View Full Version : Nguyễn Du
Tieu Dieu Khach
06-20-2002, 08:04 AM
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?
Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, sinh năm Ất Dậu dưới triều Lê Cảnh Hưng (1765); người xă Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.
Là ḍng dơi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, từng làm tới Tể Tướng triều Lê mạt; mẹ là người vợ thứ ba, nhũ danh Trần Thị Tần người Kinh Bắc; anh là Toản Quận Công Nguyễn Khản cũng làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triềụ
Sinh ra trong một gia đ́nh quan lại, có truyền thống văn học, năng khiếu thơ văn của Nguyễn Du sớm có điều kiện nảy nở và phát triển. Từ nhỏ ông đă nổi tiếng thông minh dĩnh ngộ. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường. V́ lẽ ǵ không rơ, ông không tiếp tục thi lên nữạ
Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, vời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ măi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Năm 1805, ông được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầụ Năm 1813, thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Trị
Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy trở ngạị Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đ¡c chí. Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ ǵn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua th́ ra dáng sợ sệt như không biết nói năng ǵ...''
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi th́ ông đột ngột qua đờị
Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đă lạnh cả rồị Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều ǵ.''
Tác phẩm tiêu biểu: ngoài Truyện Kiều nổi tiếng ra, Nguyễn Du c̣n để lại Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu, Thác Lời Trai Phường Nón bằng chữ Nôm, và ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, và Bắc Hành Tạp Lục.
---------------------------------------------------
An Huy Đạo Trung
Bát Muộn
Chu Hành Tức Sự
Cựu Hứa Đô
Đại Tác Cửu Thú Tư Quy
Đêm Thu
Điếu La Thành Ca Giả
Đỗ Hoài Hữu Cảm Văn Thừa Tướng
Độc Tiểu Thanh Kư
Đối Tửu
Đông Lộ
Giáp Thành Mă Phục Ba Miếu
Hạ Than Hỷ Phú
Hoàng Mai Kiều Văn Diểu
Hoàng Sào Binh Mă
Kê Thị Trung Từ
Kỳ Lân Mộ
Làng Núi
Lạng Thành Đạo Trung
Liên Pha Bi
Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ I
Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ II
Long Thàng Cầm Giả Dẫn
Lưu Biệt Cựu Khế Hoàng
Mạc Phủ Tức Sự
Man Hứng I
Man Hứng II
Minh Quan Chu Phát
Mộ Chu Du
Mộ Nhạc Phi
Mộ Xuân Mạn Hứng
Nam Quan Đạo Trung
Ngẫu Thư Công Quán Bích
Ngày Thu Gửi Hứng
Ngày Xuân Chợt Hứng
Ngô Gia Đệ Cựu Ca Cơ
Ngồi Một Ḿnh Trong Thủy Các Trên Sông La Phù
Ngũ Nguyệt Quan Cạch Độ
Ninh Minh Giang Chu Hành
Nơi Hàn Tín Luyện Quân
Phản Chiêu Hồn
Quỳnh Hải Nguyên Tiêu
Quỷ Môn Quan
Sơ Nguyệt
Sơn Đường Dạ Bạc
Tam Giang Khẩu Đường Dạ Bạc
Tạp Ngâm
Tân Thu Ngẫu Hứng
Tính Dương Tức Sự
Thái B́nh Ngại Ca Giả
Thái B́nh Thành Hạ Văn Xuy Địch
Thăng Long I
Thăng Long II
Thanh Minh Ngẫu Hứng
Thương Ngô Mộ Vũ
Thương Ngô Tức Sự
Trấn Nam Quan
U Cư
Văn Há Đại Than, Tân Lạo Bao Trướng, Chư Hiểm Câu Thất
Văn Chiều Hồn
Vọng Quan Âm Miếu
Xuân Nhật Ngẫu Hứng
Tieu Dieu Khach
06-20-2002, 08:11 AM
Quỳnh Hải Nguyên Tiêu
Nguyên dạ không đ́nh nguyệt măn thiên
Y y bất cải cựu thiền quyên
Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc
Vạn lư Quỳnh Chân thử dạ viên
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến
Hải giác thiên nhai tam thập niên
Thanh Hiên thi tập
Rằm tháng giêng ở Quỳnh Hải
Sân vắng nguyên tiêu nguyệt khắp trời
Như xưa không đổi vẻ xinh tươi
Một trời xuân hứng rơi nhà tá
Ngàn dặm Quỳnh Chân tỏ dạ thời
Hồng Lĩnh không nhà huynh đệ tán
Bạc đầu nhiều hận tháng ngày trôi
Đường cùng thương cảm trăng c̣n gặp
Ba chục năm ven biển cuối trời
Đông A dịch
Tieu Dieu Khach
06-20-2002, 08:15 AM
Xuân nhật ngẫu hứng
Hoạn khí kinh thời hộ bất khai
Thoan tuần hàn thử cố tương thôi
Tha hương nhân dữ khứ niên biệt
Quỳnh Hải xuân ṭng hà xứ lai
Nam Phố thương tâm khan lục thảo
Đông Hoàng sinh ư lậu hàn mai
Lâu ông bôn tẩu thôn tiền miếu
Đẩu tửu song cam túy bất hồi
Thanh Hiên thi tập
Ngẫu hứng ngày xuân
Tiết xấu lâu nay đóng cửa hoài
Quanh đi hết rét lại nồng thôi
Tha hương năm hết người chia biệt
Quỳnh Hải từ đâu xuân ghé chơi
Nam Phố thương tâm nh́n biếc cỏ
Đông Hoàng sinh ư ló hàn mai
Lăo ông hàng xóm quanh bên miếu
Cam rượu say sưa chẳng thể rời
Đông A dịch
Tieu Dieu Khach
07-23-2002, 07:32 PM
Bát muộn
Thập tải trần ai ám ngọc trừ
Bách niên thành phủ bán hoang khư
Yêu ma trùng điểu cao phi tận
Trỉ uế càn khôn huyết chiến dư
Tang tử binh tiền thiên lư lệ
Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư
Ngư long lănh lạc nhân thu dạ
Bách chủng u hoài vị nhất sư
Thanh Hiên thi tập
Xua nỗi buồn
Cát bụi mười năm bệ ngọc mờ
Trăm năm thành phủ nửa hoang vu
Chim sâu bé nhỏ bay cao hết
Trời đất nhớp nhơ trận máu thừa
Binh lửa quê nhà ngàn dặm lệ
Dưới đèn thân thích mấy hàng thư
Cá rồng lặng lẽ đêm thu vắng
Trăm mối u hoài chửa dẹp ư
Đông A dịch
Tieu Dieu Khach
07-23-2002, 07:35 PM
Thanh Minh ngẫu hứng
Đông phong trú dạ động giang thành
Nhân tự b́ thê thảo tự thanh
Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng
Thiên nhai vô tửu đối Thanh Minh
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
Dă thốc thời văn chiến phạt thanh
Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn
Mạc giao mao thảo cận giai sanh
Thanh Hiên thi tập
Ngẫu hứng tiết Thanh Minh
Gió đông sớm tối lộng bên thành
Người cứ buồn thương cỏ cứ xanh
Xuân đến nào thân thời trẻ khoẻ
Trời bên không rượu tiết Thanh Minh
Câu ca trong xóm hay canh cửi
Tiếng khóc ngoài đồng tưởng chiến tranh
Quán trọ ôm sầu khôn kể xiết
Gần thềm chớ để cỏ leo quanh
Đông A dịch
Tieu Dieu Khach
07-23-2002, 07:37 PM
Điếu La Thành ca giả
Nhất chi nùng diễm há Bồng Doanh
Xuân sắc yên nhiên động lục thành
Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh
Trủng trung ưng tự hối phù sinh
Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng
Phong nguyệt không lưu tử hậu danh
Tưởng thị nhân gian vô thức thú
Cửu tuyền khứ bạn Liễu Kỳ Khanh
Thanh Hiên thi tập
Viếng ca nữ đất La Thành
Một cành đẹp thắm rớt Bồng Doanh
Uyển chuyển sắc xuân nức sáu thành
Hạ giới ai người thương bạc mệnh
Dưới mồ chắc tự hối phù sinh
Phấn son không rửa sinh thời chướng
Trăng gió c̣n lưu hậu thế danh
Hẳn nghĩ nhân gian không kẻ hiểu
Suối vàng xuống kết bạn Kỳ Khanh
Đông A dịch
Chú thích :
* La thành : thành Nghệ An . Thành này có nhiều tên như
Lam thành, Triều Khẩu thành, Nghệ An thành, Nghĩa Liệt
thành
* Liễu Kỳ Khanh tức Liễu Vĩnh, một nhà làm từ nổi tiếng
đời Tống . Thưở thiếu thời ông hay lui tới chốn B́nh
Khang, làm nhiều bài từ tả cuộc sống của các kỹ nữ thưở
đó và mối đồng cảm với họ . Tương truyền khi ông chết,
các kỹ nữ góp tiền chôn cất, tổ chức "hội viếng Liễu" .
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 01:55 AM
Mộ Chu Du
Thiêu sạch quân Tàu trăm vạn binh
Trượng phu âu cũng thỏa b́nh sinh
Bạn bè nghĩa nặng cùng Tôn Sách
Tri kỉ trên đời được Khổng Minh
Ngói vỡ cung Ngô tan nghiệp đế
Gai đầy mộ cũ vẫn lừng danh
Hai kiều xương ngọc vùi đâu tá
Mắt ngó đài Đồng nửa đă chênh
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 01:58 AM
Mộ Nhạc Phi
Trung Nguyên trăm trận nổi anh hùng
Tám trượng thương dài, nặng cánh cung
Phủ tướng đă thành ngục Ba chữ
Cửa quân c̣n tiếc mười năm công
Sông hồ chốn chốn vùng nam vắng
Thông trắc ngang tàng gió bắc tung
Buồn ngó Lân An lăng miếu cũ
Thê hà bóng núi khói chiều rung
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 02:04 AM
Nói Hàn Tín Luyện Quân
Trăm vạn hùng binh sang bến Bắc,
Đất Yên gươm giáo vẫn chôn ngầm.
Hai ngàn năm trải dài bao việc,
Man mác thành bên băi cát lầm.
Với Khoái chưa dành tṛ khúm núm,
Trước vua dám sánh chuyện cầm quân.
Đáng thương sông núi mười đời vững,
Bổng lộc riêng nhà Giáng Quán ăn.
Dịch Thơ:
Trăm vạn hùng binh bước vượt Hà,
Đất Yên dưới vẫn dấu can quạ
Dặc dài sau việc hai ngàn thuở,
Man mác bên thành băi cát phạ
Với Khoái không dành so kém cỏi,
Cùng vua chả dấu chuyện tài bạ
Đáng thương sông núi mười đời mới,
Giáng, Quán giàu sang chỉ mấy nhà
Khuyết Danh
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 02:09 AM
Ngồi Một Ḿnh Trong Thủy Các Trên Sông La Phù
Bên dưới thủy các sông nước sâu
Bên trên thủy các người rầu rầu
Mênh mang sớm tối lần mấy đổi
Cuồn cuộn xưa nay lớp sóng trào
Trần thế trăm năm mơ mở mắt
Hồng sơn ngàn dặm nhớ ngang lầu
Bùi ngùi đối bóng ḿnh không nói
Tóc bạc lơi dài vạt áo nâu
Dịch Thơ:
Bên dưới thủy các ḍng thăm thẳm
Bên trên thủy các người trầm ngâm
Bóng mây mang mác thay hôm sớm
Hoa sóng cuốn dần nỗi cổ kim
Trần thế trăm năm mơ mở mắt
Hồng sơn ngàn dặm dạ bâng khuâng
Ngậm ngùi ngắm cảnh ḿnh không nói
Tóc trắng dài vương vạt áo thâm
Khuyết Danh
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 02:12 AM
Ngày Thu Gửi Hứng
Bên dưới thủy các sông nước sâu
Gió tây vừa đến người không về
Vụt thấy mười phần lạnh lẽo ghê
Nước cũ núi sông nh́n nắng xế
Làng xa nhân thế gửi mây đi
Chợt kinh cảnh lăo hôm nay đến
Đâu chốn hơi thu tối trước nghe
Đầu bạc cười ta kém tháo vát
Lá vàng sao sác ngập sân hè
Dịch Thơ:
Gió tây vừa đến khách phong trần
Rét buốt xem ra đă bội phần
Nước cũ núi sông nh́n bóng xế
Làng xa nhân thế gửi phù vân
Tiếng thu đêm trước nơi nào nổi
Cảnh lăo hôm nay chợt ngại ngần
Tự ngán bạc đầu vụng xoay xở
Tơi bời lá úa rụng đầy sân
Khuyết Danh
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 02:14 AM
Ngày Xuân Chợt Hứng
Trời xấu lâu rồi mở cửa chi
Lần lữa rét nực giục nhau đi
Làng xa lại biệt người năm trước
Quỳnh hải xuân sang tự xứ người
Xuân ư c̣n vương mai nở lạnh
Băi nam thương ngắm cỏ xanh ŕ
Miếu thôn quanh quẩn ông già xóm
Cam rượu say sưa chửa thấy về
Dịch Thơ:
Trời xấu từ lâu cửa vẫn gài
Lữa lần nóng lạnh dục nhau hoài
Làng xa người lại trăm năm biệt
Quỳnh hải nơi nào xuân tới chơi
Ḷng ngán băi Nam nh́n cỏ biếc
Ư vui xuân được biết hoa mai
Miếu thôn quanh quẩn ông già xóm
Cam rượu say sưa măi chẳng dời
Khuyết Danh
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 02:19 AM
Tam Giang khẩu đường dạ bạc
Tây Việt trùng sơn nhất thủy phân
Lưỡng sơn tương đối thạch lân tuân
Viên đề thụ diểu nhược vô lộ
Khuyển phệ lâm trung tri hữu nhân
Tứ vọng vân sơn nhân độc lăo
Đồng chu Hồ Việt các tương lân
Thập niên dĩ thất hoàn hương lộ
Ná đắc gia hương nhập mộng tần
Bắc hành tạp lục
Đêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang
Một ḍng nước xẻ núi muôn trùng
Hai dăy nh́n nhau đá chất chồng
Vượn hú ngọn cây dường lạc lối
Chó kêu rừng thẳm chắc gần thôn
Núi mây bốn ngả t́nh cô quạnh
Hồ Việt chung thuyền mối thiết thân
Làng cũ mười năm quên mất hướng
Quê nhà nẻo mộng nhớ về thăm
Tây Việt non chồng nước rẽ đôi,
Đối nhau hai núi đá chơi vơi.
Vượn kêu cành vút nhường không lối,
Chó sủa rừng trong biết có người.
Ngó khắp núi mây người tuổi tác,
Cùng thuyền Hồ Việt thảy thân vui.
Mười năm đă baÜng đường quê cũ,
Giấc mộng gia hương mấy độ rồi.
Tây Việt non chồng nhánh nước phân,
Đối nhau hai núi đá muôn tầng.
Rừng trong chó sủa hay người có,
Vượn hót cành cao tưởng lối ngăn.
Ngó khắp núi mây người tuổi tác,
Cùng thuyền Hồ Việt thảy vui thân.
Mười năm đă baÜng đường quê cũ,
Sao được quê hương mộng mấy lần
Khuyết Danh
Tieu Dieu Khach
07-25-2002, 02:22 AM
Đêm Thu
Sương sa như bạc sao đầy trời,
Giun dế tường đông quá ngậm ngùi.
Muôn dặm hơi thu xua lá rụng,
Một trời sắc lạnh quét mây trôi.
Già về tóc bạc nên thương đấy,
Trọ măi non xanh chửa ngán người.
Ngán nỗi lênh đênh du khách mỏi,
Nằm đau bến tuế tháng năm vơi.
Dịch Thơ:
Màn sao đầy sáng móc sương ngần,
Dọng dế tường đông thảm bội phần.
Muôn dặm hơi thu xua lá rụng,
Một trời hơi lạnh quét mây vần.
Già về tóc bạc thương ngươi đấy,
Trọ măi non xanh núi vẫn thân.
Mệt mỏi khách du đà lận đận,
Ốm bên bến Tuế buổi cùng năm.
Khuyết Danh
Tieu Dieu Khach
07-26-2002, 11:04 PM
Hoàng Mai kiều văn diểu
Hoàng Mai kiều thượng tịch dương hồng
Hoàng Mai kiều hạ thủy lưu đông
Nguyên khí phù trầm thương hải ngoại
T́nh lam thôn thổ loạn lưu trung
Đoản thoa ngư chẩm cô chu nguyệt
Trường địch đồng suy cổ kính phong
Đại địa văn chương tùy xứ kiến
Quân tâm hà sự thái thông thông ?
Thanh Hiên thi tập
Trên cầu Hoàng Mai ngắm chiều
Trên cầu Hoàng Mai bóng xế hồng
Dưới cầu Hoàng Mai nước xuôi đông (*)
Ch́m nổi khí trời ngoài bể rộng
Chập chờn hơi núi giữa ḍng xông
Ngắn tơi chài gối trăng thuyền lẻ
Dài sáo đồng ngân gió lối suông
Cảnh đẹp đất này đâu chẳng có
Việc chi vội vă bận thêm ḷng ?
Đông A dịch
(*) Hai câu đầu của bản dịch được lấy từ một bản dịch
khuyết danh
Tieu Dieu Khach
07-26-2002, 11:10 PM
Đại tác cửu thú tư quy
I
Quan ngoại thu phong tống địch xuy
Ban Siêu đầu bạch vị thành quy
Thập niên hứa quốc quân ân trọng
Thiên lư ly gia lữ mộng tŕ
Dạ tú vinh hoa thân ngoại huyễn
Triêu vân danh lợi nhăn tiền phi
Lũng thiên tuế tuế qua điền thục
Khổ tận cam lai thượng hữu kỳ
Nam Trung tạp ngâm
II
Thiên nhận Hoành sơn nhất đái hà
Bạch vân hồi thủ cách thiên nha (nhai)
Tân thu khí hậu thôi hàn chử
Cố quốc quan san kư dạ già
Thiên địa nhất thân trung dịch hiếu
Phong trần vạn lư quốc vong gia
Nguyệt trung hoành địch thái vô lại
Bán dạ giang thành xuy "Lạc hoa"
Nam Trung tạp ngâm
Làm thay người đi thú lâu năm mong về
I
Tiếng sáo gió thu lộng ải ngoài
Siêu chưa về được tóc đà phai
Mười năm hiến nước ơn vua nặng
Ngàn dặm xa quê mộng lữ dài
Phú quư ngoài thân đêm gấm ảo
Lợi danh trước mắt sáng mây bay
Năm qua năm lại mùa dưa chín
Khổ tận cam lai sẽ đến ngày
Đông A dịch
Chú: * Ban Siêu, người Đông Hán đi chinh phục các xứ
ở Tây Vực, hơn 30 năm mới trở về .
* qua điền thục : ruộng dưa chín . Theo Tả Truyện,
Liêu Xứng và Quản Chi Phủ đi thú đất Quỳ Khâu,
lúc đi qua ruộng dưa chín và hẹn năm sau mùa dưa chín
sẽ về gặp nhau .
II
Dăy Hoành ngh́n thước, dải sơn hà
Mây trắng ngoái nh́n tít tận xa
Chày lạnh chớm thu thời tiết giục
Kèn đêm nhớ nước núi sông ḥa
Một thân trời đất trung thay hiếu
Vạn dặm phong trần nước lăng nhà
Buồn tẻ dưới trăng nâng chiếc sáo
Bên thành đêm thổi "Lạc mai hoa"
Đông A dịch
Chú: * "Lạc hoa" hay c̣n gọi "Lạc mai hoa", tên một
khúc địch, âm điệu năo nề gợi niềm lữ
thứ tha hương .
Tieu Dieu Khach
07-31-2002, 11:32 PM
Làng Núi
Vào sâu muôn núi dứt phong trần,
Đây đó muôn chiều cảnh trúc ngăn.
Mũ áo người già khuyên kiểu Hán,
Trong non năm tháng khác xa Tần.
Trẻ chăn sừng gơ đồng loang tối,
Gái trẻ gàu buông giếng nước xuân.
Sao được thoát ngoài trần tục nhỉ,
Thông dài dưới gốc thảnh thơi thân.
Tieu Dieu Khach
08-06-2002, 01:15 AM
Sơ nguyệt
Hấp đắc dương quang tài thướng thiên
Sơ tam sơ tứ vị đoàn viên
Thường Nga trang kính vi khai hạp
Tráng sĩ loan cung bất thướng huyền
Thiên lí quan san vô cải sắc
Nhất đ́nh sương lộ cộng sầu miên
Bồi hồi chính ức Hồng sơn dạ
Khước tại La Phù giang thủy biên
Thanh Hiên thi tập
Trăng non
Hớp chút ánh dương mới ló mày
Mùng ba mùng bốn chẳng tṛn đầy
Hằng Nga gương điểm hơi xô nắp
Tráng sĩ cung giương chửa kéo dây
Ngàn dặm quan san không sắc đổi
Một sân sương móc giấc sầu bày
Bồi hồi ngay nhớ đêm Hồng Lĩnh
Giờ bến La Phù lại ở đây
Đông A dịch
Tieu Dieu Khach
08-06-2002, 01:20 AM
U cư
I
Đào hoa đào diệp lạc phân phân
Môn yểm tà phi nhất viện bần
Trú cửu đốn vong thân thị khách
Niên thâm cảnh giác lăo tùy thân
Dị hương dưỡng chuyết sơ pḥng tục
Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân
Lưu lạc bạch đầu thành để sự
Tây phong xuy đáo tiểu ô cân
II
Thập tải phong trần khứ quốc xa
Tiêu tiêu bạch phát kư nhân gia
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu
Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch
Hoang tŕ thủy hạc xuất hà ma
Hành nhân mạc tụng "Đăng lâu phú"
Cường bán xuân phong tại hải nha
Thanh Hiên thi tập
U cư
I
Hoa lá đào rơi rụng tả tơi
Nhà nghèo xiêu vẹo cửa then rời
Trọ lâu quên bẵng làm thân khách
Năm măi hay ru đến lăo thời
Giả vụng quê xa pḥng thói tục
Giữ ḿnh đời loạn sợ luôn người
Bạc đầu lưu lạc nào nên việc
Thổi rớt khăn thâm trận gió đoài
II
Mười năm gió bụi bỏ quê xa
Đầu bạc bơ phờ ở trọ nhà
Xế bóng đường dài thưa bạn mới
Một nhà xuân lạnh lắm đau qua
Trăng suông vách nát thằn lằn chạy
Nước cạn ao hoang ếch nhái ra
Đừng đọc "Đăng lâu" người viễn xứ
Tuổi xuân quá nửa lạc trời xa
Đông A dịch
Chú: "Đăng lâu phú" là bài phú của Vương Xán, một trong
bảy nhà văn nổi tiếng thời Kiến An . Vương Xán tránh
nạn đến ở nhờ Lưu Biểu ở Kinh Châu, lên lầu thành
Giang Lăng, nhớ nhà mà làm bài phú này .
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:40 PM
An huy đạo trung
Đề nha á á loạn lăng thần
Từ bắc Từ nam hiểu sắc phân
Nhất đái tuyết điền thanh giả mạch
Tứ sơn tùng thụ bạch vi vân
Du du hương quốc bát thiên lư
Lục lục công danh nhất phiến trần
Cộng chỉ mai hoa báo tiêu tức
Xuân hà tằng đáo dị hương nhân.
Trên đường An huy
Quạ kêu quàng quạc rạng canh chầy
Nam bắc Từ châu sáng rơ bầy
Tuyết phủ trên đồng xanh sắc lúa
Tùng bao quanh núi trắng màu mây
Mịt mù làng nước ngàn trùng tận
Lận đận công danh cơi bụi đầy
Năm mới báo tin mai hé nở
Tha hương xuân chẳng đến xum vầy.
Bản dịch của Đông A
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:41 PM
Đối tửu
Phu tọa nhàn song túy nhăn khai
Lạc hoa vô số há thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi
Xuân sắc tiêm thiên hoàng điểu khứ
Niên quang ám trục bạch đầu lai
Bách kỳ đăn đắc chung triêu túy
Thế sự phù vân chân khả ai.
Ngồi uống rượu
Ngồi xếp bên song chếch choáng say
Hoa rơi tơi tả xuống rêu đầy
Sống, ṿ không dốc say bầu cạn
Chết, mộ ai c̣n tưới rượu đây
Xuân đổi khiến oanh rời tổ khác
Năm qua dục tóc bạc đầu rày
Trăm năm mong được say sưa suốt
Thật đáng thương đời tựa đám mây.
Bản dịch của Đông A
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:42 PM
Man hứng
I
Bách niên thân thế ủy phong trần
Lữ thực giang tân hựu hải tân
Cao hứng cửu vô hoàng các mộng
Hư danh vị phóng bạc đầu nhân
Tam xuân tích bệnh bần vô dược
Táp tải phù sinh hoạn hữu thân
Dao ức gia hương thiên lư ngoại
Trạch xa đoạn mă quí đông lân
Thanh Hiên thi tập
Gió bụi trăm năm phó cuộc đời
Bờ sông băi bể sống nơi nơi
Gác vàng cao hứng lâu không mộng
Đầu bạc hư danh chửa bỏ người
Không thuốc ốm đau xuân mấy tháng
Lo thân trôi nổi tuổi ba mươi
Quê nhà ngàn dặm bao thương nhớ
Xe ngắn ngựa c̣m thẹn xóm thôi
Đông A dịch
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:43 PM
II
Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng
Giang nam giang bắc nhất nang không
Bách niên cùng tử văn chương lư
Lục xích phù sinh thiên địa trung
Vạn lư hoàng quan tương mộ cảnh
Nhất đầu bạch phát tản tây phong
Vô cùng kim cổ thương tâm xứ
Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng
Thanh Hiên thi tập
Chân bước vô căn tựa cỏ bồng
Rỗng không một túi bắc nam sông
Trăm năm chết giữa văn chương kiếp
Sáu thước sinh trong trời đất không
Vạn dặm mũ vàng chiều bóng xế
Mái đầu tóc bạc gió tây tung
Thương tâm kim cổ bao câu chuyện
Chiều nhuốm non xanh vẫn sắc hồng
Đông A dịch
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:45 PM
Mộ xuân mạn hứng
Nhất niên xuân sắc cửu thập nhật,
Phao trịch xuân quang thù khả liên.
Phù thế công danh khan điểu quá,
Nhàn đ́nh tiết tự đăi oanh thiên.
Trắc thân bất xuất hữu h́nh ngoại,
Thiên tuế trường ưu vị tử tiền.
Phù lợi vinh danh chung nhất tán,
Hà như cập tảo học thần tiên.
Cảm hứng cuối xuân
Một năm chín chục ngày xuân
Thiều quang phung phí muôn phần tiếc thay
Công danh nh́n tựa chim bay
Ngoài sân thời tiết theo bầy oanh đi
Hữu h́nh thân chẳng thoát chi
Ngàn năm lo măi đến khi hết đời
Hăo huyền danh lợi tan thôi
Thần tiên theo học kịp thời hẳn hơn.
Đông A dịch
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:48 PM
Ngẫu thư công quán bích
I
Triêu san nhất vu phạn
Mộ dục nhất bồn thủy
Bế môn tạ tri giao
Khai song kiến kinh kỷ
Song ngoại kinh kỷ mạn thả trường
Mỹ nhân du du cách cao tường
Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ
Hồn hề quy lai bi cố hương.
II
Xương hạp môn tiền xuân sắc lan
Cách giang dao đối Ngự b́nh san
Xuân ṭng giang thượng lai hà xứ
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
Măn địa phồn thanh văn dạ vũ
Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn
Đào hoa mạc trượng Đông quân ư
Bàng hữu phong di tính tối toan.
I
Sớm ăn một bát cơm
Chiều tắm một thau nước
Cửa cài giă bạn quen
Song mở nh́n gai góc
Ngoài song gai góc loạn la đà
Người đẹp cách tường vời vợi xa
Một tiếng cuốc kêu xuân đă hết
Hồn ơi, về đi thương quê nhà.
II
Trước cửa cung vua xuân sắp tàn
Cách sông núi Ngự xếp b́nh loan
Xuân theo ḍng nước trôi đâu tá
Người mắc chân trời lụy chức quan
Rải đất đêm mưa nghe rả rích
Trên giường xuân lạnh quạnh trơ thân
Hoa đào chớ cậy chàng xuân quư
D́ gió hay ghen ở rất gần.
Đông A dịch
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:50 PM
Tân thu ngẫu hứng
Giang thành nhất ngọa duyệt tam chu,
Bắc vọng gia hương thiên tận đầu.
Lệ Thủy, Cẩm Sơn giai thị khách,
Bạch vân hồng thụ bất thăng thu.
Thử thân dĩ tác phàn lung vật,
Hà xứ trùng tầm hăn mạn du?
Mạc hướng thiên nhai thán luân lạc,
Hà nam kim thị đế vương châu.
Nam Trung Tạp Ngâm
Ngẫu hứng đầu thu
Giang Thành nằm đă trọn ba thu
Bắc ngóng quê hương tít mịt mù
Cẩm, Lệ non sông đều đất khách
Trắng, hồng mây cối đượm màu thu
Thân này chót đă giam lồng cũi
Chốn cũ t́m đâu thú lăng du
Lưu lạc chân trời thôi chớ oán
Bờ Nam nay thuộc đế vương khu.
Đông A dịch
Bach Van Phi
08-18-2002, 05:51 PM
Tạp ngâm
Đạp biến thiên nha hựu hải nha
Càn khôn tùy tại tức vi gia
B́nh sinh bất khởi thương dăng niệm
Kim cổ thùy đồng bạch nghĩ oa
Liêu lạc tràng tâm hư đoản kiếm
Tiêu điều lữ muộn đối thời ca
Bế môn bất kư xuân thâm thiển
Đăn kiến đường lê lạc tận hoa
Thanh Hiên thi tập
Tạp ngâm
Góc biển chân mây khắp chốn qua
Đến đâu trời đất cũng là nhà
B́nh sinh chẳng nghĩ ruồi xanh ư
Kim cổ ai cùng kiến trắng tha
Tịch mịch chí trai rầu đoản kiếm
Tiêu điều sầu lữ lắng thời ca
Then cài sớm muộn xuân nào biết
Chỉ thấy đường lê rụng hết hoa
Đông A dịch
Bach Van Phi
09-12-2002, 03:48 PM
THĂNG LONG
I.
Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan băo tử
Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung
(Bắc hành tạp lục)
Thăng Long
Núi Tản sông Lô vẫn núi sông
Bạc đầu c̣n được thấy Thăng Long
Ngh́n năm cự thất thành quan lộ
Một giải tân thành lấp cố cung
Người đẹp buổi xưa đều bế trẻ
Bạn chơi thưở nhỏ thảy thành ông
Thâu đêm chẳng ngủ ḷng thêm bận
Địch thổi trăng trong tiếng năo nùng
Quách Tấn dịch
Chú thích :
- Thăng Long : Từ đời Lư, kinh đô Việt Nam đóng tại Thăng Long. Thăng Long nghĩa đen là rồng hiện lên. Đến đời Nguyễn, Gia Long đóng đô tại Huế, và đổi chữ LONG là rồng ra chữ LONG là thịnh vượng. Nhưng trong văn thơ, cổ nhân vẫn viết chữ Long là rồng.
- Bạch đầu : Nguyễn Du mới ba mươi tuổi đă bạc đầu. Nhưng chữ bạch đầu này dùng để nói tuổi già. Bởi Nguyễn Du rời Thăng Long lúc nhà Lê mất (1789). Lúc ấy Nguyễn Du mới 25 tuổi. Đến khi Gia Long lên ngôi (1802) Nguyễn Du từ Hà Tĩnh ra Thăng Long làm quan. Lúc ấy Nguyễn Du 37 tuổi. Đến khi vâng mệnh đi sứ Trung Hoa (1813), Nguyễn Du đến Thăng Long một lần nữa. Bài thơ này làm lúc ra Thăng Long để sang Trung Quốc. Lúc đó Nguyễn Du đă gần ngũ tuần. Cho nên mới nói Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.
Bach Van Phi
09-12-2002, 03:53 PM
THĂNG LONG
II.
Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quí cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh
(Bắc Hành Tạp Lục )
Thăng Long
Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ
Thăng Long ngh́n trước chốn kinh đô
Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa
Điệu mới xô bồ nhịp trúc tơ
Danh lợi mồi ngon đua cướp giựt
Bạn bằng lớp trước sống lơ thơ
Nổi ch́m thế sự đừng than nữa
Mái tóc ḿnh đây cũng bạc phơ
Quách Tấn dịch
Chú thích :
Tân thành : Thành mới. Năm Gia Long thứ tư (1805), nhà vua hạ lệnh phá thành Thăng Long cũ và xây lại thành mới nhỏ hơn, với mục đích thay cũ đổi mới.
Bach Van Phi
09-12-2002, 03:56 PM
NGÔ GIA ĐỆ CỰU CA CƠ
Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc qui lai kỷ cá tri
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy
Đoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả liên do trước khứ thời y
(Bắc Hành Tạp Lục )
Gặp người ca cơ cũ của em
Loạn rồi nhân vật đổi thay,
Phồn hoa chốn cũ ai hay hạc về.
Áo hường tưởng dạng cung Nghê,
Tiếng ca uyển chuyển từng nghe những ngàỵ
Tuổi già gặp lại nhau đây,
Bước đường lưu lạc lệ đầy thương đaụ
Đă đành nước đổ khôn thâu,
Than ôi ! Ngó đứt dễ dầu dứt tơ !
Có chồng đă mấy con thơ,
Áo hường ngày cũ bây giờ c̣n mang !
Quách Tấn dịch
Chú thích :
- Gia đệ : Đây là chỉ người em cùng mẹ là Nguyễn Úc được tập ấm là Hoàng Tín đại phu Trung Thành Môn Vệ Úy. Năm Kỷ Dậu (1789) vua Chiêu Thống chạy sang Tàu, Nguyễn Úc chạy theo không kịp, về ngụ nơi quê vợ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Năm Tân Vị (1811), Gia Long nghe ông có tài khéo, xuống chiếu triệu vào kinh, bổ làm Thiêm Sự bộ Công, tước Hầu. Những miếu điện ở kinh thành đều do ông sáng chế kiểu thức.
- Huyền hạc : Hạc đen. Truyền rằng hạc vốn sắc trắng, tu ngh́n năm thành sắc vàng, tu ngh́n năm nữa ra sắc đen. Câu này tác giả nói ḿnh : Xa Thăng Long lâu ngày, trở lại ít người biết.
- Hồng tụ : Tay áo hồng. Người ca nữ sang trọng thường mặc áo hồng rộng tay để múa cho đẹp.
- Phúc bồn : Chậu nước đổ. Tục có câu : "Phúc thủy nan thâu" nghĩa là nước đổ rồi khó hốt lên được. Ư nói là người ca cơ đă xa em ḿnh rồi không sao tụ hợp đuợc nữa
Bach Van Phi
09-12-2002, 04:00 PM
Quỷ Môn Quan
Liên phong cao sáp nhập thanh vân
Năm bắc quan đầu tựu thử phân
Như thử hữu danh sinh tử địa
Khả liên vô số khứ lai nhân
Tắc đồ tùng măng tàng xà hổ
Bố dă yên lam tụ quỉ thần
Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt
Kỳ công hà thủ Hán Tướng quân
(Bắc Hành tạp lục)
Quỉ Môn quan
Dịch núi giăng giăng cao tựa mây
Cửa chia nam bắc chính là đây
Tử sinh có tiếng nơi nguy thế
Qua lại bao người, chuyện xót thay
Bụi rậm đầy đường hùm rắn núp
Khói mây khắp chốn quỷ ma đầy
Ngàn thu gió lạnh phơi xương trắng
Công cán khen ǵ tướng Hán hay
(khuyết danh)
Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây
Ải chia Nam Bắc chính là đây
Tử sanh tiếng đă vang đồng chợ
Qua lại người không ngớt tháng ngày
Thấp thoáng quỉ đầu nương bóng khói
Rập ŕnh cọp rắn núp rừng cây
Bên đường gió lạnh luồng xương trắng
Hán tướng công ǵ kể bấy nay ?
Quách Tấn dịch
Chú thích :
- Quỉ Môn quan : Ở phía Nam xă chi lăng tỉnh Lạng Sơn. Địa thế hiểm trở. Có núi h́nh như đầu quỉ. Do đó mà mệnh danh là Quỉ Môn quan. Cổ thi có câu :
Quỉ Môn quan ! Quỉ Môn quan !
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn
Người Việt đi sứ Trung Quốc có câu :
Rạng ngày đến Quỉ Môn quan
Tiếng xưa "thập khứ nhất hoàn' là đây
- Hán Tướng quân : Chỉ Mă Viện. Mă Viện đem quân đánh hai bà Trưng, tuy đắc thắng nhưng quân lính chết dọc đường không biết bao nhiêu. Như thế có ǵ là chiến công đắng khen ngợi. Cũng có ư nói : Kỳ công của tướng quân nhà Hán không có chi hơn là "đống xương trong gió lạnh bên đường ".
Bach Van Phi
09-12-2002, 04:37 PM
Lạng Thành đạo trung
Quần phong dũng lăng thạch minh đào
Giao hữu u cung, quyên hữu sào
Tuyền thủy hợp lưu giang thủy khoát
Tử sơn bất cập Mẫu sơn cao
Đoàn thành vân thạch tịch tương hậu
Hồng Lĩnh thân bằng nhật tiệm dao
Quái đắc nhu t́nh khinh cát đoạn
Khuông trung huề hữu bút như đao
(Bắc Hành tạp lục)
Trên Đường Đi Lạng Thành
Núi trập trùng, sóng kêu trên đá
Tổ nương chim, hang đă có rồng
Suối gom ḍng nhỏ thành sông
Núi con đọ núi Mẹ không cao bằng
Chiều Lạng Sơn, mây giăng đá ngóng
Hồng Lĩnh thân sao chóng cách xa
Lạ chưa, dứt nhẹ t́nh nhà
Đoạn sầu ngọn bút theo ta bạn đường
Chú thích :
- Lạng Thành : Thành Lạng Sơn
- Mẫu sơn : Công Mẫu sơn, ngọn núi cao nhất ở huyên Lộc B́nh, tỉnh Lạng Sơn, giáp giới Trung quốc.
- Đoàn Thành : Thành Lạng Sơn
Bach Van Phi
09-12-2002, 04:40 PM
Lưu biệt cựu khế Hoàng
Táp niên cố hữu trùng phùng nhật
Vạn lư tiền đồ nhất xúc sơ
Đạo lộ nhật lai t́nh vị cánh
Vân sơn biệt hậu ư hà như
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
Lăo hỷ toàn thân bách chiến dư
Tha nhật Nam qui tương hội phỏng
Lục Đầu giang thượng hữu tiều ngư
(Bắc hành tạp lục)
Chú thích :
- Cựu khế Hoàng : Bạn cũ họ Hoàng. Có lẽ là một vơ tướng (bách chiến dư).
- Lục Đầu giang : Sông Lục Đầu.
Từ biệt bạn cũ họ Hoàng
Ba mươi năm cũ gặp đây
Lên đường vạn dặm cũng ngày tôi đi
T́nh thâm ơi, biết nói ǵ
Núi mây ly biệt ư th́ ra sao ?
Muôn trùng quan ải tay chào
Mừng người bách chiến không sao tuổi già
Về Nam mai mốt lân la
Lục Đầu bến nước hỏi tra ngư tiều
Bach Van Phi
09-12-2002, 04:58 PM
Nam Quan đạo trung
Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan
Vạn lư đan xa độ Hán quan
Nhất lộ giai lai duy bạch phát
Nhị tuần sở kiến đăn thanh san
Quân ân tự hải hào vô báo
Xuân vũ như cao cốt tự hàn
Vượng đạo đăng b́nh hưu vấn tấn
Minh Giang bắc thượng thị Trường An
(Bắc hành tạp lục)
Trên đường Nam Quan
Tầng mây năm sắc chiếu vua ban
Muôn dặm xe đơn vượt Hán quan
Một mạch đường dài trơ tóc bạc
Hai mươi ngày mỏi rặt non xanh
Mưa xuân như mỡ, xương thêm buốt
Ơn nước bằng trời, nợ nặng mang
Rộng phẳng đường vua thôi thắc mắc
Minh Giang lên bắc ấy Trường An
Chú thích :
- Nam Quan : Tên một cửa ải ở biên giới Việt-Trung từ tỉnh Lạng Sơn sang tỉnh Quảng Tây.
- Ngọc thư : Sắc chiếu nhà vua
- Ngũ vân đoan : Từng mây năm sắc, chỉ triều đ́nh.
- Hán quan : Cửa ải trên đường sang Trung quốc. Tức trấn Nam Quan.
- Nhị tuần : Hai mươi ngàỵ Ngày xưa, một tháng có ba tuần, mỗi tuần 10 ngàỵ
- Vương đạo : Đường của nhà vua. Ở đây chỉ đường đến Trường An, kinh đô Trung quốc.
- Minh Giang : Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Đông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.
- Trường An : Chỉ kinh đô nhà Thanh ở Yên Kinh (Bắc Kinh bây giờ).
Bach Van Phi
09-12-2002, 05:09 PM
Minh Giang chu phát
Tiêu cổ đông đông sơ xuất môn
Vạn sơn trung đoạn nhất sà bôn
Phù vân xạ tán thạch dung sấu
Tân lạo sơ sinh giang thủy hồn
Biệt hậu quan sơn tư đệ muội
Vọng trung nham tụ kiến nhi tôn
Nhật tà mạc hướng Hoa Sơn quá
Phạ hữu thanh thanh trường đoạn vôn (viên)
Thuyền ra đi trên sông Minh Giang
Chiêng trống tùng tùng ra cửa sông
Một thuyền lướt sóng giữa muôn trùng
Mây tan bất chợt hao gày núi
Nước lụt mới về vẩn đục ḍng
Dặm biệt, anh em đà tưởng nhớ
Đá chồng, con cháu cứ ngờ trông
Hoa Sơn chớ vượt khi chiều xế
Sợ vẳng bên tai vượn năo nùng
Chú thích :
- Minh Giang : Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Đông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa. Đoàn sứ Nguyễn Du đi theo sông này qua núi Hoa Sơn, thuộc tỉnh Quảng Tây, lên phía bắc.
Bach Van Phi
09-12-2002, 05:26 PM
Ninh Minh giang chu hành
Việt Tây sơn trung đa giản tuyền
Thiên niên hợp chú thành nhất xuyên
Tự cao nhi hạ như bát thiên
Than thượng hà sở văn ?
Ưng long kích nộ lôi điền điền
Than hạ hà sở kiến ?
Nỗ cơ kịch phát thỉ ly huyền
Nhất tả vạn lư vô đ́nh yên
Cao sơn giáp ngạn như tường viên
Trung hữu quái thạch sâm sâm nhiên
Hữu như long, xà, hổ, báo, ngưu, mă la kỳ tiền
Đại giả như ốc, tiểu như quyền
Cao giả như lập, đê như miên
Trực giả như tẩu, khúc như tuyền
Thiên h́nh vạn trạng nan tận ngôn
Giao ly xuất một thành trùng uyên
Dũng đào phún mạt nhật dạ tranh hôi huyền
Hạ lạo sơ trướng phí như tiên
Nhất hành tam nhật tâm huyền huyền
Tâm huyền huyền đa sở úy
Nguy hồ đăi tai cốt một vô để
Cộng đạo Trung Hoa lộ thản b́nh
Trung Hoa đạo trung phù như thị
Oa bàn khuất khúc tự nhân tâm
Nguy vong khuynh phúc giai thiên ư
Cao tài mỗi vị văn chương đố
Nhân nhục tối vi ly mị hỷ
Phong ba na đắc tận năng b́nh
Trung tín đáo đầu vô túc thị
Bất tín "xuất môn giai úy đồ"
Thí vọng thao thao thử giang thủy
(Bắc hành tạp lục)
Chú thích :
- Ninh Minh Giang : Sông chảy qua Ninh Minh.
- Trung Tín : Đường Giới đời Tống B́nh có câu : B́nh sinh thượng trung tín, Kim nhật nhiệm phong ba (mỗi ngày giữ trung tín, hôm nay không sợ sóng gió).
Đi thuyền trên sông Ninh Minh
Núi Việt Tây có nhiều khe suối
Bao nhiêu năm tụ hội thành sông
Trời cao đổ xuống đùng đùng
Từ trên thác tựa như rồng nổi cơn
Nghe như thể ầm ầm sấm nổ
Vuột khỏi dây tên nỏ bật tung
Một ḍng vạn dặm không ngừng
Bên bờ núi dựng như tường chênh vênh
Ở trong nước đá h́nh quái lạ
Như rắn, rồng, hổ, báo, trâu, ngựa liệt la
Nhỏ tay nắm, lớn như nhà
Cao như đứng, thấp như là ngủ say
Cong như xoay, thẳng như đuổi chạy
Muôn vẻ kỳ nói mấy cho vừa
Thuồng luồng vực thẳm ghê chưa
Ngày đêm ầm ĩ sóng đùa bọt phun
Lụt mùa hè nước dâng sôi sục
Đi ba ngày một mạch, chơi vơi
Chơi vơi v́ sợ ai ơi
Nước sâu không đáy đi đời nhà ma
Mọi người nói Trung Hoa bằng phẳng
Đường Trung Hoa thật chẳng ai ngờ
Như ḷng người lắm quanh co
Nguy vong nghiêng đổ đều do ư trời
Văn chương đời tài cao hay ghét
Thịt người ma quỷ thích vô cùng
Làm sao yên lặng băo bùng
Giữ trung tín mấy cũng không đủ nhờ
Không tin "ra cửa, nguy cơ"
Nh́n sông cuồn cuộn đó ngờ nữa thôi !
Bach Van Phi
09-12-2002, 05:28 PM
Vọng Quan Âm miếu
Y thùy tuyệt cảnh cấu đ́nh đài
Phạt tận tùng chi trụy hạc thai
Thạch huyệt hà niên sơ tạc phá
Kim thân tiền dạ khước phi lai
Đ́nh vân xứ xứ tăng miên định
Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai
Nhất chú đàn hương tiêu tuệ nghiệp
Hồi đầu dĩ cách vạn trùng nhai
(Bắc hành tạp lục)
Chú thích :
-Kim thân : Ḿnh vàng, chỉ tượng Phật.
- Phi lai : Do chữ ‘phi lai thạch‘. Lấy tích chùa Tương Sơn có ḥn đá bay đến thành Phật.
- Đàn hương : Hương làm bằng gỗ chiên đàn.
- Tuệ nghiệp : Nghiệp chướng do trí tuệ gây ra.
Trông miếu Quan Âm
Đ́nh đài ai dựng tận nơi đây
Trứng hạc rơi tùng chặt hết cây
Hang đá năm nào vừa đục phá
Tượng vàng đêm trước mới qua bay
Mây ngưng chốn chốn sư an giấc
Chiều rụng non non vượn oán ai
Đốt nén hương đàn tiêu tuệ nghiệp
Muôn trùng đă cách thoáng đầu quay
Vo^ Ta^m
10-02-2002, 01:03 AM
Cũng có kẻ vào sông ra bể ,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông ,
Gặp cơn giông tố giữa ḍng ,
Đêm thân vùi rập vào ḷng ḱnh nghê .
Cũng có kẻ đi về buôn bán ,
Đ̣n gánh tre chín dạn hai vai ,
Gặp cơn mưa nắng giữa trời ,
Hồn đường phách xá lạc loài nơi nao ?
Cũng có kẻ mắc vào khoá lính ,
Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan ,
Nước khe cơm ống gian nan ,
Dăi dầu ngh́n dặm , lầm than một đời .
Buổi chiến trận mạng người như rác ,
Phận đă đành đạn lạc tên rơi ,
Lập loè ngọn lửa ma chơi ,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương .
Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp ,
Liều tuổi xuân buôn nguyệt bán hoa ,
Ngẩn ngơ khi trở về già ,
Ai chồng con tá biết là cậy ai ?
Sống đă chịu một đời phiền năo ,
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa ,
Đau đớn thay phận đàn bà ,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu ?
Cũng có kẻ nằm cầu gối đất ,
Dơi tháng ngày hành khất ngược xuôi ,
Thương thay cũng một kiếp người ,
Sống nhờ hàng xứ , chết vùi đường quan !
Cũng có kẻ mắc oan tù rạc ,
Gửi ḿnh vào chiếu rách một manh ,
Nắm xương chôn rập góc thành ,
Kiếp nào cởi được oan t́nh ấy đi ?
Ḱa những đứa tiểu nhi tấm bé ,
Lỗi giờ sinh ĺa mẹ ĺa cha ,
Lấy ai bồng bế vào ra ,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi ḷng .
Ḱa những kẻ ch́m sông lạc suối ,
Cũng có người sẩy cối sa cây ,
Có người leo giếng đứt dây ,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành .
Người th́ mắc sơn tinh thuỷ quái ,
Người th́ sa nanh khái ngà voi ,
Có người có đẻ không nuôi ,
Có người sa sẩy , có người khốn thương .
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước ,
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau ,
Mỗi người một nghiệp khác nhau ,
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ ?
Vo^ Ta^m
10-02-2002, 01:14 AM
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư ,
Độc điễu song tiền nhất chỉ thư .
Chi phấn hữu thần liên tử hậu ,
Văn chương vô mệnh luỹ phần dư .
Cổ kim hận sự thiên niên vấn ,
Phong vận ḱ oan ngă tử tư .
Bất chi tam bách dư niên hậu ,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?
Đọc tập " Tiểu Thanh Kí "
Tây Hồ cảnh đẹp hoá g̣ hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn .
Son phấn có thần chôn vẫn hận ,
Văn chương không mênh đốt c̣n vương .
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi ,
Cái án phong lưu khách tự mang .
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa ,
Người đời ai khóc Tố Như chăng ?
Co Kiem Hung
03-27-2004, 09:47 PM
Nguyễn Du
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (ngày 3 tháng 1 năm 1766). Quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng ông ra đời ở Thăng Long, trong một gia đ́nh đại qúy tộc, nhiều đời làm quan và có nhiều người sáng tác văn học.
Cha ông là Nguyễn Nghiễm, từng giữ chức Tể tướng triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm. Bà xuất thân trong một gia đ́nh b́nh thường, giỏi việc hát xướng và trẻ hơn chồng 32 tuổị
Từ lúc ra đời cho đến năm 10 tuổi, Nguyễn Du sống hết sức sung túc. Đến năm 10 tuổi, cha mất; hai năm sau mẹ mất. Bốn anh em cùng mẹ với Nguyễn Du chưa ai đến tuổi trưởng thành, phải đến sống nhờ ở nhà người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản, lớn hơn Nguyễn Du 32 tuổi, bấy giờ đang làm quan to trong triềụ Nhưng nhà Nguyễn Khản cũng không yên, Nguyễn Khăn bị kiêu binh, ghét nên khi ông được chúa Trịnh cử làm Tham tụng th́ họ kéo đến phá tan nhà của ông và toan giết chết ông. Nguyễn Khăn bỏ chạy lên Sơn Tây rồi chạy về Hà Tĩnh. Thời gian này Nguyễn Du c̣n nhỏ tuổi vẫn tiếp tục đi học. Năm 1783, 18 tuổi Nguyễn Du đi thi hương đậu tam trườ`ng, sau đó không rơ v́ lẽ ǵ không thấy ông học lên nữa, mà đi nhận một chức quan vơ ở Thái Nguyễn, kế chân người cha nuôi của ông vừa mới từ trần.
Khoảng 30 năm cuối thế kỷ XVIII đất nước ta hết sức rối ren, triều đ́nh Lê - Trịnh có nguy cơ sụp đổ, nên Lê Chiêu Thống cử người sang cầu cứu nhà Thanh. Nhà Thanh nhân cơ hội ấy đem quân sang xâm chiếm nước tạ Năm 1789, Nguyễn Huệ trong Nam kéo quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh. Lê Chiêu Thống cùng một số quan lại triều đ́nh bỏ nước chạy theo quân xâm lược sang Trung Quốc. Ba anh em cùng mẹ với Nguyễn Du chạy theo Lê Chiêu Thống không kịp. Nguyễn Du bỏ về quê vợ ở Thái B́nh, ông vẫn nơm nớp lo sợ bị nhà Tây Sơn trả thù, nên sống trốn tránh. Sau đó ông bỏ về Tiên Điền sống một thời gian dài cho đến năm 1802, Gia Long lật đổ nhà Tây Sơn. Suốt thời gian ở Thái B́nh cũng như khi về Hà Tĩnh, Nguyễn Du sống long đong, vất vả. Nhiều lần ông phải ăn ở nhờ nhà người khác, có lúc ốm không có thuốc uống. Tập thơ chữ Hán Thanh Hiên thi tập (Thanh Hiên là hiệu của Nguyễn Du) được Nguyễn Du viết chủ yếu trong những năm tháng nàỵ
Tháng 8 năm 1802, Gia Long có chiếu bổ nhiệm Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung rồi thăng Tri phủ Thường Tín. Nguyễn Du không muốn ra làm quan, nhưng nhiều lần triều đ́nh mời gọi, bất đắc dĩ phải rạ Sau khi làm Tri phủ Thường Tín, ông được cử lên cửa Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc, lúc về được điều vào Phú Xuân, sau đó được cử làm Cai bạ tỉnh Quảng B́nh. Đây là giai đoạn ông viết tập thơ Nam trung tạp ngâm (Nam trung là chỉ miền Nam). Truyện Kiều của ông cũng có thể được viết trong thời gian nàỵ
Năm 1813, Nguyễn Du được thăng chức Học sĩ điện Cần chánh và được cử làm Chánh sứ, cầm đầu một phái đoàn của ta đi Trung Quốc. Trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đă viết tập Bắc hành tạp lục (bác hành là đi lên phía bắc, nói chuyện đi sứ Trung Quốc). Đây là tập thơ chữ Hán xuất sắc nhất của ông. Sau khi về nước, Nguyễn Du được thăng làm Tham tri bộ Lễ. Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, định cử Nguyễn Du làm Chánh sứ đi Trung Quốc lần nữa, nhưng chưa kịp đi th́ ông mất đột ngột ngày 10 tháng 8 năm Canh Th́n (18/9/1820) trong một trận dịch rất lớn. Những năm làm quan cho triều Nguyễn, Nguyễn Du thường ốm đau, bệnh tật; cuộc sống có nhiều khó khăn. Giai đoạn cuối đời h́nh như ông ít sáng tác. Ngoài bài Văn chiêu hồn (c̣n có tên Văn tế thập loại chúng sinh) là một bài thơ dài chữ Nôm viết bằng thể song thất lục bát, không thấy ông có tác phẩm nào để lạị
Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc. Có thể nói toàn bộ tác phẩm của ông, chữ Hán cũng như chữ Nôm, chan chứa một t́nh yêu thương bao la đối với con người, đặc biệt là người phụ nữ. Không phải chỉ trong Truyện Kiều, mà trong Thơ chữ Hán và trong Văn chiêu hồn của ông, t́nh thương ấy cũng tràn ngập. Trong thơ chữ Hán của ông, những bài vào loại hay nhất là những bài ông viết về những con người bất hạnh như Thái B́nh mại ca giả (Người hát rong ở thành Thái B́nh) viết về một ông già mù đi hát rong để kiếm ăn; Hà Nam đạo trung khốc thử (Nắng dữ trên đường đi ở Hà Nam) viết về một ông già khác kéo xe giữa một buổi trưa trời nắng gắt; Sở kiến hành (Bài hành về những điều trông thấy) viết về bốn mẹ con một người đi ăn xin sắp chết đói; Trở binh hành (Bài hành về việc binh đao làm nghẽn đường) viết về những người nông dân chết đói ở Hà Nam... Đặc biệt những bài Long Thành cầm giả ca (Bài ca người gảy đàn ở Long Thành), Điếu La Thành ca giả (Viếng người ca nữ đất La Thành), Độc Tiểu Thanh kí (Đọc tập Tiểu Thanh kí)... ông viết về những người phụ nữ bất hạnh hết sức xúc động trong Văn chiêu hồn, những câu thơ hay nhất của ông cũng là những câu viết về cô gái làm nghề mại dâm, về người buôn thúng bán gánh, về trẻ em, về người đi ăn xin... Nguyễn Du tha thiết mong cho con người được sống hạnh phúc, được tôn trọng, và ông cực lực tố cáo tất cả những ǵ là bất công, ngang trái chà đạp con ngườị Về phương diện nghệ thuật, với Truyện Kiều, Nguyễn Du xứng đáng là một bậc thầy của ngôn ngữ văn học dân tộc. Nguyễn Du đă nâng ngôn ngữ văn học dân tộc và cùng với nó ông đă nâng thể loại truyện thơ lục bát lên một đỉnh cao chói lọị Năm 1965, Hội đồng ḥa b́nh thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm năm sinh của nhà thơ trên toàn thế giớị Đó là một biểu hiện sự xác nhận công lao đóng góp của nhà thơ cho dân tộc và nhân loại .
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:09 AM
Lưu biệt cựu khế Hoàng
Tạp niên cố hữu trùng phùng nhật
Vạn lư tiền đồ nhất xúc sơ
Đạo lộ nhật lai t́nh vị cánh
Vân sơn biệt hậu ư hà như
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
Lăo hỹ toàn thân bách chiến dư
Tha nhật nam quy tương hội phỏng
Lục Đầu giang thượng hữu tiều ngư.
Nguyễn Du
Dịch nghĩa: Từ biệt bạn cũ họ Hoàng
Ngày gặp lại người bạn cũ ba mươi năm về trước
Cũng là ngày tôi lên đường đi vạn dặm
Chưa kể hết những nỗi dọc đường những ngày gần đây
Ở giữa núi mây, sau khi từ giă, ư bạn ra sao?
Buồn biết bao cảnh chia tay ngoài quan ải
Già mừng c̣n được toàn thân dù đă từng trăm trận đánh
Mai này trở về Nam, gặp lại muốn hỏi thăm nhau.
Chắc bấy giờ trên sông Lục Đầu, bạn sẽ là một bác tiều phu, hay người đánh cá
Dịch thơ: Từ biệt bạn cũ họ Hoàng
Ba mươi năm cũ gặp đây,
Lên đường vạn dặm cũng ngày tôi đi.
T́nh thâm ơi, biết nói ǵ,
Núi mây ly biệt ư th́ ra sao?
Muôn trùng quan ải tay chào,
Mừng người bách chiến không sao tuổi già.
Về Nam mai mốt lân la,
Lục Đầu bến nước hỏi tra ngư tiều.
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:16 AM
BHTL018 Văn há Đại Than, tân lạo bao trướng, chư hiểm câu thất
Ngân hà tạc dạ tự thiên khuynh
Giang thủy mang mang giang ngạn b́nh
Vị tín quỉ thần năng tướng hựu
Tẫn giao long hổ thất tinh linh
B́nh cư bất hội giảng trung tín
Đáo xứ vô phương tề tử sinh
Cánh hữu hiểm hy nhiêu thập bội
Ngô tương hà dĩ khấu thần minh
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Thuyền xuôi ghềnh Đại Than, nước lũ dâng cao, ngập cả những chỗ hiểm trở
Đêm qua sông Ngân từ trời đổ xuống
Nước sông mênh mông, bờ sông ngập bằng
Chưa tin quỉ thần có thể giúp được ǵ
Ngay cả rồng cọp cũng hết linh thiêng
Ngày thường không thấu hiểu hai chữ "trung tín"
Th́ đến đâu cũng không giải quyết được vấn đề "sống và chết"
Trên đường đi, sau này c̣n có chỗ hiểm nguy gấp mười
Ta sẽ lấy ǵ để cầu xin với thần minh?
Dịch Thơ:
Thuyền xuôi ghềnh Đại Than, nước lũ dâng cao, ngập cả những chỗ hiểm trở
Đêm trước sông Ngân đổ nước trời,
Bờ sông ngập phẳng, nước băng vời.
Quỉ thần phù hộ chưa tin được,
Rồng hổ linh thiêng mất cả rồi.
Trung tín ngày thường không giữ được,
Chết c̣n lúc đó phải đành thôi.
Hiểm nguy c̣n gấp mười phần nữa,
Muốn khấn thần minh, khó ngỏ lời.
Nguyễn Thạch Giang
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:20 AM
Chu hành tức sự
Tây Việt (1) sơn xuyên đa hiểm hi
Hành hành ṭng thử hướng thiên nhi (nhai)
Băng nhai quái thạch nộ tương hướng
Thủy điểu sa cầm hiệp bất phi
Thiên địa thiên chu phù tự diệp (2)
Văn chương tàn tức nhược như ti
Vị liên thượng quốc phong quang hảo
Quan tỏa hương t́nh vị phóng qui.
Dịch nghĩa: Đi thuyền hứng viết
Núi sông Tây Việt nhiều hiểm trở
Từ đây cứ đi về hướng chân trời
Bờ núi lở, đá h́nh quái dị giận dữ nh́n nhau
Chim nước chim băi cát dạn dĩ không bay
Chiếc thuyền con như chiếc là nổi giữa đất trời
Hơi tàn văn chương yếu ớt như sợi tơ
V́ yêu phong cảnh đẹp của thượng quốc
Nên khóa t́nh quê lại, chưa thả cho về
Dịch thơ: Đi thuyền hứng viết
Tây Việt non sông hiểm trở đầy,
Chân trời nhắm hướng kể từ đây.
Đá kỳ núi quái nh́n hung tợn,
Chim nước c̣ bờ ngó chẳng bay.
Trời đất mênh mông thuyền lá nổi,
Văn thơ thoi thóp sợi tơ lay,
Bởi yêu phong cảnh xứ người đẹp,
Khóa chặt t́nh quê chửa vút bay.
(1) Tây Việt: Vùng Quảng Tây 廣西.
(2) Phù tự diệp: Bùi Giáng dịch:
Thuyền con chiếc lá giữa trời,
'Thơ văn tiếng thở như lời tơ than.
'Trông vời hồng rụng ngổn ngang,
'T́m đâu chốn cũ muôn vàn dưới kia.
Hai câu đầu rút từ bài ‘Chu hành tức sự ‘, hai câu sau từ bài ‘Dương Phi cố lư'. (Xem Tố Như thi trích dịch, Quách Tấn, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995, trang b́a 2
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:25 AM
Thái B́nh mại ca giả
Thái B́nh cổ sư thô bố y
Tiểu nhi khiên văn hành giang mi
Vân thị thành ngoại lăo khất tử
Mại ca khất tiền cung thần xuy
Lân chu thời hữu hiếu âm giả
Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ
Thử thời thuyền trung ám vô đăng
Khí phạn bát thủy thù lang tạ
Mô sách dẫn thân hướng tọa ngung
Tái tam cử thủ xưng đa tạ
Thủ văn huyền sách khẩu tác thanh
Thả đàn thả ca vô tạm đ́nh
Thanh âm thù dị bất đắc biện
Đăn giác liêu lượng thù khả thinh
Chu tử tả tự vị dư đạo
Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành (1)
Quan giả thập số tịnh vô ngữ
Đăn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh
Khẩu phún bạch mạt, thủ toan súc
Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc
Đàn tận tâm lực cơ nhất canh
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục
Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai
Do thả hồi cố đảo đa phúc
Ngă sạ kiến chi, bi thả tân
Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần
Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn băo
Trung Hoa diệc hữu như thử nhân
Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ
Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ
Hành nhân băo thực tiện khí dư
Tàn hào lănh phạn trầm giang để.
Nguyễn Du
Dịch thơ: Người hát rong ở thành Thái B́nh
Ở phủ Thái B́nh có ông lăo,
Hai mắt mù mặc áo vải thô.
Nắm tay trẻ dắt ngoại ô,
Ven sông hát dạo lần ṃ kiếm ăn.
Thuyền bên có kẻ ham nghe hát,
Dẫn ông già xuống sát cửa thuyền.
Lúc này thuyền tối không đèn,
Cơm thừa canh cặn đổ tràn tứ tung.
Ḷ ḍ vô trong cùng, một góc,
Hai ba lần lóc ngóc cám ơn.
Miệng ca, tay nắn dây đàn,
Một hơi đàn hát chẳng lần nghỉ ngơi.
Thanh âm lạ, lẽ lời không hiểu,
Lắng nghe ra th́ điệu cũng hay.
Nhà thuyền viết chữ : "Khúc này"
"Thế Dân tranh đoạt quyền oai Kiến Thành".
Chục người xem mà đành phăng phắc,
Gió ru trăng vằng vặc trên sông.
Miệng sùi, tay mỏi lăo ông,
Cất đàn, ngồi lại, thưa rằng đă xong.
Gần một canh, hết ḷng hết sức,
Năm sáu đồng kiếm được thế thôi.
Đứa em dẫn khỏi thuyền rồi,
C̣n quay đầu lại gửi lời chúc may.
Chợt nh́n thấy cảnh này đau xót,
Phàm người ta chết tốt hơn nghèo.
Trung Hoa no ấm, nghe nhiều,
Trung Hoa cũng có người nghèo thế ư?
Ḱa không thấy sứ từ xa lại,
Gạo thịt đầy thuyền cái thuyền con.
Người ăn no ứ vẫn c̣n,
Đáy sông cơm ngọt món ngon đổ ch́m.
(1) Kiến Thành và Thế Dân: Con Đường Cao Tổ 唐高祖. Kiến Thành 建成 là Thái tử. Thế Dân 世民 lập mưu giết Kiến Thành, đoạt ngôi Thái Tử, sau thành vua Đường Thái Tông 唐太宗 (627-649).
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:31 AM
Sơn Đường dạ bạc
Ngọ mộng tỉnh lai văn
Tà nhật yểm song phi
Phong kính duy thuyền tảo
Sơn cao đắc nguyệt tŕ
Ỷ bồng thiên lư vọng
Hợp nhăn cách niên ti (tư)
Mạc cận thương nhai túc
Đề viên triệt dạ bi
Nguyễn Du
Dịch thơ: Đêm đậu thuyền ở Sơn Đường
Mộng trưa tỉnh giấc muộn
Bóng xế ngậm song tây
Gió mạnh neo thuyền sớm
Non cao ngắm trăng chầy
Dựa mui trông dặm trở
Chớp mắt nhớ năm đầy
Chớ ngủ gần bên núi
Thâu đêm vượn oán ai
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:35 AM
Thương Ngô tức sự (1)
Ngu Đế (2) nam tuần cánh bất hoàn
Nhị phi (3) sái lệ trúc thành ban
Du du trần tích thiên niên thượng
Lịch lịch quần thư nhất vọng gian
Tân lạo sơ thiêm tam xích thủy
Phù vân bất biện Cửu Nghi (4) san
Tầm thanh dao tạ t́ bà ngữ
Thiên lí thanh sam (5) bất nại toàn
Nguyễn Du
Dịch thơ: Tức cảnh ở Thương Ngô
Vua Ngu đi mất không về,
Trúc xanh đốm lệ hai phi khóc t́m.
Ngh́n năm cách biệt cổ kim,
Lật trang phương cảo nỗi niềm rưng rưng.
Lụt về ba thước triều dâng,
Mây mờ che phủ mấy tầng Cửu Nghi.
Xa nghe réo rắt tiếng t́,
Áo xanh từ tạ c̣n đi ngh́n trùng.
(1) Thương Ngô 蒼梧: Đất thuộc tỉnh Hồ Nam ngày nay.
(2) Ngu Đế 虞帝: Vua Thuấn 舜 đi tuần ở phương nam, chết ở núi Thương Ngô.
(3) Nhị phi 二妃: Chỉ hai bà phi của vua Thuấn, tức Nga Hoàng và Nữ Anh. Vua Thuấn đi tuần phương nam, chết ở Thương Ngô. Hai phi đi t́m, khóc nước mắt nhỏ xuống những cây trúc thành vết lốm đốm và tự trầm chết theo bên ḍng sông Tương.
(4) Cửu Nghi 九疑: Núi có chín ngọn cao ở huyện Ninh Viễn tỉnh Hồ Nam.
(5) Thanh sam 青衫: Trong "T́ bà hành" 琵琶行 có câu: Giang châu tư mă thanh sam thấp 江州司馬青衫濕 (Quan Tư mă Giang Châu khóc ướt vạt tràng áo xanh), Nguyễn Du dịch là : Sụt sùi giở nỗi đoạn tràng, Giọt châu tầm tă, đẫm tràng áo xanh.
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:38 AM
Phản Chiêu hồn (1)
Hồn hề! hồn hề! hồ bất qui?
Đông tây nam bắc vô sở y
Thướng thiên há địa giai bất khả
Yên, Dĩnh (2) thành trung lai hà vi?
Thành quách do thị, nhân dân phi
Trần ai cổn cổn ô nhân y.
Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa
Tọa đàm lập nghị giai Cao, Qú (3)
Bất lộ trảo nha dữ giác độc
Giảo tước nhân nhục cam như di!
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu
Chỉ hữu sấu tích, vô sung ph́
Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo
Tam Hoàng (4) chi hậu phi kỳ th́
Tảo liễm tinh thần phản Thái cực
Thận vật tái phản linh nhân xi
Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan (5)
Đại địa xứ xứ giai Mịch La (6)
Ngư long bất thực, sài hổ thực
Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà?
Nguyễn Du
Dịch nghĩa: Chống lại bài Chiêu hồn
Hồn ơi! hồn ơi! sao chẳng về?
Đông tây nam bắc không chốn nương tựa
Lên trời xuống đất đều không được
C̣n trở về thành Yên thành Sính làm ǵ?
Thành quách c̣n đây, nhân dân đă khác
Bụi bặm mù bay làm dơ bẩn quần áo
Ra ngoài th́ ruổi xe, vào nhà ngồi chễm chệ
Đứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Qú
Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc
Mà cắn xé thịt người ngọt xớt
Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam
Chỉ có người gầy g̣, không ai béo tốt
Hồn ơi! hồn ơi! nếu cứ noi theo lối đó
Th́ sau Tam Hoàng không hợp thời nữa
Hăy sớm thu góp tinh thần trở lại Thái Cực
Đừng trở lại đây nữa để người ta mai mỉa
Đời sau đều là Thượng Quan
Khắp mặt đất đều là sông Mịch La
Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt
Hồn ơi! hồn ơi! hồn làm sao đây?
Dịch thơ: Chống lại bài Chiêu hồn
Hồn ơi! sao chẳng trở về?
Đông tây nam bắc chở che chốn nào?
Dù đất thấp trời cao chẳng ổn,
Yên, Dĩnh đành lạc lơng như nhau.
Thành đây, dân cũ c̣n đâu,
Bụi đời mù mịt dơ màu áo xưa.
Ra xe đưa, vào ngồi chễm chệ,
Bàn bạc xem ra vẻ hiền thần.
Vuốt nanh, nọc độc chứa ngầm,
Thịt người cắn xé như đường nuốt ngon!
Hồ Nam kia thấy không trăm xóm,
Toàn những người gầy ốm xanh xao.
Hồn ơi! lối ấy theo nhau,
Đời Tam Hoàng trước lấy đâu hợp thời.
Thu tinh thần về nơi Thái cực,
Chớ về đây người chực mỉa mai.
Thượng quan thời buổi ai ai,
Khắp trên đất rộng sông dài: Mịch La!
Cá rồng nuốt, sói hùm tha,
Hồn ơi! hồn hỡi! hồn mà làm sao?
(1) Phản Chiêu hồn: Tên một bài từ của Tống Ngọc 宋玉 để gọi hồn Khuất Nguyên 屈原.
(2) Yên, Dĩnh: Tên hai thành nước Sở, thời Chiến Quốc 戰國 (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc 湖北).
(3) Cao, Qú: Tên hai bậc hiền thần đời Ngu Thuấn 虞舜.
(4) Tam Hoàng: Chỉ Phục Hy 伏羲, Nữ Oa女媧 và Thần Nông, ba vị vua cổ nhất của Trung Quốc.
(5) Thượng quan: Tức Thượng quan Ngân Thượng, người dèm pha Khuất Nguyên 屈原 với Sở Hoài Vương 楚懷王.
(6) Mịch La: Khúc sông hợp lưu của hai sông Mịch và La. Nay ở phía bắc huyện Tương Âm 湘陰, tỉnh Hồ Nam 湖南. Sau người ta c̣n gọi là Khuất Đàm (V́ Khuất Nguyên tự trầm ở đây).
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:42 AM
Lỗi Dương (1) Đỗ Thiếu Lăng (2) mộ (I)
Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư)
B́nh sinh bội phục vị thường ly
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ
Thu phố ngư long hữu sở ti (3) (tư)
Dị đại tương liên không sái lệ
Nhất cùng chí thử khởi công thi (4)?
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị?
Địa hạ vô linh quỉ bối xuy.
Nguyễn Du
Dịch nghĩa: Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương (I)
Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời
B́nh sinh bái phục không lúc nào ngớt
Cây tùng cây bá ở Lỗi Dương, không biết ở nơi nào?
Cá rồng trong bến thu, c̣n có chỗ để tưởng nhớ
Ở hai thời đại khác nhau, thương nhau, luống lơi lệ
Cùng khổ đến thế há phải bởi tại thơ hay?
Chứng bệnh lắc đầu ngày trước, bây giờ đă khỏi chưa?
Dưới địa phủ đừng để cho lũ quỉ cười
Dịch thơ: Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương (I)
Thơ thiên cổ cũng thầy thiên cổ,
Vốn một ḷng ngưỡng mộ bấy nay.
Lỗi Dương tùng bá đâu đây?
Cá rồng thu lạnh sông đầy nhớ thương,
Há văn chương lụy người đến thế?
Chạnh ngh́n xưa ḍng lệ khôn ngăn,
Lắc đầu bệnh cũ c̣n chăng?
Suối vàng chớ để mấy thằng quỉ trêu.
Quách Tấn dịch
(1) Lỗi Dương: ở tỉnh Hồ Nam. Năm Đại Lịch thứ 6 (771) đời vua Đường Đại Tôn 唐文宗, Đỗ Phủ ở Hồ Nam lưu lạc đến Hồ Bắc. Một hôm đến huyện Lỗi Dương lên núi yết Nhạc miếu, bị nước lụt dâng ngót 10 hôm không trở về được. Quan huyện Lỗi Dương nghe tin bèn thân hành đưa thuyền đến đón. Về đến huyện, Đỗ uống rượu say rồi mất. Gia đ́nh nghèo không đưa hài cốt về quê được phải táng ở Lỗi Dương. Bốn mươi năm sau (813) cháu là Đỗ Tự Nghiệp mới dời di hài về chôn gần mả tổ tại núi Thú Dương, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Du sang sứ Trung Quốc năm 1813, tức là một ngh́n năm sau khi mả của Đỗ Phủ đă dời về núi Thú Dương. Cho nên không c̣n ai biết nền cũ nằm ở chỗ nào.
(2) Đỗ Thiếu Lăng: chỉ Đỗ Phủ 杜甫 (712-770), một thi bá đời Thịnh Đường. V́ có nhà ở đất Thiếu Lăng 少陵, phía nam Trường An 長安, tỉnh Thiểm Tây 陝西 nên có biệt hiệu là Thiếu Lăng.
(3) Hữu sở ti: trong bài "Thu hứng 秋興 (số 4)" của Đỗ Phủ có câu: Ngư long tịch mịch thu giang lănh, Cố quốc b́nh cư hữu sở ti 魚龍寂寞秋江冷, 故國平居有所思 nghĩa là: 'Cá rồng vắng vẻ sông thu lạnh, Thong thả ḷng thêm nhớ cố hương'. Nguyễn Du đă đúc hai câu làm một, vừa để nói lên nỗi ḷng của Đỗ Phủ ngày xưa, vừa tỏ tấm t́nh của ḿnh khi đến viếng mộ: Mộ tuy không c̣n thấy, nhưng vẫn c̣n có chỗ để gởi ḷng kính thương kính mộ là những áng thơ tuyệt tác như câu 'Ngư long ...'
(4) Công thi: câu này vừa khóc Đỗ Phủ vừa than nỗi ḿnh
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:47 AM
Lỗi Dương (1) Đỗ Thiếu Lăng (2) mộ (II)
Mỗi độc nho quan đa ngộ thân (3)
Thiên niên nhất khốc Đỗ Lăng nhân
Văn chương quang diệm thành hà dụng
Nam nữ thân ngâm (4) bất khả văn
Cộng tiển thi danh sư bách thế
Độc bi dị vực kư cô phần (5)
Biên chu giang thượng đa thu tứ
Trướng vọng Lỗi Dương nhật mộ vân.
Nguyễn Du
Dịch thơ: Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương (II)
Mỗi lần đọc 'Mũ nho thân lụy',
Lại khóc thương người cũ Đỗ Lăng.
Ích ǵ ngời sáng thơ văn,
Bầy con kêu đói sao đành ḷng đây?
Ai cũng khen thơ thầy muôn thuở,
Riêng ta thương phần mộ đ́u hiu.
Thuyền sông thu nhớ thêm nhiều,
Buồn trông theo đám mây chiều Lỗi Dương.
(1) Lỗi Dương: ở tỉnh Hồ Nam. Năm Đại Lịch thứ 6 (771) đời vua Đường Đại Tôn 唐文宗, Đỗ Phủ ở Hồ Nam lưu lạc đến Hồ Bắc. Một hôm đến huyện Lỗi Dương lên núi yết Nhạc miếu, bị nước lụt dâng ngót 10 hôm không trở về được. Quan huyện Lỗi Dương nghe tin bèn thân hành đưa thuyền đến đón. Về đến huyện, Đỗ uống rượu say rồi mất. Gia đ́nh nghèo không đưa hài cốt về quê được phải táng ở Lỗi Dương. Bốn mươi năm sau (813) cháu là Đỗ Tự Nghiệp mới dời di hài về chôn gần mả tổ tại núi Thú Dương, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Du sang sứ Trung Quốc năm 1813, tức là một ngh́n năm sau khi mả của Đỗ Phủ đă dời về núi Thú Dương. Cho nên không c̣n ai biết nền cũ nằm ở chỗ nào.
(2) Đỗ Thiếu Lăng: chỉ Đỗ Phủ 杜甫 (712-770), một thi bá đời Thịnh Đường. V́ có nhà ở đất Thiếu Lăng 少陵, phía nam Trường An 長安, tỉnh Thiểm Tây 陝西 nên có biệt hiệu là Thiếu Lăng.
(3) Nho quan đa ngộ thân: đây là một câu thơ trong bài 'Phụng tặng Vi Tả thừa trượng thập nhị vận' của Đỗ Phủ.
(4) Nam nữ thân ngâm: trong bài 'Càn Nguyên trung ngụ Đồng Cốc huyện tác ca thất thủ' (Năm Càn Nguyên ở huyện Đồng Cốc, làm bảy bài ca) có đoạn tả cảnh mùa đông, Đỗ Phủ đầu bạc tóc rối đi đào khoai rừng. Nhưng tuyết xuống nhiều quá, phải về không: 'Nam nữ thân ngâm tứ bích tịch' (Con trai gái kêu đói, bốn vách lặng ngắt). Nguyễn Du, trong tập "Nam Trung tạp ngâm" 南中雜吟, bài "Ngẫu đề" 偶題 có một câu tương tự: Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc 十口啼饑橫北. Quách Tấn dịch là: 'Mười miệng đ̣i cơm ngoài cơi bắc' (Tố Như thi, Quách Tấn trích dịch, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995, trang 140).
(5) Kư cô phần: xem chú thích (1).
Co Kiem Hung
03-28-2004, 12:51 AM
Tín Dương (1) tức sự
Hà Nam thủ Tín Dương
Thiên hạ thử trung ương (2)
Phiến thạch tồn Thân (3) quốc
Trùng sơn hạn Sở cương
Mă minh tư tự mạt
Dân thực bán bỉ khang
Bạch phát thu hà hận
Tây phong biến dị hương
Nguyễn Du
Dịch thơ: Tức cảnh ở Tín Dương
Tín Dương đầu tỉnh Hà Nam,
Là đây thiên hạ trung tâm cổ thời.
Nước Thân ghi dấu đá rời,
Núi non trùng điệp muôn đời Sở xưa.
Ngựa kêu ăn lúa hay chưa,
Dân cơm trộn cám cho vừa hẩm hiu.
Thu về giận biết bao nhiêu,
Gió tây tóc trắng đ́u hiu quê người.
(1) Tín Dương: Tên huyện ở phía nam tỉnh Hà Nam.
(2) Trung ương: Thời cổ, Hà Nam ở giữa chín châu (tức Trung Quốc).
(3) Thân quốc: Nước do nhà Chu lập ra để phong cho con cháu Bá Di, Thúc Tề (theo Đào Duy Anh).
Co Kiem Hung
03-28-2004, 01:02 AM
Độ Hoài (1) hữu cảm Văn Thừa Tướng (2)
Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên
Ai trung xúc xứ minh kim thạch
Oán huyết qui thời hóa đỗ quyên (3)
Nam Bắc chỉ kim vô dị tục
Tịch dương vô hạn văng lai thuyền.
Nguyễn Du
Dịch thơ: Qua sông Hoài nhớ Văn Thừa Tướng
Non sông ngày trước cảnh c̣n y,
Một phiến trung hồn muôn thuở ghi.
Qua khỏi Hoài Hà đành hết đất,
Trở về Giang Tả những chờ khi.
Ḷng thơm chạm trổ lời kim thạch,
Máu hận trào sôi kiếp tử qui.
Phong tục Bắc Nam rày chẳng khác,
Ghe thuyền lai văng nhộn tà huy.
Quách Tấn (4) dịch
(1) Độ Hoài : Sông Hoài thuộc phần đất hai tỉnh An Huy 安徽, Giang Tô 江蘇. Khi nước Tống 宋 bị người Kim 金 đánh bại, phải cắt đất để cầu ḥa, lấy sông Hoài làm ranh giới. Từ sông Hoài trở lên Bắc thuộc về Kim, từ sông trở xuống Nam thuộc về nhà Tống. Từ ấy nhà Tống gọi là Nam Tống, c̣n gọi là miền Giang Tả v́ ở tả ngạn sông Hoài.
(2) Văn Thừa Tướng : Tức Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282), hiệu Văn Sơn 文山, làm Thừa Tướng nhà Nam Tống 南宋. Khi quân Nguyên 元 xâm chiếm nước Tống, Văn Thiên Tường khởi binh chống cự. Quân Tống thua, nhà Tống mất. Văn Thiên Tường bị bắt giam ở Yên Kinh 燕京 4 năm, không chịu khuất phục nên bị giết. Văn Thiên Tường có tập thơ nhan đề là Chỉ Nam Lục 指南錄 và Chỉ Nam hậu lục 指南後錄, tả những cảnh ngộ đă trải qua khi chạy nạn. Lời văn bi thiết. Trong thơ Văn Thiên Tường có câu :
Tùng kim biệt khước Giang Nam lộ
Hóa tác đề quyên đới huyết qui
從今別卻江南路
化作啼鵑帶血歸
(Từ nay biệt hẳn đường Giang Nam
Sẽ hóa thành chim cuốc đeo máu mà về)
(3) Đỗ quyên : Chim cuốc. Có tên nữa là Tử Qui.
(4) Quách Tấn : Tố Như thi, Quách Tấn trích dịch, An Tiêm tái bản, Paris, France, 1995 (trang 209-211
Co Kiem Hung
03-28-2004, 01:08 AM
Cựu Hứa đô (1)
Hứa châu thành Hán đế đô
Tào thị vu thử di Hán đồ
Thụ thiện đài cơ dĩ bất kiến
Phong vũ dạ dạ do hào hô
Ttự cổ đắc quốc đương dĩ chính
Nại hà vũ quả nhi khi cô (2)
Ngụy thụ Hán thiện Tấn thụ Ngụy
Tiền hậu sở xuất như nhất đồ
Ngụy vong Tấn tục canh triều đại (3)
Tự thử hất kim kỷ thiên tải
Kỳ trung hưng phế tri kỷ nhân
Nga nga thành điệp hà tằng cải
Thành ngoại thanh sơn tự cựu thời
Gian hùng soán thiết nhân hà tại
Hán nhân tông miếu dĩ vô tung
Ngụy nhân viên lăng diệc đồi bại
Đăng đăng thành trung nhất phiến thổ
Đ́nh ngọ thị nhân xu mại măi
Duy hữu Kiến An nhị thập ngũ niên sự (4)
Nhân khẩu thành bi chung bất hoại
Viễn lai sử ngă đa trầm ngâm
Di xú lưu phương giai cổ câm (kim)
Đột ngột danh thành đương đại đạo
Cự gian đáo thử ưng hàn tâm
Nguyễn Du
Dịch thơ: Thành Hứa Đô cũ
Thành Hứa Châu xưa Hán đế đô,
Nơi đây Tào Tháo đoạt cơ đồ.
Nền đài phong đế không c̣n nữa,
Chỉ có đêm đêm khóc gió mưa.
Được nước tự xưa nhờ chính nghĩa,
Sao lừa vợ góa dối con côi?
Hán nhường cho Ngụy, Ngụy nhường Tấn,
Trước sau chỉ một lối mà thôi.
Ngụy mất Tấn thay, triều đại đổi,
Đến nay đă biết mấy ngh́n năm.
Bao kẻ dấy lên rồi lụn bại,
Cao ngất thành xưa gội tháng năm.
Ngoài thành núi vẫn xanh thời cũ,
Soán đoạt gian hùng nay ở đâu?
Nhà Hán miếu đền không thấy dấu,
Mả vườn họ Ngụy nát từ lâu.
Trong thành cùng họp nhau đất rộng,
Giữa trưa người mua bán bon chen.
Hăm lăm việc cũ Kiến An,
'Ngh́n năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ'.
Từ xa đến làm ta trăn trở,
Tiếng thối thơm đều có xưa nay.
Giữa đường thành lớn đứng ngay,
Đại gian hùng bước đến đây lạnh hồn.
(1) Hứa Đô: Đất nước Hứa thời xưa, nay ở phía Đông huyện Hứa Xương 許昌, tỉnh Hà Nam 河南. Năm Kiến An 建安 nguyên niên (196) Tào Tháo 曹操 dời đô nhà Hán từ Lạc Dương 洛陽 đến đó nên gọi là Hứa Đô.
(2) Quả, cô: Chỉ vợ và con của Linh Đế 靈帝.
(3) Ngụy, Tấn: Tào Phi 曹丕 (187-226) bắt Hiến Đế, con của Linh Đế, nhường ngôi cho ḿnh, đổi quốc hiệu là Ngụy. Sau đó, họ Tư Mă Viêm 司馬炎 lại bắt vua Ngụy nhường ngôi, lập nên nhà Tấn 晉
(4) Kiến An nhị thập ngũ niên: Năm thứ 25 (220, Tây lịch) thời Kiến An 建安, Tào Phi 曹丕 ép Hiến Đế 獻帝 nhường ngôi.
Co Kiem Hung
03-28-2004, 01:11 AM
Kê Thị Trung từ (1)
Cổ miếu tùng hoàng nhất đái u
Thanh phong do tự Trúc Lâm (2) thu
Quảng Lăng (3) điệu tuyệt dư thanh hưởng
Chính khí ca (4) thành lập nọa phu
Cắng cổ vị can lưu huyết địa
Kỳ trung năng phá vấn mô ngu (5)
Khả liên Giang Tả (6) đa danh sĩ
Không đối giang san khấp Sở tù (7)
Nguyễn Du
Dịch thơ: Đền thờ Kê Thị trung
Miếu cổ xanh um hàng tùng trúc,
Vẻ thanh thu rất mực Trúc Lâm.
Quảng Lăng đàn cũ vọng âm,
Bài ca Chính khí động tâm ươn hèn.
Máu măi c̣n lan trên mặt đất,
Tấm ḷng trung cảm được vua ngu.
Khá thương Giang Tả sĩ phu,
Non sông bắt chước Sở tù khóc suông.
1) Kê Thị trung: Tức Kê Thiệu 嵇紹 (253-304), con Kê Khang 嵇康, làm chức Thị trung đời Tấn Huệ Đế 晉惠帝 (290-306). Khi Huệ Đế bị giặc đuổi, tên bắn như mưa, Kê Thiệu lấy thân che cho vua, chết, máu phun vào cả áo vua.
(2) Trúc Lâm: Chỉ Trúc Lâm thất hiền 竹林七賢 (bảy người hiền ở Rừng Trúc, trong đó có Kê Khang, cha Kê Thiệu). Câu này ư nói con giống khí tiết cha.
(3) Quảng Lăng điệu: Tên một điệu đàn của Kê Khang 嵇康 (233-262). Ư nói Kê Khang tuy đă mất, nhưng con c̣n noi theo khí tiết của ông như điệu đàn Quảng Lăng 廣陵 đă dứt nhưng vẫn c̣n âm hưởng. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có câu: Kê Khang này khúc Quảng Lăng.
(4) Chính khí ca: Bài ca của Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282) đời Nam Tống 南宋. Có câu : Vi Kê Thị trung huyết 爲嵇侍中血 nghĩa là làm giọt máu của ông Thị trung họ Kê (liều chết bảo vệ vua).
(5) Vấn mô ngu: Cái ngu của người hỏi chuyên ễnh ương. Chỉ Tấn Huệ Đế 晉惠帝 nghe ễnh ương kêu, hỏi : "Ễnh ương kêu v́ công hay v́ tư?". Khi Huệ Đế bị giặc đuổi, tên bắn như mưa, Kê Thiệu, làm chức Thị trung, lấy thân che cho vua, chết, máu phun vào cả áo vua. Có người tâu vua bảo rửa vết máu trên áo, Huệ Đế không nghe, nói để ghi nhớ Kê Thị trung.
(6) Giang Tả: Vùng hạ lưu sông Trường Giang 長江, cũng gọi là Giang Đông 江東. Lúc bấy giờ, nhà Tấn 晉 bị Ngũ Hồ 五胡 lấy Trung Nguyên 中原, phải chạy xuống Giang Đông.
(7) Sở tù: Người nước Sở bị bắt làm tù binh. Sách Thế thuyết tân ngữ viết : "Những người nước Tấn thất bại qua sông, mỗi lần gặp tiết đẹp, họp nhau ở Tân Đ́nh chè chén và nh́n nhau khóc". Vương Đạo mặt biến sắc nói :"'Ta phải hết sức giúp vua lấy lại nước cũ, sao lại bắt chước lũ tù binh nước Sở cứ nh́n nhau mà khóc?"
Co Kiem Hung
03-28-2004, 01:14 AM
Liêm Pha bi (1)
Liêm Pha vong khứ Vơ An (2) tướng
Tứ thập vạn nhân đồng huyệt táng
Nhũ xú tiểu nhi dị ngôn binh (3)
Nhất quốc trường thành (4) đồ tự táng
Kư khổn trọng nhậm tu lăo thành
Nội thẩm quốc thế ngoại địch t́nh
Sở dĩ lâm địch năng chế thắng
Đoan tại quyên cừu tri phụ kinh
Nhất quốc lưỡng hổ (5) bất khả phạm
Nhị thập dư niên thùy dữ tranh
Tướng quân tại thời, Triệu dĩ trọng
Tướng quân khứ thời linh Triệu khinh
Sở hận sàm nhân chức thê phỉ
Hà tu nhất thực tam di thỉ (6)
Bạch đầu khứ hậu bất trùng lai
Hàm Đan (7) chi sự khả tri hĩ
Triệu vong Tần kế tam thiên niên
Tướng quân danh tự chí kim truyền
Ma sa cổ kiệt tam thái tức
Bột bột tráng khí tưởng kiến kỳ sinh tiền
Kim nhân bất thiểu thực đa nhục (8)
Cơ linh gia dưỡng vô di súc
Thanh b́nh thời tiết vô chiến tranh
Nhất khẩu hùng đàm bất sổ Liêm Pha dữ Lư Mục (9).
Nguyễn Du
Dịch thơ: Bia Liêm Pha
Liêm Pha bỏ đi, Vơ An làm tướng
Bốn chục vạn người bị chôn sống
Hôi sữa huyênh hoang nói việc binh
Một bức trường thành đành bỏ uổng
Trọng trách cơi bờ giao lăo thành
Hiểu rơ thế nước, biết địch t́nh
Sở dĩ gặp địch giành thắng lợi
Nhờ nghĩ tới nước, quên thân ḿnh
Một nước hai hổ, sao xâm phạm
Trên hai chục năm, ai dám hơn
Ông c̣n, nước Triệu được coi trọng
Ông mất, nước Triệu bị coi thường
Gièm pha miệng lưỡi nghe đáng giận
Đặt chuyện một bữa ba lần són
Người bạc đầu đi không trở về
Hàm Đan ra sao ai biết được
Triệu mất, Tần nối ba ngh́n niên
Tên tuổi tướng quân nay c̣n truyền
Ta chùi bia cổ, than thở măi
Tưởng thấy hùng khí lúc sinh tiền
Đời nay lắm kẻ ăn nhiều thịt
Trong nhà hết sạch cả súc vật
Gặp buổi thanh b́nh không chiến tranh
Miệng nói hùng hồn, bất kể Liêm Pha lẫn Lư Mục.
(1) Liêm Pha: Liêm Pha là một lương tướng nước Triệu. Đời Triệu Văn Vương 趙文王, năm thứ 16, Liêm Pha giúp Triệu đánh Tề đại bại, lấy được Dương Tân và được lănh chức thượng khanh, nổi tiếng với chư hầu là người có dũng khí.
(2) Vơ An: Tức Vũ An Quân 武安君, tức Bạch Khởi 白起 (?-257 trước T.L.), tướng Tần. Đă đánh hơn 70 thành. Đánh bại quân Triệu Quát, chôn sống hơn 40 vạn hàng binh Triệu.
(3) Nhũ xú tiểu nhi: Chỉ Triệu Quát. Triệu Quát từ nhỏ học binh pháp, bàn quân sự, cho rằng thiên hạ chẳng có ai địch nổi ḿnh. Quát từng bàn quân sự với cha, Triệu Xa không bắt bẻ, vặn vẹo nổi, nhưng vẫn không cho là phải. Mẹ Quát hỏi lư do, Xa đáp: "Việc binh cực kỳ nguy hiểm, mà Quát lại khinh thường. Nước Triệu không cử Quát làm tướng th́ thôi, chứ cử nó th́ cái người làm vỡ quân Triệu tất là nó." Quả thực, sau đó, Triệu Quát lên thay Liêm Pha, bao nhiêu chương tŕnh biện pháp cũ thay đổi hết, nhiều quan quân liêu thuộc bị thuyên chuyển. Tướng Tần là Bạch Khởi được tin, bèn dùng chiến thuật bất thường, cho quân mai phục rồi vờ thua chạy, chẹn đường tiếp tế và cắt quân Triệu làm đôi ; ḷng quân Triệu ly tán. Được hơn bốn mươi ngày th́ quân Triệu cạn lương, bị đói. Triệu Quát tung số quân tinh nhuệ nhất ra mặt trận và đích thân điều khiển. Quân Tần bắt chết Triệu Quát. Quân Quát thua cả mấy mươi vạn người đầu hàng và đều bị quân Tần chôn sống hết.
(4) Nhất quốc trường thành: Chỉ Liêm Pha, trường thành của cả nước.
(5) Nhất quốc lưỡng hổ: Lạn Tương Như 藺相如 người nước Triệu, là xá nhân của viên thái giám trưởng trong cung. Nhờ trí dũng của Lạn Tương Như mà vua Triệu Huệ Văn Vương không mất viên ngọc Ḥa-bích rất quí vào tay vua Tần Chiêu Vương. Khi được thăng làm Thượng khanh, hơn cả đại tướng Liêm Pha, Liêm Pha ganh tị, nhất định t́m cách làm nhục Tương Như. Lạn Tương Tư vẫn nhún nhường, khi ra đường, thấy bóng Liêm Pha, ngoặt xe lẩn tránh. Tương như nói: "Sở dĩ nước Tần hùng cường kia không dám đem quân đánh Triệu, là v́ ở đây c̣n có hai con hổ (chỉ Lạn Tương Như và Liêm Pha). Tương Như tôi nhẫn nhục nhường nhịn, là v́ để mối nguy của quốc gia lên trên cái hiềm thù cá nhân đấy". Lời nói này đến tai Liêm Pha, Liêm Pha cởi trần, lưng mang cành có cây gai đến nhà Tương Như tạ tội.
(6) Nhất thực tam di thỉ: Kẻ thù của Liêm Pha là Quách Khai đút nhiều vàng cho sứ giả để sứ giả nói xấu Liêm Pha. Sứ giả gặp Liêm Pha ; Liêm Pha ăn một bữa hết một đấu gạo và mướ cân thịt, mặc áo giáp lên ngựa, tỏ ra ḿnh vẫn c̣n dùng được. Sứ giả về báo với Triệu Vương rằng: "Liêm tướng quân tuy già nhưng ăn c̣n khỏe. Có điều ngồi với tôi một lúc mà bỏ đi đại tiện đến ba lần."
(7) Hàm Đan: Kinh đô nước Triệu, nay thuộc tỉnh Trực Lệ.
(8) Thực đa nhục: Ăn nhiều thịt. Xem chú thích (6) ở trên.
(9) Lư Mục: Tướng giỏi ở biên giới phía bắc nước Triệu. Lư Mục đánh Hung Nô, quân Hung Nô mười năm không dám phạm biên giới
Co Kiem Hung
03-28-2004, 01:17 AM
Kỳ lân mộ (1)
Hà Bắc đạo trung ngũ xích phong bi đương đại lộ
Trung hữu khải tự đại thư kỳ lân mộ
Đạo bàng cố lăo vị dư ngôn
Vĩnh Lạc (2) tứ niên cống lân đạo tử táng thử thổ
Quan mệnh lập bi dụng tồn cố
Thử sự hất kim dĩ kinh cổ
Đăn kiến quan đạo đăng đăng vô khâu lăng
Kỳ bàng bất phong diệc bất thụ
Phiến thạch khuynh khi đài tiển man
Thê phong triêu xuy mộ khổ vũ
Hu ta lân hề hà do đổ
Hu ta lân hề thiên thượng tường
Cốt nhục ủy chi trùng nghĩ đố
Lân hề lân hề nhĩ hà khổ
Hà huống Yên Đệ (2) hà như nhân
Đoạt điệt tự lập phi nhân quân
Bạo nộ nhất sính di thập tộc
Đại bổng cự hoạch phanh trung thần
Ngũ niên sở sát bách dư vạn
Bạch cốt thành sơn địa huyết an
Lân hề quả vị thử nhân xuất
Đại thị yêu vật hà túc trân
Hoặc thị nhĩ sinh bất nhẫn kiến sát lục
Tiên tựu thử địa quyên kỳ thân
Hu ta nhân thú hề kỳ lân
Ư thế bất kiến dĩ vi tường
Kiến chi bất quá đồng khuyển dương
Nhược đạo năng vị thánh nhân xuất
Đương thế hà bất nam du tường (3).
Nguyễn Du
Dịch thơ: Mộ kỳ lân
Đường đi Hà Bắc ngay đường cái,
Bia cao đề chữ khải Kỳ Lân.
Bên đường ông lăo kể rằng,
Đời vua Vĩnh Lạc có lần cống lân.
Nhưng giữa đường bất thần lân chết,
Quan trên truyền để vết về sau.
Dựng bia đào mộ chôn sâu,
Việc này thuở đó đă lâu lắm rồi.
Nh́n chẳng thấy g̣ đồi đâu cả,
Đất không bồi, cạnh mả không cây.
Đá bia nghiêng đổ, rêu đầy,
Sớm mai lạnh gió, chiều rày dầm mưa.
Lân ơi hỡi, hiểu chưa chưa hiểu,
Trên trời kia báo hiệu điềm lành.
Thịt xương sâu kiến đục quanh,
Lân ơi, lân hỡi, sao đành khổ thân.
C̣n Yên Đệ thêm phần nhơ nhuốc,
Cướp ngôi vua thân thuộc cháu ḿnh.
Nổi cơn chẳng chút thương t́nh,
Mười ḍng họ cả gia đ́nh diệt luôn.
Trung thần cứ luông tuồng đánh giết,
Nấu vạc dầu đến chết vạn trăm.
Năm năm bách hại muôn vàn,
Xương cao chất núi, máu tràn ngập sông.
Lân hỡi, nếu v́ ông vua đó,
Mà ra đời th́ có ǵ hay.
Đúng là yêu quái chi đây,
Quư ǵ thứ đó mà ai đem thờ.
Hoặc đau ḷng cuộc cờ chém giết,
Nên đến đây mi chết cho rồi.
Lân ơi, lân hỡi, lân ơi,
Người ta chưa thấy nên đời dị đoan.
Thấy rơ rồi cũng toàn dê chó.
Bảo thấy lân là có thánh nhân,
Nước Nam thời đó nhân quân,
Sao không bay liệng một lần sang chơi?
(1) Kỳ lân: TTheo sách cổ, kỳ lân là linh thú, báo hiệu điềm lành, đời thịnh trị, kỳ lân ra đời là có thánh nhân xuất hiện.
(2) Vĩnh Lạc, Yên Đệ: Yên Đệ, con thứ sáu của Minh Thái Tổ 明太祖 (1368-1398), đă cướp ngôi của cháu là Minh Huệ Đế 明惠帝 (1399-1402), tự lập lên làm vua Minh Thành Tổ 明成祖, niên hiệu Vĩnh Lạc 永樂 (1403-1424). Đại thần Phương Hiếu Nhụ chống lệnh không chịu thảo chiếu cho Yên Đệ lên ngôi, bị đánh tan xác, cả mười họ bị tru di.
(3) Du nam tường: Thời kỳ đó, ở nước ta, B́nh Định Vương Lê Lợi cùng Nguyễn Trăi khởi nghĩa chiến thắng quân Minh (1418-1427
Co Kiem Hung
03-28-2004, 01:22 AM
Đông lộ
Thái Sơn sơn sắc măn Thanh, Từ,
Thiên lư Sơn Đông (1) tống mục sơ.
Hà xứ thánh hiền (2) tùng bách hạ,
Biệt thành huyền tụng Lỗ, Trâu (3) dư.
Tha hương nhan trạng tần khai kính,
Khách lộ trần ai bán độc thư.
Hành sắc thông thông tuế vân mộ (4),
Bất câm bằng thức thán Qui Dư (5).
Nguyễn Du
Dịch thơ: Đông lộ
Xanh mướt Từ, Thanh núi một màu,
Giang Đông ngh́n dặm mắt gồm thâu.
Thánh hiền bóng khuất gian tùng bá,
Đàn sách thành lưa nếp Lỗ, Trâu.
Đường hé quyển vàng khuây gió bụi,
Trạm lau gương sáng ngắm mày râu.
Hành tŕnh ṿi vọi năm hầu hết,
Nhớ chữ "qui dư" thổn thức sầu.
Quách Tấn dịch
(1) Sơn Đông: Đoàn đi sứ, Nguyễn Du cầm đầu, khi đi th́ đi từ Thăng Long đến Vơ Xương, rồi lên ngả Sơn Tây để đến Yên Kinh. Đến khi về lại xuống Sơn Đông đến Vơ Xương để về Thăng Long.
(2) Thánh hiền: chỉ thầy Mạnh và đức Khổng.
(3) Lỗ, Trâu: quê hương của Khổng Mạnh.
(4) Tuế vân mộ: Năm đă muộn. Đoàn sứ giả về nước vào cuối năm Quí Dậu (1813).
(5) Qui dư: "Về thôi !". Khổng Tử chu du khắp các nước chư hầu, không được vua nào tin dùng, nên than : "qui dư ! qui dư !". Nhân đi qua đất cũ của thánh hiền, nên mới nảy ra tứ "soi gương", "đọc sách". Và v́ đất cũ của thánh hiền, nên dù thánh hiền không c̣n thấy, mà dư phong vẫn c̣n nơi tiếng đàn, tiếng đọc sách
Co Kiem Hung
03-29-2004, 09:52 PM
Giới thiệu Bắc Hành Tạp Lục
Bắc Hành Tạp Lục (BHTL) gồm 132 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du sáng tác trong ṿng 1 năm, từ tháng hai đến tháng chạp năm Quư Dậu (1813) khi ông cầm đầu một phái đoàn sang sứ Trung Quốc. Mở đầu quyển là bài cảm tác khi trở ra Thăng Long để lên đường sang Trung Quốc. Bài cuối làm khi trở về đến Vơ Xương (Hồ Bắc), từ đó lên thuyền trở về, nên không có đề tài ngâm vịnh nữa. Thơ ghi chép những điều trông thấy, những cảm nghĩ dọc đường.
Đường đến Yên Kinh đă dài, khi về phải tránh giặc giă mà đi ṿng sang phía đông, rồi trở lại Vũ Hán, nên nhà thơ đă đi qua nhiều tỉnh: Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Giang Tô, An Huy và trở lại con đường cũ
Nguyễn Du
Co Kiem Hung
03-29-2004, 09:55 PM
BHTL019 Hạ Than hỷ phú
Tâm hương bái đảo tướng quân tỳ (từ)
Nhất trạo trung lưu tứ sở chi
Đáo xứ giang sơn như thức thú
Hỷ nhân xà hổ bất thi uy
Vạn châu tùng thụ tăng nhân ốc
Nhất đái hàn yên Yến Tử ky (cơ)
Tịch tịch thuyền song vô cá sự
Ngư ca giang thượng khán tà huy
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Tả nỗi mừng khi xuống thác
Tấm ḷng thành dâng hương khấn trước đền tướng quân
Một thuyền giữa ḍng nước mặc cho trôi đi
Đến đâu cũng thấy sông núi như đă quen biết
Mừng cho người, hùm rắn đă không ra oai
Muôn cụm tùng kia là nơi nhà sư ở
Một dải khói lạnh, đó là Ḥn Én
Lặng lẽ ngồi bên cửa thuyền, không làm ǵ cả
Nghe thuyền chài hát, ngắm chiều tà
Dịch Thơ:
Mừng xuống khỏi thác
Thành khẩn dâng hương vái trước đền
Một thuyền theo nước cứ lênh đênh
Mừng người rắn cọp không làm dữ
Thích cảnh non sông như đă quen
Muôn cụm tùng xanh sư trú ngụ
Một Ḥn Én lạnh khói dâng lên
Bên song lặng lẽ không ǵ bận
Nghe khúc chài ca, ngó nắng nghiêng
Đặng Thế Kiệt
Co Kiem Hung
03-29-2004, 09:58 PM
BHTL020 Thái B́nh thành hạ văn xuy địch
Thái B́nh thành ngoại tây phong khởi
Xuy trừu Ninh Minh nhất giang thủy
Giang thủy trừu hề giang nguyệt hàn
Thùy gia hoành địch bằng lan can
Nhị thập thất nhân cộng hồi thủ
Cố hương dĩ cách vạn trùng san
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Bên ngoài thành Thái B́nh, nghe tiếng sáo thổi
Ngoài thành Thái B́nh gió tây thổi lên
Làm cho nước sông Ninh Minh gợn sóng
Nước sông gợn sóng, trăng sông lạnh
Có người nào tựa lan can thổi sáo
Khiến cho hai mươi bảy người trong đoàn đều quay lại nh́n
Nhưng cố hương đă cách muôn trùng núi non!
Dịch Thơ:
Bên ngoài thành Thái B́nh, nghe tiếng sáo thổi
Ngoài thành Thái B́nh gió tây lộng,
Thổi trên sông Minh nước gợn sóng.
Nước sông gợn sóng, lạnh trăng sông,
Ai đâu thổi sáo tựa bên song?
Hai mươi bảy người đều ngoái cổ
Quê nhà đă cách núi muôn trùng!
Nguyễn Thạch Giang
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:01 PM
BHTL041 Ngũ nguyệt quan cạnh độ
Hoài vương qui táng, Trương Nghi tử
Sở quốc từ nhân kư bội lan
Thiên cổ chiêu hô chung bất phản
Măn giang tranh cạnh thái vô đoan
Yên ba diểu diểu không bi oán
La cổ niên niên tự tiếu hoan
Hồn nhược qui lai dă vô thác
Long xà quỉ vực biến nhân gian
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Tháng năm xem đua thuyền
Hoài vương (1) chết, đưa hài cốt về mai táng. Trương Nghi (2) cũng chết.
Nhớ nhà thơ nước Sở đeo chùm hoa lan để tỏ phẩm chất của ḿnh. (3)
Ngàn năm gọi hồn, hồn vẫn không về. (4)
Thuyền đua đầy sông, nào có ư nghĩa ǵ đâu!
Nh́n khói sóng mịt mù mà đau thương oán giận.
Hàng năm chiêng trống vẫn cứ bày tṛ vui như thế này đây. (5)
Vả chăng hồn ông có về cũng không biết nương tựa vào đâu.
Khắp nhân gian nơi nơi đầy dẫy rắn rồng, quỷ quái.
Dịch Thơ:
Tháng năm xem đua thuyền
Hoài vương qui táng, Trương Nghi chết,
Nước Sở c̣n ghi khách bội lan.
Ngh́n thuở gọi hồn nào có thấy?
Đầy sông đua chải thật thêm nhàm!
Nước mây nhiều lúc sầu thương hăo,
Chiêng trống hàng năm hát múa tràn.
Nếu thật hồn về không chỗ ở,
Rắn rồng quỷ quái khắp nhân gian.
Nguyễn Thạch Giang
--------------------------------------
(1) Hoài vương: vua nước Sở, không nghe lời Khuất Nguyên can gián, sang hội với nước Tần, bị giữ lại, rồi chết ở đấy, sau đưa hài cốt về Sở.
(2) Trương Nghi: Mưu sĩ nước Tần, dùng mưu dèm pha Khuất Nguyên với vua Sở Hoài Vương. Khuất Nguyên bị đi đày, Trương Nghi thành tướng quốc.
(3) Ly Tao có câu: "Xâu chùm hoa lan để đeo", ở đây chỉ Khuất Nguyên, tác giả thiên Ly Tao.
(4) Tống Ngọc, người đương thời với Khuất Nguyên có làm bài Chiêu Hồn để tỏ ḷng thương tiếc Khuất Nguyên.
(5) Khuất Nguyên mất ngày 5 tháng 5. Hàng năm vào ngày này, người Trung Quốc tổ chức kỷ niệm nhà thơ bằng cách đua thuyền nói là đi t́m di hài nhà thơ.
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:08 PM
BHTL004_ Long Thành cầm giả dẫn
Long thành giai nhơn
Bất kư danh tự
Độc thiện huyền cầm
Cử thành chi nhơn dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhơn gian đệ nhất thanh
Dư tại thiếu niên tằng nhứt kiến
Giám Hồ hồ biên dạ khai yến
Thử thời tam thất chánh phương niên
Xuân phong yểm ánh đào hoa diện
Đà nhan hám thái tối nghi nhơn
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoăn như luơng phong độ tùng lâm
Thanh như chích hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch
Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
Tận thị Trung Ḥa Đại Nội âm
Tây Sơn chư thần măn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ư khí lăng công hầu
Ngũ lăng niên thiếu bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoán thủ Trường an vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiên (kiến)
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng măi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhứt nhơn phát bán hoa
Nhan xú thần khô h́nh lược tiểu
Lang tạ tàn my bất sức trang
Thùy tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhứt điệu
Cựu khúc tân thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mănh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi
Thành quách suy di nhơn sự cải
Kỷ độ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong
Ca vũ không lưu nhứt nhơn tại
Thuấn tức bách niên tằng kỷ th́
Thương tâm văng sự lệ triêm y
Nam hà quy lai đầu tận bạch
Quái để giai nhơn nhan sắc suy
Song nhăn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri
Nguyễn Du
Dịch Thơ:
Chuyện người gảy đàn ở Thăng Long
Thành Thăng Long nhớ từ thửa nọ
Bậc giai nhân tên họ ai hay
Đàn cầm thánh thoát mấy dây
Khắp thành quen miệng gọi ngay Nàng Cầm
“Cung Phụng khúc” xưa ngâm trong Nội
Phổ nên chương tiếng nổi một thời
Nhớ ngày đương độ vui chơi
Giám hồ yến tiệc gặp người tài hoa
Tuổi hăm mốt nơn nà lộng lẫy
Gió xuân êm hây hẩy bông đào
Men tô duyên năo nùng sao
Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời
Theo tay ngọc ḷng người ủ rũ
Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man
Khoan như gió lướt thông ngàn
Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương
Mạnh như sấm phũ phàng xé đá
Tiến Phúc bia nổ phá ầm ầm
Buồn như khúc Việt ai ngâm
Nỗi ḷng Trang Tích âm thầm mà đau
Điệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi
Chính khúc này đại nội triều xưa
Tây Sơn quân tướng thẫn thờ
Ngả nghiêng đến sáng c̣n chưa thỏa ḷng
Quăng lụa thưởng tây đông tíu tít
Vàng tựa bùn cứ việc vung tay
Công hầu hào khí đua say
Ngũ lăng niên thiếu một bày sá chi
Dạo khúc xuân diễm kỳ lả lướt
Băm sáu cung thánh thót xinh xinh
Tràng An treo ngọc liên thành
Phẩm cao vô giá, tài t́nh riêng ai
Thoảng hai chục năm trời từ đấy
Tây Sơn thua, ta trẩy Nam Hà
Long Thành gang tấc c̣n xa
Điệu xưa nhớ mấy cũng là đành thôi
Tuyên phủ sứ lại mời dự tiệc
Thiếu chi người mày biếc má hồng
Cuối bàn phảng phất năo nùng
Một nàng đầu tóc h́nh dung bơ phờ
Ḿnh gầy vơ mày thưa duyên nhạt
Ai biết nàng oanh liệt xưa kia
Khúc đâu lệ chảy đầm đ́a
Khiến người nghe những đê mê xót thầm
Chợt nhớ lại bao năm chuyện cũ
Từng bên ai vui thú hồ xưa
Thành tàn duyên cũng xác xơ
Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh
Rồi một sớm bại thành là thế
Cảm khúc ca trời để một người
Trăm năm một thoáng bao dài
Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau
Ở Nam về, mái đầu đă bạc
Người đẹp xưa cũng khác h́nh xưa
Giương đôi mắt ngó mà mơ
Thảm thay ai biết bây giờ là ai
Học Canh
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:16 PM
BHTL015 Hoàng Sào binh mă
Đại tiểu Hoa Sơn sổ lư phân
Hoàng Sào di tích tại giang tân
Khởi tri Kim Thống Tấn trung đế
Năi xuất Tôn sơn bảng ngoại nhân
Ngộ quốc mỗ nhân câu hạng lượng
Cùng thời tự khả biến phong vân
Viễn lai nghĩ vấn thiên niên sự
Giang hộ dao đầu nhược bất văn
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Nơi Hoàng Sào đóng binh mă
Núi Hoa Sơn lớn nhỏ cách nhau vài dậm
Trên bến sông hăy c̣n di tích Hoàng Sào
Há biết vua Kim Thống đất Tấn (1)
Lại là người đi thi bị đánh rớt (2)
Đôi khi chỉ v́ câu nệ, hẹp ḥi mà làm lỡ việc nước.
Con người ta đến lúc cùng có thể làm biến gió đổi mây.
Ta từ xa đến, muốn hỏi chuyện ngh́n năm cũ.
Nhưng ông lái đ̣ lắc đầu như không nghe thấy!
Dịch Thơ:
Nơi Hoàng Sào đóng binh mă
Mấy dậm Hoa Sơn núi chập chùng,
Hoàng Sào dấu cũ ở bên sông.
Con người thủa ấy lên ngôi đế,
Là gă xưa kia trượt bảng rồng.
Câu nệ thói thường hư việc nước,
Gió mây biến đổi bởi đường cùng.
Từ xa muốn biết đầu đuôi chuyện,
Ông lái tuồng như chẳng tỏ tường.
Nguyễn Thạch Giang
------------------------------------
Hoàng Sào: người đời Đường, quê ở Sơn Đông, học giỏi, nhiều lần thi Tiến Sĩ không đổ, thích đánh gươm, cưỡi ngựa, hay giúp người nghèo, sau cầm đầu một cuộc khởi nghĩa trên mười năm (875-884). Khi vào Trường An, Hoàng Sào lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Tề, niên hiệu Kim Thống.
(1) Hoàng Sào khởi nghĩa ở Sơn Đông, nhưng kéo quân đi khắp nước, xuống tận Quảng Đông, Quảng Tây. Kim Thống là niên hiệu của Hoàng Sào.
(2) Tôn Sơn: tên người đỗ cuối bảng. Tôn Sơn ngoại bảng là hỏng thi.
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:20 PM
BHTL025 Thương Ngô mộ vũ
Vũ trệ Tầm giang hiểu phát tŕ
Ngô thành bạc mộ thượng phi phi
Nhất giang tân lạo b́nh Tam Sở
Đại bán phù vân trú Cửu Nghi
Trách trách tiểu chu nan quá Hạ
Sam sam trường phát tự tri Di
B́nh ba nhật mộ Tương Đàm viễn
Bôi tửu bằng lan điếu nhị phi
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Mưa chiều ở Thương Ngô
Trời mưa phải dừng lại ở sông Tầm, lúc sáng khởi hành muộn.
Gần chiều, trên thành Thương Ngô vẫn c̣n mưa tầm tă.
Lũ mới đổ về, nước sông tràn ngập đất Sở,
Phần lớn mây bao trùm núi Cửu Nghi,
Ta ngồi trong thuyền nhỏ chật hẹp khó qua được đất Hạ (hoa hạ),
Búi tóc dài nói rơ ta là người nước khác (di).
Sóng lặng trời tối mà Tương Đàm c̣n xa,
Đành rót rượu viếng hai bà phi vậy.
Dịch Thơ:
Mưa chiều ở Thương Ngô
Mưa trú Tầm Giang trễ chuyến đi,
Thành Ngô chiều xuống vẫn đầm đ́a.
Lũ về ngập hết vùng Tam Sở,
Mây vẫn bao trùm núi Cửu Nghi.
Người lạ tóc dài nh́n dễ biết,
Đất Hoa thuyền nhỏ khó qua ghê.
Chiều hôm sóng lặng vời Tương Phố,
Chén rượu khoan thuyền viếng nhị phi.
Nguyễn Thạch Giang
----------------------------------------
Tầm giang: tên con sông thuộc huyện Quế B́nh, tỉnh Quảng Tây, chảy qua Thương Ngô.
Tam Sở: ba vùng đất Tây Sơ, Nam Sở, và Đông Sở, nay thuộc Hồ Nam, Hồ Bắc.
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:22 PM
BHTL007 Lưu biệt cựu khế Hoàng
Táp niên cố hữu trùng phùng nhật
Vạn lư tiền đồ nhất xúc sơ
Đạo lộ nhật lai t́nh vị cánh
Vân sơn biệt hậu ư hà như
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
Lăo hỷ toàn thân bách chiến dư
Tha nhật Nam qui tương hội phỏng
Lục Đầu giang thượng hữu tiều ngư
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Ngày gặp lại người bạn cũ của ba mươi năm trước.
Cũng là ngày tôi bắt đầu cuộc hành tŕnh vạn dặm.
Chưa kể hết những nỗi dọc đường những ngày gần đây.
Sau khi chia tay nhau ở chốn núi mây, ư bạn ra sao ?
Hai ta chia tay nhau ngoài cửa quan, ḷng buồn khôn xiết.
Anh trải qua trăm trận đánh, thân thể vẹn toàn,nhưng nay đă già rồi.
Sau này trở về nước, gặp lại anh, hỏi thăm nhau.
Chắc bây giờ trên sông Lục Đầu, anh đă là một bác tiều phu, hay người đánh cá, cũng chưa biết chừng!
Dịch Thơ:
Từ biệt bạn cũ họ Hoàng
Ba mươi năm cũ gặp đây,
Lên đường vạn dặm cũng ngày tôi đi.
T́nh thâm ơi, biết nói ǵ,
Núi mây ly biệt ư th́ ra sao ?
Muôn trùng quan ải tay chào,
Mừng người bách chiến không sao tuổi già.
Về Nam mai mốt lân la,
Lục Đầu bến nước hỏi tra ngư tiều.
Đặng Thế Kiệt
------------------------------------
Cựu khế Hoàng: Người bạn cũ họ Hoàng, không rơ tên. Theo bài thơ th́ ông này chắc quê ở tỉnh Hải Hưng, bấy giờ làm quan ở Lạng Sơn và chắc có lẽ là ông quan vơ.
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:24 PM
BHTL008 Trấn Nam Quan
Lư Trần cựu sự diểu nan tâm
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim)
Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Việc cũ đời Lư, Trần xa xôi khó biết.
Chỉ biết cửa ải này có đến ngày nay đă ba trăm năm.
Bức thành lẻ loi phân chia hai nước,.
Cửa ải hùng vĩ đứng trấn giữa muôn ngh́n núi non.
Cách xa nhau, thường có những lời đồn đăi không đích xác, dễ hiểu lầm.
Gần trời mới biết ơn mưa móc thấm sâu dường nào.
Quay đầu trông về cửa khuyết ở ngoài tần mây biếc.
Bên tai c̣n nghe văng vẳng tiếng nhạc quân thiều.
Dịch Thơ:
Trấn Nam Quan
Việc Lư Trần xa xưa khó xét,
Ba trăm năm trước đến ngày nay.
Ngăn chia hai nước, thành c̣n đó,
Hùng tráng muôn non, cửa vẫn đây.
Đất xa hay nghe đồn chuyện nhảm,
Trời gần mới biết đội ơn dầy.
Trông về cửa khuyết ngoài mây biếc,
Văng vẳng quân thiều tiếng nhạc bay.
Nguyễn Thạch Giang
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:26 PM
BHTL009 _Nam Quan đạo trung
Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan
Vạn lư đan xa độ Hán quan
Nhất lộ giai lai duy bạch phát
Nhị tuần sở kiến đăn thanh san
Quân ân tự hải hào vô báo
Xuân vũ như cao cốt tự hàn
Vượng đạo đăng b́nh hưu vấn tấn
Minh Giang bắc thướng thị Trường An
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Chiếu của nhà vua từ tầng mây năm sắc ban xuống (1)
Trên đường muôn dặm, chiếc xe lẻ loi vượt Hán quan. (2)
Suốt dọc đường cùng ta chỉ có mái tóc bạc
Cả hai mươi ngày chỉ thấy một màu núi xanh
Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp
Mưa xuân như mỡ lạnh buốt xương
Đường cái quan rộng răi bằng phẳng, thôi hỏi thăm chi nữa
Theo ḍng Minh Giang (3) lên hướng bắc, ấy là Trường An (4)
Dịch Thơ:
Trên đường Nam Quan
Tầng mây năm sắc chiếu vua ban
Muôn dặm xe đơn vượt Hán quan
Một mạch đường dài trơ tóc bạc
Hai mươi ngày mỏi rặt non xanh
Mưa xuân như mỡ, xương thêm buốt
Ơn nước bằng trời, nợ nặng mang
Rộng phẳng đường vua thôi thắc mắc
Minh Giang lên bắc ấy Trường An
Đặng Thế Kiệt
---------------------------------------
(1)Ngọc thư : Sắc chiếu nhà vua. Ngũ vân đoan: mây năm sắc. Ư nói lệnh đi sứ.
(2) Hán quan : Cửa ải trên đường sang Trung quốc. Tức trấn Nam Quan
(3) Minh Giang : Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Đông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.
(4) Trường An: tức Yên Kinh (Bắc Kinh). Trường An chỉ là tiếng nói kinh đô nói chung.
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:29 PM
BHTL010 Mạc phủ tức sự
Triệt dạ la thanh bất tạm đ́nh
Cô đăng tương đối đáo thiên minh
Kinh tuần khứ quốc tâm như tử
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh
Sơn lộc tích nê thâm một mă
Khê tuyền phục quái lăo thành tinh
Khách t́nh chí thử dĩ vô hạn
Hựu thị Yên sơn vạn lư hành
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Suốt đêm, tiếng thanh la không ngớt.
Ta ngồi bên ngọn đèn cô đơn cho đến sáng.
Xa nước mấy tuần, ḷng như chết.
Dọc đường gặp toàn người lạ.
Ở chân núi bùn ngập đến bụng ngựa.
Quái vật ẩn nấp hai bên bờ suối lâu ngày đă thành tinh.
Đến đây, t́nh cảm người viễn khách đă vô hạn rồi.
Huống chi cuộc hành tŕnh đến Yên sơn (kinh đô) c̣n vạn dặm.
Dịch Thơ:
Trạm nghỉ chân tức sự
Suốt đêm tiếng lệnh giục không ngơi,
Đối ngọn đèn hiu đến sáng trời.
Xa nước mấy tuần ḷng tựa chết,
Dọc đường toàn gặp khách quê người.
Bùn khe đọng lại lút ḿnh ngựa,
Ma quái thành tinh khắp mọi nơi.
T́nh cảnh khách xa đây khó tả,
Yên kinh muôn dặm bước đường dài.
Nguyễn Thạch Giang
Co Kiem Hung
03-29-2004, 10:32 PM
BHTL011 Giáp Thành Mă phục ba miếu
Lục thập lăo nhân cân lực suy
Cứ an bị giáp tật như phi
Điện đ́nh chỉ bác quân vương tiếu
Hương lư ninh tri huynh đệ bi
Đồng trụ cận năng khi Việt nữ
Châu xa tất cánh lụy gia nhi
Tính danh hợp thướng Vân đài họa
Do hướng Nam trung sách tuế th́
Nguyễn Du
Dịch Nghĩa:
Miếu thờ Mă Viện ở Giáp thành
Người già tuổi sáu mươi th́ gân sức suy.
Ông c̣n mặc giáp nhảy lên ngựa nhanh như bay.
Chỉ chuốc một nụ cười của nhà vua nơi cung điện.
Đâu biết anh em nơi quê hương thương xót cho ông! (1)
Cột đồng chỉ dối được đàn bà con gái Việt. (2)
Chứ như xe ngọc châu chở về, thị lại để lụy cho con cháu ông. (3)
Tên tuổi ông (đáng lẽ) được ghi nơi bức họa Vân Đài. (4)
Sao lại đ̣i nước Nam hằng năm phải cúng tế? (5)
Dịch Thơ:
Miếu thờ Mă phục ba ở Giáp Thành
Người sáu mươi kém suy gân sức,
Ông lẹ làng mặc giáp lên yên.
Cung rồng chuốc một tiếng khen,
Quê hương đâu biết nỗi phiền người thân!
Sợ cột đồng riêng phần Việt nữ,
Dèm xe châu để lụy gia nhi.
Đài mây công cán không ghi,
Trời Nam muôn dặm mắc ǵ khói hương ?
Quách Tấn
---------------------------------------------------
Giáp thành : Nơi ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.
Mă Phục Ba : Tên Mă Viện hiệu phục ba tướng quân, 60 tuổi c̣n đi đánh giặc lập công. Vua thương tuổi cao không nỡ cho đi, Mă Viện liền mặc áo giáp nhảy lên yên ngựa tỏ ra ḿnh c̣n khỏe mạnh. Vua cười nói : Ông này quắc thước lắm.
(1) Huynh đệ bi : Người em họ Mă Viện là Thiếu Du thấy Mă Viện ham lập công danh, thường than rằng chỉ mua lấy khổ cho thân.
(2) Đồng trụ : Truyền rằng Mă Viện sau khi thắng hai bà Trưng, dựng trụ đồng ở địa phận Quảng Tây.
(3) Lụy gia nhi : Ở Giao Chỉ về, sau khi thắng trận, Mă Viện có chở theo một xe hạt ư dĩ để chữa bệnh tê thấp. Khi Mă Viện chết, có người tố cáo với vua rằng Mă Viện chở một xe châu báu về làm của riêng. Vua giận. Vợ con sợ hăi không dám đưa thi hài về quê, phải chôn ở phía Tây kinh thành.
(4) Vân Đài : Đài mây. Vua Hán Quang Vũ cho lập một đài cao, gọi là Vân Đài, và truyền vẽ tượng 28 vị công thần treo nơi đài để tuyên công.
(5) Sách tuế th́ : Sau khi Mă Viện chết rồi vua Trung Quốc bắt dân Việt lập đền thờ. Đền ở Giáp là một.
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.