PDA

View Full Version : Nguyễn Húc



Tay Doc
07-31-2002, 04:54 PM
Nguyễn Húc - Thế kỷ 15

Tên tự là Di Tân, hiệu là Cúc Trang. Người xă Kệ Sơn, huyện Đông Triều, đỗ Hương cống, làm quan đến chức Tri phủ.

Tác phẩm có: Cưu đài thi tập và một số bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. Cưu đài thi tập là tập thơ trữ t́nh gồm 95 bài chữ Hán (chủ yếu viết theo thể thất ngôn luật, một số bài thể ngũ ngôn) và 36 bài từ, mỗi bài viết theo một điệu.

Chu trung hữu kiến

Thu song dạ tọa

Tự quân chi xuất hỹ

Tay Doc
07-31-2002, 05:02 PM
Tự Quân Chi Xuất Hỹ

Tự quân chi xuất hỹ,
Tu chiết thanh thanh liễu.
Nguyệt tác lạc hoa phi,
Tùy phong nhập lang thủ.


Dịch nghĩa:

Từ lúc chàng ra đi,
Thiếp bẻ cành liễu xanh non.
Nguyện làm cánh hoa rụng bay đi,
Theo gió đậu vào tay chàng.


Lời b́nh - [Nguyễn Thể Cúc]

Đây là bài thơ dùng điển nói về t́nh yêu, nỗi nhớ mong của một người vợ xa chồng.
Về từ chiết liễu, từ nguyên chép: "Bá Kiều tại Trường An đông, khoa thủy tác kiều Hán nhân tống khách chí thử kiều, chiết liễu tặng biệt, cố dụng vi Tống biệt ngữ" (Bá Kiều ở phía đông Trường An, bắc cầu để qua sông. Người Hán thường tiễn khách đến cầu này, bẻ liễu tặng, cho nên dùng từ "chiết liễu" để làm lời tiễn biệt). Từ đó văn chương dùng điển này để nói về t́nh yêu, t́nh bạn và sự chia ly của các cặp vợ chồng, khi chia tay người ở lại bẻ một cành liễu tiễn chân người đi. Thậm chí người ta gọi chiếc cầu là "cầu dứt t́nh". Đây là một trong những điển tích được sử dụng khá nhiều trong thơ Trung Hoa, từng được các danh họa lớn như Tề Bạch Thạch, Từ Bi Hồng đưa vào hội họa. Nhà thơ Ung Đào có một bài tứ tuyệt Đề t́nh tận kiều (Đề thơ "cầu dứt t́nh") đặt câu hỏi: xưa nay chỉ có t́nh là khó dứt, sao lại đặt tên là "cầu dứt t́nh", từ nay xin đổi lại là "cầu bẻ liễu" để những ai phải đi xa c̣n có chút tơ duyên:

Ṭng lai chỉ hữu t́nh nan tận,
Hà sự danh vi "t́nh tận kiều"?
Tự thử cải danh vi "chiết liễu",
Nhiệm tha ly hận nhất điều điều.

(Xưa nay chỉ có t́nh khôn dứt,
"Cầu dứt t́nh" sao lại đặt tên?
"Bẻ liễu" từ đây nên đổi lại,
Cho người ly hận chút tơ duyên)

Nguyễn Hà dịch

ở bài thơ của Nguyễn Húc, người vợ nhớ chồng cũng nghĩ tới cành liễu xanh, cũng ước ao được bẻ cành liễu tiễn chồng như bao người vợ khác nhưng thật bẻ bai, bẽ bàng v́ chồng nàng đă đi xa lâu rồi, c̣n nói lời tiễn biệt với ai, v́ thế chỉ mong làm cánh hoa rụng bay đi, theo gió đậu vào tay chồng - trao gởi t́nh yêu thủy chung, sự lệ thuộc của ḿnh cho chồng, ḥng làm yên ḷng người nơi xa. Nhưng nguyện ước th́ trước sau vẫn chỉ là ước nguyện mà thôi. Thực tế hai người vẫn xa cách và nỗi lo buồn của họ cứ vảng vất đeo đẳng. Đó là nỗi buồn "vô cớ" rất thường thấy trong thơ Nguyễn Húc - "Nỗi buồn lướt qua khói biếc" (Vọng xuân). Nó thấp thoáng, không h́nh dạng, không sự kiện biến cố..., mà cứ thấm sâu vào từng ḍng từng chữ. Có thể nói Cưu đài thi tập của ông là tiếng nói sâu sắc về một cái "tôi" thăm thẳm mơ hồ được diễn đạt bằng họa pháp thủy mặc với những nét chấm phá hằn lên nhờ điển tích. Mà tranh thủy mặc th́ đến nay vẫn là niềm thích thú của nhiều người bởi sự quyến rũ đầy bí ẩn của nó. Cũng như vậy, những bài thơ t́nh được chiêm nghiệm qua con mắt hội họa này, cũng sẽ cho thấy sự huyền diệu hấp dẫn chỉ riêng nó mới có.

Tay Doc
08-15-2002, 10:57 AM
Chu trung hữu kiến

Cô chu dao lạc đối giang can,
Vân cách Vu Phong nhập mộng nan.
Doanh đắc ỷ lâu nhân nhất tiếu,
Cáp như xuân ảnh họa trung khan.


Dịch nghĩa:

Một chiếc thuyền chuyển động, đối diện với bến sông,
Mây cách non Vu khó ḷng thấy trong giấc mộng.
Nhận được một nụ cười của người đứng tựa trên lầu,
Đúng như được thấy ánh xuân trong bức họa.


Dịch thơ:

Dập dềnh thuyền mọn dọc bờ sông,
Mây cách Non Vu, mộng khó thông.
Chợt thấy trên lầu ai nhoẻn miệng,
Như trong bức họa bóng xuân lồng.

Nguyễn Huệ Chi dịch


Lời b́nh - [Nguyễn Thể Cúc]

Đây là một bài thơ hay. Điển cố làm điểm tựa đẩy những liên tưởng thơ đi rất xa. Chiếc thuyền cô đơn là h́nh ảnh một người lẻ bạn. Gần gũi với nó chỉ có đôi bờ sông vô tri. Non Vu - thế giới của thần nữ xa cách tầng mây, đến nỗi khó có thể mơ tưởng điều ǵ. Khung cảnh ở hai câu thơ đầu tạo cảm giác quạnh quẽ, thất vọng. Bỗng tứ thơ đột nhiên thay đổi ở hai câu sau. Chàng trai cảm nhận được nụ cười của người con gái đứng tựa trên lầu, khiến chàng cảm thấy cảnh sắc hệt như một bức họa mùa xuân. Phút mơ màng lăng mạn chợt đến, xua đi nỗi cô đơn, chàng cảm thấy khoảng cách giữa ḿnh và cô gái như xích lại gần, và thế là lại có thể tơ tưởng những điều thực tế hơn, ở ngay cuộc đời này chứ không phải ở thế giới ảo của thần tiên như lúc ban đầu.

Tay Doc
08-15-2002, 11:08 AM
Thu Song Dạ Tọa

Bất nhẫn biệt minh nguyệt,
Hư song ngọ dạ khai.
Bằng lan thu ngữ xứ,
Di quá tụ biên lai.


Dịch nghĩa:

Đêm ngồi giữa cửa sổ mùa thu
Không nỡ rời xa ánh trăng,
Nửa đêm mở cửa sổ hư không,
Tựa lan can nói chuyện một ḿnh,
Bóng trăng đă xuống đến bên tay áo.


Dịch thơ:

Không đành xa trăng sáng,
Mở cửa sổ hư không.
Tựa lan can t́nh tự,
Trong tay bóng trăng lồng.

Đặng Thị Hảo dịch


Lời b́nh - [Nguyễn Thể Cúc]

Đây là một trong khá nhiều bài thơ "vô chủ" (chủ ngữ ẩn) của Nguyễn Húc. Bài thơ rất hay nhưng rất buồn. Tác giả vắng bóng, chỉ có tiếng nói vọng lên từ ánh sáng của đêm trăng, ḥa tan trong ánh trăng: "Không nỡ xa trăng sáng". Ai không nỡ? Tác giả hay là người đọc? H́nh ảnh cửa sổ mở trong trạng thái "hư không" để người và trăng ḥa làm một, như gần lại như xa, như thực lại như ảo, vậy nên nỗi quạnh vắng càng lúc càng chất nặng. Bài thơ tiếp tục cách nói lấp lửng với câu: "Bằng lan thu ngữ xứ". Câu thơ như câu đố - tác giả nói chuyện với ánh trăng hay tâm sự một ḿnh? Phải chăng lúc này bỗng xuất hiện nhân vật thứ hai và hai người cùng t́nh tự, hay cái h́nh ảnh dựa lan can t́nh tự chỉ là một kỷ niệm được nhắc lại trong bài thơ này? Thế là cái kết cấu tưởng như rất kín kia lại đồng thời mở ra cho người đọc các khoảng trống cho sự lựa chọn: làm bạn của thi nhân? Là ánh trăng, hay chính là tác giả? Cái tṛ "ú tim" thú vị đó của những bài thơ cổ ẩn chủ thể chính là lợi thế của nó vậy. Lợi thế đó bắt nguồn từ đặc điểm ngôn ngữ. Chỉ có những ngôn ngữ đơn âm như chữ Hán, chữ Nôm... không chia động từ mới có đặc ân này. ở đây, cảm xúc của nhân vật được bộc bạch thông qua sự vận động của thiên nhiên, tan biến vào thiên nhiên với nỗi cô đơn tràn ngập...