PDA

View Full Version : Sơ Đường _ Vương Bột



Ngao_0p
07-15-2002, 10:17 AM
Vương Bột
647 – 675


Tự là Tử An . Người đất Long Môn , Giáng châu ( tỉnh Sơn Tây ) , Vương Bột nổi tiếng là thần đồng . Năm 14 tuổi , do quan Thái thường bá Lưu Tường Đạo tiến cử , được vua Đường Cao Tông triệu vào điện thí rồi lấy đậu cao . Năm hai mươi tuổi , được bổ làm chức Triều tán lang . Nhờ làm hai bài tụng , được Bái vương Hiền mời làm chức Tu Soạn tại vương phủ . Rồi v́ làm bài hịch Anh Vương kê , bị Đường Cao Tông cho là có ư gây ra sự bất ḥa giữa các vương và trục xuất ra khỏi phủ Bái vương . Sau một thời gian đi du lịch nhiều nơi , Vương Bột xin làm tham quân tại Quắc Châu . Do việc giấu diếm rồi giết chết một tên quan nô bị tử tội , ông đáng lẽ bị tử h́nh , may gặp dịp đại xá nên khỏi tội chết . V́ chuyện này , phụ thân ông là Vương Phúc , đang làm tham quân tại Ung Châu , bị biếm ra làm quan tại Giao Chỉ . Sau khi ra khỏi tù , Vương Bột sang đất Giao Chỉ thăm cha và bị chết đuối trong khi vượt biển Nam Hải .

Khi thăm cha , Vương Bột qua Nam Xương ( nay là phủ Nam Xương , tỉnh Giang Tây ), được dự buổi tiệc của đô đốc Diêm Bá Tự tại Đằng Vương Các , và làm ra bài “Đằng Vương Các Tự “được coi là kiệt tác truyền tụng muôn đời .

Vương Bột là một trong Sơ Đường tứ kiệt ( ba người kia là : Dương Quưnh , Lư Chiếu Tân và Lạc Tân Dương ) .


Phần tham khảo :
Thơ Đường (http://www.nhanmonquan.net/vbulletin/showthread.php?s=&threadid=2613)

Ngao_0p
07-15-2002, 10:38 AM
Đỗ Thiếu Phủ Chi Nhiệm Thục Xuyên


Thành khuyết phụ Tam Tần ,
Phong yên vọng ngũ tân .
Dữ quân ly biệt ư ,
Đồng thị hoạn du nhân
Hải nội tồn tri kỷ
Thiên nhai nhược tỵ lân .
Vô vi tại kỳ lộ ,
Nhi nữ cộng chiêm cân .

Vương Bột



Đỗ Thiếu Phủ Đi Nhậm Chức Tại Thục Xuyên

Thành khuyết bảo vệ cho vùng đất Tam Tần ; từ đây có thể trông thấy năm bến sông Thục trong làn gió khói . Cái ư ly biệt của tôi đối với ông là do chúng ta đều là kẻ đi làm quan nơi xa .
Trong bốn biển , tôi c̣n có được ông là người tri kỷ . Chốn ven trời cũng như xóm giềng gần . Như vậy th́ hà tất phải đứng nơi đường rẽ mà giống như thói thường nhi nữ , cùng nhau lệ ướt thấm khăn .

Đỗ Thiếu Phủ Đi Nhậm Chức Tại Thục Xuyên



Tường thành ǵn giữ đất Tam Tần ;
Gió khói trông vời chốn Ngũ Tân .
Cùng với ai kia t́nh cách biệt ,
Đều là đường hoạn kiếp du nhân .
Khắp trong biển , c̣n người tri kỷ ;
Ở góc trời , như xóm láng gần .
Hà tất ngậm ngùi nơi rẽ lối ,
Giống tuồng nhi nữ , lệ đầy khăn

Bản dịch Tần Trọng San


_ Thiếu phủ : tên gọi chức hiệu úy .
_ Tam Tần : tỉnh Thiểm Tây ngày nay .
_ Ngũ Tân : năm bến ở sông Thục

NTD
07-25-2002, 03:50 AM
Nam Xương cố quận,
Hồng Đô tân phủ;
Tinh phân Dực, Chẩn,
Địa tiếp Hành, Lư.
Khâm Tam Giang nhi đái Ngũ Hồ,
Khống Mang Kinh nhi dẫn Âu Việt.
Vật hoa thiên bảo,
Long quang xạ Ngưu, Đẩu chi khư;
Nhân kiệt địa linh,
Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp.
Hàng châu vụ liệt,
Tuấn thái tinh tŕ.
Đài hoàng trẩm di hạ chi giao,
Tân chủ tận đông nam chi mĩ.

Đô đốc Diêm Công chi nhă vọng,
Khải kích dao lâm;
Vũ Văn tân châu chi ư phạm,
Thiềm duy tạm trú.
Thập tuần hưu hạ,
Thắng hữu như vân;
Thiên lí phùng nghinh,
Cao bằng măn tọa.
Đằng giao khởi phượng,
Mạnh học sĩ chi từ tôn;
Tử điện thanh sương,
Vương tướng quân chi vũ khố.
Gia quân tác tể,
Lệ xuất danh khu;
Đồng tử hà tri,
Cung phùng thắng tiễn.

Thời duy cửu nguyệt,
Tự thuộc tam thu,
Lạo thủy tận nhi hàn đàm thanh,
Yên quang ngưng nhi mộ sơn tử.
Nghiễm tham phi ư thượng lộ,
Phóng phong cảnh ư sùng a.
Lâm đế tử ư tràng châu,
Đắc tiên nhân chi cựu quán.
Tằng loan tủng thúy,
Thượng xuất trùng tiêu,
Phi các lưu đan,
Hạ lâm vô địa:
Hạc đinh phù chử,
Cùng đảo dự chi oanh hồi;

Quế điện lan cung,
Liệt cương loan chi thể thế.
Phi tú thát,
Phủ điêu manh,
Sơn nguyên khoáng ḱ doanh thị,
Xuyên trạch hu ḱ hăi trúc,
Lư diêm phốc địa,
Chung minh đỉnh thực chi giá;
Kha hạm mê tân,
Thanh tước hoàng long chi trục.
Hồng tiêu vũ tễ,
Thái triệt vân cù.
Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc.
Ngư chu xướng văn,
Hưởng cùng Bành Lăi chi tân;
Nhạn trận kinh hàn,
Thanh đoạn Hành Dương chi phố.


Dao ngâm phủ xướng,
Dật hứng xuyền phi;
Sảng lăi phát nhi thanh phong sinh,
Tiêm ca ngưng nhi bạch vân át.
Tuy viên lục trúc,
Khí lăng Bành Trạch chi tôn;
Ngiệp thủy chu hoa
Quang chiếu Lâm Xuyên chi bút.
Tứ mĩ cụ,
Nhị nan tính.
Cùng thế miện ư trung thiên,
Cực ngu du ư hạ nhật.

Thiên cao địa quưnh,
Giác vũ trụ chi vô cùng.
Hứng tận bi lai,
Thức doanh hư chi hữu số.
Vọng Tràng An ư nhật hạ,
Chỉ Ngô Hội ư vân gian.
Địa thế cực nhi nam minh thâm,
Thiên trụ cao nhi bắc thần viễn.
Quan san nan việt,
Thùy bi thất lộ chi nhân?
B́nh thủy tương phùng,
Tận thị tha hương chi khách.
Hoài đế hôn nhi bất kiến,
Phụng tuyên thất dĩ hà niên?
Ô hô! Thời vận bất tề,
Mệnh đồ đa xuyễn.
Phùng Đường dị lăo,
Lư Quảng nan phong.
Khuất Giả Nghị ư Tràng Sa,
Phi vô thánh chủ;
Thoán Lương Hồng ư hải khúc,
Khởi phạp minh thời?

Sở lại : Quân tử an bần
Đạt nhân tri mệnh.
Lăo đương ích tráng,
Ninh chi bạch thủ chi tâm;
Cùng thả ích kiên,
Bất trụy thanh vân chi chí.
Chước tham tuyền nhi giác sảng,
Sử hạt triệt dĩ do hoan.
Bắc Hải tuy xa,
Phù dao khả tiếp;
Đông ngung dĩ thệ,
Tang du phi văn.
Mạnh Thường cao khiết,
Không hoài báo quốc chi tâm.
Nguyễn Tịch xương cuồng,
Khởi hiệu cùng đồ chi khốc?

Bột, tam sích vi mệnh,
Nhất giới thư sinh.
Vô lộ thỉnh anh,
Đẳng Chung Quân chi nhược quán.
Hữu hoài đầu bút,
Mộ Tôn Sác chi trường phong.
Xả trâm hốt ư bách linh,
Phụng thần hôn ư vạn lí.
Phi Tạ gia chi bảo thụ,
Tiếp Mạnh thị chi phương lân.
Tha nhật xô đ́nh,
Thao bồi Lư đối;
Kim thần phủng duệ,
Hỉ thác long môn.
Dương Ư bất phùng,
Phủ Lăng Vân nhi tự tích,
Chung Kỳ kí ngộ,
Tấu lưu thủy dĩ hà tàm?

Ô hô! Thắng địa bất thường,
Thịnh diên nan tái.
Lan Đ́nh dĩ hĩ,
Tử Trạch khâu khư.
Lâm biệt tặng ngôn,
Hạnh thừa ân ư vĩ tiễn.
Đăng cao tác phú,
Thị sở vọng ư quần công.
Cảm kiệt bỉ thành,
Cung sơ đoản dẫn.
Nhất ngôn quân phú,
Tứ vận câu thành.

Đằng Vương cao các lâm gian chử,
Bội ngọc minh loan băi ca vũ.
Họa đống triêu phi Nam Phố vân,
Chu liêm mộ quyển Tây sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỉ độ thu!
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại tràng giang không tự lưu!


(Kỳ sao sẽ post tiếp phần dịch)

NTD
07-28-2002, 12:59 AM
Phần dịch thơ

Quận Nam Xương quận này quận cũ,
Phủ Hồng Đô phủ nọ phủ tân.
Sao trời Dực, Chuẩn ngôi phân,
Hành, Lư đất tiếp núi gần non xa.

Cảnh giang hồ vẽ ra khâm đới,
Thông châu Kinh dẫn cơi Việt, Âu...
Báu trời hoa vật thiếu đâu,
Ánh lên Ngưu, Đẩu ấy màu long quang.

Đất linh thiêng họp làng kiệt sĩ,
Giường Trần Phồn, Từ Trĩ ghé lên.
Ngô sơn Sở thủy gần miền,
Châu hùng vụ dăi khách hiền sao sa.

Tấm đài hoàng gối ra đôi ngả,
Ngắm rành rành bên hạ bên di
Phồn hoa thanh nhă đâu b́,
Đẹp duyên tân chủ trọn v́ đông nam.

Bề đức vọng quan Diêm Đô đốc,
Vai phạm mô quan Mục tân châu,
Cao bằng thắng hữu thiếu đâu,
Dặm xa đưa đón ngày rầu nghỉ ngơi.

Bên đằng giao, bên thời khởi phượng,
Khách Mạnh hầu là án văn hay
Lại kho vũ mạnh xưa nay,
Sương xanh điện tía ai tày Vương Công.

Buổi thăm cha trong ṿng gặp gỡ,
Tôi biết ǵ, vốn gă trẻ ngây;
Chén vui nhớ bữa hôm nay,
Tiết này nguyệt cửu, ngày rày thu tam.

Nước đục lắng hàn đàm trong vắt,
Bóng chiều ngưng, sơn sắc tía gay.
Đường cù xe ngựa như bay,
T́m phong cảnh đẹp vui vầy thú cao.

Châu đế tử c̣n nhiều dấu cũ,
Quán tiên nhân vẫn đủ cảnh chơi,
Núi xanh xanh biếc da trời,
Gác cao cao ngất tuyệt vời trần ai.

Nọ băi le, ḱa nơi bến hạc,
Đảo với cồn man mác bao cùng;
Ngắm chiều quế điện lan cung,
Bày ra thể thế non Bồng cảnh Tiên.

Nương cột vẽ trèo lên gác tía,
Cảnh sơn xuyên xiết vẻ liếc trông;
Cḥm tây cho chí xóm đông,
Phong lưu thói đỉnh lề chung những nhà.

Khoang thanh tước lượn qua mặt sóng,
Dây hoàng long tung bổng đầu khe;
Chiều chiều sớm sớm đi về,
Xem bề kha hạm mà mê bến trời.

Cầu vồng lặn chiều trời mưa tạnh,
Trên đường mây rạng cảnh trời thu;
C̣ bay ráng lượn đua nhau,
Long lanh đáy nước in màu trời xa.

Trằm Bành Lăi gần xa tai lắng,
Giọng ngư chu văng vẳng chiều hôm;
Tiếng đâu Hành phố nổi ch́m,
Phải chăng trận nhạn bắc nam kinh hàn.

Khúc ngâm nga câu tàn lại nối,
Tứ dặt d́u đường nổi hứng bay;
Vần ca tiếng sáo xinh thay!
Nghe ra trong gió trên mây khác nào.

Bóng Kỳ thủy so chiều lục trúc,
Vẻ Nghiệp thành xem gốc chu hoa.
Chén kia bút nọ giao ḥa,
Một là Bành Trạch, hai là Lâm Xuyên.

Cuộc hành lạc đủ phen tứ mĩ,
Hội chủ tân hợp vẻ nhị nan;
Ngày rồi rất mực du quan,
Kể làm sao xiết muôn vàn sự vui.

Ngắm cho thấu bầu trời cơi đất,
Biết kiền khôn là vật vô cùng;
Vui buồn là cái sự chung,
Doanh hư hai chữ cũng trong số thường.

Trông bóng nhật Hàm Dương quạnh quẽ,
Trỏ làn mây Ngô Hội xa xôi;
Cột trời h́nh đất tuyệt vời,
Xa thời Bắc cực, sâu thời Nam minh.

Bước quan san gập ghềnh vắng vẻ,
Ai thương vay cho kẻ đường cùng;
Cánh bèo mặt nước tương phùng.
Tủi thân cố quốc chạnh ḷng tha hương.

Chí yêu vua mơ màng kinh triệu,
Biết năm nào phụng chiếu nhà Tuyên;
Than ôi, vận mệnh xui nên,
Tiếc công Lư Quảng, ngán duyên Phùng Đường.

Đất Tràng sa nén chàng Giả Nghị,
Hỏi mà xem Thánh đế phải không?
Cối Kê già khách Lương Hồng,
Hỏi ra th́ cũng là trong thịnh thời.

Song biết mệnh là người đạt giả,
Mà yên nghèo là giá cao hiền,
Càng già càng dẻo mới nên,
Ḷng ta há biết đến phai bạc đầu.

Cùng th́ cùng, trước sau cứ vững,
Chí mây xanh, đường thẳng mà đi.
Suối tham, vũng cạn chi chi,
Uống th́ vẫn sạch, chơi th́ vẫn vui.

Dẫu xa tít là nơi Bắc hải,
Cánh phù dao gặp hội th́ bay;
Đông ngu tuy mất bấy chầy,
Mà phen thu lại c̣n ngày tang du.

Ḷng báo nước trước sau dám đổi,
Chí Mạnh Thường là lối kiết cao;
Tiếc cho Nguyễn Tịch hiền hào,
Điên cuồng quen thói ra vào khóc than.

Bột tôi đây vốn con nhà sĩ,
Ba thước tṛn dám kể dài lưng;
Mũ xin buộc giải cho năng,
Như ai niên thiếu đă từng luận công.

Chí dọc ngang những mong ném bút,
Lại như ai đợi chút tràng phong,
Nợ nần trâm hốt trả xong,
Xa xôi muôn dặm cam ḷng thần hôn.

Nền bảo thụ thua môn Tạ Khách,
Thói phương lân học sách Mạnh gia.
Ngày nào sân lí thăm cha,
Ngày nay nâng áo mới qua cửa rồng.

Mặt Dương Ư nếu không gặp lúc,
Bài Lăng Vân ôm khúc ngậm ngùi.
Chung Ḱ tai đă lắng tai,
Gẩy câu lưu thủy nên đ̣i Bá Nha.

Tṛ thịnh hội xem ra nan tái,
Cuộc thắng du ngẫm lại bất thường;
Lan Đ́nh trải kiếp tang thương,
Mà nơi Tử Trạch g̣ hoang những ngày.

Khi lâm biệt ơn dầy tặng thuyết,
Lúc đăng cao theo gót quần công;
Ấy lời đoản dẫn xếp xong,
Thêm câu bảy chữ nối trong bốn vần.

Đằng Vương cao các sông kề bến,
Điệu múa câu ca tưởng ít nhiều.
Cột vẽ mây lồng làn nước sớm,
Rèm chu mưa cuốn rặng non chiều.
Mây tuôn đầm lắng ngày rằng rặc,
Vật đổi sao dời cảnh trải bao.
Trong gác hỏi ai là đế tử?
Nước sông ngoài cửa chảy nao nao.

Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục dịch


(Kỳ sau sẽ post tiếp phần dịch nghĩa kèm theo chú dẫn)

NTD
09-14-2002, 09:02 AM
Bài Tự Đằng Vương Các (1)

  Nam Xương (2) là tên quận cũ, Hồng Đô (3) là tên phủ mới. Đó là nơi hai sao Dực, Chẩn (4) phân giới, địa thế tiếp với Hành Sơn và Lư Sơn (5). Tam Giang là vạt áo của đất đó, mà Ngũ Hồ như giây lưng của đất đó (6). Nó khống chế đất Kinh của Nam Man và tiếp dẫn đất Âu của dân Việt (7). Nơi đó sản xuất nhiều vật quí; long quang ở trên lưỡi kiếm chiếu thẳng lên cơi hai sao Ngưu Đẩu (8); đất thiêng sinh nhân kiệt: quan thái thú Trần Phồn hạ cái giường để đăi riêng cao sĩ Từ Trĩ. Nhữngchâu thành lớn bày ra nhiều như sương mù, những nhân vật anh tuấn qua lại nhiều như sao. Đ́nh đài, thành tŕ gối vào chỗ đi, hạ giao nhau; khách và chủ đều là những bực tú mỹ của miền đông nam. (10)

  Quan Đô đốc Diêm Bá Dư là bực nhă vọng, khải kích từ xa tới đóng. Quan tân châu mục Vũ Văn Quân là người mô phạm, ngựa xe tạm trú (11). Vừa gặp lúc cuối tuần nghĩ ngơi, bạn hữu như mây, ngàn dặm đón đưa, bạn bè cao khiết chật cả nhà. Tài hoa như con giao vọt lên, như con phượng nhảy múa, đó là văn chương phái Mạnh học sĩ; sáng rực như gươm tử điện, gươm thanh sương, đó là kho binh khí của Vương tướng quân (13). Cha tôi làm Giao chỉ lệnh, tôi lên đường qua thăm mà gặp nơi danh tiếng này, tôi là trẻ con biết ǵ mà lại được dự tiệc lớn (14).

  Lúc đó đương tháng chín, cuối mùa thu, nước ngập đă rút hết mà đầm lạnh th́ trong, mây khói ánh sáng ngưng kết mà núi chiều có sắc tía (15). Xe ngựa của khách khứa ở trên đường, ngắm phong cảnh ở g̣ cao. Tới băi dài của con vua, tức là tới quán cũ của tiên (16). Ngọn núi thành tầng lớp cao thẳng lên mà xanh, đâm khỏi đám mây trùng trùng, gác cao vút lên, chiếu xuống nước, màu đỏ như trôi trên nước, chân gác như không dựng trên đất (17). Băi hạc bến le ở trên khắp những cái đảo uốn khúc quanh co; điện quế cung lan bày hàng, h́nh thế như g̣ núi (18). Mở cửa gấm, cúi th́ thấy các cột chạm (19). Lên cao ngắm khắp cảnh núi đồng mênh mông, sông đầm rộng làm ta nh́n mà sợ hăi, mắt mở lớn. Nhà cửa trong xóm la liệt trên mặt đất, đều là những nhà sang trọng gơ chuông bày đỉnh khi ăn cơm; thuyền lớn và chiến hạm loạn bến, trục thuyền đều vẽ h́nh con chim tước xanh và con rồng vàng (20). Cầu vồng tan, mưa tạnh, màu sắc chiếu ở trên mây. Ráng chiều với c̣ lẻ cùng bay, nước mùa thu với trời dài một sắc. Thuyên câu hát xong, tiếng hát vẳng tới bến Bành Lăi, đàn nhạn sợ lạnh, tiếng kêu tắt ở bờ Hành Dương (21). Tiếng ngâm dài, tiếng hát thấp, nhă hứng bay nhanh. Không khí trong phát ở các ống sáo mà gió mát nổi, tiếng ca xinh ngưng lại mà mây trắng cũng ngừng trôi. Trúc xanh vườn Tuy, có cái không khí muốn lấn cả chén rượu của ông huyện Bành Trạch; ánh đỏ ḍng Nghiệp, sáng chiếu ngọn bút ông nội sử ở Lâm Xuyên (22). Bốn cái hay đều có, hai cái khó điều đủ (23). Ngắm hết cảnh trong trời, hưởng hết cái vui chơi của ngày nhàn. Trời cao đất rộng, thấy vũ trụ là vô cùng; vui hết buồn về, biết vơi đầy là có số. Nh́n Tràng An ở dưới mặt trời, trỏ Ngô Hội ở trong khoảng mây (24). Địa thế khuyết hăm mà Nam Hải sâu, thiên trụ cao mà sao bắc đẩu ở xa (25). Quan san khó vượt, ai thương người lỡ bước? bèo nước gặp nhau, đều là khách tha hương. Nhớ cửa của vua mà không thấy được, muốn phụng chiếu đến hoàng cung mà không biết đợi đến năm nào (26). Than ôi! Thời vận khác nhau, số mạnh thường xấu. Phùng Đường dễ già, Lư Quảng khó được phong hầu, (27). Giả Nghị bị khuất nhục ở Trường Sa, thời đó không phải là không có thánh chúa; Lương Hồng trốn ở hẻo lánh bờ biển, thời đó há có phải là thiếu sáng sủa? (28). Chỉ nhờ ở điều này: quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh, già càng nên mạnh, ḷng không biết bạc đầu (nghĩa là vẫn c̣n trẻ, vẫn hăng hái giúp nước). Khổ càng thêm kiêng nhẫn, đừng mất cái chí thanh vân (29). Uống nước suối tham mà thấy sáng suốt, ở chỗ vũng cạn mà cũng thấy vui (30). Biển Bắc tuy xa, cưỡi gió mạnh có thể tới được, phương Đông mặt trời đă mọc rồi th́ đợi lúc mặt trời lặn cũng không trễ (31). Ông Mạnh Thường cao khiết, chỉ hoài băo ḷng báo quốc; ông Nguyễn Tịch càn rỡ điên cuồng, há nên bắt chước ông mà khóc bước đường cùng? (32).

  Bột tôi, thân nhỏ ba thước, một kẻ thư sinh. Không có đường để xin dây trói kẻ thù mà báo quốc, tuổi c̣n nhỏ như Chung Quân (33). Có ḷng muốn ném bút, hâm một cái chí tràng phong của Tôn Sác (34). Bỏ cái phú quí trâm hốt đến trăm tuổi, hầu hạ cha sớm tối ở nơi xa vạn dặm (35). Không phải là cây quí trong nhà họ Tạ, nay được gần hàng xóm thơm như họ Mạnh (36).

  Một ngày kia, tới sân của cha, sẽ theo cáo đối đáp của Khổng Lư (37). Ngày nay nâng tay áo, mừng được gởi tên tuổi ở cửa rồng (38). Không gặp Dương Ư, cầm đọc bài phú Lăng Vân mà tiếc cho ḿnh; đă gặp Chung Ḱ, tấu khúc lưu thủy, th́ c̣n thẹn ǵ nữa? (39). Than ôi! Thắng cảnh không thường thấy, thịnh yến khó gặp lại, Lan Đ́nh đă không c̣n, Tử Trạch đă thành g̣ hoang (40). Khi lâm biệt, dâng lời rằng: đă mang ơn Diêm Công về thịnh yến; lại lên cao làm bài phú, là c̣n mong ở chư vị (41). Xin hết ḷng thành thực thô bỉ, cung kính làm bài tự ngắn này; lại xin tỏ bày một lời (để kết thúc) trong bài thơ bốn vần dưới đây * :

" Gác Đằng Vương cao ở sát bến sông,
" Trước kia, bội ngọc minh loan, nay không c̣n ca múa nữa. (42)
" Cột vẽ buổi sáng nh́n như mây bay ở Nam Phố.
" Rèm đỏ ** buổi chiều cuốn như mưa ở Tây Sơn. (43)
" Đám mây lững thững chiếu trên đầm, ngày thong thả qua,
" Vật đổi sao dời đă mấy thu?
" Trong gác con vua nay ở đâu?
" Ngoài hiên sông Trường Giang cứ chảy hoài.



(Kỳ sau sẽ post tiếp phần chú dẫn)

NTD
09-16-2002, 06:31 AM
Chú Thích:

  * Sự thực là sáu vần: ba vần trắc: chữ, vũ, vũ ; ba vần bằng: du, thu, lưu.
  ** Có sách chép là 珠 : rèm, làm bằng hạt châu.

  (1) Con vua Cao Tổ nhà Đường là Nguyên Anh ra làm Hồng Châu thứ sử, phong tước Đằng Vương, dựng một cái gác bên sông Trường Giang (tỉnh Giang Tây), gọi là Đằng Vương Các.
  (2) (3) Tức quận Dự Chương đời Hán; thời đó c̣n gọi là Nam Xương, qua Tùy, Đường mới gọi là Hồng Châu; nay là huyện Nam Xương tỉnh Giang Tây.
  (4) Người Trung Hoa thời xưa cho rằng mỗi miền ở trong xứ họ và các nước láng giềng thuộc về một vài ngôi sao. Miền nước Sở, phương Nam, thuộc về hai sao Dực, Chẩn.
  (5) Hành Sơn ở phía tây nam Hồng Châu; Lư Sơn ở phía bắc Hồng Châu.
  (6) Tam Giang là Kinh Giang, Tùng Giang, Chiết Giang; Ngũ hồ là Thái hồ, Phan Dương hồ, Thanh Thảo hồ, Đan Dương hồ, Động Đ́nh hồ. Ư nói sông hồ bao bọc Hồng Châu, uốn lượn như vạt áo, dây lưng.
  (7) Đất Kinh Sở tức Hồ Nam, Hồ Bắc. - Đất Đông Âu tức Lưỡng Quảng.
  (8) Theo thuyết cổ, đất Hồng Châu (Nam Xương) ứng vào phận sao Đẩu. Đời Tây Hán, khoảng sao Ngưu sao Đẩu thường thấy ánh sáng chiếu ra; sao Lôi Hoán làm quan đất ấy, đào được hai thanh kiếm, một chiếc là Can tướng, một chiếc là Mạc da, ánh sáng trên chỗ chạm trổ h́nh rồng của nó (long quang) chiếu thẳng lên hai sao Ngưu, Đẩu; từ đấy ánh sáng hai ngôi sao này mất đi.
  (9) Đời Hán, Từ Trĩ là cao sĩ đất Nam Xương, quan thái thú đất ấy là Trần Phồn, đặt riêng một cái giường để đăi Từ Trĩ; Từ Trĩ tới th́ mới hạ giường xuống để tiếp; Từ Trĩ đi th́ treo giường lên.
  (10) Di, trỏ các đất mọi rợ; Hạ, tức Hoa Hạ, trỏ miền Trung châu văn minh ở lưu vực hai con sông Dương Tử và Hoàng Hà.
  (11) Lúc đó Diêm Bá Dư là đô đốc Hồng Châu. Nhă Vọng là được người trọng vọng là cao nhă. - Khải kích cũng đọc là khể kích là cái kích bọc lụa hay sơn đỏ; bậc vương công hồi xưa đi đâu có lính cầm khải kích đi trước cho oai. - Vũ Văn Quân mới được bổ chức mục bá ở Phong Châu, đi qua nơi đó, ghé dự tiệc nên gọi là tạm chú.
  (12) Mười ngày là một tuần, theo tục cổ, quan lại cuối mỗi tuần được nghỉ một ngày.
  (13) Mạnh học sĩ là một kháck quí trong tiệc, giỏi về văn chương. Con giao là con thuồng luồng. - Tử điện và Thanh sương là tên hai thanh bảo kiếm. (Theo sách Cổ Kim Chú và sách Tây Kinh tạp kí) - Vương tướng quân cũng là một khách quí trong tiệc.
  (14) Cha của Vương Bột tên là Phúc, làm quan ở Giao Chỉ, lúc đó Bột mới mười chín tuổi, nhân đi thăm cha mà ghé dự tiệc.
  (15) Lạo thủy có sách giải thích là nước mưa đọng ở bên đường.
  (16) Con vua đây tức Đằng Vương, Đằng Vương các cất trên một băi dài; quán cũ của tiên tức Đằng Vương các.
  (17) Nguyên văn: phi các: các bay, ư nói gác cao đâm thẳng lên trời; gác lại cất ngay bên bờ sông, như không dựng trên đất, lại càng có vẻ như bay lên không trung; gác đỏ chiếu xuống nước, như màu đỏ trôi trên nước.
  (18) Băi hạc là băi có hạc tụ tập, bến le là bến có le đậu. Điện quế, cung lan trỏ đền thờ thần sông, điện làm bằng gỗ quế, cung làm bằng gỗ lan.
  (19) Cửa gấm là cửa chạm trổ và sơn, coi như gấm.
  (20) Đời xưa, nhà giàu sang gơ chuông để báo tới bữa cơm; thức ăn đựng trong cái đỉnh.
  Loạn bến (nguyên văn: mê tân): ư nói rất nhiều thuyền.
  (21) Bến Bành Lăi ở hồ Phan Dương, một trong ngũ hồ. Hành Dương ở phía nam Hành Sơn, có ngọn núi là Hồi Nhạn phong, cao lắm, nhạn bay tới đó, không qua được phải quay về.
  (22) Chúng tôi theo bản trong Cổ Văn Quan Chỉ, giữ chữ Tuy viên, cũng gọi là Tuy uyển (vườn Tuy), một vườn mà Lương Hiếu Vương đời Hán xây cất. Cụ Nguyễn Đôn Phục theo các bản khác, giữ chữ Kỳ viên, và giải thích câu: "Kỳ viên lục trúc" là: "Trúc ở sông (?) Kỳ, ư nói cái đức tốt của vua Vũ Công nước Vệ".
  Ông huyện Bành Trạch tức Đào Tiềm.
  Lâm Xuyên nội sử tức là chức của Vương Hi Chi.
  Nghiệp thủy là nơi Tào Tháo nổi lên.
  Câu này ví các khách trong tiệc với những nhân vật danh tiếng, tài đức thời trước.
  (23) Bốn cái hay là: cảnh đẹp, thời tiết tốt, ḷng vui ngắm cảnh và việc vui. - Hai cái khó là chủ hiền khách quí.
  (24) Tràng An là kinh đô đời Đường, nay ở Thiểm Tây - Ngô Hội nay ở Giang Tô.
  (25) Theo thuyết cổ: Nam Hải là ao của Trời, Bắc cực là cột của Trời.
  (26) Nguyên văn: tuyên thất là chính điện ở trước một cái cung đời Hán. Giả Nghị phụng chiếu ở đó. Câu này ư nói rằng ḿnh cũng muốn được vua dùng như Giả Nghị, nhưng không biết bao giờ mới được.
  (27) Phùng Đường là người đời Hán, có tài mà tới già cũng chỉ làm một chức nhỏ, sau Hán Văn Đế gặp ông mới nhận ra tài mà cho làm chức Xa Kị đô úy.
  Lư Quảng cũng là một tướng tài đời Hán mà không được phong hầu.
  (28) Lương Hồng là hiền sĩ đời Đông Hán, trọng tiết nghĩa, không chịu quị lụy kẻ quyền quư, trốn ở bờ biển Đông Ngô.
  Ư nói: những thời đó có minh quân mà vẫn có những bậc hiền tài bị bỏ sót; vậy th́ bây giờ ḿnh (và khách trong tiệc) nếu chưa được trọng dụng cũng không nên buồn.
  (29) Chí thanh vân: chí cao thượng, trong sạch.
  (30) Đời Tấn, Ngô Ẩn Chi làm thứ sử Quảng Châu, tới Thạch môn, thấy một cái suối gọi là Tham tuyền (suối tham), múc lên uống, rồi làm bài thơ rằng: "Cổ nhân ngôn thử thủy, Nhất ẩm hoài thiên kim; Thí sử Di, Tề ẩm, Chung đương bất dịch tâm", nghĩa là: Cổ nhân nói nước này, một lần uống vào th́ hóa tham, chỉ mơ ước có được ngàn vàng. Nhưng giá cho Bá Di, Thúc Tề (những ẩn sĩ thời cổ) uống, th́ rốt cuộc ḷng các vị đó cũng không đổi (nghĩa là không hoá tham). Nguyên văn: hạt triệt là vũng cạn chỗ vết bánh xe. Nghĩa bóng: cảnh cùng khốn.
  (31) Nguyên văn: phù dao, chữ trong Trang Tử là ngọn gió mạnh từ dưới bốc lên; đông ngung là góc phía đông, nơi mặt trời mọc; tang du là cây dâu, cây du; khi mặt trời lặn rồi, ánh sáng chỉ c̣n lưu lại trên ngọn cây dâu, cây du; cho nên tang du chỉ phương tây. Câu này do câu: "Thất chi đông ngung, thu chi tang du" trong Hậu Hán Thư, nghĩa bóng là lúc sớm không được lợi th́ lúc chiều sẽ được lợi, cũng không phải trễ.
  (32) Mạnh Thường là một quan thái thú cao khiết đời Hán Thuận Đế. - Nguyễn Tịch là một cuồng sĩ đời Tấn, phóng đăng, thích rượu, đi xe vào núi, gặp đường cùng th́ than khóc trở ra.
  (33) Chung Quân nhà Hán hai mươi tuổi, phụng sứ đi thuyết vua Triệu Nam Việt, xin vua một sợi dây dài để cột cổ vua Nam Việt mà điệu về triều. Ngày nay "xin dây" (thỉnh anh) có nghĩa là đầu quân báo quốc.
  (34) Ban Siêu đời Hán làm thư kí cho người, bất măn, ném bút mà đầu quân, chí muốn lập cộng để được phong hầu, sau được phong là Định viễn hầu.
  Tôn Sác, người đời Nam Bắc Triều, hồi nhỏ có chí lớn, thưa với chú: "Xin đợi gió lớn, phá đợt sóng vạn dặm"; sau được phong Thao Dương hầu.
  (35) Ư nói bỏ ư muốn làm quan để phụng dưỡng cha. Thần hôn, do thành ngữ thần tỉnh hôn định: buổi sáng thăm cha mẹ xem giấc ngủ hồi hôm có an không, buổi tối hầu hạ cho đến lúc cha mẹ an nghỉ. - Nơi xa vạn dặm trỏ đất Giao Chỉ.
  (36) Tạ Huyền đời Tấn là người tài giỏi, chú là Tạ An mến lắm, thường bảo: "Ví như chi lan ngọc thụ (cây ngọc), phải để cho mọc ở chỗ sân thềm", không nỡ để chịu cảnh mưa nắng.
  Mẹ Mạnh Tử chọn láng giềng mà ở, cho con tập được tánh tốt mà nên người.
  (38) Khổng Lư là con Khổng Tử, hầu cha ở sân, học Thi, Lễ. Ư nói sẽ tới Giao Chỉ thăm cha và nghe lời gia huấn.
  (39) Tư Mă Tương Như làm bài phú Lăng Vân, Dương Đắc Ư (tác giả gọi tắt là Dương Ư) là tri kỉ, được Dương tiến cử lên vua Hán, Chung Ḱ tức Chung Tử Ḱ, người nước Sở đời Xuân Thu; Bá Nha giỏi đàn, gẩy đàn cầm, Chung Tử Ḱ nghe tiếng đàn mà biết rằng chí của Bá Nha ở ḍng nước chảy. Ư nói ḿnh đă gặp người tri âm (trỏ Diêm Công) như Bá Nha gặp Chung Tử Ḱ, th́ không c̣n ǵ phải thẹn nữa.
  (40) Tử Trạch là tên một ṭa nhà Thạch Sùng đời Tấn xây cất ở Kim Cốc để thết đăi tân khách.
  (41) Lời nói nhũn v́ nhỏ tuổi, ngồi ở hàng cuối, lại cả gan làm bài tựa, nên mong sự rộng lượng của các ông khách kia.
  (42) Bội ngọc, Minh loan (ngọc đeo, con chim loan bằng vàng ngậm nhạc) là những đồ trang sức trên áo các con hát.
  (43) Ư nói: Buổi chiếu cuối rèm như cuốn mưa ở núi Tây Sơn.

Note: Chú thích chép từ Cổ Văn Trung Quốc

Co Kiem Hung
03-29-2004, 03:27 AM
Tư qui

Trường Giang bi dĩ trệ,
Vạn lư niệm tương qui.
Hướng phục cao phong văn,
Sơn sơn hoàng diệp phi.

Dịch Nghĩa:


Nỗi đau thương đă ứ đọng trên sông Trường Giang.
Ở nơi xa xôi muôn dặm, tôi tưởng nghĩ trở về.
Huống chi lúc chiều tà, lại có cơn gió thổi cao và những lá vàng bay trên núi non.

Dịch Thơ:


Nghĩ trở về

Trường Giang đợm sầu thương,
Muôn dặm nghĩ về làng.
Chiều tối gió cao thổi,
Núi non bay lá vàng.

Trần Trọng Kim

Co Kiem Hung
03-29-2004, 03:29 AM
Thục trung cửu nhạt(1)

Cửu nguyệt cửu nhật Vọng Hương đài
Tha tịch tha hương tống khách bôi
Nhân t́nh dĩ yếm Nam Trung khổ
Hồng nhạn na ṭng bắc địa lai.


Dịch Nghĩa:


Trong đất Thục ngày mồng chín
Ngày mồng chín tháng chín lên đài Vọng Hương (trông về quê)
Trên chiếu lạ nơi đất khách rót chén rượu tiễn khách
Ḷng người đă chán cảnh khổ ở Nam Trung
Chim hồng nhạn ở đất bắc c̣n bay đến đây làm ǵ?


Dịch Thơ:


Trong đất Thục ngày mồng chín

Vọng Hương2) mồng chín lên đài,
Chén đưa tiệc khách quê người Nam Trung.(3)
Người đây chán chết nỗi ḷng,
Cớ sao đất bắc chim hồng lại chi?

Tản Đà

Chú thích :
(1)Cửu nguyệt cửu nhật: Mồng chín tháng chín là ngày tết Trùng Dương
(2)Vọng Hương Đài: ở phía bắc Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên
(3)Nam Trung : tức là đất Thục, nơi Vương Bột bị giáng chức ra làm quan ở đó

Co Kiem Hung
03-29-2004, 03:34 AM
Thánh tuyền yến

Phi khâm thừa thạch đắng
Liệt tịch phủ xuân tuyền
Lan khí huân sơn chước
tùng thanh vận dă huyền
Ảnh phiêu thùy diệp ngoại
Hương độ lạc hoa tiền
Hứng cấp lâm đường văn
Trùng nham khởi tịch yên



Dịch nghĩa:



Dự tiệc ở đ́nh Thánh tuyền



Vén áo ngồi lên chiếc ghế đá
Người trong bàn tiệc cúi xem suối xuân
Mùi thơm hoa lan quyện vào rượu núi
Tiếng gió thông hoà với khúc nhạc quê
H́nh bóng phơ phất ngoài lá rũ
Hương bay qua trước hoa rơi
Rừng suối về chiều càng thêm hứng thú
Khói hoàng hôn bay lèn trong các lớp núi

Dịch Thơ



Vén áo ngồi lên đá
Cúi đầu ngó xuống khe
Lan hoà thơm rượu núi
Thông quyện tiếng đàn quê
Lá rũ h́nh lay động
Hoa rơi hương thoảng về
Rừng chiều thêm thi vị
Dâng khói mờ sơn khê