PDA

View Full Version : Chu Văn An



Tay Doc
08-15-2002, 11:18 AM
Chu Văn An - (? - 1370)

Chu Văn An hiệu là Tiều ẩn, tên chữ là Linh Triệt, tên thụy là Văn Trinh, sinh năm nào chưa rơ. Ông người làng Văn Thôn, xă Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (1).

Sau khi thi đậu thái học sinh, Chu Văn An không ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học. Học tṛ theo học rất đông. Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát Đều là học tṛ ông.

Năm Khai Thái đời Trần Minh Tông ông mới nhận chức Quốc Tử Giám tư nghiệp, dạy cho thái tử học. Đời Trần Dụ Tông (1341 - 1369), nhà vua mải mê chơi bời, bỏ bê việc nước, bọn quyền thần th́ lộng quyền, hà khắc, tham nhũng, Chu Văn An bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, nhưng vua không nghe. Ông xin từ chức, lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh. Ông mất năm Thiệu Khánh thứ nhất Đời Trần Nghệ Tông (1370), Được vua làm lễ tế và đặt tên thụy là Văn Trinh.

Tác phẩm: Chu Văn An từng có những tác phẩm như Thất trảm sớ, Tiều ẩn thi tập, Tiều ẩn quốc ngữ thi tập, Tứ thư thuyết ước. Nhưng cho Đến nay mới chỉ t́m Được 12 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.




Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính

Đề Dương công Thủy Hoa Đ́nh

Xuân Đán

Thứ vận tặng Thủy Vân Đạo nhân

Miết tŕ

Sơ hạ


(1) Nay là huyện Thanh Tŕ, ngoại thành Hà Nội.

Tay Doc
08-15-2002, 11:26 AM
Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính

Hoăn hoăn bộ tùng đê,
Cô thôn đạm ái mê.
Triều hồi, giang địch quưnh,
Thiên khoát, thụ vân đê.
Túc điểu phiên thanh lộ,
Hàn ngư dược bích khê.
Xuy sinh hà xứ khứ,
Tịch mịch cố sơn tê (tây)?


Dịch nghĩa:

Đêm trăng dạo bước trên đường thông
ở núi Tiên Du (1)

Thong thả dạo bước trên con đê trồng thông,
Xóm vắng mờ trong làn khói nhạt.
Nước triều xuống, tiếng sáo bên sông xa vẳng,
Trời rộng, mây là là ngọn cây.
Chim đêm cựa ḿnh trong làn sương trong,
Cá lạnh nhảy trong khe biếc.
Người thổi sênh đi nơi đâu,
Phía tây núi cũ vắng vẻ?


Dịch thơ:

Đủng đỉnh dạo bờ thông,
Làng quê bát ngát trông.
Nước lui c̣i bên thoảng,
Trời rộng khói cây lồng.
Chim đậu tan sương lạnh,
Cá bơi vẫy nước trong.
Tiếng sênh đâu vẳng tá,
Hiu quạnh một non không?

Bản dịch Hoàng Việt Thi Văn Tuyển


(1) Núi Tiên Du: Tức núi Phật Tích; nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Tay Doc
08-15-2002, 11:32 AM
Đề Dương công Thủy Hoa đ́nh

Thượng nhân Viễn công duệ,
Lăng ngộ hữu cao thức.
Lũ kết bạch xă minh,
Vị ái thanh liên sắc.
Phương đường trữ bích y,
Hoàn dĩ phù cừ thực.
Thượng cấu thủy hoa đ́nh,
ư dữ liên tỷ đức.
Hảo phong thời nhất lai,
Măn tọa văn phương phức.
ẩn kỷ quan chúng diệu,
Du nhiên tâm tự đắc.
Bất tri thanh tĩnh thân,
Dĩ tại hà hoa trắc.
Minh nguyệt tương hữu bằng,
Nhàn vân đồng yển tức.
Khát khuynh châu lộ ẩm,
Cơ trích ngọc pḥng thực.
Hồi đầu tạ thế phân,
Tiêu dao du bát cực.


Dịch nghĩa:

Đề đ́nh Thủy Hoa của Dương công

Thượng nhân (1) là gịng dơi của Viễn công,
Hiểu biết một cách sáng suốt, có kiến thức cao.
Luôn kết lời minh ước ở Bạch Xă (2),
V́ yêu sắc sen xanh.
Ao vuông chứa đựng nước trong biếc,
Xung quanh trồng toàn sen.
Trên ao dựng ngôi đ́nh Thủy Hoa,
ư chừng muốn sánh đức với sen.
Gió mát thường xuyên thổi tới,
Làm thơm ngát khắp ngôi đ́nh.
Tựa bên ghế để quan sát mọi điều huyền diệu,
Lâng lâng cảm thấy thoải mái trong ḷng.
Chẳng biết tấm thân thanh tịnh,
Đă ở bên cạnh đóa hoa sen.
Trăng sáng cùng làm bạn với ḿnh,
Mây nhàn cùng ta nghỉ ngơi.
Khát th́ nghiêng rót những hạt sương châu để uống,
Đói th́ lấy những chùm quả bằng ngọc (3) mà ăn.
Ngoảnh lại quên hết mọi rắc rối ở đời,
Để nhởn nhơ vui chơi tám cơi.


Dịch thơ:

Thượng nhân ḍng Viễn công,
Sáng suốt cao tri thức.
Bạch xă luôn kết minh,
Sen xanh đáng yêu sắc.
Nước biếc chứa ao vuông,
Sen vây bốn phía đặc.
Trên xây đ́nh Thủy Hoa,
ư cùng sen sánh đức.
Thoang thoảng gió xa đưa,
Ghế ngồi thơm sực nức.
Thần diệu dạo chơi xem,
Nhởn nhơ ḷng tự đắc.
Thân thanh tịnh chẳng hay,
Cùng sen chỉ gang tấc.
Trăng trong ấy bạn bầu,
Mây nhàn cùng thức giấc.
Khát nghiêng bầu móc trong,
Đói ăn chùm quả ngọc.
Ngoái trông gác chuyện đời,
Nhởn nhơ chơi tám cực.

Đào Phương B́nh dịch


Chú thích:

(1) Thượng nhân: Những người có đức lớn. ở đây dùng để chỉ các vị cao tăng.

(2) Bạch xă: Do chữ "Bạch liên xă" viết tắt mà thành. Pháp sư Tuệ Viễn trụ tŕ chùa Đông Lâm tập hợp 123 người gồm những cao tăng và danh nho, ăn thề với nhau trước tượng A-di-đà. V́ chùa ấy có trồng sen trắng (bạch liên), nên có tên gọi như vậy.

(3) Chùm quả bằng ngọc: tức hạt sen trong gương sen.

Tay Doc
08-15-2002, 11:37 AM
Xuân đán

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn,
Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
Bích mê vân sắc thiên như túy,
Hồng thấp hoa sao lộ vị can.
Thân dữ cô vân trường luyến tụ,
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan.
Bách huân bản lănh trà yên yết,
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.


Dịch nghĩa:

Sáng mùa xuân

Nhà trên núi vắng vẻ, suốt ngày thảnh thơi,
Cánh cửa phên che nghiêng ngăn cái rét nhẹ.
Mầu biếc át cả sắc mây, trời như say,
Ánh hồng thấm nhành hoa sương sớm chưa khô.
Thân ta cùng đám mây cô đơn măi măi lưu luyến hốc núi,
Ḷng giống như mặt giếng cổ, chẳng hề gợn sóng.
Mùi khói thông sắp hết, khói trà đă tắt,
Một tiếng chim bên suối làm tỉnh mộng xuân.


Dịch thơ:

Trên non nhà vắng, buổi thanh nhàn,
Chênh chếch phên che rét nhẹ nhàng.
Biếc ngát trùm mây trời chuyếnh choáng,
Hồng dầm hoa lúc móc chưa tan.
Thân cùng mây chiếc khôn dời núi,
Ḷng với hồ xưa chẳng gợn làn.
Hương bách tiêu tan, trà hết khói,
Chim kêu bên suối, mộng xuân tàn.

Đào Phương B́nh dịch

Tay Doc
08-15-2002, 11:46 AM
Thứ vận tặng Thủy Vân Đạo nhân

B́nh sinh đảm khí ngạc hoành thu,
Hàn mặc trường trung nhất chiến thu.
Mao ốc ngọc đường giai hữu mệnh,
Trọc Kinh thanh Vị bất đồng lưu.
Lăo phùng chiêu đại tri hà bổ,
Thân lạc cùng sơn tiếu chuyết mưu.
Kiểm điểm niên niên bần hoạt kế,
Trà âu, thi quyển bạn Thang Hưu.


Dịch nghĩa:

Họa vần tặng Thủy Vân Đạo nhân (1)

Chí khí dũng cảm thuở b́nh sinh như chim ngạc (2) bay ngang trời thu,
Trong trường bút mực, chỉ một trận là được.
Nhà tranh hay nhà ngọc (3), đều có số mệnh,
Sông Kinh đục, sông Vị trong, vốn không chảy cùng ḍng (4)
Già gặp thời sáng sủa, biết chẳng ích ǵ,
Thân rơi vào núi thẳm, cười ḿnh mưu vụng.
Hàng năm kiểm điểm lại cái sinh kế nghèo,
Vẫn âu trà, cuốn thơ, làm bạn với Thang Hưu (5).


Chú thích:

(1) Thủy Vân Đạo nhân: có lẽ là Trần Anh Tông. Anh Tông có sách Thủy Vân tùy bút.

(2) Chim ngạc: một loài chim bắt cá ở biển, c̣n gọi là Thủy Ưng hay Thư Cưu.

(3) Nhà ngọc (ngọc đường): vua Tống Thái Tông tặng cho viện Hàn lâm thời đó hai chữ "Ngọc đường". ở đây chỉ cảnh hiển đạt của cuộc đời làm quan.

(4) Sông Kinh, sông Vị: sông Kinh phát nguyên từ Kê Đầu Sơn thuộc vùng Nguyên Châu; sông Vị phát nguyên từ Ô Thử Sơn thuộc vùng Vị Châu. Hai sông này gặp nhau ở Cao Lăng, mới rơ nước sông Kinh đục, nước sông Vị trong. H́nh tượng này dùng trong thơ thường được hiểu theo nghĩa bóng.

(5) Thang Hưu: Chưa rơ là ai. (Theo Từ nguyên, có thầy tu tên là Thích Huệ Hưu giỏi văn chương, một lần vua Tống Thế Tổ gặp bảo hoàn tục và cho làm ṭng sự ở Dương Châu. Phải chăng Thang Hưu tác giả nói là Thích Huệ Hưu?).

Tay Doc
08-15-2002, 11:57 AM
Miết tŕ

Thủy nguyệt kiều biên lộng tịch huy,
Hà hoa hà diệp tĩnh tương y,
Ngư phù cổ chiểu long hà tại?
Vân măn không sơn hạc bất quy!
Lăo quế tùy phong hương thạch lộ,
Nộn, đài trước thủy một tùng phi.
Thốn tâm thù vị như hôi thổ,
Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy.


Dịch nghĩa:

Miết tŕ (1)

Trăng nước bên cầu đùa giỡn bóng chiều hôm,
Hoa sen, lá sen, yên lặng tựa nhau.
Cá bơi ao cổ, rồng ở chốn nào?
Mây đầy núi vắng, hạc chẳng thấy về!
Mùi quế già bay theo gió làm thơm ngát con đường đá,
Rêu non đẫm nước che lấp cánh cửa thông.
Tấc ḷng này hẳn chưa nguội lạnh như tro đất,
Nghe nói đến Tiên hoàng luống gạt thầm giọt lệ.


Dịch thơ:

Thủy nguyệt bên cầu ngắm bóng tà,
Hoa sen chen lá, lá chen hoa.
Cá bơi ao cũ rồng đi vắng,
Mây phủ non không hạc ở xa.
Quế lăo gió đưa đường đá ngát,
Rêu non nước đẫm cửa thông ḥa.
Tấc son nào đă như tro nguội,
Nghe nói Tiên hoàng giọt lệ sa.

Phan Vơ (Hợp tuyển thi văn Việt Nam, tập II, trang 147)


Chú thích:

(1) Miết tŕ: nghĩa đen là ao Ba Ba. Ao này ở trong núi Côn Sơn, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng. Trong Công dư tiệp kư, Vũ Phương Đề cho biết: "Núi Phượng Hoàng (một núi trong dăy Côn Sơn), xă Kiệt Đặc, huyện Chí Linh. Trong núi âm u tịch mịch. Núi Voi đối lập, ḍng Miết chảy ngang (...). Đời Trần, Tiều ẩn tiên sinh dâng Thất trảm sớ, bỏ quan về nhà. Tiên sinh ưa sơn thủy Chí Linh, đến làm nhà ở, tức là núi này. Việt âm thi tập chép những bài thơ Miết Tŕ, Thanh Lương đều là vịnh những thắng tích ở vùng ấy". Nhưng nay, ao Miết Tŕ đă mất.

Tay Doc
08-15-2002, 12:03 PM
Sơ Hạ

Sơn vũ liêu liêu trú mộng hồi,
Vi lương nhất tuyến khởi đ́nh ḥe.
Yến tầm cố lũy tương tương khứ,
Thiền yết tân thanh đoạn tục lai.
Điểm thủy khê liên vô tục thái,
Xuất ly dă duẩn bất phàm tài.
Thê ngô tĩnh cực hoàn thành lăn,
án thượng tàn thư phong tự khai.


Dịch nghĩa:

Đầu mùa hè (1)

Nhà trên núi vắng vẻ, vừa tỉnh giấc mộng ban ngày,
Một làn gió mát nhẹ thổi vào cây ḥe trước sân.
Chim én rủ nhau đi t́m tổ cũ,
Ve sầu cất tiếng đầu mùa, lục tục bay về.
Sen dưới khe điểm trên mặt nước không bợn chút phàm tục,
Măng đồng nội trồi ra khỏi dậu, chẳng phải khí chất tầm thường.
Phượng hoàng đậu cành ngô, lặng lẽ quá đến thành lười nhác,
Cuốn sách nát để trên án, gió tự giở ra.


Dịch thơ:

Trại vắng non phơi tỉnh giấc ngày,
Trước sân ḥe mát gió lung lay.
Ve vui nắng mới kêu bầy lại,
én nhớ nhà xưa rủ bạn bay.
Dưới suối phô thanh sen điểm sắc,
Đầu rào vượt tục trúc khoe hay.
Cành ngô phượng đậu lâu nên biếng,
Sách nát trên yên tùy gió vầy.

Trần Lê Sáng dịch