Bach Van Phi
07-31-2002, 02:53 PM
Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872)
Vài nét về tác giả:
Bùi Hữu Nghĩa 裴有義 (1807-1872) hiệu là Nghi Chi, người làng Long Tuyền, B́nh Thuỷ, tỉnh Cần Thơ. Ông đỗ giải nguyên trường hương Gia Định năm 28 tuổi (1835, Minh Mạng 16) nên thường gọi là thủ khoa Nghĩa.
Vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn, con ông Nguyễn Văn Lư, là người mà ông Nghĩa ở trọ học.
Sau khi thi đậu, ông được bổ nhiệm làm tri huyện Phước Long, trấn Biên Hoà. Sau đó được thăng đi trấn nhậm phủ Trà Vang (Trà Vinh), tỉnh Vĩnh Long, dưới quyền tổng đốc Trương Văn Uyển và bố chánh Truyện. Tính ông cương trực, không luồn cúi, cũng không tư vị ai. Bấy giờ em vợ bố chánh Truyện cậy thế anh hay có thái độ hỗn xược, ông chẳng nể nang, một hôm cho đánh đ̣n. V́ thế ông bị bố chánh đem ḷng thù và t́m dịp hăm hại.
Trước đó, Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đuổi, lương thực thường thiếu hụt, được người Thổ giúp đỡ, lại thêm một số lớn người Thổ ṭng quân. Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh nhớ ơn, xuống chiếu miễn thuế thuỷ lợi cho dân Thổ.
Sau đó, người Tàu lo lót với tổng đốc Uyển và bố chánh Truyện giành quyền đắp đập để khai thác. Các hương mục Thổ kéo nhau đến kiện ở dinh môn tri phủ Bùi Hữu Nghĩa, tri phủ xử rằng "Việc tha thuế thuỷ lợi là ơn huệ của vua Thế Tổ ban cho dân Thổ, nay ai nhỏ hơn vua Thế Tổ mà đúng bán rạch ấy th́ có chém đầu nó cũng không sao!". Dân Thổ được lời xử ấy bèn phá đập của dân Tàu. Hai bên xảy ra huyết chiến, phía Tàu chết 8 người. Nhiều người Thổ bị bắt. Nhân đó, Tổng đốc và bố chánh Vĩnh Long cũng bắt cả thủ khoa Nghĩa giải về Gia Định, dâng sớ lên triều đ́nh khép vào tội lạm phép giết người, phải xử chết.
Đứng trước nỗi oan t́nh của chồng, bà thủ khoa quyết lặn lội ra Huế minh oan cho chồng. Bấy giờ, Phan Thanh Giản đang là thượng thư bộ Lại. Bà thủ khoa t́m đến tư dinh ông để tŕnh bày sự lộng quyền của các quan tỉnh Vĩnh Long, rồi đến Tam pháp ty khua ba hồi trống "kích cổ đăng văn". Tam pháp ty gồm có quan viên cao cấp của bộ h́nh, Đô sát viện và Đại lư viện họp xử không có định kỳ, chỉ có những phiên bất thường để xét những vụ đặc biệt, mỗi vụ họp theo tiếng trống của người bị oan khuất tự đến gióng lên. Sớ của bà thủ khoa sau đó được dâng lên vua. Vua giao cho Tam pháp ty nghị án rồi chính vua phán chung thẩm như sau: "Tha tội tử h́nh cho Bùi Hữu Nghĩa, song phải quân tiền hiệu lực, lập công chuộc tội". Bà Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức, nghe tin này lấy làm cảm thương cho người liệt phụ đồng hương, bèn sai mời vào, ban cho một tấm biển chạm bốn chữ vàng "Liệt phụ khả gia".
Cứu được chồng, bà từ giă kinh đô, quay về Biên Hoà, quê hương bà, ít lâu sau bị bệnh rồi mất.
Thủ khoa Nghĩa, lúc đó đang trấn nhậm ở Châu Đốc, nghe tin bà mất, bèn vội về, nhưng khi về tới nhà th́ việc tống táng đă xong bèn đọc bài văn tế có những câu thống thiết như sau:
"Nơi kinh quốc mấy hồi trống dóng, biện bạch này oan nọ ức; đấng hiền lương mắt thấy thảy đau ḷng.
Chốn tỉnh đường một tiếng hét vang, hẳn hỏi lẽ cánh lời nghiêm, lũ bằng đảng tai nghe đều mất vía."
Đôi liễn thờ vợ ông viết như sau:
"Ngă bần khanh năng trợ, ngă oan khanh năng minh, triều dă giai xưng khanh thị phụ.
Khanh bệnh ngă bất dược, khanh tử ngă bất táng, gaing ơn ưng tiếu ngă phi phu."
(Ta nghèo ḿnh hay giúp đỡ, ta tội ḿnh biết kêu oan; trong triều ngoài quện đều khen ḿnh mới thật đáng là vợ. Ḿnh bệnh ta không thuốc thang, ḿnh chết ta không mai táng; non sông cùng cười ta chẳng xứng gọi là chồng.)
Vài nét về tác giả:
Bùi Hữu Nghĩa 裴有義 (1807-1872) hiệu là Nghi Chi, người làng Long Tuyền, B́nh Thuỷ, tỉnh Cần Thơ. Ông đỗ giải nguyên trường hương Gia Định năm 28 tuổi (1835, Minh Mạng 16) nên thường gọi là thủ khoa Nghĩa.
Vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn, con ông Nguyễn Văn Lư, là người mà ông Nghĩa ở trọ học.
Sau khi thi đậu, ông được bổ nhiệm làm tri huyện Phước Long, trấn Biên Hoà. Sau đó được thăng đi trấn nhậm phủ Trà Vang (Trà Vinh), tỉnh Vĩnh Long, dưới quyền tổng đốc Trương Văn Uyển và bố chánh Truyện. Tính ông cương trực, không luồn cúi, cũng không tư vị ai. Bấy giờ em vợ bố chánh Truyện cậy thế anh hay có thái độ hỗn xược, ông chẳng nể nang, một hôm cho đánh đ̣n. V́ thế ông bị bố chánh đem ḷng thù và t́m dịp hăm hại.
Trước đó, Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đuổi, lương thực thường thiếu hụt, được người Thổ giúp đỡ, lại thêm một số lớn người Thổ ṭng quân. Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh nhớ ơn, xuống chiếu miễn thuế thuỷ lợi cho dân Thổ.
Sau đó, người Tàu lo lót với tổng đốc Uyển và bố chánh Truyện giành quyền đắp đập để khai thác. Các hương mục Thổ kéo nhau đến kiện ở dinh môn tri phủ Bùi Hữu Nghĩa, tri phủ xử rằng "Việc tha thuế thuỷ lợi là ơn huệ của vua Thế Tổ ban cho dân Thổ, nay ai nhỏ hơn vua Thế Tổ mà đúng bán rạch ấy th́ có chém đầu nó cũng không sao!". Dân Thổ được lời xử ấy bèn phá đập của dân Tàu. Hai bên xảy ra huyết chiến, phía Tàu chết 8 người. Nhiều người Thổ bị bắt. Nhân đó, Tổng đốc và bố chánh Vĩnh Long cũng bắt cả thủ khoa Nghĩa giải về Gia Định, dâng sớ lên triều đ́nh khép vào tội lạm phép giết người, phải xử chết.
Đứng trước nỗi oan t́nh của chồng, bà thủ khoa quyết lặn lội ra Huế minh oan cho chồng. Bấy giờ, Phan Thanh Giản đang là thượng thư bộ Lại. Bà thủ khoa t́m đến tư dinh ông để tŕnh bày sự lộng quyền của các quan tỉnh Vĩnh Long, rồi đến Tam pháp ty khua ba hồi trống "kích cổ đăng văn". Tam pháp ty gồm có quan viên cao cấp của bộ h́nh, Đô sát viện và Đại lư viện họp xử không có định kỳ, chỉ có những phiên bất thường để xét những vụ đặc biệt, mỗi vụ họp theo tiếng trống của người bị oan khuất tự đến gióng lên. Sớ của bà thủ khoa sau đó được dâng lên vua. Vua giao cho Tam pháp ty nghị án rồi chính vua phán chung thẩm như sau: "Tha tội tử h́nh cho Bùi Hữu Nghĩa, song phải quân tiền hiệu lực, lập công chuộc tội". Bà Từ Dụ, mẹ vua Tự Đức, nghe tin này lấy làm cảm thương cho người liệt phụ đồng hương, bèn sai mời vào, ban cho một tấm biển chạm bốn chữ vàng "Liệt phụ khả gia".
Cứu được chồng, bà từ giă kinh đô, quay về Biên Hoà, quê hương bà, ít lâu sau bị bệnh rồi mất.
Thủ khoa Nghĩa, lúc đó đang trấn nhậm ở Châu Đốc, nghe tin bà mất, bèn vội về, nhưng khi về tới nhà th́ việc tống táng đă xong bèn đọc bài văn tế có những câu thống thiết như sau:
"Nơi kinh quốc mấy hồi trống dóng, biện bạch này oan nọ ức; đấng hiền lương mắt thấy thảy đau ḷng.
Chốn tỉnh đường một tiếng hét vang, hẳn hỏi lẽ cánh lời nghiêm, lũ bằng đảng tai nghe đều mất vía."
Đôi liễn thờ vợ ông viết như sau:
"Ngă bần khanh năng trợ, ngă oan khanh năng minh, triều dă giai xưng khanh thị phụ.
Khanh bệnh ngă bất dược, khanh tử ngă bất táng, gaing ơn ưng tiếu ngă phi phu."
(Ta nghèo ḿnh hay giúp đỡ, ta tội ḿnh biết kêu oan; trong triều ngoài quện đều khen ḿnh mới thật đáng là vợ. Ḿnh bệnh ta không thuốc thang, ḿnh chết ta không mai táng; non sông cùng cười ta chẳng xứng gọi là chồng.)