu châu bội lỗi,
Trúc đ́nh vân quyển bích lang can.
Thử lai yêu khách kiêu trà uyển,
Vũ quá ḥ đồng lư dược lan.
Nam vọng lang yên vô phục khởi,
Đồi nhiên nhất tháp mộng thiên an.

Dịch nghĩa:

Một ḍng nước chảy bao quanh vườn Phúc Hưng,
ở giữa là một khu vườn bằng phẳng rộng đến vài mẫu,
Bờ mai, khi tuyết tan, nụ lóng lánh hạt châu,
Đ́nh trúc, lúc mây cuốn, lá xanh cành biếc.
Nắng lên, mời khách, pha chén trà,
Mưa tạnh, gọi gia đồng sửa lại giàn thuốc.
Trông về phía Nam không c̣n khói lang bốc lên nữa,
Thảnh thơi trên giường, yên tâm với giấc mơ riêng.

Dịch thơ:
Vườn Phúc Hưng

Lượn quanh bến Phúc, nước theo vời,
Vài mẫu vườn quê khá thảnh thơi.
Tan tuyết, bờ mai châu kết nụ,
Quang mây, đ́nh trúc ngọc đâm chồi.
Nắng lên, mời khách pha chè thưởng,
Mưa tạnh, sai đồng giở thuốc coi.
Xa ngóng ải Nam, im khói lửa,
Trên giường nghiêng ngửa nhẹ hồn mai.
Ngô Tất Tố dịch

------------------------------------------
- Trong Việt âm thi tuyển chú: Có người nói bài thơ này của Lư Văn Hổ, đề ở vườn của Đỗ Tử B́nh. Đỗ Tử B́nh đời Trần làm đến chức Nhập nội hành khiển kiêm trấn Lạng Giang. Vườn này ở huyện Cổ Lan.
Tuy nhiên, Việt âm thi tuyển vẫn coi bài thơ này là của Trần Quang Khải. V́ vậy, chúng tôi cũng coi lời chú này như một thuyết để tham khảo.
- Lá xanh cành biếc: Dịch ư chữ ngọc lang can. Lang can là một thứ đá đẹp như ngọc. Sách Sơn hải kinh lại nói ở núi Côn Luân có cây lang can tức một loại trúc quư.
- Khói lang: Ngày xưa các đồn biên ải đốt lửa để báo hiệu khi có giặc. Các đồn khác nhận được hiệu đó lại đốt lửa truyền tin. V́ các đồn ở cách xa nhau nên khi đốt lửa người ta phải bỏ phân chó sói vào để khói đậm và bốc thẳng.

Bach Van Phi
08-15-2002, 12:43 PM
Xuân Nhật Hữu Cảm

I

Vũ dục ph́ mai nhuận tế chi,
Bế môn ngột ngột tọa thư si.
Bán phần xuân sắc nhàn sai quá,
Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.
Cố quốc tâm tùy phi điểu quyện,
Ân ba hải khoát túng lân tŕ.
Sinh b́nh đởm khí luân khuân tại,
Túy đảo đông phong phú nhất thi.

II

Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,
Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.
Phiên không liễu nhứ niêm cao các,
Giác mộng Tương quân phác họa lan.
Bị vật nhuận ṭng thiên ngoại vũ,
Kinh tâm hồng thoái tích th́ nhan.
Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,
Phủ kiếm du du ức cố san.

Dịch nghĩa:

I.

Mưa muốn làm tươi tốt cây mai nên gội ướt cành tơ,
Đóng cửa, ngồi sừng sững một con người nghiện sách.
Nửa phần sắc xuân đă hờ hững trôi đi,
Năm mươi tuổi tự biết ḿnh suy yếu.
Tấm ḷng cố hương mỏi mệt theo cánh chim bay,
Ơn vua như biển rộng, nên c̣n chần chừ như con cá giương vây.
Riêng chí dũng cảm lúc b́nh sinh vẫn c̣n nguyên đó,
Say ngả nghiêng trước gió Đông ngâm một bài thơ.

II.

Bóng trăng mờ mờ, đêm đă gần tàn,
Gió Đông đột ngột khơi dậy cái rét mùa xuân.
Bay múa trên không, tơ liễu dính vào gác cao,
Tỉnh mộng, cành trúc đập vào lan can chạm vẽ.
Cảnh vật thêm tươi nhờ trận mưa ngoài trời,
Ḷng kinh sợ sắc mặt hồng hào thời xưa đă phai.
Tiêu sầu nhờ có vài chén rượu,
Vỗ kiếm, vời vợi nhớ non xưa .

Dịch thơ:

Cảm Hứng Ngày Xuân

I

Lâm râm mưa bụi gội hoa mai,
Khép chặt pḥng thơ ngất ngưởng ngồi.
Già nửa phần xuân cam bỏ uổng,
Tới năm chục tuổi biết suy rồi.
Mơ màng nước cũ chim bay mỏi,
Khơi thẳm nguồn ân cá khó bơi.
Đảm khí ngày nào rày vẫn đó,
Đè nghiêng ngọn gió đọc thơ chơi.

II

Đêm xuân hồ hết, bóng trăng mờ,
Lành lạnh hơi xuân mượn gió đưa.
Tơ liễu vờn không, vương gác thượng,
Cành tre quấy mộng, đập rèm thưa.
Hơi mưa xa gửi ơn đằm thắm,
Vẻ mặt buồn phai nét trẻ thơ.
Tiêu khiển may nhờ ba chén rượu,
Vỗ thanh gươm cũ nhớ non xưa.

Ngô Tất Tố dịch

--------------------------------------------
- Theo ư bài thơ, tác phẩm này được sáng tác vào năm Trần Quang Khải 50 tuổi, tức là năm 1290.
- Tấm ḷng nhớ cố hương: nguyên văn là cố quốc tâm. Cố quốc là nước cũ, gồm cả quá khứ lịch sử của đất nước, dân tộc, nhưng nhiều khi cũng có nghĩa là cố hương. Câu thơ của Đỗ Phủ: Tương phùng cố quốc nhân; nghĩa là: gặp gỡ người quê nhà.
- Gió Đông: gió từ phương Đông, tức gió xuân.
- Cành trúc (Tương quân): tương truyền khi vua Thuấn chết, hai vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh đi t́m. Đến miền sông Tương, hai nàng thương khóc quá, nước mắt vẩy lên rừng trúc, làm cho trúc vùng này lốm đốm rất đẹp. ở đây, tác giả dùng chữ Tương quân để chỉ trúc trong vườn ḿnh.
-Theo Việt âm thi tuyển, Lư Tử Tấn có b́nh luận về bài thơ này: Hữu khứ quốc ư: nghĩa là: có ḷng muốn đi ở ẩn.