PDA

View Full Version : Nguyễn Khuyến



Tay Doc
07-01-2002, 09:38 AM
Nguyễn Khuyến (1835-1909)

Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835 tại quê ngoại -- làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà.

Quê nội của cụ ở làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà.

Cha là Nguyễn Tông Khởi (1796-1853), thường gọi cụ Mền Khởi, đỗ ba khóa tú tài, dạy học.

Mẹ là Trần Thị Thoan (1799-1874), con cụ Trần Công Trạc, từng đỗ sinh đồ (tú tài) thời Lê Mạt.

Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên năm 1864-1865) là bạn học ở trường cụ Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức Hương Nguyên) trường Hà Nội. Năm sau ông trượt thi Hội, thi Đình nên phẫn chí ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871, ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên. Từ đó Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.

Năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tỉnh Thanh Hóa. Năm 1877, ông thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán.

Nguyễn Khuyến cáo quan về Yên Đổ vào mùa thu 1884 và qua đời tại đấy ngày 5 tháng 2 năm 1909.
Ông để lại các tập thơ văn Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối... truyền miệng.

Nguyễn Khuyến có biệt tài về thơ văn chữ Nôm. Ông viết nhiều, bao gồm nhiều thể loại khác nhau. Ông thích tự vịnh, tự trào, phong cách thường ung dung, phóng khoáng, nhuốm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương. Một số lớn thơ văn ông cũng có khuynh hướng trào phúng, giễu cợt thế thái nhân tình và những thói hư tật xấu của người đời.

Văn thơ của thi sĩ rất giản dị, không dùng những điển tích, lời văn nhẹ nhàng thanh thoát và rất tế nhị . Lời thơ của ông có một đặc điểm là không cầu kỳ, luôn luôn phảng phất một màu sắc thuần tuư Việt Nam, giữ được trọn vẹn dân tộc tính của nó .
Những thơ văn của Nguyễn Khuyến, một phần lớn được sáng tác trong thời kỳ ẩn dật . Do đó, văn nôm của ông có thể chia ra làm 5 loại khác nhau .

1. T́nh cảm:
Là một nhà nho, chịu ảnh hưởng của thuyết Tu, Tề, ông rất tha thiết với cảnh gia đ́nh . Ta hăy nghe ông bỡn cợt trong bài "Nhất Vợ Nh́ Trời":

Khôn đến mẹ mày là có một,
Khéo như con tạo cũng là hai .
Trời dẫu yêu nhưng v́ có phận
Vợ mà vụng dại đếch ăn ai .


2. T́nh yêu thiên nhiên:
Ngao ngán về thờ cuộc, ông thích cảnh đồng ruộng, thiên nhiên, ngắm tạo vật để khuây khỏa nổi ḷng . Bằng những nét phác họa đơn sơ nhưng linh động, ông đă cấu tạo thành những bài thơ với một kỹ thuật vững thế quân b́nh giữ trí năng và t́nh cảm, thêm vào đó một nhận xét tinh vi .
"Ao thu lạnh lẽ nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo" Thu điếu .

3. Yêu đời sống b́nh dân:
Sống hơn 20 năm giữa đám b́nh dân, Nguyễn Khuyến đă nhiễm một phần tư tưởng và tánh t́nh của những người này . Do đó, ông hoà hợp đời sống của ḿnh vào đời sống của những con người chất phác, vui cái vui của họ, lo cái lo của họ .

4. Tính chất trào phúng:
Ông hay chỉ trích những cái dở, cái xấu của người đời . Hạng người bị ông chỉ trích là những tham quan ô lại, những người dốt mà thích khoe chữ, những kẻ tham tiền quên điều sỉ nhục . Trong những lời thơ tự trào, ông cũng đă nghiêm khắc với chính ḿnh, đem những tật xấu nhỏ của ḿnh mà chế giễu . Chấm biếm những người tham tiền, trong cuộc lễ quốc khánh của Pháp, bày ra tṛ mua vui làm nhục quốc thể :
"Cậy sức cây du nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo ."
hay
"Bà quan tênh nghếch xem bơi trải
Thằng bé lom khom nghé hát chèo ."
Nguyền rủa những kẻ mang tiếng là "phụ mẫu chi dân" nhưng không lo việc ích nước lợi dân, chỉ lo đục khoét dân . Dưới đây là 4 câu thơ ông viết tặng một ông Đốc học hay ăn hối lộ :
"Ai bảo ông dại với ông điên,
Ông dại sao ông biết lấy tiền .
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
Nẹt thẳng mặt trắng lấy Tam nguyên "

5. Ḷng yêu nước thiết tha :
Dù với tấm ḷng yêu nước tiêu cực, chủ trương bất hợp tác với Pháp, chối từ địa vị cao sang mà tân triều đă sẵn sàng mời mọc, Tam Nguyên Yên Đỗ đă chứng tỏ được tiết tháo của nhà Nho . TrưỚc cảnh quốc phá gia vong, là người thâm nho, học cao hiểu rộng, lẽ đâu Nguyễn Khuyến chẳng nhớ câu "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" nhưng một ḿnh không làm sao xoay nổ một thế cờ, ông đành ngậm ngùi, bó tay trước t́nh thế . Qua những bài "Tiếng Cuốc Đêm Hè" "Ông Phỗng Đa" ta c̣n thấy ḷng yêu nước của thi sĩ qua những cảnh vật thiên nhiên của xứ sở, qua những làng mạc, thôn xóm của đất nước thân yêu .

"Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ ?
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ " Nghe Cuốc Kêu .

Trước cảnh nước mất nhà tan, nhận thấy ḿnh bất lực, đôi tay yếu mềm của một văn nhân không thể làm ǵ hơn được là gởi nỗi niềm tâm sự vào lời thơ . C̣n đâu nữ lúc đem tài trí ra "an bang tế thế" c̣n chăng chỉ là hồn Thục đế mất nước hóa thành đỗ quyên để rồi đêm đêm máu hoà nước mắt khóc nỗi hờn vong quốc .

Trước cảNh giang san nghiêng ngửa, đất nước bị thôn tính, nhân dân ta lúc bấy giờ có khác chi cảnh gà lạc mẹ, bợO vơ trong sứ tiến thối lưỡng nan . May ra th́ được giữ tṛn tiết tháo, bằng không th́nh thanh danh, sự nghiệp đành chông giữa chống bùn nhơ . Tấm gương kiên trung, ḷng thiết tha yêu nước với một bản ngă vững chắc đă giúp thi sĩ chiến thắng oanh liệt trướcmọi cám dỗ . Ông đă giữ được thái độ thanh cao phóng khoáng, một tinh thần quốc gia thuần tuư . Ông như một hoa sen sống trong bùn nhưng không nhiềm phải mùi vị tanh hôi .

-----------------------------
Các bài thơ:

Cảnh Già

Ông Tiến Sĩ Giấy

Nước Lụt Hỏi Thăm Bạn

Đêm Mùa Hạ

Mẹ Mốc

Bạn Đến Chơi Nhà

Lên Lăo

Khóc Dương Khuê

Cuốc Kêu Cảm Hứng

Ngày Xuân Dặn Các Con

Hội Tây

Tổng Vịnh Kiều

Kiều Bán Ḿnh

Thu Điếu

Thu Ẩm

Thu Vịnh

Vịnh Mùa Hè

Tự Trào

Tự Thuật

Chế Ông Đỗ Cự Lộc

Mừng Ông Nghè Mới Đỗ

Hỏi Thăm Quan Tuần Bị Mất Cướp

Tặng Đốc Học Hà Nam

Mừng Đốc Học Hà Nam

Tặng Bà Hậu Cẩm

Thầy Đồ Ve Gái Góa

Lời Gái Góa

Muốn Lấy Chồng

Lấy Tây

Lời Vợ Anh Phường Chèo

Vịnh Sư

Bóng Đè Cô Đău

Anh Giả Điếc

Bồ Tiên Thi

Vịnh Núi An Lăo

Nhớ Cảnh Chùa Đọi

Chơi Chợ Trời Hương Tích

Chơi Núi Non Nước

Chợ Đồng

-----------------------------

Uống Rượu Ở Vườn Bùi

Trở Về Vườn Cũ

Nghe Hát Đêm Khuya

Hoài Cổ

Chốn Quê

Khai Bút

Cảm Hứng

Về Hay Ở

Ông Phỗng Đá

Than Nợ

Vịnh Lụt

Nước Lụt Hà Nam

mừng Con Dựng Được Nhà

Tạ Lại Người Cho Hoa Trà

Chừa Rượu

Cáo Quan Về Ở Nhà

Phú Đắc

Đại Lăo

Di Chúc

Cua Chơi Trăng

Thế Sự

Chơi Thuyền Hồ Tây

Tay Doc
07-01-2002, 09:49 AM
Cảnh già


Nhớ từ năm trước hăy thơ ngây,
Phút chốc mà già đă đến ngay.
Mái tóc cḥm đen, cḥm lốm đốm;
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ,
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Ông ngẫm ḿnh ông thêm ngán nỗi :
Đi đâu, giở những cối cùng chày.


Bản chép khác:
Câu 1: Vừa thuở ngày nào hăy dại ngây.
Câu 2: Cái già ṣng sọc đă theo ngay.
Câu 3: chùm đen, chùm ... (hoặc): phần sâu, phần ... (hoặc): cḥm râm, cḥm ...
Câu 5: Lèm nhèm ... (hoặc) lập lờ ...
Câu 6: bước ...
Câu 7: C̣n một nỗi này thêm chán ngắt (hoặc): thêm nỗi ngán.

Tay Doc
07-01-2002, 10:07 AM
Ông tiến sĩ giấy


Khéo chú hoa man (1) khéo vẽ tṛ,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu vẻ mặt vang trong nước;
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
Bán tiếng, mua danh, thây lũ trẻ;
Bảng vàng, bia đá, vẫn ngh́n thu.
Hỡi ai muốn ước cho con cháu?
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.


Chú thích:
Chú hoa man: người thợ mă

Tay Doc
07-01-2002, 10:15 AM
Nước lụt hỏi thăm bạn


Ai lên nhắn hỏi bác Châu cầu
Lụt lội năm nay bác ở đâu?
Mấy ổ lợn con rày lớn bé?
Vài gian nếp cái ngập nông, sâu?
Phận thua, suy tính càng thêm thiệt;
Tuổi cả, chơi bời họa sống lâu.
Em cũng chẳng no, mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu.


Chú thích:
Châu cầu : tên một làng thuộc huyện Thanh liêm tỉnh Hà Nam, quê bạn tác giả là Bùi Quế.

Tay Doc
07-01-2002, 05:19 PM
Đêm mùa hạ


Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thực oi ả.
Tiếng dế kêu thiết tha;
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy biết cùng ai?
Cảnh này buồn cả dạ!
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đà sớm giục giă

Tay Doc
07-01-2002, 05:49 PM
Mẹ Mốc

So danh giá ai bằng Mẹ Mốc (1)
Ngoài h́nh hài, gấm vóc, cũng thêm ra.
Tấm hồng nhan đem bôi lấm, xóa nḥa,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim (2)
Nhớ chồng con muôn dặm xa t́m,
Giữ son sắt êm đềm một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương Trinh vằng vặc quyết không nhơ.
Đắp tai ngảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.
Khôn em dễ bán dại nạy


Chú thích:
(1) Mẹ Mốc : tên một người đàn bà hóa dại ở tỉnh Nam Định xưa.
(2) Hai câu 5-6 : ngoài mặt không cầu như ngọc đẹp ; trong ḷng thường giữ bền tựa vàng.

Ngao_0p
07-02-2002, 03:41 AM
Bạn Đến Chơi Nhà

Đă bấy lâu nay bác tới nhà ,
Trẻ th́ đi vắng, chợ thời xa .
Ao sâu, sóng cả, khôn chài cá ;
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà .
Cải chửa ra cây, cà mới nụ ;
Bầu vừa rụng rốn , mướp đương hoa .
Đầu tṛ tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta .

Nguyễn Khuyến

Ngao_0p
07-02-2002, 03:47 AM
Lên Lăo


Ông chẳng hay ông tuổi đă già ,
Năm lăm ông cũng lăo đây mà .
Anh em làng xóm xin mời cả ,
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là .
Chú Đáo bên làng lên với tớ ,
Ông Từ xóm chợ lại cùng ta .
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ , (*)
Có rượu thời ông chống gậy ra .

Nguyễn Khuyến


(*) Ăn dưng: ăn không .

Ngao_0p
07-02-2002, 04:23 AM
Khóc Dương Khuê



Bác Dương thôi đă thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi ḷng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa (1) ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau ;
Kính yêu từ trước đến sau:
Trong khi gặp gỡ, khác đâu duyên trời ?
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách;
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo ;
Có khi từng gác cheo leo,
Khúc vui con hát lựa chiều cầm xoang ;
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp ,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần (2) trước sau.
Buổi dương cửu (3) cùng nhau hoạn nạn,
Phận đẩu thăng (4) chẳng dám than trời ;
Tôi già, bác cũng già rồi ,
Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là !
Đường đi lại, tuổi già thêm nhác ,
Trước ba năm , gặp bác một lần ,
Cầm tay, hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẩn tinh thần chưa can.
Kể tuổi tôi c̣n hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày,
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe tôi những chân tay rụng rời !
Ai chả biết chán đời là phải ,
Vội vàng chi đă mải lên tiên ;
Rượu ngon, không có bạn hiền ,
Không mua, không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa ;
Giường kia treo những hững hờ, (5)
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn (6)
Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở ,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương ;
Tuổi già, hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan !


Nguyễn Khuyến

Nguyên tác chữ Hán : " Văn đồng niên Vân Đ́nh tiến sĩ Dương Thượng thư , bài này tác giả tự dịch

1. Đăng khoa : thi đỗ
2 Đông bích điển phần : đọc sách tra cứu
3 Buổi dương cửu : thời gian nan
4 Đẩu thăng : đơn vị đo lường ngày xưa
5 Giường treo : Trần Phồn đời hậu Hán dành riêng cho bạn thân một cái giường , đến th́ trải ra cho bạn . bạn về th́ treo lên .
6 Tích Bá Nha , Tử Kỳ

Ngao_0p
07-02-2002, 04:30 AM
Cuốc Kêu Cảm Hứng


Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ ,
Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ.
Năm canh máu chảy đêm hè vắng ,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi ?
Hay là nhớ nước vẩn nằm mơ ?
Thâu đêm ṛng ră kêu ai đó ?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ .

Nguyễn Khuyến

Ngao_0p
07-02-2002, 04:36 AM
Ngày Xuân Dặn Các Con


Tuổi thêm , thêm được tóc râu phờ ,
Nay đă năm mươi có lẻ ba .
Sách vở ích ǵ cho buổi ấy .
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
Xuân về ngày loạn càng lơ láo,
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ.
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng ?
Sao con đàn hát vẩn say sưa ?

Nguyễn Khuyến



Tác giả tự dịch bài : " Xuân nhật thị chư nhi "

Ngao_0p
07-02-2002, 04:39 AM
Hội Tây


Ḱa hội thăng b́nh tiếng pháo reo ,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo !
Bà quan tênh hếch xem bơi trải ,
Thằng bé lom khom ghé hát chèo.
Cậy sức , cây đu nhiều chị bám;
Tham tiền , cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ tṛ vui thế ,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu.

Nguyễn Khuyến

Ngao_0p
07-02-2002, 04:46 AM
Tổng Vịnh Kiều (*)


Kiều nhi giấc mộng, bặt như cười
Tỉnh dậy xuân sanh quá nửa rồi .
Số kiếp bởi đâu mà lận đận ?
Sắc tài cho lắm cũng lôi thôi !
Cành hoa vườn Thúy duyên c̣n bén,
Giọt nước sông Tiền nợ chửa xuôi.
Chẳng trách chàng Kim đeo đẳng măi,
Khăng khăng vớt lấy một phần đuôi.

Nguyễn Khuyến

* Tác giả vịnh chung hai mươi hồi trong truyện Kiều

Ngao_0p
07-02-2002, 05:00 AM
Kiều Bán Ḿnh


Thằng bán tơ kia giở giói ra ,
Làm cho bận đến cụ Viên già .
Muốn êm phải biện ba trăm lạng ,
Khéo xếp nên liều một chiếc thoa .
Nổi tiếng mượn màu son phấn mụ , (*)
Đem thân chuộc lấy tội t́nh cha .
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ ?
Đời trước làm quan cũng thế a ?

Nguyễn Khuyến



*Mụ : tú bà

Ngao_0p
07-02-2002, 05:06 AM
Thu Điếu


Ao thu lạnh lẽo nước trong veo ,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo .
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí ,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo .
Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt
Ngơ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được ,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo .

Nguyễn Khuyễn

Ngao_0p
07-02-2002, 05:11 AM
Thu Ẩm


Năm gian nhà có thấp le te ,
Ngơ tối đêm sâu đóm lập ḷe
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt ,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe .
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?
Mắt lăo không vầy cũng đỏ hoe .
Rượu tiếng rằng hay , hay chả mấy ,
Độ năm ba chén đă say nhè .

Nguyễn Khuyến

Ngao_0p
07-02-2002, 05:19 AM
Thu Vịnh


Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao ,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu ,
Nước biếc trong như tầng khói phủ ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào .
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái ,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào ?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút ,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào .(*)

Nguyễn Khuyến


* Đào tức ông Đào Tiềm thời Tấn .

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:19 AM
VỊNH MÙA HÈ

Biếng trông trời hạ nước non xa,
Ư khí ngày thường nghĩ đă trơ.
Cá vượt khóm rau lên mặt nước,
Bướm len lá trúc lượn rèm thưa.
Thơ Đào (1) cửa miệng đưa câu rượu
Xóm Liễu (2) quanh khe chịu tiếng khờ.
Nhân hứng cũng vừa toan cất chén,
Sấm đông rầm rập gió nồm đưa.

1. Đào tức là Đào Tiềm đời Tấn.
2. Liễu Tôn Nguyên bị vua bắt tội, phải về quê, tự cho ḿnh là ngu dại.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:21 AM
TỰ TRÀO

Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy, chẳng béo chỉ làng nhàng,
Cờ đương dở cuộc không c̣n nước,
Bạc chửa thâu canh đă chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén măi tít cung thang.
Nghĩ ḿnh lại gớm cho ḿnh nhỉ,
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:22 AM
TỰ THUẬT

Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay,
Ông ngẫm ḿnh ông, nghĩ cũng hay.
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ?
Răng long ngày trước hăy c̣n đây.
Câu thơ được chửa, thưa rằng được.
Chén rượu say rồi, nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:23 AM
CHẾ ÔNG ĐỖ CỰ LỘC

Văn hay chữ tốt ra tuồng,
Văn dai như chăo, chữ vuông như ḥm.
Vẻ thầy như vẻ con tôm,
Vẻ tay ngoáy cám, vẻ mồm húp tương.
Vẻ lịch sự ai bằng thầy Cự Lộc,
Vẻ cô đầu nói móc có vài câu:
Anh chẳng sang, mà cũng chẳng giàu.
Hầu bao ních, rận bâu quanh chiếu;
Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu,
Nón sơn không méo cũng không tṛn.
Quần vải thô, ngại giặt ngả màu son,
Giày cóc gặm, nhặt dây đàn khâu lấy.
Phong lưu ấy, mà t́nh tính ấy,
Đến cô đầu, vẫn thấy lả lơi bông,
Xinh thay diện mạo anh hùng!

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:24 AM
MỪNG ÔNG NGHÈ MỚI ĐỖ

Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè,
Chẳng đỗ th́ trời cũng chẳng nghe.
Ân tứ (1) dám đâu coi rẻ rúng,
Vinh quy ắt hẳn rước tùng x̣e.
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh, (2)
Hoăn (3) đẹp nàng này khó nhẽ che.
Hiển quí đến nay đà mới rơ,
Rơ từ những lúc tổng chưa đe. (4)

1. Ân tứ: ơn vua ban.
2. Câu này rút ư câu ca dao:
Em là con gái đồng trinh
Em đi bán rượu qua dinh ông nghè.
Ông nghè sai lính ra ve,
- Trăm lạy ông nghè, tôi đă có con.
- Có con th́ mặc có con.
Thắt lưng cho gịn mà lấy chồng quan.
3. Hoăn: một loại hoa tai vàng.
4. Câu này rút ư câu tục ngữ:
Chưa đỗ ông nghè đă đe hàng tổng.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:28 AM
HỎI THĂM QUAN TUẦN BỊ MẤT CƯỚP

Tôi nghe khẻ cướp nó lèn ông,
Nó lại lôi ông đến giữa đồng.
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ!
Thân già da cóc có đau không?
Bây giờ mới khẽ sầy da trán,
Ngày trước đi đâu mất mảy lông.
Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa.
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:30 AM
TẶNG ĐỐC HỌC HÀ NAM

Ai rằng ông dại với ông điên,
Ông dại sao ông biết lấy tiền?
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
Khoét thằng mặt trắng (1) lấy tam nguyên (2)
Dấu nhà vừa thoát sừng trâu đỏ,
Phép nước xin chừa móng lợn đen (3)
Chỉ cốt túi ḿnh cho nặng chặt,
Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen.


1. Thằng mặt trắng: do câu "Bạch diện thư sinh" chỉ người học tṛ.
2. Tam nguyên: ba đồng bạc; c̣n đồng âm với chữ "Tam nguyên" là đỗ đầu luôn ba khoa: thi hương, thi hội và thi đ́nh.
3. Móng lợn đen: ám chỉ việc ông đốc học này đă có lần bị Tây đá đít.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:31 AM
MỪNG ĐỐC HỌC HÀ NAM

Ông làm đốc học bấy lâu nay,
Gần đó mà tôi vẫn chửa hay.
Tóc bạc răng long chừng đă cụ,
Khăn thâm áo thụng cũng ra thầy.
Học tṛ kẻ chợ trầu dăm miếng,
Khảo khóa ngày xưa quyển một chầy. (1)
Bổng lộc như ông không mấy nhỉ?
Ăn tiêu nhờ được chiếc lương Tây.



1. Một chầy: tức một tiền. Ngày xưa, mỗi thí sinh khi vào nộp quyển khảo thi, phải nộp kèm theo một tiền (60 đồng kẽm).

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:33 AM
TẶNG BÀ HẬU CẨM

Nghĩ xem đẹp nhất ở làng Và,
Tiếc gọi rằng già cũng chửa già
Làn sóng liếc ngang đôi mắt phượng
Tóc mây rủ xuống một đuôi gà.
Nói năng duyên dáng coi như thể...
Đi đứng khoan thai thế cũng là...
Nghe nói muốn thôi, thôi chửa được,
Được làm dơ dở đă thôi a?

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:35 AM
THẦY ĐỒ VE GÁI GOÁ

Người bảo rằng thầy yêu cháu đây,
Thầy yêu mẹ cháu có ai hay!
Bắc cầu, câu cũ (1) không hờ hững,
Cầm kính, t́nh xưa (2) vẫn đắng cay.
Ở góa thế gian nào mấy mụ?
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy?
Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy,
Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.

1. Do câu ca dao:
"Muốn sang th́ bắc cầu kiều..."
2. Do câu ca dao:
"Trách người quân tử vô t́nh,
Có gương mà để bên ḿnh không soi"
ư nói: người đàn bà goá chê thầy đồ nhát gan, không dám mạnh bạo hơn trong việc ve gái.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:36 AM
LỜI GÁI GOÁ

Chàng chẳng biết gái này gái goá,
Buồn nằm suông, suông cả áo cơm.
Khéo thay cái mụ tá ơm. (1)
Đem chàng trẻ tuổi ép làm lứa đôi.
Chàng tuổi trẻ chơi bời quên nhọc,
Gái già này sức vóc được bao?
Muốn sao, chiều chẳng được sao.
Trước tuy sum họp, sau nào được lâu?

Lấy chồng vốn nhờ câu ăn mặc,
Chẳng ngờ rằng đói rách hổ ngươi;
Vốn xưa cha mẹ dặn lời,
Tư bôn (2) lại phải kẻ cười người chê.
Hỡi mụ hỡi, thương chi thương thế?
Thương th́ hay, nhưng kế chẳng hay.
Thương th́ gạo vải cho vay,
Lấy chồng th́ gái goá này xin van!



1. Mụ tá ươm: chỉ người mai mối.
2. Tư bôn: chỉ người con gái chốn nhà đi theo trai

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:37 AM
MUỐN LẤY CHỒNG

Bực ǵ bằng gái trực pḥng không?
Tơ tưởng v́ chung một tấm chồng.
Trên gác rồng mây ngao ngán đợi,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui, lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại, nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:39 AM
LẤY TÂY

Con gái đời này, gái mới ngoan,
Quyết ḷng ẩu chiến với Tây quan.
Ba vuông phất phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang.
Trời đất khéo thương chàng bạch quỉ (1)
Giang san riêng sướng ả hồng nhan
Nghĩ càng thêm ngán trai thời loạn,
Con gái đời nay, gái mới ngoan! (2)


(1) Bạch quỉ: chỉ tên người Pháp.
(2) Tác giả tỏ thái độ chua chát trước cảnh "lấy Tây" của gái Việt thời đó.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:40 AM
LỜI VỢ ANH PHƯỜNG CHÈO

Xóm bên đông có phường chèo trọ,
Đương nửa đêm gọi vợ chuyện tṛ:
Rằng: "ta thường làm quan to,
Sao người coi chẳng ra tṛ trống chi?"
Vợ giận lắm mắng đi mắng lại:
"Tuổi đă già sao dại như ri?
Đêm hôm ai chẳng biết chi,
Người ta biết đến thiếp th́ hổ thay!
Ở đời có hai điều nên sợ:
Sống chết người, quyền ở trong tay.
Thế mà chàng đă chẳng hay.
C̣n ai sợ đến phường này nữa chăng?
Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết,
Cuộc sinh nhai chèo hát qua th́,
Vua chèo c̣n chẳng ra ǵ,
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề".

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:41 AM
VỊNH SƯ

Đầu trọc lốc b́nh vôi,
Nhảy tót lên chùa ngồi.
I a kinh một bộ,
Lóc cóc mơ ba hồi.
Cơm chẳng cần cá thịt,
Ăn rặt oản, chuối, xôi.
Không biết câu t́nh dục,
Đành chịu tiếng mồ côi

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:42 AM
BÓNG ĐÈ CÔ ĐẦU

Bóng người ta nghĩ bóng ta,
Bóng ta, ta nghĩ hoá ra bóng người.
Tỉnh tinh rồi mới nực cười.
Giấc hồ (1) ai khéo vẽ vời cho nên?
Cô đào Sen là người Thi Liễu
Cớ làm sao ơng ẹo với làng nho?
Bóng đâu mà bóng đè cô,
Bỗng thấy sự nhỏ to thêm thắc mắc.
Cố hữu diệc vi thân ngoại vật,
Khán lai đô thị mộng trung nhân (2)
Sực tỉnh ra nào biết chuyện xa gần,
C̣n văng vẳng tiếng đàn lần tiếng trống.
Quân bất kiến Thiên thai động khẩu cần tương tống; (3)
Dẫu bóng ta, ta bóng có làm sao,
Thực người hay giấc chiêm bao?


1. Giấc hồ: giấc mộng.
2. Hai câu này đại ư nói: ở đời, phàm những cái ǵ ta có đều là vật ngoài thân cả, và ngẫm lại, người đời đều ở trong giấc mộng cả.
3. Câu này dẫn điển Lưu Thần và Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai hái thuốc gặp và lấy tiên. ở với nhau được sáu tháng, hai chàng nhớ nhà đ̣i về, hai nàng tiên ân cần tiễn ra cửa động.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:44 AM
ANH GIẢ ĐIẾC

Trong thiên hạ có anh giả điếc,
Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!
Chẳng ai ngờ "sáng tai họ, điếc tai cày",
Lối điếc ấy sau này em muốn học.
Toạ trung đàm tiếu, nhân như mộc
Dạ lí phan viên, nhĩ tự hầu. (1)
Khi vườn sau, khi ao trước; khi điếu thuốc, khi miếng trầu.
Khi chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu;
Sáng một chốc, lâu lâu rồi lại điếc
Điếc như thế ai không muốn điếc?
Điếc như anh dễ bắt chước ru mà!
Hỏi anh, anh cứ ậm à.

1 khi mọi người ngồi nói chuyện và cười cợt th́ ngây ra như gỗ, nhưng đêm khuya leo trèo th́ lanh lẹn như con khỉ.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:45 AM
BỒ TIÊN THI

Chú huyện Thanh Liêm khéo giở tṛ,
"Bồ tiên thi" lại lấy vần bồ.
Nghênh ngang vơng lọng nhờ ông sứ,
Ngọng nghẹo văn chương giở giọng ngô.
Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,
Tiên (2) là ư chú muốn ṿi xu!
Từ vàng sao chẳng luôn từ bạc,
Không khéo mà roi nó phết cho.


1. Bồ tiên: cái roi bằng cỏ bồ mà Lưu Khoan, một ông quan đời Hán nổi tiếng nhân từ, dùng để đánh tội nhân. Dựa vào điển này, tên tri huyện đă mở cuộc thi thơ và ra đầu đề là "bồ tiên thi" ngầm ư khoe ḿnh là người biết thương dân.
2. Tiên: "tiên" nghĩa là cái roi, đồng âm với chữ "tiên" nghĩa là đồng xu.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:46 AM
VỊNH NÚI AN LĂO

Mặt nước mênh mông nổi một ḥn,
Núi già nhưng tiếng vẫn c̣n non, (1)
Mảnh cây thưa thớt đầu như trọc,
Ghềnh đá long lanh ngấn chửa ṃn.
Một lá (2) về đâu xa thẳm thẳm,
Ngh́n nhà trông xuống bé con con.
Dẫu già đă hẳn hơn ta chửa?
Chống gậy lên cao gối chẳng chồn!

1. Tác giả chơi chữ, tên núi là An Lăo (lăo: già) nhưng người ta thường nói "núi non".
2. Lá: con thuyền.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:47 AM
NHỚ CẢNH CHÙA ĐỌI

Già yếu xa xôi bấy đến nay,
Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay!
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá.
Sư cụ nằm chung với khói mây
Dặm thế ngơ đâu tầng trúc ấy,
Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?
Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:49 AM
CHƠI CHỢ TRỜI HƯƠNG TÍCH

Ai đi Hương Tích chợ trời đi!
Chợ họp quanh năm cả bốn th́.
Đổi chác người tiên cùng khách bụt,
Bán buôn gió chị lại trăng d́.
Yến anh chào khách nhà mây tỏa,
Hoa quả bày hàng điếm cỏ che.
Giá áo, lợn, tằm, tiền, gạo đủ.
Bán mua mặc ư muốn chi chi

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:50 AM
CHƠI NÚI NON NƯỚC

Chom chỏm trên sông đá một ḥn,
Nước trôi sóng vỗ biết bao ṃn?
Phơ đầu đă tự đời Bàn Cổ, (2)
Bia miệng c̣n đeo tiếng trẻ con.
Rừng cúc tiền triều (3) trơ mốc thếch,
Hồn câu Thái phó (4) tảng rêu tṛn.
Trải bao trăng gió xuân già giặn,
Trời dẫu già, nhưng núi vẫn non.


1. Núi Non Nước, một thắng cảnh nằm ven bờ sông Đáy ở thị xă Ninh B́nh.
2. Bàn Cổ: Ông Bàn Cổ sinh từ lúc mới có trời đất.
3. Tiền triều: triều vua thời trước.
4. Ḥn câu thái phó: tảng đá mà thái phó Trương Hán Siêu đă ngồi câu cá.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:51 AM
CHỢ ĐỒNG

Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời, mưa bụi c̣n hơi rét.
Nếm rượu, tường đền (1) được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc (2) nhà ai một tiếng đùng.

1. Chợ Đồng họp ngay ở bên cạnh một ngôi đền. Xung quanh đền lại đắp tường đất dày bao bọc, gọi là tường đền.
2. Pháo trúc: trúc đốt trong lửa, có tiếng nổ to.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:53 AM
UỐNG RƯỢU Ở VƯỜN BÙI

Tuư Ông (1) ư chẳng say về rượu,
Say v́ đâu, nước thẳm với non cao.
Non lặng ngắt, nước tuôn ào,
Tôi với bác xưa nay cùng thích thế.
Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ,
Có người say rượu tiếng c̣n nay.
Cho nên say, say khướt cả ngày,
Say mà chẳng biết rằng say ngă đùng.

Chu Bá Nhân (2) thuở trước sang sông.
Chỉ tỉnh rượu ba ngày không phải ít.
Kêu gào thế cười chi cho mệt,
Chớ buồn chi nghe tiếng hát làng say
Xin người gắng cạn chén này.

(1) Tuư Ông: "Ông say" tên hiệu của Âu Dương Tu đời Tống.
(2) Chu Bá Nhân: Chu Nghị.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:54 AM
TRỞ VỀ VƯỜN CŨ

Vườn Bùi (1) chốn cũ,
Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây.
Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây,
Thú khâu hác lâm tuyền (2) âu cũng thế.
Bành Trạch (3) cầm xoang ngâm trước ghế,
Ôn công (4) rượu nhạt chuốc chiều xuân.
Ngọn gió đông ngảnh lại lệ đầm khăn
Tính thương hải tang điền qua mấy lớp?
Ngươi chớ giận Lỗ Hầu (5) chẳng gặp.
Như lơ phơ tóc trắng lại làm chi
Muốn về sao chẳng về đi?

(1) Vườn Bùi: Thôn Vị Hạ, xă Yên Đổ, nay là xă Trung Lương, huyện B́nh Lục (Nam Hà) quê hương Nguyễn Khuyến.
(2) Khâu hác: g̣ và khe; Lâm tuyền: rừng và suối.
(3) Bành Trạch: tên một huyện cũ thuộc tỉnh Giang Tây (Trung Quốc).
(4) Ôn công: tức Tư Mă Quang, khi cáo quan về ở ẩn chỉ uống rượu tiêu sầu.
(5) Lỗ Hầu: tức Lỗ B́nh Công.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:56 AM
NGHE HÁT ĐÊM KHUYA

Một khúc đêm khuya tiếng đă chầy,
Nửa chen mặt nước, nửa từng mây.
Nghĩ ḿnh vườn cũ vừa lui bước,
Ngán kẻ phương trời chẳng đứt dây.

Bẻ liễu thành Đài thôi cũng xếp, (1)
Trồng lan ngơ tối ngát nào hay?
Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng,
Chén rượu bên đèn luống tỉnh say.

(1) Bẻ liễu thành đài: tác giả dẫn điển Hán Hoành đời Đường, lấy một danh kĩ là Liễu thị ở phố Chương Đài, Trường An, sau đi làm quan xa, để liễu thị ở lại đó ba năm, không đón đi được, nên làm bài "Chương Đài liễu" để thăm.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:57 AM
HOÀI CỔ

Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười,
Sự đời đến thế, thế thời thôi!
Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm,
Nước độc ma thiêng mấy vạn người.
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả,
Phá tung phên giậu hạ di (2) rồi.
Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ,
Mây trắng về đâu nước chảy xuôi. (3)


1. Bài này tuy đầu đề là "hoài cổ" nhưng thực ra nhà thơ muốn nói lên cảnh thực dân Pháp bắt dân ta đi phu khai mỏ ở miền núi, đắp đường xe lửa v.v... bị chết nhiều.
2. ư nói đất nước ta.
3. ư nói: vận mệnh của đất nước hồi bấy giờ chẳng khác nào như mây trôi dạt, nước chảy xuôi.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:58 AM
CHỐN QUÊ

Năm nay cày cấy vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê ḅ.
Sớm chưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Tằn tiện thế mà không khá nhỉ?
Nhờ trời rồi cũng mấy gian kho.

Bach Van Phi
07-06-2002, 01:59 AM
KHAI BÚT

̀nh ịch đêm qua trống các làng,
Ai ai mà chẳng rước xuân sang.
Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén,
Bút mới xô tay thử một hàng.
Ngoài lũy nhấp nhô c̣ cụ tổng, (1)
Cách ao lẹt đẹt pháo thầy Nhang. (2)
Một năm một tuổi, trời cho tớ,
Tuổi tờ trời cho, tớ lại càng... (3)


1.Cụ tổng: tức cụ Tổng Hào ở gần nhà Nguyễn Khuyến, nhà giàu có, xung quanh nhà có lũy tre bao bọc xanh tốt um tùm, chim c̣ về đậu ở đây rất nhiều.
2. Thầy Nhang: ở cách nhà Nguyễn Khuyến một cái ao.
3. Câu này rút ư câu tục ngữ: Càng già, càng dẻo, càng dai.

Bach Van Phi
07-06-2002, 02:00 AM
CẢM HỨNG

Ngày trước cũng lên lạy cửa trời, (1)
Lâu nay vắng vẻ bặt tăm hơi.
Nước non man mác về đâu tá?
Bạn bè lơ thơ sót mấy người.
Đời loạn đi về như hạc độc, (2)
Tuổi già h́nh bóng tựa mây côi (3)
Đă hay nhờ được hao ṃn lắm,
Một thí (4) ḷng son chửa rơ mười.

1. ư nói: nhà thơ lúc làm quan cũng đă cùng với bạn vào chầu vua ở triều đ́nh.
2. Hạc độc: con hạc một ḿnh, không có bạn.
3. Mây côi: đám mây lẻ loi.
4. Một thí: một chút.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:33 AM
VỀ HAY Ở

Văng vẳng tai nghe tiếng chích cḥe
Lặng đi kẻo động khách ḷng quê.
Nước non có tớ càng vui vẻ,
Hoa nguyệt nào ai đă đắm mê?
Quyên đă gọi hè quang quác quác,
Gáy từng gáy sáng tẻ tè te.
Lại c̣n giục giă về hay ở?
Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:34 AM
ÔNG PHỖNG ĐÁ

I .
Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày ǵn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không.



II .
Người đâu tên họ là ǵ?
Khéo thay chích chích chi chi (1) nực cười.
Dang tay ngửa mặt lên trời,
Hay c̣n lo tính sự đời chi đây?
Thấy phỗng đá lạ lùng muốn hỏi.
Cớ làm sao len lỏi đến chi đây?
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này,
Chí cũng rắp dan tay vào hội lạc (2)
Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,
Thượng hải thùy tri ngă diệc âu. (3)
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu.
Nên chăng đá cũng gật đầu!


(1) Chích chích chi chi: ngây ngô, khờ khạo.
(2) Hội lạc: một hội hưởng vui của một số nhà thơ về đời Tống.
(3) Câu này và câu trên ư nói: ta tự cười đầu đă bạc phơ như đầu chim hạc trong chốn núi xanh, ai có hay đâu ta cũng như con chim âu, ung dung nơi băi biển xanh.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:44 AM
THAN NỢ

Quản chi công nợ có là bao!
Nay đă nên to đến thế nào?
Lăi mẹ lăi con sinh đẻ măi,
Chục năm chục bảy tính nhiều sao?
Ra đường kẻ cả dừng chân hỏi, (1)
Vào cửa người sang ngửa mặt chào. (2)
Quyết chí phen này trang trải sạch,
Cho đời rơ mặt cái thằng tao.



1. Câu này ư nói: vay nợ của nhiều người nên ra đường ai gặp cũng hỏi nợ.
2. Câu này ư nói: v́ có nợ nên khi vào nhà chủ nợ phải tỏ thái độ vồn vă, kính trọng.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:46 AM
VỊNH LỤT

Tị trước (1) Tị này (2) chục lẻ ba,
Thuận ḍng nước cũ lại bao la.
Bóng thuyền thấp thoáng giờn trên vách,
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà.
Bắc bậc người c̣n chờ chúa đến, (3)
Đóng bè ta phải rước vua ra. (4)
Sửa sang việc nước cho yên ổn,
Trời đă sinh ta ắt có ta.


1. Năm Quí Tị (1893) vỡ đê Nhị Hà.
2. Năm Ất Tị (1905), mười ba năm sau, lại có một trận lụt nữa.
3. ư nói: chủ nhà phải trèo lên cao để tránh nước lụt.
4. ư nói: người ta phải đem đầu rau (ông núc) đặt lên bè nổi để thổi nấu. Đầu rau có nơi gọi là vua bếp.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:49 AM
NƯỚC LỤT HÀ NAM

Quai Mễ Thanh Liêm đă lở rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi
Gạo dăm ba bát cơ c̣n kém,
Thuế một vài nguyên dáng vẫn đ̣i.
Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng.
Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi.
Đi đâu cũng thấy người ta nói,
Mười chín năm nay lại cát bồi.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:50 AM
MỪNG CON DỰNG ĐƯỢC NHÀ

Nghĩ ta, ta cũng sướng ru mà,
Mừng thấy con ta dựng được nhà
Năm mới lệ thường thêm tuổi một,
Cỗ phe ngôi đă chốc bàn ba. (1)

Rượu ngon đến bữa nghiêng bầu dốc,
Chữ "dại" đầu năm xổ túi ra. (2)
Một khóm thủy tiên năm bảy cụm,
Xanh xanh như sắp thập tḥ hoa.

1. Bữa tiệc do phe giáp, một tổ chức nhỏ trong làng, làm lễ mừng thọ các bậc bô lăo. ở đây ư nói nhà thơ cũng đă vào bậc bô lăo 60 tuổi trở lên rồi.
2. ư nói ngâm vịnh nhiều.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:52 AM
TẠ LẠI NGƯỜI CHO HOA TRÀ

Tết đến người cho một chậu trà,
Đương say ta chẳng biết rằng hoa.
Da mồi, tóc bạc ta già nhỉ,
Áo tía đai vàng bác đó a?
Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá. (1)
Gió to luống sợ lúc rơi già. (2)
Xem hoa, ta chỉ xem bằng mũi,
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà.

1. Những hạt mưa nhỏ dần dần xuyên thủng cả lá cây.
2. Gió bấc thổi, làm cho đài hoa rụng.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:54 AM
CHỪA RƯỢU

Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa nên nỗi không chừa được.
Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:57 AM
CÁO QUAN VỀ Ở NHÀ

Ngần ấy năm nay vẫn ở nhà,
Nghĩ ta, ta lại chỉ thương ta.
Bóng hiên thêm ngán hơi nồng nhỉ,
Ngọn gió không nhường tóc bạc a!
Thửa mạ rạch ṛi chân (1) xấu tốt,
Đấu lương đo đắn tuổi non già. (2)
Khi buồn chén rượu say không biết,
Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa.

(1) Chân: tức chân ruộng.
(2) Đong thóc sành sỏi.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:58 AM
PHÚ ĐẮC

Bà già đă bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư lấy chồng.

Đă trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
Chữ nhất nhi chung (2) đành đă vậy,
Câu tam bất hiếu (3) nữa làm sao?
May mà chim được ông chồng trẻ,
Họa có sinh ra được chút nào?


1. Phú đắc là lối tŕnh bày sự việc cụ thể.
2. Nhất nhi chung: nói người phụ nữ chỉ lấy một người chồng cho đến khi chết.
3. Tam bất hiếu: do câu "bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (Mạnh Tử) nghĩa là bất hiếu có ba điều, không có con là điều lớn nhất.

Bach Van Phi
07-06-2002, 11:59 AM
ĐẠI LĂO

Năm nay tớ đă bảy mươi tư,
Rằng lăo, rằng quan tớ cũng ừ.
Lúc hứng, uống thêm dăm chén rượu,
Khi buồn ngâm láo một câu thơ.
Bạn già lớp trước nay c̣n mấy?
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như. (2)
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Thử xem trời măi thế này ư?

1. Đại lăo: ư nói già lắm.
2. Chín chẳng như: đời mười phần không vừa ư ḿnh đến tám, chín phần.

Bach Van Phi
07-06-2002, 12:01 PM
DI CHÚC

Kém hai tuổi xuân đầy chín chục.
Số thầy sinh phải lúc dương cùng. (2)
Đức thầy đă mỏng ṃng mong,
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy.
Học chẳng có rằng hay chi cả.
Cưỡi đầu người kể đă ba phen; (3)
Tuổi là tuổi của gia tiên,
Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày.

Ấy thuở trước ông mày chẳng đỗ, (4)
Hóa bây giờ cho bố làm nên;
Ơn vua chửa chút báo đền,
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời.
Sống không để tiếng đời ta thán,
Chết được về quê quán hương thôn;
Mới hay trăm sự vuông tṛn,
Sống lâu đă trải, chết chôn chờ ǵ?
Đồ khâm liệm chớ nề xấu tốt,
Kín chân tay đầu gót thời thôi;
Cỗ đừng to lắm con ơi,
Hễ ai chạy lại, con mời người ăn.
Tế đừng có viết văn mà đọc,
Trướng đối đừng gấm vóc làm chi;
Minh tinh (5) con cũng bỏ đi,
Mời quan đề chủ (6) con th́ không nên.

Môn sinh (7) chớ bổ tiền đặt giấy,
Bạn của thầy cũng vậy mà thôi;
Khách quen chớ viết thiếp mời.
Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu.
Chẳng qua nợ để cho người sống,
Chết đi rồi c̣n ngóng vào đâu!
Lại mang cái tiếng to đầu,
Khi nay bày biện, khi sau chê bàn.
Cờ biển của vua ban ngày trước,
Khi đưa thầy con rước đầu tiên;
Lại thuê một lũ phường kèn,
Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng.
Việc tống táng nhung nhăng qua quưt,
Cúng cho thầy một ít rượu hoa;
Đề vào mấy chữ trong bia,
Rằng: "Quan nhà Nguyễn cáo về đă lâu".

1. Theo ư kiến một số cụ già ở địa phương nhà thơ, th́ bài này là do cụ Trần Tán Bính dịch trong buổi lễ đưa ma cụ Nguyễn Khuyến.
2. Dương cùng: ư nói nhà thơ đă đến ngày tận số.
3. ư nói: nhà thơ qua ba ḱ thi đều đỗ đầu bảng (tam nguyên).
4. Ông cụ thân sinh nhà thơ thuở trước cũng là chân học khoa cử, nhưng không đỗ đạt cao.
5. Minh tinh: một mảnh lụa, mảnh vải hoặc mảnh giấy đề tên hiệu, tên thụy, tuổi và chức tước, địa vị người chết trong khi đưa đám ma.
6. Đề chủ: viết tên và hiệu người chết vào. Việc viết này thường được coi là tôn trọng, nên phải mời người có chức tước làm.
7. Môn sinh: học tṛ cùng học một thầy.

Lam Dai Ngoc
07-28-2002, 04:01 PM
Vằng vặt đêm thu ánh xế chừng
Ham thanh, cua mới muốn chơi trăng,
Nghiêng mai lách ngược qua ḍng biếc
Ghé yếm ḅ ngang nhởn bóng hằng
Cung quế chờn vờn hương mới bén
Vườn đào thoang thoảng gió như nâng
Một mai cá nước, cua vui phận
Trăng muốn t́m cua, dễ được chăng ?

Lam Dai Ngoc
07-28-2002, 04:12 PM
Thập niên hồi thủ độc sầu dư,
Thế sự nhân t́nh đại bất thư
Đồng loại tương khan trúc phọc trúc
Lợi danh vô yếm ngư thôn ngư
Thí quan kim nha6.t thùy vi ngạnh
Sở dĩ tiền nhân dục phế thư
Kư ngữ thành môn tương thức giả
Phong trần măn lộ, vị quy dư ? ...


Dịch nôm:

Đen bạc ḷng người cam thấy đau,
Riêng ta hậm hực những âu sầu
Giống ṇi đối đài: tre ràng lấy!
Danh lợi tranh giành: cá nuốt nhau!
Nào kẻ đa mang ham dở quẻ
Khiến người quăng sách, muốn ṿ nhau
nhắn nhe thành nội ai tương thức
Tro bụi đầy đường, bám măi sao ?

Lam Dai Ngoc
07-28-2002, 08:27 PM
CHƠI THUYỀN HỒ TÂY (1)

Thuyền lan (2)nhè nhẹ
Một con thuyền đủng đỉnh dạo hồ Tây
Sóng rập rờn sắc nước lẫn chiều mây (3)
Bát ngát nhẽ dễ trêu người du lăm
Yên thủy mang mang vô hạn cảm
Ngư long tịch tịch thục đồng tâm
Rượu lưng bầu, mong mỏi bạn tri âm
Xuân vắng vẻ, biết cùng ai ngâm hoạ ?
Gio' hây hẩy bỗng nức mùi hương xạ
Nhác trông lên, vách phấn đă đôi bài
Thơ ai, xin họa một vài

Chú thích:

1. Hồ Tây: c̣n có tên là Lăng bạc hồ
2. Thuyền lan: thuyền làm bằng gỗ mộc lan
3. sắc nước lẩn chiều mây (lẩn=ẩn dưới nước; chiều = vẻ)
màu nước hồ có vẻ mây che phủ, v́ mặt nước phản chiếu mây ớ trên trời

VongHonTienTu
10-16-2002, 02:38 AM
Vợ Thợ Nhuộm Khóc Chồng

Thiếp kể từ lá thắm xe duyên,
khi vận tía lúc cơn đen,
Điều dại điều khôn nhờ bố đỏ.
Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại,
Vợ má hồng con răng trắng,
Tím gan tím ruột với ông xanh

VongHonTienTu
10-16-2002, 02:41 AM
Khóc Vợ

Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm,
Thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng,
Tất tưởi chân nam chân xiêu,
V́ tớ đỡ đần trong mọi việc.

Bà đi đâu vội mấy, để cho lăo vất vơ vất vưởng,
Búi tóc củ hành, buông quần lá tọa,
Gật gù tay đũa tay chén,
Cùng ai kể lể chuyện trăn năm ?

VongHonTienTu
10-16-2002, 02:45 AM
Cáo Quan

Quan chẳng quan th́ dân, chiếu trung đ́nh ngất ngưởng ngồi trên,
Nào lềnh, nào cả, nào bàn ba,
Tiền làm sao, gạo làm sao, đóng góp làm sao,
Một năm mười hai tháng thảnh thơi,
Cái thủ lợn nh́n thầy đà nhẵn mặt.

Già chẳng già với trẻ, đàn tiểu tử nhấp nhô đứng trước,
Này thơ, này phú, này đoạn một,
Bằng là thế, trắc là thế, lề lối là thế,
Ba vạn sáu ngh́n ngày thấm thoắt,
Con mắt già cái kính đă ṃn tai.

VongHonTienTu
10-16-2002, 02:51 AM
Tặng Học Tṛ Đi Làm Quan Cho Tây

Hay thật là hay đáo để !
Bảo một đàng quàng một nẻo;

Thôi thế thời thôi cũng được !
Phi đằng nọ tắc đằng kia

VongHonTienTu
10-16-2002, 03:44 AM
Duyên Nợ


Muốn
Cái duyên hay cái nợ nần,
Khi xa xa lắc, khi gần gần ghê.
Dấu hồng c̣n gửi tuyết nê,
Khi bay nào biết đông tê bóng hồng. (1)

Nói
Giai nhân nan tắi đắc (2)
Mười ba năm một giấc bâng khuâng,
Động hơi thu chợt nhớ đến vầng trăng,
Chén non nước tưởng chừng đâu bữa nọ.
Quá nhăn quan âm quân dĩ ngộ
Thiếu thời phong độ ngă do liên. (3)
Lại may mà gió mát đưa duyên
Mượn thơ thánh, đàn tiên khuây truyện cũ.
Đối tửu mạc đề ly biệt cú, (4)
Chốn non Vu vân vũ (5) hăy đi về,
Cánh hồng nào biết đông tê ?

---------------------------
Chú thích
(1) Lấy ư từ cổ thi:
Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
ưng thị phi hồng đạp tuyết nê
Nê thượng ngẩu nhiên lưu trảo tích
Hồng phi na phục kế đông tê
Người ta đi đến đâu phải như thế nào; Nên như chim hồng bay dẩm lên đám tuyết trên bùn; — trên bùn ngẩu nhiên để lại dấu móng; chim hồng bay đi nào để ǵ bên đông bên tây (nhưng vết móng vẩn c̣n lưu lại).

(2) Từ bài hát của Lư Diên Niên đời nhà Hán:
Khởi bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc
Há không biết (người đẹp) nghiêng thành nghiêng nước đâu, (chỉ thấy) người đẹp khó mà gặp lại được.

3) Th́ giờ qua mắt vùn vụt ngươi đă lầm rồi; phong độ lúc thiếu niên ta c̣n tiếc đó.

(4) Trước chén rượu chớ nên nhắc đến chuyện ly biệt.

(5) non Vu vân vũ: điển tích vua Sở Tương Vương đi chơi ở đầm Vân Mộng, mơ thấy cùng một người con gái giao hoan. Khi từ biệt vua, nàng nói: "Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn, buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa." Người đời sau từ đó dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc trai gái giao hợp

VongHonTienTu
10-16-2002, 03:54 AM
Hỏi Phỗng Đá

Muốn
Người đâu tên họ là chi ?
Hỏi ra trích trích tri tri (1) nực cười.
Vắt tay ngoảnh mặt trông đời,
Cũng toan lo tính sự đời chi đây ?

Nói
Thấy lăo đá lạ lùng muốn hỏi,
Cớ sao mà len lỏi đến chi đây ?
Hay mảng vui hoa cỏ nước non này,
Chừng cũng muốn dang tay vào hội Lạc (2)
Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,
Thương hải thùy tri ngă diệc âu. (3)
Thôi thôi đừng nghĩ chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu !(4)

----------------------------------
Chú thích
(1) trích trích tri tri: trơ trơ không chuyển.

(2) hội Lạc: đời nhà Tống, Tiến sĩ Văn Ngạn Bác, làm quan đến Thái sư, khi về hưu trí nhà ở Lạc Dương, cùng với Tư Mă Quang, Phú Bật và nhiều học giả cao niên khác lập ra Lạc Dương Kỳ Anh Hội để đàm đạo văn chương.

(3) Núi xanh tự cười đầu sắp trắng như chim hạc; Biển xanh ai biết ta cũng như chim âu (ư ví người ẩn dật). í lấy từ hai câu thơ của Trương Dưỡng Hạo đời nhà Nguyên:
Vân sơn tự tiếu đầu tương hạc
Doanh hải thùy tri ngă diệc âu

(4) Tương truyền Nguyễn Khuyến làm bài ca trù Hỏi Phỗng Đá này trong buổi lễ mừng thọ năm mươi của quan Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải.

VongHonTienTu
10-16-2002, 04:00 AM
Văn Tế Ngạc-Nhi

Than ôi !

Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:

Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lơ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huưt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.

Nào ngờ:

Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái ḿnh ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

Tôi :

Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.

VongHonTienTu
10-16-2002, 04:10 AM
Vịnh Tiến Sĩ Giấy

                I

Rơ chú hoa man (1) khéo vẽ tṛ,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu ?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẩn ngh́n thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.




              II

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (2)
Nét son điểm rơ mặt văn khôi. (3)
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ ?
Cái giá khoa danh thế mới hời. (4)
Ghế tréo, lọng xanh, ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi

----------------------------------
Chú thích
(1) hoa man: người thợ làm nghề hàng mă.

(2) giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ (thi đ́nh) hay cử nhân (thi hương) trở lên. Trái với ất bảng đề tên những người đỗ phó bảng (thi đ́nh) hay tú tài (thi hương).

(3) văn khôi: đầu làng văn, chỉ người đỗ đạc cao

Tieu_long_vuong
04-05-2003, 01:20 AM
Duyên Nợ

Nguyễn Khuyến


Muốn


Cái duyên hay cái nợ nần,
Khi xa xa lắc, khi gần gần ghê.
Dấu hồng c̣n gửi tuyết nê,
Khi bay nào biết đông tê bóng hồng (1)

Nói

Giai nhân nan tắi đắc (2)
Mười ba năm một giấc bâng khuâng,
Động hơi thu chợt nhớ đến vầng trăng,
Chén non nước tưởng chừng đâu bữa nọ.
Quá nhăn quan âm quân dĩ ngộ
Thiếu thời phong độ ngă do liên. (3)
Lại may mà gió mát đưa duyên
Mượn thơ thánh, đàn tiên khuây truyện cũ.
Đối tửu mạc đề ly biệt cú, (4)
Chốn non Vu vân vũ (5) hăy đi về,
Cánh hồng nào biết đông tê ?



(1) Lấy ư từ cổ thi:

Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
ưng thị phi hồng đạp tuyết nê
Nê thượng ngẩu nhiên lưu trảo tích
Hồng phi na phục kế đông tê


Người ta đi đến đâu phải như thế nào; Nên như chim hồng bay dẩm lên đám tuyết trên bùn; — trên bùn ngẩu nhiên để lại dấu móng; chim hồng bay đi nào để ǵ bên đông bên tây (nhưng vết móng vẩn c̣n lưu lại).

(2) Từ bài hát của Lư Diên Niên đời nhà Hán:


Khởi bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc

Há không biết (người đẹp) nghiêng thành nghiêng nước đâu, (chỉ thấy) người đẹp khó mà gặp lại được.

(3) Th́ giờ qua mắt vùn vụt ngươi đă lầm rồi; phong độ lúc thiếu niên ta c̣n tiếc đó.

(4) Trước chén rượu chớ nên nhắc đến chuyện ly biệt.

(5) non Vu vân vũ: điển tích vua Sở Tương Vương đi chơi ở đầm Vân Mộng, mơ thấy cùng một người con gái giao hoan. Khi từ biệt vua, nàng nói: "Thiếp là thần nữ núi Vu Sơn, buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa." Người đời sau từ đó dùng chữ "mây mưa" để chỉ việc trai gái giao hợp.

Tieu_long_vuong
04-05-2003, 01:21 AM
Hoa Cúc

Nguyễn Khuyến


Trăm hoa đua nở, vắng ngươi hoài !
Trăm hoa tàn rồi mới thấy ngươi
Tháng rét một ḿnh, thưa bóng bạn
Nhị thơm chẳng rữa, chạnh ḷng ai
Nhấp nhô lưng giậu xanh chồi trúc
Óng ả đầu hiên mướt ngọn mai
Cất chén mỉm cười, vừa ư tớ
Bơ công vun xới đă lâu ngày.

Tieu_long_vuong
04-05-2003, 01:27 AM
Khóc Vợ

Nguyễn Khuyến


Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm,
thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng,
tất tưởi chân nam chân xiêu,
v́ tớ đỡ đần trong mọi việc.
Bà đi đâu vội mấy, để cho lăo vất vơ vất vưởng,
búi tóc củ hành, buông quần lá tọa,
gật gù tay đũa tay chén,
cùng ai kể lể chuyện trăm năm ?

Tieu_long_vuong
04-05-2003, 01:31 AM
Lên lão

Nguyễn Khuyến


Ông chẳng hay ông tuổi đă già,
Năm lăm ông cũng lăo đây mà.
Anh em làng xóm xin mời cả,
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là.
Chú Đáo bên làng lên với tớ,
Ông Từ xóm chợ lại cùng ta.
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ, (1)
Có rượu thời ông chống gậy ra.


(1) ăn dưng: ăn không.

Tieu_long_vuong
04-08-2003, 11:21 PM
Nước lụt hỏi thăm bạn

Nguyễn Khuyến


Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu,
Lụt lội năm nay bác ở đâu ?
Mấy ổ lợn con rày lớn bé ?
Vài gian nếp cái ngập nông sâu ?
Phận thua suy tính càng thêm thiệt
Tuổi cả chơi bời hóa sống lâu.
Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá rượu lưng bầu.

Tieu_long_vuong
04-08-2003, 11:24 PM
Tặng Học Tṛ Đi Làm Quan Cho Tây

Nguyễn Khuyến


Hay thật là hay đáo để !
Bảo một đàng quàng một nẻo;
Thôi thế thời thôi cũng được !
Phi đằng nọ tắc đằng kia.

Tieu_long_vuong
04-08-2003, 11:27 PM
Thủy Tiên

Nguyễn Khuyến


Biết rằng gốc tích tự đâu ra?
Cốt cách thiên nhiên vẻ ngọc ngà
Trước án đặt vào trong bể đá
Sáng mai bỗng nở mấy chồi hoa.
Chuyên tay, c̣n kén chi phường lái?
Ngán nỗi: riêng vui với... lăo già!
Thơm thối ngàn năm sau vẫn thấy
Mận đào bên xóm, chớ chua ngoa!

Tieu_long_vuong
04-08-2003, 11:30 PM
Văn Tế Ngạc Nhi

Nguyễn Khuyến


Than ôi !

Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:

Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lơ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huưt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.

Nào ngờ:

Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái ḿnh ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

Tôi :

Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.

Tieu_long_vuong
04-08-2003, 11:34 PM
Vợ Thợ Nhuộm Khóc Chồng

Nguyễn Khuyến


Thiếp kể từ lá thắm xe duyên,
khi vận tía lúc cơn đen,
điều dại điều khôn nhờ bố đỏ.
Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại,
vợ má hồng con răng trắng,
tím gan tím ruột với ông xanh.

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 03:06 PM
Cảnh Trong Nhà


Bên thần, bên phật, giữa thời ta,
Thần phật trong ḷng há phải xa ?
Nhân nghĩa lọ cầu vua Đế Thích
Hiếu trung khôn chúc phật Di Đà
Lầu son phủ tía nhường cho trẻ,
Nước biếc non xanh bạn với già
Ai hỏi: nào nhà quan tiến sĩ ?
Bên thần, bên phật, giữa thời ta

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 03:20 PM
Câu Đối Nguyễn Khuyến






Thú Quê







- Quan chẳng quan th́ dân, chiếu trung đ́nh ngất ngưỡng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào ban ba, tiền làm sao đóng góp làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nh́n thấy đà nhẵn mặt;



- Già chẳng già th́ trẻ, đàn tiểu tử lau nhau đứng trước, này thơ, này phú, này đoạn một, bằng là thế trắc là thế, khuyên điểm là thế, ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoát, con mắt gà đeo kính đă ṃn tai



















Dán Nhà







- Người nước Nam, hỏi tiếng Tây chẳng biết tiếng Tây, hỏi tiếng Tàu chẳng biết tiếng Tàu, cho nên phải “minh tiên vương chi đạo dĩ đạo” (1)



- Nhà hướng Bắc, người chưa rét th́ ḿnh đă rét, người chưa bức th́ ḿnh đă bức, mới gọi là “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” (2)







(1) “Minh tiên vương chi đạo dĩ đạo”: làm sáng đạo của tiên vương để mà noi theo



(2) “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu”: lo trước điều lo của thiên hạ











Dán Cổng







- Không tham không hăi, không dại không lo, không cứng cổ không to khí tượng (1)



- Có phúc có phần, có nhân có nở, có lọt ḷng có nợ quân thân (2)







(1) Khí tượng: tinh thần và h́nh dạng con người



(2) Quân than: vua và cha mẹ















Mừng Ông Tiên Chỉ







- Đám công danh có chí thời nên, ơn làng giấy trắng, ơn vua giấy vàng, chiếu trung đ́nh ngất ngưỡng ngồi trên, ngôi tiên chỉ cũng rất là đáng;



- Nhờ phúc ấm sống lâu lên lăo, anh cả bàn năm, anh hai bàn sáu, đoàn tiểu tử xênh xang múa trước, tranh tam đa (1) ai khéo vẽ nên ?







(1) Tranh tam đa: bức tranh vẽ ba người: người đứng giữa là ông Phúc, tức là ông Quách Tử Nghi; người đứng bên trái là ông Thọ, tức là ông Đông Phương Sóc; người đứng bên phải là ông Lộc, tức là ông Đậu Vũ Quân .











Mừng Cô Tư Hồng (*)







- Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng băm sáu tỉnh



- Nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người







(*) Tư Hồng tên thật là Trần thị Lan, quê ở Phủ Lư ( Hà Nam) lấy người Hoa Kiều là chú Hồng ở Hải Pḥng, sau lấy người cố đạo phá giới là Croibier Huguet (c̣n gọi là cố Hồng).



Cô Tư Hồng đă nhận đứng thầu phá nốt những mảnh tường thành Hà Nội lấy gạch xây nhà cho thuê nhờ thế mà trở nên giàu có . Về sau Tư Hồng buôn gạo lậu thuế bị bắt, nói dối là đem phát chẩn, được bọn thực dân đề nghị với triều đ́nh phong kiến cho thị hàm “Tứ phẩm cung nhân” và cho cả bố thị hàm Thi độc . Tư Hồng về làng ăn khao linh đ́nh, có người mừng câu đối:







“Tứ phẩm sắc phong hàm cụ lớn



Trăm năm danh tiếng của bà to”



(tương truyền câu đối của Nguyễn Khuyến)











Mừng Đám Cưới







- Giàu có thiếu ǵ tiền, đi một vài quan không phải lẽ;



- Sang không th́ ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là t́nh











Tặng Ông Bảng Long (*)







- Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại



- Triều đ́nh cử mục, anh hùng chỉ có một người thôi







(*) Ông này làm quan vơ và bị chột mắt .











Mừng Tân Ấp của Hoàng Cao Khải (*)







- Len vai để đệ một làng quan, nào giầy, nào dép, nào ngựa, nào xe, nào nước cờ chén rượu, nào mảnh hát cung đàn, thú tự nhiên đặt sẵn gió trăng này, dẫu tử mạch hồng trần nhưng chẳng tục;



- Mở mặt giang san trong đất nước, có quán có cầu, có chợ, có chú Khách ông Xiêm, có kẻ thầy người thợ, kho vô tận của chung trời đất cả, lọ hoa viên thú uyển mới là xuân







(*) Hoàng Cao Khải lập ra ấp Thái Hà, thuộc khu Đống Đa – Hà Nội bây giờ . Khi Hoàng Cao Khải xây dựng ấp, ư kêu gọi một số quan lại cùng làm nhà ở ấp ấy, lập thành một làng .















Mừng Nhà Mới







- Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa tích tằng xưng tị ốc; (1)



- Giàu ở làng, sang ở nước, nhờ trời nay đă vểnh râu tôm







(1) Xưng tị ốc: do câu “”Đường Ngu chi thời ốc nhi phong”. Ư nói đời Đường Ngu, trong nước có nhiều người hiền, nên nhiều nhà ở liền vách nhau được khen thưởng .



Tương truyền nhà thơ làm cho vợ chồng anh trưởng chợ (khán thị) làm được nhà mới vừa gần chợ, vừa gần sông . Đặc biệt câu đối này một vế chữ, một vế nôm và đối rất chỉnh











Viếng Người Làng (*)







- Vừa mới họp việc làng, mặc áo địa, cầm quạt lông, đủng đỉnh coi như ra dáng nhỉ;



- Thế mà chết đầu nước, lấp ván thiên, vùi đất thịt, viếng thăm th́ đă đứt đuôi rồi







(*) Nhà thơ viếng một ông kỳ mục trong làng đi tắm chết đuối .















Viếng Bà Thông Gia (*)







- Ôi thương ôi ! Hơn một ngày chẳng ở, kém một ngày chẳng đi, bà năm mươi tám mà bà nhà tôi sáu mươi tư, xuân thu tuổi đă cao rồi, lọ là bon chen bảy tám chín mười mươi, thôi đừng cầu phật cầu trời chín suối không nên ân hận nữa;



- Ấy quái nhỉ ! Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật, bà tháng năm này mà bà nhà tôi tháng tư trước, ngày tháng cũng không cách mấy, nào có lâu la một năm năm bảy tháng, ví chẳng dâu gia dâu giáo, đường mây sao khéo rủ rê nhau







(*) Bà này là vợ ông Vũ Văn Báo người làng Vĩnh Trụ (Nam Hà) đỗ phó bảng, làm tổng đốc Nam Định, là “thế huynh” (con trai thầy học) và thông gia của nhà thơ .











Viếng Người Thợ Rèn







- Nhà cửa để lầm than, con thơ dại lấy ai rèn cặp ?



- Cơ đồ đành bỏ bễ, vợ trẻ trung lắm kẻ đe loi (1).







(1) Tương truyền nhà thơ viếng một người thợ rèn bên láng giềng chết trẻ, để lại vợ trẻ con thơ . Và trong hai vế đối này, nhà thơ đă dùng những tiếng: than, rèn, cặp, bễ, đe, loi …là những dụng cụ cần thiết trong nghề thợ rèn .















Tặng Người Quen







- Có hay chi “cơng rắn cắn gà nhà”, phong lưu chú Bát (1), phú quư d́ Tư (2), mây nổi đă từng qua trước mắt .



- Thôi đừng có “rước voi giày mả tổ”, sự nghiệp bà Bông (3), thơ từ ông Húng (4), gió bay đành lẽ gác ngoài tai .







(1) Chú Bát: ẩn danh của Nguyễn Trọng Kim, thường gọi là Thương Kim v́ y làm Thương biện Hà Nội, đi lại với Tây, nên chúng cho hàm “bát phẩm bá hộ” có sản nghiệp hàng Khay, tương truyền là bá hộ Kim xây tháp rùa để mả .



(2) D́ Tư: tức cô Tư Hồng



(3) Bà Bông: vợ kế của Honàg Cao Khải . Sự nghiệp bà Bông: có người cho là nhà thơ ám chỉ việc Hoàng Cao Khải làm tiểu phủ sứ đánh cụ Đề Thám, mất ấn, sau phải sai vợ đến ở trong trại một lănh tụ là Thân Đức Luận để đánh lừa lấy trộm ấn về .



(4) Ông Húng: tức là Phạm Văn Toán, người làng Yên Lăng (nay là ngoại thành Hà Nội) sản xuất rau húng, hay làm thơ, nhờ khéo nịnh Tây mà leo lên đến chức tổng đốc Nam Định, (vào khoảng 1900-1904). Khi y làm tuần phủ Hưng Yên, có làm bài vịnh chim bồ câu:







Bốn cột chênh vênh đứng giữa trời



Khi th́ bay bổng, lúc bay khơi



Về sau nó đẻ ra con cháu



Nướng chả, băm viên, đánh chén chơi







được các quan dưới quyền khen hay. V́ y dốt mà lại sính làm thơ nên Nguyễn Khuyến mới mỉa là “thơ từ ông Húng” .











Khóc Con (*)







- Bảng vàng bia đá ngh́n thu, tiếc cho người ấy



- Tóc bạc da mồi trăm tuổi, thiệt lắm con ơi !







(*) Nhà thơ khóc con là Nguyễn Hoan, đỗ phó bảng và làm tri phủ Kiến Xương (Thái B́nh) bị bệnh chết .















Khóc Chồng và Con (*)







- Con ơi con ! Những mong con kinh sử dùi mài, ơn phụ mẫu nở dứt t́nh xương thịt;



- Chàng hỡi chàng ! Sao bội ước hải sơn chan chứa, nghĩa phu thê càng đứt cả ruột gan .







(*) Tương truyền nhà thơ làm cho một người láng giềng làm nghề bán thịt, khóc chồng và con trai đi chợ bị đắm đ̣ chết cùng một lúc .















Thờ Bà Trùm (*)







- Giàu làm kép hẹp làm đơn, tống táng cho yên hồn phách mẹ;



- Cá kể đầu rau kể mớ, t́nh tang thêm tủi phận đàn con (1)







(*) Tương truyền nhà thơ làm hộ cho một cô đầu thờ bà Trùm ở trong nhà hát ngày xưa



(1) Trong 2 vế đối này, nhà thơ đă dùng những tiếng: “ Kép, đầu, tống táng, t́nh tang, phách đàn …” để tả nghề hát ả đào.















Khóc Chồng (*)







- Thiếp từ thuở lá thắm xe duyên, khi vận tía lúc cơm đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ;



- Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng, con răng trắng, tím gan tím ruột với trời xanh (1)







(*) Tương truyền nhà thơ làm hộ cho vợ một người thợ nhuộm khóc chồng



(1) trong hai vế đối này, nhà thơ đă dùng những tiếng: “ thắm, tía, đen, điều, đỏ, vàng, hồng, trắng, tím, xanh …” hầu hết màu sắc để tả nghề thợ nhuộm .

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 03:21 PM
Câu Đối Tết





Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Uớc ǵ nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân


Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa
Sáng mồng một, rượu say tuư luư, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 03:25 PM
Chế Ông Đồ Cự Lộc


Văn hay chữ tốt ra tuồng
Văn dai như chăo, chữ vuông như ḥm
Vẻ thấy như vẻ con tôm
Vẻ tay ngoáy cám, vẻ mồm húp tương
Vẻ lịch sự ai bằng Cự Lộc
Vẻ cô đầu nói móc có vài câu:
Anh chẳng sang, mà cũng chẳng giàu
Hầu bao ních, rận bâu quanh chiếu
Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu
Nón sơn không méo cũng không tṛn
Quần vải thô, ngại giặt ngả màu son
Giày cóc gặm, nhặt dây đàn khâu lấy
Phong lưu ấy mà t́nh tính ấy
Đến cô đầu, vẫn thấy lả lơi bông
Xinh thay diện mạo anh hùng !

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 03:47 PM
Mạn Hứng

Đô Môn nhất xuất toại qui điền
Bẩn bệnh niên lai độc tự liên
Song nhật ám di hồng ảnh cận
Trúc phong bất nhượng bạch đầu tiên
Bố ương bô lăo tri ḥa cước
Địch cốc nhân hồi dẫn đấu niên
Thừa hứng chỉ duy tôn tửu thích
Nam Sơn bằng diếu chính du nhiên

Dịch nghĩa:

Bước ra khỏi cửa kinh đô liền trở về đồng ruộng
Đă nghèo lại ốm, ít lâu nay ḿnh riêng tự thương ḿnh
Trước cửa sổ, mặt trời lặng lẽ đưa bóng nắng lại gần
Trên ngọn tre, làn gió không nhường cho đầu bạc trước
Người làm ruộng già gieo mạ hiểu biết chân lúa xấu tốt
Kể đong thóc về tŕnh bày tuổi đấu nhiều ít
Lúc hứng chỉ có chén rượu là thích thú
Ngồi nh́n núi Nam Sơn ḷng dường phơi phới

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 03:55 PM
Ngẫu Hứng

Nghĩ đời mà ngán cho đời
Co cóp làm sao được với trời
Chép miệng lớn đầu to cái dại
Phờ râu chịu đấm mất phần xôi
Được thua hơn kém lưng bầu rượu
Hay dở khen chê một trận cười
Dựa gối bên mành toan hóa bướm
Gió thu lạnh lẽo, lá vông rơi

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 04:11 PM
Than Già


Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay
Ông gẫm ḿnh ông, nghĩ cũng hay
Mái tóc cḥm xanh, cḥm lốm đốm
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
C̣n một nỗi này thêm chán ngắt
Đi đâu giở những cối cùng chày .

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 04:13 PM
Than Mùa Hè


Tháng tư đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả
Nỗi ấy ngỏ cùng ai
Cảnh này buồn cả dạ
Biếng nhắp năm canh chầy
Gà đă sớm giục giă

Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 04:24 PM
Về Nghỉ Nhà


Tóc bạc, ḷng son chửa dám già
Ơn vua nhờ được nghỉ về nhà
Nước non cây cỏ c̣n như cũ
Ghế ga6.y cân đai thế cũng là
Đất rộng biết thêm đường gốc sậy
Ngày rồi nghe hết chuyện la-ga
Ông trời có lẽ cho ta nhỉ
Có ư sinh ta phải có ta.