PDA

View Full Version : Trạng Tŕnh _ Nguyễn Bỉnh Khiêm



Ngao_0p
06-25-2002, 06:48 AM
Nguyễn Bỉnh Khiêm
( 1492 – 1587 )

Nguyễn Bỉnh Khiêm tự là Hạnh Phủ , hiệu là Bạch Vân cư sĩ , người làng Trung Am , huyện Vĩnh Lại ( nay thuộc tỉnh Hải Dương ) .
Ông sinh năm Tân Hợi ( 1492 ) , dưới thời Hồng Đức . Thời nhà Mạc , khi đă 44 tuổi , Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ Trạng nguyên ( năm 1536 ) , đời Mạc Đăng Doanh .
Ông ra làm quan và thăng tới chức Đông các đại học sĩ nhưng sau đó v́ bất măn với triều đ́nh ( Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém 18 lộng thần nhưng không được vua Mạc phê chuẩn ) , Ông xin về quê ở ẩn , làm nhà nhỏ gọi là Bạch Vân Am , dạo chơi , ngâm vịnh sống cuộc đời nhàn tản .
Tuy không c̣n làm quan , nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn được các vua nhà Mạc kính nể , thường đến hỏi han chuyện quốc sự . Sau này phong cho ông là Tŕnh Quốc công nên người đời thường gọi ông là Trạng Tŕnh . Ông mất vào ngày 28 tháng 1 năm Đinh Hợi ( 1857 ) ( có sách nói ông mất năm Ất Dậu _ 1855 ) , hưởng thọ 95 tuổi .
Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác cả thơ chữ Hán lẫn chữ Nôm . Tác phẩm Hán văn có bộ Bạch Vân Am thi tập khoảng 1000 bài nay đă bị thất lạc khá nhiều . Về thơ Nôm ông có bộ Bạch Vân quốc ngữ thi . Thơ của ông chủ yếu vịnh cảnh thiên nhiên , nhân t́nh thế thái .
Ngoài ra trong dân gian c̣n lưu truyền về Sấm Trạng Tŕnh _ một thể loại trong khoa lư số , đoán việc tương lai rất hiệu nghiệm . Giai thoại Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp ở phương Nam với câu :” Hoàng Sơn nhất đái , vạn đại dung thân “ là một trong những câu sấm nổi tiếng được cho là của Trạng Tŕnh .


ST
---------------------------------
các bài thơ:

Cảnh Nhàn

Chớ Cậy Rằng Hơn

Có Phúc Có Phần

Của Nặng Hơn Người

Dĩ Hoà Vi Quí

Mặc Chê Khen

Nhẹ Đường Danh Lợi

Thế Thái Nhân T́nh

Thú Nhàn

Trung Tân Ngụ Hứng

Tự Thán

Vô Sự Là Hơn

Xuân Hàn

Nguyên Đán Thuật Hoài

Du Phổ Minh Tự

Thủy hành phó doanh cảm tác

Xuân đán cảm tác



Nhân Thôn

Hạ Cảnh

Khuê T́nh

Thu Thanh

Cư ngao đới sơn

Trừ tịch tức sự

Bạch vân quốc ngữ thi tập

Cương Thường Tổng Quát

Tử Sự Phụ Mẫu

Khuyến Huynh Đệ Vật Cạnh Tranh

Khuyến Đăi Bằng Hữu

Khuyến Đăi Tông Tộc

Giới Tham

Giới Sắc

Giới Dĩ Phú Lăng Bần

Giới Sùng Phật Vô Ích

Đường đời hiểm hóc

Chín mươi

Hữu Cảm
----------------------------------------

Ngao_0p
06-25-2002, 06:59 AM
Cảnh Nhàn

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dù ai (1) vui thú nào.
Ta dại, ta t́m nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao (2).
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,
Nh́n xem phú quư tựa chiêm bao (3).

Nguyễn Bỉnh Khiêm


1. Dù ai: mặc cho ai, mặc cho ta. Tiếng ai là tiếng tác giả tự nói ḿnh.

2. Hai câu 3, 4: bao hàm ư hơi mỉa mai. Nói "dại" nhưng thực ra tự cho là "khôn", và ngược lại. Giá: thứ rau bằng mầm của hột đậu xanh ngâm ủ, mọc lên. Thơ ca dân gian có câu: "Đậu ngâm nên giá, đăi đằng nhau chi".

3. Hai câu 7, 8: tác giả ư dẫn điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây ḥe, rồi mơ thấy ḿnh ở nước Ḥe An, được công danh phú quư rất mực vinh hiển... Sau bừng mắt tỉnh dậy th́ hóa ra đó là một giấc mộng, thấy dưới cành ḥe phía Nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Câu chuyện nói lên quan niệm của người xưa cho cuộc đời toàn là chuyện hư ảo, hăo huyền. Phú quư chỉ là một giấc chiêm bao.

Ngao_0p
06-25-2002, 07:54 AM
Nhẹ Đường Danh Lợi

Được thua thấy đă ít nhiều phen ,
Để rẻ công danh đổi lấy nhàn .
Am Bạch Vân rồi nhàn hứng ,
Dặm hồng trần vắng ngại chen .
Ngày chầy họp mặt hoa là khách ,
Đêm vắng hay ḷng , nguyệt ấy đèn .
Chớ chớ thờ ơ nh́n mới biết ,
Đỏ th́ son đỏ mực th́ đen .


Nguyễn Bỉnh Khiêm

_ Ngày chầy : ngày muộn , ư nói suốt ngày

Ngao_0p
06-25-2002, 07:57 AM
Chớ Cậy Rằng Hơn

Làm người hay một, hóa hay hai
Chớ cậy rằng khôn, chớ cậy tài
Trực tiết cho bền bằng sắt đá
Đi đường ngẫm hết chốn chông gai
Ở thế khá yêu là của khá
Ra đường ai dễ kém ǵ ai
Miệng đời tựa mật mùi càng ngọt
Đạo thánh bằng tơ mới hăy dài .

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ngao_0p
06-25-2002, 08:04 AM
Mặc Chê Khen

Thị phi chẳng quản, mặc chê khen ,
Ngu dại chan chan tính đă quen .
Cảnh cũ điền viên t́m chốn cũ,
Khách nhàn sơn dă dưỡng thân quèn .
Nhà thông đường trúc ḷng hằng mến ,
Cửa mận tường đào bước ngại chen .
Thế sự tuần hoàn hay đắp đổi .
Từng xem thua được một hai phen .

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ngao_0p
06-25-2002, 08:10 AM
Gần son th́ đỏ, mực th́ đen,
Sáng, biết nhờ ơn thuở bóng đèn.
Ăn uống miễn theo nơi phép tắc,
Tới lui cho biết lẽ kinh quyền (1).
Nên chăng, mặc thế (2) người lành dữ,
Tráo trở, khôn ai thói bạc đen (3)
Ở thế có khôn th́ có khó (4),
Chữ rằng: “Vô sự tiểu thần tiên” (5).

-------------------------------

1. Kinh quyền: kinh là đi theo đường thẳng, làm theo lễ thường: quyền là quả cân, cân nhắc theo quả cân, linh hoạt tùy điều kiện.

2. Mặc thế: mặc đời.

3. Câu 6 ư nói: ăn ở tráo trở, bạc đen như ai há có phải là khôn ngoan?

4. Có khôn th́ có khó: dẫu khôn ngoan, cũng chẳng tránh khỏi có lúc gặp khó khăn.

5. Nghĩa chung của toàn bài là khuyên người đời nên lánh xa những chốn xấu xa, xử sự đúng đạo đức, hợp lẽ kinh quyền để giữ lấy cuộc sống yên ổn.

Ngao_0p
06-25-2002, 08:21 AM
Vô Sự Là Hơn

Hễ kẻ trêu người, kẻ phải lo ,
Chẳng bằng vô sự ngáy o o .
Tay kia khéo nắm, c̣n hơn mở
Miệng nọ hay cười, có lúc ho
Có thuở được thời mèo đuổi chuột
Đến khi thất thế kiến tha ḅ
Được thua sau mới ăn năn lại ,
Vô sự thường hơn có sự ru.

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ngao_0p
06-25-2002, 09:31 AM
Thế Thái Nhân T́nh

Thế gian biến cải, vũng nên doi (1),
Mặn lạt, chua cay lẫn ngọt bùi.
C̣n bạc, c̣n tiền, c̣n đệ tử (2),
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.
Xưa nay đều trọng người chân thật,
Ai nấy nào ưa kẻ đăi bôi (3)?
Ở thế 4, mới hay người bạc ác,
Giàu th́ t́m đến, khó t́m lui.

Nguyễn Bỉnh Khiêm


1. Doi: Ư nói ở nhân gian thường có sự thay đổi ghê gớm cũng ví như sông sẽ thành núi, vũng sẽ thành doi cát.

2. Đệ tử: chỉ học tṛ, đầy tớ.

3. Đăi bôi: hoặc đăi buôi, có nghĩa: nói tử tế ở cửa miệng, không thành thực.

4. Ở thế: ở đời.

Ngao_0p
06-26-2002, 03:04 AM
Ở thế, đừng tranh tiếng trượng phu (1),
Làm chi cho có sự đôi co (2).
Đây cậy đây khôn, đây chẳng chịu,
Đấy rằng đấy phải, đấy không thua.
Duật nọ mựa c̣n đua với bạng (3),
Lươn kia hầu dễ kém chi c̣ (4)?
Chữ rằng: "Nhân dĩ ḥa vi quư" (5),
Vô sự th́ hơn, kẻo phải lo.
---------------------


1. Trượng phu: người đàn ông tài giỏi. Ư câu thơ răn người ta ở đời đừng có tranh hơn thua, tranh lấy cái tiếng tài giỏi.

2. Đôi co: tranh căi giằng co nhau về một việc ǵ.

3. Duật: một loài chim nước. Bạng: con trai. Câu này dẫn điển "bạng duật tương tri, ngư ông đắc lợi" trong Chiếu quốc sách: Một hôm, con trai lên băi cát mở miệng phơi nắng, con c̣ (duật) đến mổ vào thịt con trai, con trai liền khép vỏ lại, cặp chặt lấy mỏ con c̣. Hai con giành nhau măi, sau bị người chài bắt được cả đôi.

4. Lươn: thân dài, có thể quấn chặt được thân c̣. C̣: mỏ dài, có thể mổ vào thịt lươn. Ư nói mỗi bên đều có sở trường để đối địch với nhau.

5. Nhân dĩ ḥa vi quư: người ta ở đời nên lấy sự ḥa hảo với nhau làm điều cốt yếu.

Ngao_0p
06-26-2002, 03:10 AM
Có Phúc Có Phần

Trời sinh, trời ắt đă dành phần ,
Tu hăy cho hiền, dạ có nhân .
Khó chớ oán thân, thân mới nhẹ
Giàu mà yêu chúng, chúng càng gần .
Bạo hung chỉn đă gươm mài đá ,
Phúc đức rành hay cỏ đượm xuân .
Chớ có hại nhân mà ích kỷ ,
Giấu người, khôn giấu được linh thần.

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Ngao_0p
06-26-2002, 03:18 AM
Thú Nhàn

Lẩn thẩ ngày qua lại tháng qua ,
Một năm xuân tới một phen già .
Ái ân vằng vặc trăng in nước ,
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa .
Án sách vẫn c̣n án sách cũ ,
Nước non bạn với nước non nhà .

Nguyễn Bỉnh Khiêm


Bài này làm theo lối cổ thể chỉ có 6 câu

Vo^ Ta^m
10-02-2002, 03:21 AM
Sông ng̣i ṿng tây bắc ,
Làng xóm bọc tây nam .
Giữa có nửa mẫu vườn ,
Vườn ở bên Vân am .
Xe ngưa bụi không đến ,
Hoa , trúc tay tự trồng .
Gậy , dép bén mùi hoa ,
Chén , cốc ánh sắc hồng .
Rửa nghiên , cá nuốt mực ,
Pha trà , chim lánh khói .
Ngâm thơ thừa tiêu dao ,
Uống rượu thêm khoan khoái .
Người xảo ta th́ vụng ,
Ấy vụng thế mà hay !
Ta vụng người th́ xảo .
Ấy xảo thế mà gay !
Tính suy lẽ trời đất ,
Nghiền ngẫm việc xưa nay :
Đường đời rất ghập ghềnh ,
Chông gai cần phải cắt .
Ḷng người rất hiểm nghèo ,
Buông ra liền quái quắc .
Quân tử biết răn ḿnh ,
Chí thiện làm mẫu mực .

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:27 AM
Bạch Vân Am thi tập

Tập thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Theo lời tựa của tác giả, tập thơ có hàng ngh́n bài. Nhưng dựa vào các tập thơ c̣n lưu giữ được đến nay, số thơ hiện c̣n chỉ khoảng trên dưới 600 bài. Ngoài ra, một số bài văn bia, văn chuông, văn tế... cũng được đưa vào tập thơ.

Đề tài của tập thơ chủ yếu là thiên nhiên, hoặc là một thiên nhiên được dùng như một phương tiện để thể hiện triết lư, đạo đức, hoặc là một thiên nhiên được coi như một đối tượng đích thực của rung cảm nghệ thuật. Cũng có nhiều bài ngôn chí, hoặc đề cập tới những vấn đề thế sự, nhân tâm. Thơ có phần chân t́nh, giản dị, nhưng cũng không ít bài khô khan g̣ gẫm. Hầu hết được viết theo thể Đường luật. Nhưng đă thấy xuất hiện một số bài trường thiên cổ thể, dùng cả phương thức tự sự, xen vào phương thức trữ t́nh, triết lư.


Xuân hàn

Thập nhị thiều quang (1) xuân nhất đoàn,
Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
Tàn tuyết nhân phong trụy liễu nan.
Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
Hương nhai túy khách xúc kim an (2).
Toàn kiền tự hữu thần công tại,
Dĩ bá dương ḥa măn tế bàn (3)

--------------
1. Thiều quang: Ánh sáng đẹp của mùa xuân. Cũng có nghĩa là ngày xuân “Thiều quang chín chục” là chín mươi ngày xuân. Ở đây “Mười hai thiều quang” tức là đă mười hai ngày xuân. Tác giả làm bài thơ này vào đầu xuân, tức ngày mười hai tháng Giêng, lúc c̣n rét nhưng đă sang xuân.

2. V́ rét, khách làng say ở phố thơm (phố có giai nhân) cũng phải giục ngựa đi lanh, không thể khề khà thưởng thức được.

3. Tế bàn: Trang Tử có câu: “Thượng tế ư thiên, hạ bàn ư địa”, nghĩa là: Trên rộng đến trời, dưới khắp cả đất. Sau người ta dùng gọn bốn từ “Tế thiên bàn địa” như là một thành ngữ. Ở đây, tác giả lại lược đi hai từ, chỉ c̣n hai từ “tế bàn” nhưng cần hiểu như nghĩa của cả câu “tế thiên bàn địa”.

Dịch nghĩa:



Mười hai thiều quang, một vừng xuân sắc,
Một ngày lành lạnh tiễn đưa cái rét c̣n lại.
Trời râm mát nhờ mưa dễ thấm vào bông hoa,
Tuyết tàn bị gió rơi xuống cành liễu.
Giai nhân trong pḥng gấm rủ thấp màn ngọc,
Ngoài đường sực nức hoa thơm, khách say giục giă yên vàng.
Xoay chuyển càn khôn, tự có công phu thần diệu,
Đă gieo rắc khí dương ḥa khắp cả trời đất.

Dịch thơ:

Rét mùa xuân

Xuân quang chín chục trải mười hai,
Đưa tiễn hơi dư lạnh một trời.
Ngày rợp mưa phùn hoa dễ thấm,
Tuyết tan gió phất liễu khôn rơi.
Nhà vàng người đẹp thầm buông trướng.
Phố vắng làng say vội giục roi,
Mầu nhiệm cơ thần xoay chuyển lại,
Dương ḥa chan chứa khắp nơi nơi.

LÔ CÔNG dịch

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:30 AM
Nguyên Đán Thuật Hoài

Kim ngă hành niên lục thập chi,
Lăo lai khước dữ bệnh tương kỳ.
Tích xuân cưỡng khuyến sổ bôi tửu,
Ưu quốc hưu ngôn lưỡng mấn ti.
Chức nhẫm bất cần ta lăn phụ,
Gia đ́nh vô giáo tiếu si nhi.
Nhàn trung liêu ngụ nhàn trung thú,
Khởi vị phùng nhân thuyết lăng thi.

Dịch nghĩa:

Tuổi đời của ta nay đă sáu mươi,
Già đến, lại cùng bệnh tật hẹn ḥ nhau.
Tiếc xuân, gượng khuyên mời vài chén rượu,
Lo nước, đừng nói hai mái tóc đă bạc như tơ.
Canh cửi chẳng siêng năng, than thở về người đàn bà lười nhác,
Gia đ́nh không dạy dỗ, đáng cười cho đứa con ngây dại.
Trong lúc thảnh thơi hăy gửi cái thú thanh nhàn,
Há đâu nói về thơ một cách phóng túng với những người gặp mặt.


Dịch thơ:

Tỏ nỗi ḷng trong dịp nguyên đán

Tuổi đời ta đă sáu mươi niên,
Tật bệnh theo già hẹn đến bên.
Lo nước chớ than đầu đă bạc,
Tiếc xuân gượng chuốc rượu vài phen.
Nếp nhà chẳng dạy, cười con dại,
Canh cửi, không siêng, hổ vợ hèn.
Hăy gửi thú nhàn vào cảnh rỗi,
Gặp người, thơ há lạm chê khen.

HỮU THẾ dịch

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:38 AM
Du Phổ Minh Tự (1)

Loạn hậu trùng tầm đáo Phổ Minh,
Viên hoa dă thảo cựu nham quynh.
Bi văn lạc ḥa yên bích,
Phật nhăn thê lương chiếu dạ thanh.
Pháp giới (2) ưng đồng thiên quảng đại,
Hương nhân do thuyết địa anh linh.
Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại (3),
Thức đắc vô h́nh thẳng hữu h́nh (4).

----------------
1.Phổ Minh tự: Chùa Phổ Minh ở xă Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường, nay thuộc xă Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. Chùa được xây dựng từ thời Trần, trong đó có vạc Phổ Minh nổi tiếng. Vạc đă bị quân xâm lược Minh phá làm súng đạn năm 1426, khi bị nghĩa quân Lam Sơn bao vây.

2. Pháp giới là thế giới tinh thần, có lư pháp giới (bản thể) và sự pháp giới (hiện tượng) hai cái pháp giới này có quan hệ mật thiết với nhau: “Lư sự vô ngoại”, theo tông Hoa nghiêm trong Phật giáo.

3. Cổ đỉnh kim hà tại? Vạc xưa nay c̣n đâu? Chỉ vạc Phổ Minh bị giặc Minh phá hoại.

4. Vô h́nh thắng hữu h́nh: Cái không có h́nh tượng cụ thể th́ thắng cái có h́nh tượng cụ thể. Nhân vẫn cảnh chùa xưa, suy nghĩ về giáo lư đức Phật, rồi lại liên hệ với vạc xưa, một vật hữu h́nh nay không c̣n, mà tác giả đă đề cập tới quan niệm lư Phật giáo.


Dịch nghĩa:



Sau khi loạn lạc lại t́m đến chùa Phổ Minh,
Vẫn hoa vườn cỏ nội với cửa đá cũ.
Văn bia mờ nhạt ḥa trong làn khói biếc,
Mắt Phật lạnh lùng soi thấu đêm thanh.
Pháp giới phải ngang với tầm rộng lớn của trời,
Người làng vẫn nói đến sự anh linh của đất.
Vắng vẻ lặng lẽ, vạc xưa nay c̣n đâu?
Thế mới biết vô h́nh vẫn thắng hữu h́nh.

Dịch thơ:

Chơi chùa Phổ Minh

Sau loạn lại t́m đến Phổ Minh,
Chùa xưa đá cũ cỏ hoa xanh.
Văn bia tàn hỏng mờ trong khói,
Mắt phật lạnh lùng rơi thấu canh.
Giới pháp phải ngang trời rộng lớn,
Người làng vẫn nói đất anh linh.
Vắng không, cổ đỉnh, rày đâu tá!
Mới biết vô h́nh thắng hữu h́nh.

HỮU THẾ dịch

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:41 AM
Thủy hành phó doanh cảm tác

Chỉ kỳ thệ phục cựu sơn hà,
Khảng khái đăng chu phát hạo ca.
Trạo băi thủy văn đôi bạch tuyết,
Phàm di nguyệt ảnh lộng hàn ba.
Cô trung đối việt càn khôn lăo,
Tứ cố vi mang thảo thụ đa.
Kư thủ tặc nô b́nh đ́nh hậu,
Trùng tầm Tân quán lữ ngư hà.

Dịch nghĩa:

Đi đường thủy đến doanh trại cảm hứng làm thơ
Định kỳ hạn thề khôi phục giang san cũ,
Khảng khái lên thuyền cất cao giọng hát.
Mái chèo khua gợn nước, chập chồng những đống tuyết trắng.
Cánh buồm theo bóng trăng, giỡn nhởn trong làn sóng lạnh.
Tấm ḷng cô trung dầu dăi, trời đất già nua,
Đoái trông bốn phía lờ mờ, cỏ cây nhiều lắm.
Ghi nhớ sau ngày dẹp xong bọn giặc hèn,
Lại t́m về quán Trung Tân làm bạn với tôm cá.

Dịch thơ:

Định kỳ khôi phục núi sông xưa,
Khảng khái lên thuyền cất tiếng ca.
Buồm chuyển ánh trăng vờn sóng lạnh,
Chèo khua gợn nước tuyết ngời hoa.
Niềm trung trời đất già dầu dăi,
Đoái khắp rừng cây rậm mịt mờ.
Ghi đợi sau ngày yên giặc dữ,
Lại về Tân quán bạn tôm cua.

HỮU THẾ dịch

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:45 AM
Xuân đán cảm tác

Hành niên thất thập tứ niên dư,
Hỷ đắc đầu nhàn phỏng cựu cư.
Tuế thủy bàng quan tân vũ trụ,
Gia bần duy phú cựu thi thư.
Tú hoa dă trúc tam xuân hảo,
Tịnh nguyệt minh song nhất thất hư.
Thùy thị thùy phi hưu thuyết trước,
Lăo cuồng tự tiếu thái dung sơ.

Dịch nghĩa:

Tuổi đời đă ngoài bảy mươi tư,
Mừng được cảnh nhàn về thăm chỗ ở cũ.
Đầu năm nh́n quanh vũ trụ mới,
Nhà nghèo, chỉ giàu sách vở cũ.
Hoa đẹp tre hoang ba xuân tươi tốt,
Trăng trong cửa sổ sáng, một căn nhà trống.
Ai phải ai trái, thôi không nói làm ǵ,
Già ngông, tự cười ḿnh lười nhác quá.

Dịch thơ:

Đầu năm cảm xúc làm thơ

Tuổi đời đă quá bảy mươi tư,
Mừng được về nhàn, thăm chốn xưa.
Năm mới, khắp xem tân vũ trụ,
Nhà nghèo, riêng sẵn cựu thi thư.
Tre hoang, hoa đẹp, ba xuân tốt,
Cửa sáng, trăng trong, nhà trống trơ.
Ai phải, ai sai, thôi chẳng nói,
Tự cười già nhác lại cuồng khờ.

ĐINH GIA KHÁNH dịch

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:47 AM


Âm dương ḥa hợp vận huyền ky (cơ),
Giải tác cam lâm hỷ cập th́.
Bái tự cửu thiên ân kư ốc,
Nhuận triêm thứ thổ vật hàm nghi.
Dân tô nghê(1) vọng vương sư chí,
Sĩ hấp phong thành thánh giáo thi.
Vũ thuận cố đăng kim thượng thụy,
Thái B́nh hựu nhất thử hưu kỳ.

------------
1. Tô nghê: Tô là sống lại, nghê là cầu vồng, mống là ráng mây. Vua Thành Thang đánh vua Hạ Kiệt tàn bạo, dân ngóng trông quân vua Thành Thang đến, có lời rằng: "Hề ngă hậu, hậu lai kỳ tô", nghĩa là: Đợi vua ta đến, vua ta đến th́ dân ta được sống lại. Sách Mạnh Tử viết rằng: "Dân vọng chi nhược đại hạn chi vọng vân nghè", nghĩa là: Dân mong đợi như khi đại hạn mà mong có mây, có mống.

Dịch nghĩa

Máy huyền diệu chuyển vận, âm dương ḥa hợp,
Mừng được kịp thời vụ, phát ra trận mưa ngọt.
Rào rạt tự chín tầng trời, ơn đă đầy rẫy,
Thấm nhuần mọi khoảng đất, mọi vật thoải mái.
Để được sống, dân mong quân nhà vua đến như đợi mống,
Kẻ sĩ hợp nên phong hóa thi hành được giáo hóa của thánh nhan.
Mưa thuận ḥa, lúc được mùa, đó là điềm lành của nhà vua,
Thái b́nh đây lại là một thời kỳ tốt đẹp.

Dịch thơ:

Mưa

Ḥa hợp âm dương, máy chuyển vần,
Mừng cơn mưa ngọt, tưới vừa tuần.
Chín trời đày rẫy, ơn tràn khắp,
Muôn vật xênh xang, đất thấm nhuần.
Gặp hạn, chờ mưa, dân đợi cứu,
Nên phong, thành giáo, sĩ chung phần.
Điềm lành mùa tốt, nhờ mưa thuận,
Cảnh thái b́nh, đây lại một lần.

ĐINH GIA KHÁNH dịch.

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:49 AM
Nhân thôn

Tổng tổng lâm lâm sinh chí phồn,
Sở cư xứ xứ hữu hương thôn.
Hào hoa hấp nhĩ tỉ lân hội,
Nhân hậu y nhiên mỹ tục tồn.
Tác tức tư đào Nghiêu nhật nguyệt (1),
Âu ca cộng lạc Thuấn kiền khôn.
Thái b́nh tể tướng ư tư hiển,
Quan cái tinh xu diệu lư môn.

----------
1. Theo sách Mạnh Tử, dân đời vua Nghiêu sống an lạc, hát rằng: "Nhật xuất nghi tác, nhập nhập nhi tức, tạc tính nhi ẩm, canh điền nhi thực, đế lực hà hữu ư ngă tai", nghĩa là: Mặt trời mọc th́ dậy đi làm, mặt trời lặn th́ đi nghỉ, đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn, sức nhà vua có làm ǵ cho ta đây. Ư nói đức vua Nghiêu lớn quá, bao trùm tất cả, dân hưởng cảnh thái b́nh mà không cần biết là do công ơn của vua Nghiêu.

Dịch nghĩa:

Nườm nượp sum suê sinh sản ra rất đông đúc,
Nơi nơi có người ở là có xóm làng.
Hào hoa tập hợp, xóm giềng kề bên nhau,
Nhân hậu vẫn thế, phong tục tốt đẹp c̣n nguyên.
Làm và nghỉ cùng thoải mái trong ngày tháng đời Nghiêu,
Ḥ và hát cùng vui vẻ trong trời đất đời Thuấn.
Quan tể tướng đời thái b́nh mở mày mở mặt ở đó.
Mũ lọng đi nhanh như sao, rực sáng cổng làng

Dịch thơ:

Xóm làng

Nườm nượp sum suê khắp sản sinh,
Thành làng, mọi chốn có dân đinh.
Hào hoa tụ hội, nhà liền vách,
Nhân hậu theo lề, tục tốt lành.
Thoải mái làm ăn thời thịnh trị,
Chung vui ca ngợi cảnh thăng b́nh.
Giữ coi việc nước vinh v́ thế,
Mũ lọng qua làng, sao lướt nhanh.

ĐINH GIA KHÁNH dịch.

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:50 AM
Hạ cảnh

Nhật trường Tân quán tiểu song minh,
Phong nạp hà hương viễn ích thanh.
Vô hạn ngâm t́nh thùy hội đắc,
Tịch dương lâu thượng văn thiền thanh.


Dịch nghĩa:

Ngày dài ở quán Trung Tân cửa sổ nhỏ sáng sủa,
Gió đượm hương sen, càng xa càng mát.
T́nh thơ vô hạn, ai là người hiểu được,
Chiều tà, trên lầu, tiếng ve muộn màng vang lên.

[Dịch thơ:

Cảnh mùa hè

Trung Tân, cửa nhỏ, sáng ngày trường,
Gió đượm mùi sen, xa ngát hương.
Vô hạn t́nh thơ, ai kẻ hiểu,
Lầu cao, chiều xế, tiếng ve vang.

ĐINH GIA KHÁNH dịch

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:52 AM
Khuê t́nh

Ngâm lạc Tây phong trận trận xuy,
Thâm khuê nhi nữ độc miên th́.
Hốt văn hàn khí xâm liêm mạc,
Thủy giác nhân t́nh hữu biệt ly.
Khứ mộng bất từ sa tái viễn,
U hoài hoạt động cổ bề ti.
Vô đoan điểm trích giai tiền vũ,
Tự hữu u nhân ngữ dạ tŕ.

Dịch nghĩa:

Tiếng ngâm buông xuống theo gió Tây thổi từng trận,
Ở chốn thâm khuê khi người thiếu phụ ngủ một ḿnh.
Bỗng nghe hơi lạnh thấm vào rèm màn,
Mới biết t́nh người có nỗi biệt ly.
Mơ mộng ra đi, chẳng nề nơi quan ải sa trường diệu vợi,
U uất trong ḷng dấy lên tiếng trống ở ngoài trận.
Bỗng đâu tí tách giọt mưa ở trước thềm,
Như có người mang niềm u uất thủ thỉ trong đêm dài.

Dịch thơ:

Nỗi ḷng ở chốn pḥng khuê

Buông tiếng ngâm theo gió Tây,
Pḥng khuê thiếu phụ ngủ đang say.
Chợt nghe rèm màn thấm hơi lạnh,
Mới hiểu biệt ly là thế đây.
Sa tái mộng bay ḷng chẳng ngại,
Cổ bề tiếng dội dạ tràn đầy.
Tí tách trước thềm mưa chợt gơ,
Như ai thủ thỉ buồn canh chầy.

ĐINH GIA KHÁNH dịch.

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:53 AM
Thu thanh

Tiêu điều thu dạ trích hàn canh,
Ngọc luật hồi âm ám thổ thanh(1).
Đăn giác thụ gian minh tích tích,
Hốt kinh nguyệt hạ hưởng tranh tranh.
Sơ văn thú phụ sầu vô mị,
Tự xúc hàn tương nhạ bất b́nh.
Nghĩ tác Dĩnh Xuyên Âu Tử phú(2),
Khủng hoảng mô phỏng bị thời khinh.

Dịch nghĩa:

Đêm thu tiêu điều, giọt nước nhỏ điểm canh lạnh lùng,
Ống ngọc luật đồng vọng, âm thầm mà phát ra thành tiếng.
Chỉ nghe thấy trong cây tiếng kêu sột soạt,
Bỗng giật ḿnh dưới trăng tiếng vang lanh canh.
Mới nghe, người vợ lính thú buồn rầu không ngủ,
Như xui con dế gợi nỗi bất b́nh.
Toan làm bài phú như Âu Tử đất Dĩnh Xuyên,
E rằng lại chỉ làm việc bắt chước bị người đời khinh bỉ.

Dịch thơ:

Đêm thu buồn lạnh, nước cầm canh,
Ngọc luật âm thầm phát thổ thanh.
Những thấy trong cây kêu sột soạt,
Chợt vang dưới nguyệt tiếng lanh canh.
Mới nghe, vợ lính buồn không ngủ,
Như gợi, dế mèn kêu bất b́nh.
Phú, định làm như ai đất Dĩnh,
Lại e bắt chước, bị đời khinh.

Đinh Gia Khánh dịch

---------
1. Ngọc luật, ám thổ thanh: ngọc là cái ống bằng ngọc người xưa đốt tro của màng cây sậy bỏ vào trong, đến các tiết hậu như đông chí, lập xuân, v.v… th́ chất tro trong ống luật được khí trời thổi bay lên, người ta dựa vào đó để xem thời tiết; ám thổ thanh là ngầm có tiếng thổ, theo Thái cực đồ th́ ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) ứng với tứ thời, kim ứng với mùa thu, mộc ứng với mùa xuân, thủy và thổ ứng với mùa đông, hỏa ứng với mùa hè. Ở đây ư nói rằng tuy là đang trong mùa thu mà trong ống ngọc luật đă ngầm có tiếng thổ, tức là báo trước sắp tới mùa đông.

2. Dĩnh Xuyên, Âu Tử: Âu Tử tức là Âu Dương Tu, người đất Dĩnh Xuyên, sống vào đời Tống ở Trung Quốc, là một danh sĩ có làm bài phú "Thu thanh" (Tiếng thu) nổi tiếng.

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:53 AM
Cư ngao đới sơn(1)

Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực(2),
Trước cước trào vô quyển địa thanh.
Vạn lư Đông minh quy bả ác,
Ức niên Nam cực điện long b́nh.
Ngă kim dục triển phù nguy lực,
Văn khước quan hà cựu đế thành.

Dịch nghĩa:

Nước biếc ngấm núi tiên trong đến đáy,
Như con ngao lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra.
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời,
Đặt chân xuống, sóng không có tiếng cuốn đất.
Vạn dặm biển Đông quơ vào tay nắm,
Ức năm cơi Nam đặt vững cảnh trị b́nh.
Ta nay muốn thi thố sức pḥ nguy,
Cứu văn lại quan hà, thành cũ của nhà vua.

Dịch thơ:

Con ngao lớn đội núi

Non tiên ngâm tẩm nước trong xanh,
Bầu ngọc đội nên, ngao lớn sinh.
Đầu ngóc, vá trời c̣n sức đá,
Chân đưa, lặng sóng chẳng âm thanh.
Biển Đông, vạn dặm quơ tay nắm,
Nam cực, muôn năm vững trị b́nh.
Ta muốn phù nguy ra sức giúp,
Quan hà thu lại cựu kinh thành

Đinh Gia Khánh dịch

-------------
1. Sách Liệt tử, trong thiên Thang vấn có chép rằng ở biển Bột Hải có năm ngọn núi, chân núi không dính vào đâu cả, núi cứ theo nước thủy triều mà lên và xuống lênh đênh trên mặt biển. Thượng đế sợ các ngọn núi ấy trôi về Tây cực bèn sai con ngao thần rất lớn lấy đầu đội và từ đó năm ngọn núi ấy mới đứng vững ở một chỗ.

2. Theo Sử kư bổ (Tam hoàng bán kỷ) th́ thời Thượng cổ, hai vị thần là Cung Công và Chúc Dung đánh nhau. Đánh măi không thắng nổi thần Chúc Dung cho nên thần Cung Công nổi giận, lấy đầu húc núi Bất Chu, làm đổ núi ấy khiến cho cột chống trời bị găy. Nữ thần Nữ Oa, chặt bốn chân con ngao thần làm bốn cực chống cho trời khỏi sụt xuống.

Bach Van Phi
03-22-2003, 02:54 AM
Trừ tịch tức sự

Tân tuế tài lân cựu tuế trừ,
Lăo lai tiếu ngă thái dung sơ.
Kiền khôn bất tận yên hoa cảnh,
Môn quán vô tư thủy trúc cư.
Lưỡng độ thủ tằng phù nhật cốc (1),
Nhất phong thư khẳng thướng công xư (xa)(2),
Niên niên quản đắc xuân quang hảo,
Tri thị thiên tâm độc hậu dư.

Dịch nghĩa:

Năm mới vừa đến năm cũ hết,
Về già tự cười ḿnh lười nhác sơ xuất.
Cảnh khói hoa là bất tận trong trời đất,
Nơi có nước có tre, không giữ riêng cho nhà cửa ḿnh.
Hai phen đă ra tay pḥ xe vua,
Một phong thư đâu có chịu dâng lên xe công.
Năm năm được làm chủ ánh sáng đẹp mùa xuân,
Biết đó là ḷng trời riêng hậu với ta.

Dịch thơ:

Đêm cuối năm tức sự

Năm cũ vừa qua, năm mới tới,
Tự cười già lăo lại lười khờ.
Khói hoa nọ khắp trong trời đất,
Tre nước đâu riêng của một nhà.
Việc lớn, hai phen từng gắng sức,
Xe công, một lá chẳng dâng thơ.
Năm năm làm chủ ba xuân đẹp,
Biết rơ: ơn trời riêng được nhờ.

ĐINH GIA KHÁNH dịch

------------
1. Nhật cốc: bánh xe mặt trời… Chỉ xe vua, nghĩa rộng là ngôi vua.
2. Công xư: Xe công, tức xe nhà vua.

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:13 AM
Bạch vân quốc ngữ thi tập

C̣n có tên là Tŕnh Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hoặc Tŕnh Quốc công Bạch Vân thi tập.

Lần lữa ngày qua tháng qua,
Một phen xuân tới, một phen già.
Ái ưu (1) vằng vặc: trăng in nước,
Danh lợi lâng lâng: gió thổi hoa (2).
Án sách hăy c̣n án sách cũ (3),
Nước non bạn với nước non nhà (4).

-------------------------------

1.Ái ưu: Do chữ “ưu dân ái quốc”, nghĩa là ḷng yêu nước thương dân bao giờ cũng trong sáng như vầng trăng in đáy nước. Và đây cũng là một tư tưởng quán triệt trong nhiều bài thơ của tác giả sau này.

2. Câu 4 ư nói: Coi danh lợi nhẹ thoảng (như gió thổi vào hoa), không đáng kể.

3. Án: Cái bàn dài. Có bản chép sai chữ Án ở câu này là Yên, thứ gối dựa làm bằng gỗ, ở dưới có chỗ để sách; chép như vậy cũng có nghĩa, mà âm điệu câu thơ lại êm hơn. Thật ra, hai chữ án và yên gần giống nhau.

4. Bài này có lẽ người sao lục chép thiếu hai câu, v́ đến đây chưa chọn ư.

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:14 AM
Dửng dưng mọi sự gác bên ngoài,
Dầu được, dầu thua, ai mặc ai.
Mùi thế gian nhiều mặn lạt,
Đường danh lợi có chông gai.
Mấy người phú quư hay yên phận?(1)
Hễ kẻ anh hùng những cậy tài (2)
Dầu thấy hậu sinh th́ dễ sợ (3)
Sừng kia chẳng mọc, mọc hơn tai.

-------------------------------

1.Câu 5 đặt theo cách nghi vấn: Nguyễn Bỉnh Khiêm nói mỉa rằng dễ có mấy kẻ giàu sang chịu yên phận ḿnh, không chen chân vào ṿng đua tranh?

2. Cậy tài: Tin ở tài ḿnh, chắc rằng ḿnh có tài tất có được dùng. Nhưng cũng v́ lẽ quá tin này, mà có thể mắc tai vạ.

3.Câu này lấy ư “hậu sinh khả úy”, lời của Khổng Tử, chép trong thiên Tử Hăn, sách Luận ngữ. Câu 7,8 ư nói: phải biết rằng người sinh sau là giỏi và đáng sợ hơn khác nào như cái sừng tuy mọc sau cái tai, nhưng sẽ mọc dài hơn cái tai vậy.

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:15 AM
Nối nghiệp nhà xưa học một kinh (1),
Chẳng ngờ lạc đến áng công danh.
Thân xưa đă có duyên hương lửa (2),
Lộc nặng ơn nhờ đức thánh minh.
Lỗi bước, già nên chịu dại,
Hay cơ, trẻ khá làm thinh?
Phúc nho họa trong đời trị,
No ấm cũng nhờ phúc thái b́nh.


1. Một kinh: đây chỉ là một cách nói khiêm tốn. Cũng có thể một kinh ở đây là Kinh Dịch mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đă dày công nghiên cứu.

2. Câu này ư nói: đă đạt được công danh.

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:16 AM
CƯƠNG THƯỜNG TỔNG QUÁT
(Tóm tắt tam cương và ngũ thường)

Trời phú tính (1) ở ḿnh ta,
Đạo cả cương thường năm mấy ba(2).
Tôi hết ngay(3), chầu chức chúa,
Con hằng thảo(4), kính thờ cha.
Anh em mựa nỡ(5) điều hơn thiệt,
Bầu bạn cho hay nết thực nhà.
Nghĩa vợ chồng xem rất trọng.
Ở đầu phong hóa (6) phép chưng nhà

-------------------------------

1. Cương: là cái giường lưới tức cái dây chính của lưới, từ đó móc các sợi la, mắt lưới, nhà Nho dùng chữ "cương" để chỉ những quan hệ lớn nhất của xă hội phong kiến. Tam cương: vua (là giường của) tôi; cha (là giường của) con; chồng (là giường của) vợ. Ngũ thường: năm đức tính mà người ta hằng phải có: nhân (thương người), lễ (phép tắc trong sự ăn ở), nghĩa (lẽ phải), trí (sự sáng suốt), tín (giữ đúng lời nói).

2. Ngay: dịch chữ "trung".

3. Thảo: dịch chữ "hiếu".

4. Mựa nỡ: tiếng cổ, nghĩa: chẳng nên..

5. Ở đầu phong hóa: nhà nho xưa coi t́nh nghĩa vợ chồng là mối đầu của phong hóa, là cơ sở của xă hội. Truyện Hoa Tiên nói về t́nh vợ chồng có câu: "Khuê môn cho rệt mối đầu chỉnh phong".

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:17 AM
Đời này nhân nghĩa tự vàng mười (1),
Có của th́ hơn hết mọi lời,
Trước đến tay không, nào thốt hỏi (2)?
Sau vào gánh nặng, (3) lại vui cựi.
Anh anh, chú chú, mừng hơ hải,
Rượu rượu, chè chè (4), thết tả tơi.
Người, của lấy cân ta thử nhắc,
Mới hay rằng của nặng hơn người.

---------------------


1. Vàng mười: thứ vàng mười tuổi. Chữ Hán gọi là "thập thành kim", một thứ vàng quư nhất. Câu thơ có nghĩa đen rất mỉa mai: nhân nghĩa tựa vàng, vàng là nhân nghĩa (ư này chuyển xuống câu 2).

2. Thốt: tiếng cổ, nghĩa: nói năng. Thốt hỏi: ở đây có nghĩa là chào hỏi.

3. Gánh nặng: ư chỉ của cải nhiều.

4. Chè chè: rượu chè.

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:18 AM
Nói nên hoang (1) lại nói rằng th́,
Giàu: trọng, sang: yêu, khó: chẳng v́.
Nhị kết, hoa thơm, ong đến đỗ (2),
Mỡ bùi, mật ngọt, kiến nào đi? (3)
Thanh tao của có, thanh tao bấy,
Náo nức tay không, náo nức ǵ?

-------------------------------

1. Hoang: tiếng cổ, nghĩa: nói ba hoa, không hợp lẽ. Ta nay c̣n nói: huênh hoang. Cả câu ư nói: nói đúng thực sự th́ e thiên hạ cho là liều lĩnh, bừa băi, lại nói này, nói nọ, không hay (sự thực được nêu lên ở câu sau).

2. Câu 3 ư nói: người có tài đức tất được người đời quy phục, tin theo.

3. Câu 4 ư nói: có của cho người, th́ khi nào kẻ xu nịnh lại bỏ đi?

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:18 AM
Mới hay phú quư bởi thời vần (1).
Tua niệm ngang tàng thú dưỡng thâu (2)
Hứng ư, miệng ngâm câu quốc ngữ,
Giải phiền, tay chuốc chén quỳnh xuân (3).
Đường hoa chào khách, mặt nh́n mặt,
Ngơ hạnh4 đưa người chân ngại chân.
Dẫu có ai han, th́ sẽ nhủ (5),
"Thái b́nh thiên tử, thái b́nh dân" (6).

Chữ "vị" là biếng nói năng,
Há rằng chẳng biết sự nên chăng.
Nhá rau lại tiếc mùi canh ngọt,
Nếm ếch c̣n thèm có giống măng.
Vuốt mặt c̣n chừa qua mũi nọ,
Rút dây lại nệ (7) động rừng chăng?
Dầu ai nghị luận điều lành dữ,
Chữ "vị" là v́ biếng nói năng

-------------------------------

1. Câu này ư nói: do số mệnh xoay vần mà được phú quư hay không, chứ cố gắng t́m kiếm cũng chẳng được.

2. Câu này ư nói: nên tự ḿnh nhắc nhở ḿnh luôn luôn giữ cho bền vững, không để cho nhụt kém cái thú dưỡng thân. Dưỡng thân: theo nghĩa triết học, là giữ cho bền khí chất không để cho khí chất thay đổi theo ngoại cảnh mà sinh ra dục vọng.

3. Chén quỳnh xuân: chén rượu ngon. Quỳnh tên một thứ ngọc quư. Xuân: ở đây là danh từ dùng trang sức cho lời nói (mỹ từ pháp).

4. Ngơ hạnh: cũng như "ngơ mận", "cửa mận", danh từ chỉ nơi quyền quư, xem thêm chú thích bài 22 trên.

5. Nhủ: tiếng cổ, nghĩa: bảo cho...

6. Câu này ư nói: mong ước được sống trong cảnh thái b́nh, cả vua và dân đều chung hưởng hạnh phúc.

7. Nệ: sợ. Câu này tác giả nói thoát ư câu tục ngữ "Rút dây lại sợ động rừng".

Bach Van Phi
03-22-2003, 03:19 AM
Rất nhân sinh bẩy tám mươi (1),
Làm chi lảo đảo nhọc ḷng người.
Bạch Vân am vắng chim kêu muộn,
Kim Tuyến (2) ḍng thanh cá mát tươi.
Ưu ái một niềm hằng nhớ chúa,
Công danh hai chữ đă nhường người.
Giầu lẫn khó, yên đ̣i phận (3),
Rất nhân sinh bẩy tám mươi.

Thanh nhàn dưỡng được tính tự nhiên,
Non nước cùng ta đă có duyên.
Dắng dỏi bên tai cầm suối (4),
Dập d́u trước mặt tán sen (5).
Xuân về, hoa nở mùi hương nức,
Khách đến, chim mừng dáng mặt quen.
Chốn ấy thanh nhàn được thú,
Lọ là Bồng đảo6 mới tiên.

----------------------------

1. Câu này ư nói: tác giả đă đến tuần bảy tám mươi tuổi là vào loại hiếm thấy trong đời.

2. Kim Tuyết: tức là con sông Tuyết (sông Hàn) chảy qua làng tác giả. Chưa rơ chữ "Kim" ngụ ư ǵ.

3. Câu này ư nói: dù giàu có hay nghèo khó cũng yên phận ḿnh mà thôi.

4. Dắng dỏi: tiếng cổ, nghĩa: vang động. Cầm suối: nước suối chảy, tiếng thánh thót nghe như tiếng gảy đàn.

5. Tán sen: lá sen tṛn, x̣e ra như cái tán.

6. Bồng đảo: đảo Bồng Lai ở bể Bột Hải, tương truyền nơi ở của tiên.

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:39 AM
TỬ SỰ PHỤ MẪU
(Con thờ cha mẹ)

Ngẫm đạo làm con ở rất nan(1),
Ở cho lọn đạo mới là ngoan.
Hay khi "ôn sảnh"(2) bề cung dưỡng(3),
Siêng thủa "thần hôn"(4) việc hỏi han.
Dầu giận hờn, càng kính thuận,
Vâng sai khiến, dám phàn nàn?
Chữ rằng: "Chưa dễ đền ơn nặng",
Lọ nỗi riêng tây theo thế gian?

1. Nan: khó khăn.

2. Ôn sảnh: do chữ: "đông ôn, hạ sảnh", nói về bổn phận kẻ làm con chăm sóc cha mẹ. Khi đông về giá rét th́ con lo cho cha mẹ được ấm áp và khi hè đến nóng bức th́ con lo cho cha mẹ được mát mẻ. Văn học cổ dịch "ôn sảnh" là: quạt nồng, ấp lạnh.

3. Cung dưỡng: t́m thức ăn nuôi cha mẹ (cung cấp, phụng dưỡng).

4. Thần hôn: do chữ "hôn định, thần tỉnh", cũng nói về bổn phận kẻ làm con chăm sóc cha mẹ. Hằng ngày, cứ tối đến th́ con phải hầu cha mẹ cho yên giấc ngủ, và lúc buổi sớm ngủ dậy th́ con phải thăm hỏi xem cha mẹ có được yên giấc ban đêm không.

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:40 AM
KHUYẾN HUY ĐỆ VẬT CẠNH TRANH
(Khuyên anh em chớ giành lẫn nhau)

Cùng đội sinh thành một cửa ra,
Anh em trời đă thực cho ta
Giúp nàn, chống rẻ cùng nương cậy(1),
Biết kính, hay yêu miễn thuận ḥa.
Xui giục chớ tin lời vợ.
Yêu thương sá thấy ḷng cha(2).
Chân tay(3) gẫm lại ai hơn nữa,
Tranh cạnh làm chi, lỗi phép nhà?


1. Giúp nàn: giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn. Chống rẻ: chống kẻ khinh thường anh em ḿnh. Câu này ư nói: anh em phải giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn, và nương cậy nhau việc chống lại kẻ khinh rẻ ức hiếp ḿnh.

2. Yêu thương sá thấy ḷng cha: khi anh em có chuyện xích mích nên nghĩ đến tấm ḷng cha yêu thương tất cả, mà t́m cách thuận ḥa với nhau.

3. Chân tay: người xưa thường nói: "Anh em như tay chân".

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:42 AM
KHUYẾN ĐĂI BẰNG HỮU
(Khuyên đối xử với bầu bạn)

Làm người dầu dă bạn cùng ai,
Chữ "tín" tua th́n chẳng chút sai(1).
Đừng có nồng chi rồi lại lạt,
Nếu mà thắm lắm ắt liền phai(2).
Chợ hàng, miễn nhớ tuồng chơi họp(3),
Rượu bạc, xin thôi sức ép nài.
Sắc ắt sơ(4) hằng cần đấy,
Yêu nhau nghĩa ấy mới bền dai.


-----------------------------------------------

1. Câu 2 ư nói: chơi với bạn nên giữ chữ "tín" cho trọn vẹn, chớ đơn sai. Tín là giữ đúng lời hứa, lời hẹn với bạn, khiến bạn có thể tin cậy.

2. Trong quan hệ bè bạn, người xưa thường nhắc câu: "Quân tử chi giao đạm nhược thủy" (t́nh bạn bè của người quân tử thanh đạm như nước). Ca dao cổ cũng có câu: "Xin ai đừng thắm, chớ phai, thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu".

3. Câu 5 ư nói: làm bạn với nhau, đừng rủ rê nhau ăn uống nay chợ mai hàng, bê tha, mất tư cách.

4. Sắc ắt sơ: viết thoát ư lời của Khổng tử: "Bằng hữu, sắc tư sơ hi" ư nói đối với bầu bạn, nếu ḿnh can ngăn luôn luôn (sắc) tất sẽ bị bạn xa lánh (sơ) - (Luận ngữ).

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:44 AM
KHUYẾN ĐĂI TÔNG TỘC
(Khuyên đối xử với họ hàng)

Ḍng dơi suy ra cũng một nhà,
Xem ai hơn nữa họ hàng ta?
Đỡ đần đành cậy vây cánh,
Gửi thác(1) càng tin ruột rà.
Chẳng bỏ được nào, sao chẳng biết?
Nên gần cho lắm, há nên xa?
Cùng nhau bầu bí yêu thương lấy(2),
Chớ nỡ xem bằng khách tới qua(3).



----------------------
1. Gửi thác: dịch chữ "kư thác". Câu thơ ư nói: gửi gắm cái ǵ th́ phải tin vào người thân thích ruột rà là hơn cả.

2. Câu này ư nói: anh em họ hàng thương yêu lẫn nhau như t́nh bầu bí. Ca dao có câu "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".

3. Câu 7, 8 ư nói: t́nh họ hàng là phải thương yêu đùm bọc nhau, cưu mang giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn, chớ nên coi nhau như khách văng lai và đối xử với nhau gặp chăng hay chớ.

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:45 AM
GIỚI THAM
(Răn người có ḷng tham)

Tượng trời(1) âu đă quá đồng cân,
Định cho ai, ắt có phần.
Muốn vô nhau(2), khôn lẽ được,
Ơn phi phận(3), khá đều phân.
Đủ no hay vậy, xin thong thả,
Sạo sục(4) làm chi, luống nhọc nhằn!
Nếu tham hơn th́ phải thiệt,
Hăy ghi lời ấy để mà răn.

---------------------------

1. Tượng trời: chỉ đồng tiền (được đúc tṛn theo tượng trời). Câu này ư nói: đồng tiền được đúc theo tượng trời, ắt cũng cân bằng, không thiên lệnh.

2. Muốn vô nhai: ư nói trong bụng quá tham, không biết thế nào là bờ bến.

3. Ơn phi phận: ơn huệ vốn không phải phần ḿnh đáng được hưởng.

4. Sạo sục: tiếng cổ, nghĩa: nôn nóng, bồn chồn.

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:47 AM
GIỚI SẮC
(Răn người ham mê sắc đẹp)

Cẩn(1) cho hay, chẳng phải chơi,
Sắc xem dường sóng, dễ xiêu người(2).
Lửa rơm nếu chửa ngăn ḷng tục(3),
Giường mối đâu c̣n biết lẽ trời(4).
Có chồng con bao xiết nỗi,
Hay bùa thuốc ấy thói đời(5).
Kham hiền(6), luận ác "dâm vi thủ"(7),
Cẩn cho hay, chẳng phải chơi.


---------------------------

1. Cẩn: giữ ǵn, đề pḥng cho chu đáo, không sơ suất.

2. Người xưa thường hay dùng h́nh ảnh này. Một câu thơ cổ: "Sắc bất ba đào, dị nịch nhân" (Sắc chẳng có sóng, mà dễ khiến làm đắm người). Lư Diên Niên (Đường) cũng có câu: "Nhất tiếu khuynh nhân thành, tái tiếu khuynh nhân quốc" (Người đẹp cười lần thứ nhất làm nghiêng thành người, cười lần thứ hai làm nghiêng nước người).

3. Câu 3, 4 ư nói: khi gần sắc đẹp, nếu chẳng giữ ḿnh, để cho ḷng tục lôi kéo đến chỗ "lửa gần rơm lâu ngày cũng bén" và lúc đó, sẽ quên hết lẽ trời và đạo đức con người.

4. Câu 3, 4 ư nói: khi gần sắc đẹp, nếu chẳng giữ ḿnh, để cho ḷng tục lôi kéo đến chỗ "lửa gần rơm lâu ngày cũng bén" và lúc đó, sẽ quên hết lẽ trời và đạo đức con người.

5. Người xưa tin rằng để làm cho người khác say mê, người ta có thể dùng "bùa thuốc".

6. Kham hiền: đáng khen là hiền.

7. Luận ác dâm vi thủ: theo quan điểm Nho giáo luận về mọi tội ác, định rơ dâm ô là đứng đầu. Người xưa có câu: "Bách ác, dâm vi thủ; vạn thiện, hiếu vi tiên" (Trăm điều ác, dâm là đầu; vạn điều lành, hiếu đứng trước).

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:49 AM
GIỚI DĨ PHÚ LĂNG BẦN
(Răn người cậy ḿnh giàu mà coi thường người nghèo)

Kẻ khó thường làm ích kẻ giàu,
Ở th́ phải ngẫm, biết nhường nhau,
Bán kia, chẳng nỡ mua cho rẻ,
Vay nọ, xin đừng lấy lăi đau.
Bớt nỗi sai đời làm độc khổ(1),
Thôi th́ đă trả hăy cơ cầu(2).
Nặng ḷng nhân nghĩa hay thương khó,
Giàu ấy hầu toan mới được lâu(3).


1. Ngày trước, những nhà giàu chuyên môn làm nghề cho vay lấy lăi, gọi là "chủ nợ", người nghèo khó đi vay, gọi là "con nợ". Nếu đến hẹn mà con nợ chưa trả, th́ chủ nợ có quyền cho bọn tay sai đến nhà con nợ thúc giục trả nợ, th́ chúng giở đủ mánh khóe độc ác, nào giết gà, đánh chó để ăn, lên giường thờ ông bà ông vải của người ta để ngủ, v.v... Khi chúng ra về, con nợ c̣n phải có tiền hoặc phẩm vật ǵ tiễn chúng th́ mới xong xuôi.

2. Hăy cơ cầu: hăy c̣n cơ cầu (ác nghiệt). Ư nói khi con nợ đă trả đủ gốc và lăi rồi, chủ nợ hăy c̣n yêu sách phải tạ ơn nải chuối, buồng cau, hoặc con gà, quả gạo nếp, thủ lợn.

3. Câu 7, 8 ư tác giả khuyên người đời khi đă giàu có rồi, muốn được bền th́ phải có ḷng nhân nghĩa đối xử với mọi người, đặc biệt là phải thương kẻ nghèo hèn đói khổ. Rơ ràng lời khuyên vẫn bao hàm cái ư chấp nhận trật tự phong kiến, có kẻ giàu người nghèo, v́ tác giả không vượt nổi ra ngoài ư thức hệ phong kiến.

Bach Van Phi
03-25-2003, 12:51 AM
GIỚI SÙNG PHẬT VÔ ÍCH
(Răn sùng bái Phật không ích ǵ)

Suy lư cho cùng Phật ấy ta,
Lọ là chung bóng đạo Di Đà?
Hiền lành, hăy giữ bề tu kỷ(1),
Dối trá, đừng nghe đứa xuất gia(2).
Dễ chúng đúc chuông(3) nhân đă lạ,
Đặt điều phá ngục(4) thói ru mà.
Chẳng tin, Lương Vũ (5)c̣n bia cũ,
Tra (6), mà lại biết thực chẳng ngoa.


1. Tu kỷ: sửa ḿnh.

2. Xuất gia: Bỏ nhà đi tu.

3. Đúc chuông: nhà tu hành đạo Phật thường đem tờ phả khuyến đi khuyên giáo thập phương, lấy tiền của để đúc chuông, hoặc tô tượng Phật. Họ cho đấy là việc "công đức".

4. Phá ngục: theo thuyết của nhà tu hành đạo Phật, th́ dưới âm phủ có 18 địa ngục, ở địa ngục có quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa hành tội chúng sinh, v́ thế nên phải lập đàn làm chay nhằm phá ngục để siêu độ chúng sinh.

5. Lương Vũ: tức Vũ Đế (502-540) Nhà Lương, thời Nam Bắc Triều. Vũ Đế rất ham mê Phật giáo. Về sau bị Hầu Cảnh vây đánh, 7 ngày không có ǵ ăn, phải chết đói.

6. Tra: tức t́m ṭi, tra cứu. Câu này ư nói: nghiên cứu đến nơi đến chốn, th́ biết chuyện Vũ Đế sùng Phật mà bị chết đói không phải sai ngoa, từ đó đủ biết mộ đạo Phật nào có ích ǵ?

Bach Van Phi
04-05-2003, 10:03 PM
Áng công danh sá cắp tay
Nhiều phen đă khỏi tiếng tai bay
Hoa mai bạc, v́ trăng tỏ
Bóng trúc thưa, bởi gío lay
Ưu ái chẳng quên niềm trước
Thị phi biếng nói sự nay.
Đă từng trải sơn hà hết,
Đường thế nhiều nơi hiểm hóc thay!

Bach Van Phi
04-05-2003, 10:06 PM
Tóc đă thưa, răng đă ṃn,
Việc nhà đă phó mặc dâu con
Bàn cờ cuộc rượu vầy hoa trúc,
Bó củi cần câu trốn nước non.
Nhàn được thú vui hay nấn ná,
Bữa nhiều muối bể chứa tươi ngon
Chín mươi th́ kể xuân đă muộn
Xuân ấy qua th́ xuân khác c̣n.

Bach Van Phi
04-05-2003, 10:08 PM
Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh,
Chủ ưu thần nhục trọng thương t́nh.
Hề tô cửu uất thương sinh vọng,
Điếu phạt thùy hưng thời vũ binh.
Tứ hải y quy dân đới cựu,
Cửu thiên chiêu yết nhật trùng minh.
Cổ lai, nhân giả tư vô địch,
Hà tất khu khu sự chiến tranh.

Dịch thơ:

Có cảm xúc

Giặc giă tung hoành lấn đế kinh,
Vua tôi lo lắng xiết bao t́nh.
Mong mưa, chan chứa ḷng dân vọng,
Trừ bạo, tưng bừng đạo nghĩa binh.
Bốn bể vui theo người đạo đức,
Khắp nơi lại thấy cảnh thanh b́nh.
Xưa nay nhân giả là vô địch,
Lọ phải khư khư thích chiến tranh.

Ngô Lập Chi dịch