PDA

View Full Version : Thi Thánh _ Đỗ Phủ



Ngao_0p
06-13-2002, 12:34 AM
*** BÁT TRẬN ĐỒ

*** BẤT KIẾN

*** BINH XA HÀNH

*** ĐĂNG CAO

*** ĐĂNG NHẠC DƯƠNG LÂU

*** ĐỒNG QUAN LẠI

*** GIAI NHÂN

*** GIANG MAI

*** GIANG NAM PHÙNG LƯ QUI NIÊN

*** HOẠ ƯNG

*** KHÁCH CHÍ

*** KHÚC GIANG

*** KHƯƠNG THÔN I

*** KHƯƠNG THÔN II

*** KHƯƠNG THÔN III

*** KÍ ĐỖ VỊ

*** MAO ỐC VI THU PHONG SỞ PHÁ

*** MỘNG LƯ BẠCH

*** NGUYỆT DẠ

*** NGUYỆT DẠ ỨC XÁ ĐỆ

*** PHỤNG TẶNG VI TẢ THỪA TRƯỢNG NHỊ THẬP NHỊ VẬN

*** TẶNG VỆ BÁT XỬ SĨ

*** TÂN AN LẠI

*** TÂN HÔN BIỆT

*** TIỀN XUẤT TÁI

*** TIỂU HÀN THỰC CHU TRUNG TÁC

*** THẠCH HÀO LẠI

*** THẬP THẤT DẠ ĐỐI NGUYỆT

*** THIÊN MẠT HOÀI LƯ BẠCH

*** THU HỨNG

*** THỤC TƯỚNG

*** THÙY LĂO BIỆT

*** TỐNG KHỔNG SÀO PHỦ TẠ BỆNH QUY DU GIANG ĐÔNG KIÊM TR̀NH LƯ BẠCH

*** TÚC KIẾN ĐỨC GIANG

*** TUYỆT CÚ

*** VỊNH CHIÊU QUÂN

*** VỊNH HOÀI CỔ TÍCH I, II

*** VỊNH HOÀI CỔ TÍCH III, IV,V

*** VỌNG NHẠC

*** VÔ GIA BIỆT

*** XUÂN NHẬT ỨC LƯ BẠCH

*** XUÂN VỌNG

Ngao_0p
06-13-2002, 12:34 AM
TIỂU TRUYỆN ĐỖ PHỦ
(712-770)

Đổ Phủ là cháu 13 đời của Đổ Dự, một danh tướng đời Tấn,người ở Đổ-Lăng, phủ Kinh-Triệu (tỉnh Thiểm-Tây). V́ thế người đời sau gọi ông là Đỗ Thiếu-Lăng; c̣n gọi là Đỗ Công bộ, v́ ông từng làm chức Công bộ vien-ngoại-lang.

Tập thơ của Đỗ Phủ có tên là Đỗ Thiếu-Lăng tập, Đỗ Công bộ tập hay Thảo đường thi tập ( v́ ông có thảo đường tại Thành-Đô).

Đỗ Phủ sinh vào năm Đường Huyền-tông lên ngôi vua (721), ở Dao-Loan, phía đông huyện Củng ( tỉnh Hà-Nam). Lúc đó thân phụ là Đỗ Nhàn đă 30 tuổi. Thân mẫu mất sau khi sinh ông được ít lâu. Tất cả các em trai, gái của ông đều là con của bà mẹ kế họ Lư.

Đỗ Phủ có tự là Tử Mỹ. Lúc nhỏ từng đến ở nhà người cô ở Lạc-Dương, cách quê nhà 140 dặm. Thời đó Lạc-Dương là trung tâm chính-trị, king tế và văn hóa của Trung Quốc. Đỗ Phủ rất thông minh hoạt bát, c̣n nhỏ tuổi đă nổi tiếng về văn tài. Các danh sĩ Lạc-Dương đương thờinhư Thôi Phượng, Ngụy Tâm Khải khi đọc thơ ông đều khen là Ban Cố, Dương Hùng tái sinh, Đỗ Phủ có tài viết chữ : lên 9 tuổi đă viết được đại tự, theo bút pháp Ngu Thế Nam thời Sơ Đường.

Năm 725 (Khai-Nguyên thứ 13). Đỗ Phủ mới 14 tuổi, đă được các nhà tinh thông âm luật yếu trọng, như Kỳ-vương Lư Phạm và Thôi Diều, sủng thần của Dương Huyền-tông. Tại nhà các vị này, Đỗ Phủ gặp danh ca Lư Qui Niên.

Trong lúc thiếu thời, Đỗ Phủ thường đi chơi các vùng Ngô, Việt, Tề, Triệu. Năm 730 ( 19 tuổi), đi Hoàng hà, đến Tuân hà, sang Hoài-Âm, Dương châu rồi qua Trường giang, xuống Giang-Nam. Thăm mộ Ngô-vương Hạp Lư ở Cô-Tô, Kiếm tŕ ở núi Hổ-Khâu, rồi đến Trường châu uyển (đều ở huyện Ngô, tỉnh Giang-Tô). Sau đó vượt sông Tiền-Đường, đi đến Viêm-khê, đậu thuyền dưới núi Thiên-Mụ (ở huyện Tân-Xương, tỉnh Chiết-Giang). Ông có lưu lại Giang-Ninh( Kim-Lăng, tỉnh Giang –Tô) một thời gian, được biết cảnh hào hoa cũ của họ Vương, họ Tạ thời Lục Triều.

Sau mấy năm ngao du tại Giang-Nam, Đỗ Phủ trở về quê (huyện Củng) để đi thi tiến-sĩ. Khoa thi năm ấy, trong số ba ngàn thí sinh, chỉ có 23 người đậu. Đỗ Phủ bị rớt. Ông lai đi man du đến vùng Sơn-Đông, Hà-Bắc. Lúc này thân phụ ông đang làm chức tư-mă ở huyện Dương châu (Sơn-Đông) .

Sau mười năm phiêu lăng giang hồ, Đỗ Phủ về Lạc-Dương, làm nhà ở bên Thi Hương đ́nh, dưới núi Thủ-Dương, là nơi có phần mộ của tổ phụ là Đỗ Thẩm Ngôn và viêng tổ là Đỗ Dự. Năm ấy Đỗ Phủ vừa 30 tuổi. Kết hôn với con gái của Dương Di, làm chức Tư nông thiếu-khanh.

Năm 744 ( 33 tuổi ), Đỗ Phủ quen biết Lư Bạch ( 44 tuổi ) ở Lạc Dương .
Năm 745 , Đỗ phủ rời Lạc Dương , lên ở Đổ Khúc , phía đông Trường An sống thanh khổ nghèo nàn .
Năm 751 ( Thiên Bảo thứ 10 ) , tháng Giêng , nhân dịp Đường huyền Tông làm lễ tế trời đất , tổ tiên . Đỗ Phủ dâng lên vua ba bài Đại lễ phú . Huyền tông khen ngợi , cho đến ở Tập hiền viện ; sai quan tể tướng thử tài văn chương . Sau khi dư. khảo thí xong , ông không nhận được tin tức ǵ ( v́ trong triều có người ám hại ). Trong khi sống cùng khổ tại kinh đô, ông nhận tin đứa con nhỏ gởi nuôi tại huyện Phụng Tiên ( tỉnh Thiểm Tây) bị chết đói . Nổi thương tâm ấy được tả trong bài “ Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài “ gồm 500 chữ .

Chứng kiến cảnh xa hoa hưởng lạc của Đường Minh Hoàng và Dương quí Phi khi th́ ở cung Hoa Thanh( trên núi Ly Sơn , huyện Lâm Đồng , tỉnh Thiểm Tây ), khi th́ ở Khúc Giang tŕ ( phía đông nam Trường An ) , Đỗ Phủ làm bài “ Lệ nhan hành “ .
Năm 755 ( Thiên Bảo thứ 14 ) tháng 11 , Phạm Dương tiết độ sứ An Lộc Sơn làm phản , đem hơn 10 vạn quân từ U Châu ( Sơn Đông ) tiến về kinh, lấy danh là giết Dương Quốc Trung, Tháng 12 , quân An Lộc Sơn vượt sông Hoàng hà , vây hăm Đông Kinh ( Lạc Dương ) .

Năm 756 , tháng Giêng , An Lộc Sơn tiếm hiệu tại Đông Kinh . Tháng 6 , tướng Ca Thư Hànbi5 đại bại tại Linh Bảo . Đồng Quan thất thủ . Đường Huyền Tông phải lánh sang quận Thục . Tháng 7 , thái tử lên ngôi tại Đông Vũ ( tỉnh Cam Túc ) lấy hiệu là Túc Tông .

Lúc chiến sự sơ khởi , Đỗ Phủ đang ở Phụng Tiên ( cách Trường An 150 dặm ), bèn đem gia quyến đến ở nhờ nhà người cậu ở huyện Bách Thủy , rồi sau đến Phu châu (đều thuộc tỉnh Thiểm Tây ), Được tin Túc Tông lên ngôi, Đỗ Phủ t́m đến Linh Vũ . Trên đường đi, bị quân giặt bắt đem về Trường An .Làm các bài “ Dạ nguyệt “, “Nguyệt đại ức xá đệ “ và “ Ai giang đầu “ .
Năm 757 ( năm đầu niên hiệu Chí Đức ), tháng Giêng, An Lộc Sơn bị con là An Khánh Tự giết chết , rồi tự lập làm vua. Tháng 2 , Túc Tông từ Bành Nguyên ( huyện Ninh , tỉnh Cam Túc ) rời sang huyện Phượng Tường ( tỉnh Thiểm Tây ), Đỗ Phủ trốn khỏi Trường An, đến yết kiến Túc Tông tại đây , rồi được phong làm chức tả thập di ( tháng 5 ) . Nhân việc Pḥng Quản thua trận , bị băi tướng . Đỗ Phủ hết sức can vua không nên bỏ người hiền . Túc Tông cả giận , sai tam tư điều tra. May nhờ tể tướng kế nhiệm là Trương Hạo tận lực cứu giúp ông mới được phục chức . Tháng 8 nhuận, Đỗ Phủ xin về thăm gia đ́nh tại Phu Châu . Ba bài “ Khương Thôn “Được làm trong dịp này .

Tháng 9, Quảng B́nh vương Lư Xúc ( con trưởng của Túc Tông) cùng Quách Tử Nghi thâu phục được Tây kinh (Trường An ). Được tin này , Đỗ Phủ làm bài “ Văn quan quân thủ Hà nam , Hà Bắc “. Tháng 10 , thâu phục Đông kinh ( Lạc Dương ). Túc Tông từ Phượng Tường trở về Kinh đô . Tháng 11 , Đỗ Phủ đem gia quyến từ Phu châu về Trường An . Thượng Hoàng (Đường Minh Hoàng) cũng từ Thục trở về .

Năm 758 , mùa xuân , Đỗ Phủ lại được làm chức thập tả di . Tháng 6 , đổi ra làm tư công tại Hoa châu ( huyện Hoa , tỉnh Thiểm Tây ). Ở đây được mấy tháng , ông về Lạc Dương ; năm sau lại sang đây .

Năm 759 , tháng Giêng , Sử Tư Minh ở Ngụy Châu ( huyện Đại Dnh , tỉnh Hà Bắc ), tự xưng là Yên Vương . Tháng 3 . Sử Tử Minh giết chết An Khánh Tự . Quân Quách Tử Nghi đi đánh dẹp bị thua , phải trở về giữ Đông Kinh .

Lúc này Đỗ Phủ đang ở trên đường đi từ Lạc Dương về Hoa châu . Làm các bài : Tân An Lại “, “ Thạch Hào Lại “, “Đồng quan Lại “ ( tam lại ) và “ Tân hôn biệt “ ,”Thùy Lăo biệt “, “ Vô gia biệt “( tam biệt ). Những bài này là tác phẩm tiêu biểu của Đỗ Phủ , như sau này ông viết :” Ức tại Đồng Quan thi hứng đa “ ( Nhớ trước Đồng Quan lắm hứng thơ ).

Tháng 7 , Đỗ Phủ bỏ quan chức , đem gia quyến rời Hoa châu, sang ở nhờ nhà người cháu là Đỗ Hựu tại Tần Châu ( huyện Thiên Thủy , tỉnh Cam Túc ) . Sinh hoạt nghèo khốn , thân thể suy yếu , Đỗ Phủ làm 20 bài “ Tần châu tạp thi “ .

Tháng 10 lại rời nhà đến huyện Đồng Cốc ( nay là huyện Thành , ở tỉnh Cam Túc ) , những tưởng ở đây việc mưu sinh dể dàng hơn , không ngờ cũng chẳng hơn ǵ lúc ở Tần Châu. Làm 7 bài ca “ Càn Nguyên Trung , ngụ cư Đồng Cốc huyện “ .

Tháng 12 Đỗ Phủ vào đất Thục đến Thành Đô .
Năm 760 ( 49 tuổi ), tại Thành Đô , Đỗ Phủ từng cư ngụ chùa Hoàn Hoa khê , giao du với nhà sư Phục Không . Su nhờ có sự giúp đỡ của bạn bè , ông dựng thảo đường trên hai mẫu đất hoang bên Hoàn Hoa khê , rồi làm thơ gởi đi các nơi xin các cây đào , lư , trúc , mai về trồng . “ Thành Đô thảo đường “ xây cất xong vào tháng 3 .

Thành Đô thảo đường quay lưng về phía quách Thành Đô , ở ngoài đường Thạch Tuân , phường Bích Khuê , Thiếu Thành , phía bắc đầm Bách Hoa , phía tây cầu Vạn Lư , suối Hoăn Hoa , gần sông Cẩm Giang , phía Tây Bắ trông ra núi Tây lĩnh , có tuyết phủ quanh năm .

Năm 761 , tháng 3 , Sử Tư Minh bị con là Sử Triều Nghĩa giết chết . Khoảngcuối năm , Nghiêm Vũ được phong làm Thành đô doăn.
Năm 762 , tháng 4 , Huyền Tông mất . Ít lâu sau , Túc Tông cũng băng hà . Đại Tông lên ngôi . Tháng 7 , Nghiêm Vũ được triệu về triều . Đỗ Phủ đi Miên Châu , rồi Từ Châu . Mùa đông lại về Thành Đô , đón gia đ́nh đến Tử châu ( huyện Tam Đài , tỉnh Tứ xuyên ).
Năm 763 ( Quăng Đức Nguyên Niên ), tháng 9 ,Đỗ Phủ đi tế Pḥng Quản tại Lăng Châu ( huyện Lăng Trung tỉnh Tứ Xuyên ). Trong năm này ông được bổ làm công tào tại Kinh Triệu , nhưng không đi nhận chức .

Năm 764, mùa xuân , Đỗ Phủ dem gia đ́nh từ Tử Châu đến Lăng Châu . Hoàng môn thị lang Nghiêm Vũ lại ra làm tiết độ sứ ở đất Thục . Đỗ Phủ lại trở về Thành Đô . Tháng 6 , Nghiêm Vũ dâng biểu tiến cử Đỗ Phủ làm tiết độ tham mưu , kiêm hiệu Công bộ viên ngoại lang . Nguyên Đỗ Phủ là cố cựu của Nghiêm Dĩnh Chi , thân phụ của Nghiêm Vũ , nên khi Đỗ Phủ đến ở Thành Đô , Nghiêm Vũ thường đến thăm ông ở thảo đường .

Năm 765 , tháng 1 , v́ không chịu được sự câu thúc , lại thấy đồng liêu đố kị , Đỗ Phủ từ chức ở Mạc phủ , trở về thảo đường . Bạn thân là Tán Kỵ thường thị Cao Thích mất . Tháng 4 , Nghiêm Vũ cũng từ trần . Tháng 5 , Đỗ Phủ rời Thành Đô đi xuống phía nam . Từ Nhung châu ( huyện Nghi Tân ) đi đến Du Châu ( huyện Ba ) .Tháng 6 , đến Trung châu ( huyện Trung), rồi đến huyện Vân An ( Vân Dương , đều thuộc tỉnh Tứ Xuyên ).

Năm 766 (Đại lịch nguyên niên ) , mùa xuân , Đỗ Phủ từ Vân An đi xuống Qui Châu ( Phụng Tiết , Tứ Xuyên ), ở phía đông . Trong mùa thu , ngụ tại Tây Các phủ Qú .

Qú Châu là nơi có nhiều cổ tích danh tiếng như Bạch Đế thành của Công Tôn Thuật , Bát trận đồ của Khổng Minh . V́ vậy thơ Đỗ Phủ làm trong thời ḱ này phần nhiều là vịnh hoài , như 8 bài " Thu hứng " , 5 bài " chư tướng", 5 bài " Vịnh hoài cổ tích "

Năm 767 , mùa xuân , từ tây Các trở về Xích Giáp . Tháng 3 rồi sang Nhương Tây . Mùa thu , đến Đông Đồn rồi trở về lại Nhương Tây ( đều thuộc Qú châu ) .

Năm 768 ( 57 tuổi )Đổ Phủ rời Qú châu , ra khỏi Giáp . Tháng 3 , đến Giang Lăng ( tỉnh Hồ Bắc ). Cuối năm đi sang Nhạc châu ( Nhạc Dương , tỉnh Hoài Nam ).
Năm 769 , tháng Giêng , Đỗ Phủ rời Nhạc châu , theo ḍng sông Tương đi đến Đàm Châu ( Trường Sa tỉnh Hồ Nam ). Tại đây ông gặp danh ca Lư qui Niên , làm ra bài thơ nổi tiếng " Giang Nam phùng Lư Qui Niên " .

Năm 770 ( Đại Lịch thứ 5 ) , tháng 4 , Hồ Nam binh mă sứ Tang Giới giết chết đoàn luyện sứ Thôi Quán . Để tránh loạn này . Đỗ Phủ xuống thuyền cùng vợ con đi Hành Châu ( Hành Dương , tỉnh Hồ Nam ). Làm bài thơ gồm 36 vần : Phong tật , chu trung phục phục chẩm thư hoài " ( Lúc gió thổi nhah nằm trong thuyền ôm gối , viết mối hoài cảm ). Sau đó đi Sâm châu , rồi Lỗi Dương ( đều thuộc tỉnh Hồ Nam ) . Đỗ Phủ mất tại Lỗi Dương , thọ 59 tuổi .
Sau khi Đỗ Phủ tạ thế , gia nhân v́ nghèo túng quá , đành phái tám đặt linh cữu thi sĩ tại Nhạc Châu ( Nhạc Dương , Hoài Nam ). Đến đời cháu là Đỗ Tự Nghiệp , mới đến Nhạc Châu , đem linh thần về táng tại chân núi Thủ Dương , ở Lạc Dương ( Hà Nam) , gần mộ Đỗ Dự và Đỗ Thẩm Ngôn .

Khi Đỗ Tự Nghiệp đưa linh thần Đỗ Phủ qua kinh châu , có gặp thi sĩ Nguyên Chẩn trên đường đi . Nguyên Chẩn viết một bài minh đề trên mộ Đỗ Phủ , nói rằng : " Từ khi có thi nhân đến giờ , không có ai vĩ đại bằng Tử Mỹ !" .

Đỗ Phủ có hai con trai là Tông Văn , Tông Vũ , Tự Nghiệp là con của Tông Vũ .
( Theo Thơ Đường của Trần Trọng San)

Phần tham khảo :
Thơ Đường (http://www.nhanmonquan.net/vbulletin/showthread.php?s=&threadid=2613)

Bach Van Phi
06-13-2002, 02:56 AM
BÁT TRẬN ĐỒ

Công cái tam phân quốc
Danh thành Bát trận đồ
Giang lưu thạch bất chuyển
Di hận thất thôn Ngô

Dịch nghĩa :

Công lớn trùm khắp, nước chia làm ba
Nổi danh trận đồ Bát quái
Nước sông cứ chảy đá không lay chuyển
Để lại hận đă thất kế thôn tính Ngô

Dịch thơ

Vơ công trùm lợp thời Tam Quốc
Danh tiếng làm nên Bát trận đồ
Đá vẫn nằm trơ gịng nước chảy
Hận c̣n để măi lỡ thôn Ngô

Trần Trọng San

Tam phân quốc công cao tột bực
Bát trận đồ danh nức muôn đời
Nước trôi đá vẫn không dời
Ngậm ngùi nỗi chẳng nghe lời đánh Ngô

Trần Trọng Kim

-Bát trận đồ: do Khổng Minh thời Tam quốc dựng thành, ở huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên. Tướng Ngô là Lục Tốn bị quân Thục vây hăm tại đây, nhưng nhờ được nhạc phụ của Khổng Minh là Hoàng Thừa Nghiện chỉ đường nên ra thoát được
-Tam phân quốc: Khổng Minh chưa ra khỏi nhà đă biết thiên hạ thế chia làm ba, Thục Ngô Ngụy
-Thôn Ngô: Lưu Bị đánh Đông Ngô để trả thù cho Quan Vân Trường, bị thua to về tay Lục Tốn.

Bach Van Phi
06-13-2002, 03:12 AM
BINH XA HÀNH


Xa lân lân
Mă tiêu tiêu
Hành nhân cung tiễn các tại yêu
Gia nương thê tử tẩu tương tống
Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều
Khiên y đốn túc lan đạo khốc
Khốc thanh trực thướng can vân tiêu
Đạo bàng quá giả vấn hành nhân
Hành nhân đản vân điểm hành tần
Hoặc ṭng thập ngũ bắc pḥng hà
Tiện chí tứ thập tây doanh điển (điền)
Khứ thời lư chính dữ khỏa đầu
Quy lai đầu bạc hoàn thú biên
Biên đ́nh lưu huyết thành hải thủy
Vũ hoàng khai biên ư vị dĩ
Quân bất văn
Hán gia Sơn đông nhị bách châu
Thiên thôn vạn lạc sinh kinh kỷ
Túng hữu kiện phụ bả sừ lê
Ḥa sinh lũng mẫu vô đông tê (tây)
Huống phục Tần binh nại khổ chiến
Bị khu bất dị khuyển dữ kê
Trưởng giả tuy hữu vấn
Dịch phu cảm thân hận
Thả như kim niên đông
Vị hưu Quan tây tốt
Huyện quan cấp sách tô
Tô thuế ṭng hà xuất
Tín tri sinh nam ác
Phản thị sinh nữ hảo
Sinh nữ do đắc giá tỷ lân
Sinh nam mai một tùy bách thảo
Quân bất kiến
Thanh hải đầu
Cổ lai bạch cốt vô nhân thâu
Tân quỷ phiền oan cựu quỷ khốc
Thiên âm vũ thấp thanh thâu thâu

Dịch nghĩa:

Xe chạy ầm ầm
Ngựa hí vang
Người ra đi cung tiễn đều đeo bên lưng
Cha mẹ vợ con đi đưa tiễn
Bụi tung mù mịt chẳng thấy cầu Hàm Dương
Níu áo, giậm chân, khóc lóc đầy đường
Tiếng khóc than vang lên đến tầng mây cao
Người đi đường qua đó hỏi kẻ ra đi
Kẻ ra đi đáp rằng luôn có việc bắt lính
Có người mới mười lăm tuổi đă đi pḥng giữ Hoàng Hà phía bắc
Đến bốn mươi tuổi th́ đổi qua khai thác ruộng đất ở phía tây
Khi ra đi viên lư trưởng cho chiếc khăn bịt đầu
Bạc đầu về lại thú biên
Ở biên thùy máu chảy thành nước sông nước biển
Vũ Hoàng ư c̣n chưa muốn ngưng việc khai phá biên thùy
Ông không nghe sao
mé sơn đông nhà Hán gồm hai trăm châu
Ngàn thôn vạn xóm gai góc mọc đầy
Dầu có những người đàn bà khỏe mạnh vác nổi cây bừa
Th́ lúa mọc bừa băi trên đồng ruộng cũng chẳng có được ǵ
Quân Tần lại đánh gấp ghê
Bị lùa ra trận chẳng khác ǵ đàn chó bầy gà
Ngài dù có thăm hỏi
Nhưng lính xuất chinh này đâu dám tỏ hết nỗi oán hận
C̣n như mùa đông năm nay
Lính ở Quan Tây chưa được nghỉ
Quan huyện hối thúc nộp thuế
Thuế tô từ đâu mà ra (tiền thuế lấy đâu mà trả )
Sinh trai khổ mẹ khổ cha
Sinh con gái lại hóa hay
Sinh con gái c̣n được gă chồng gần
Sinh con trai chỉ tổ vùi thây trong đám cỏ
Ngài thấy chăng
Ở miền Thanh Hải
Xưa đến giờ đống xương trắng không ai thu dọn
Ma mới oán than ma cũ khóc lóc
Trời đất âm u, mưa rơi rả rích, tiếng than rên rỉ

Dịch thơ :

Ngựa hát vang ! xe śnh sịch chạy !
Lưng đeo cung ai nấy như nhau
Vợ con cha mẹ chạy sau
Bụi tung nh́n chẳng thấy cầu Hàm Dương
Níu vạt áo đón đường lăn lóc
Vọng tận trời tiếng khóc thảm thê
Qua đường khách hỏi việc chi
Người đi rằng: Chúng tôi đi ... đi hoài
Mười lăm tuổi ra ngoài quan ải
Ngoài bốn mươi sang tới đồn điền
Lúc đi ông Lư đứng bên bịt đầu
Bạc đầu về lại thú biên
Ngoài biên máu đỏ ngău như bể
Nhà vua c̣n chưa nghỉ khai biên
Quan Đông làng xóm muôn ngh́n
Hai trăm châu lẻ mọc liền chông gai
Dù gái khỏe có tài cày cuốc
Đầy đồng sao phá được cỏ đi
Quân Mường lại đánh rát ghê
Bị xua thôi có khác chi chó gà
Ông dẫu muốn hỏi ra manh mối
Tôi dám đâu cạn nỗi đắng cay
Tức như muà rét năm nay
Quân c̣n kéo tới Quan Tây ùn ùn
Quan huyện lại gấp dồn sưu thuế
Sưu thuế nào biết chẻ đâu ra
Sinh trai khổ mẹ khổ cha
Thà sinh con gái thế mà lại hay
Sinh gái được gă ngay lân cận
Sinh trai đành vùi lẫn cỏ cây
Chẳng đi ông chẳng có hay
Bể xanh trên băi xương bày trắng phau
Chồng chất măi ai nào nhặt hộ
Ma mới phiền ma cũ kêu oan
Những khi trời tối mưa tàn
Tiếng ma ti tỉ khóc than canh dài

Nhượng Tống

Chú thích:

Hàm Dương kiều : cầu lớn trên sông Vị thủy ngoài thành Trường An
Vũ Hoàng: ám chỉ Đường Huyền Tông
Hán gia : ám chỉ nhà Đường
Tần : Quan trung, nay là vùng Thiểm Tây
Kim niên đông : tháng chạp năm Thiên Bảo thứ 9 (750)
Quan Tây tốt : quân lính ở Quan Trung, c̣n bị đưa đi đánh Thổ Phồn
Thanh Hải : ở phía đông bắc tỉnh Thanh Hải

Bach Van Phi
06-13-2002, 03:18 AM
ĐĂNG CAO

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc diệp tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lư bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hận phồn sương mấn
Lạo đảo tân đ́nh trọc tửu bôi

Dịch nghĩa

Gió gấp, trời cao, vượn kêu nghe ai oán
Băi xanh, cát trắng, chim bay lại
Khắp nơi, lá rụng xuống lả tả
Vô tận cùng, trường giang nước chảy cuồn cuộn về
Vạn dặm (xa xôi), mùa thu sầu, thường làm khách tha hương
Trăm năm (cuộc đời), bệnh tật nhiều, một ḿnh lên đài
Gian nan, khổ và hận, tóc mai bạc đầy
Lao đao (khốn đốn), mới (tạm) ngừng uống rượu

Dịch thơ :

Tiếng vượn kêu thương gió lộng trời
Băi xanh cát trắng cánh chim hồi
Áo ào lá rụng không ngừng trút
Cuộn cuộn sông dài cứ măi trôi
Muôn dặm thương thu làm khách lạ
Trăm năm nhiều bệnh dạo đài chơi
Gian truân sầu hận sương đầy tóc
Say ngả nghiêng rồi rượu mới thôi

Trần Trọng San

Trời cao gió mạnh vượn kêu
Băi quang cát trắng chim chiều bay quanh
Miên man lá rụng điêu linh
Nước sông cuồn cuộn mênh mông chảy dào
Khách xa thu tới thêm sầu
Tuổi già lắm bệnh lên cao một ḿnh
Gian nan tóc bạc khôn đành
Nỗi ḿnh vất vả hăy d́nh chén vui

Trần Trọng Kim

Gió gấp trời cao vượn nỉ non
Bến trong cát trắng lượn chim cồn
Rào rào lá trút rừng câu thẳm
Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn
Thu quạnh ngh́n khơi ḷng khách năo
Đài cao trăm bệnh chiếc thân ṃn
Gian nan khổ hận đầu thêm bạc
Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn

Nam Trân

Bach Van Phi
06-13-2002, 03:26 AM
THU HỨNG

I .
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm
Giang gian ba lăng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Hày y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm

Dịch thơ :

Lác đác rừng phong hạt móc sa
Ngàn non hiu hắt, khí thu ḷa
Lưng trời sóng rợn ḷng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Khóm cúc tuôn thêm ḍng lệ cũ
Con thuyền buộc chặt mối t́nh nhà
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước
Thành Bạch, chầy vang bóng ác tà

Nguyễn Công Trứ dịch

II .
Văn đạo Trường An tự dịch kỳ
Bách niên thế sự bất thăng bi
Công hầu đệ trạch giai tân chủ
Văn vũ y quan dị tích th́
Trực bắc quan san kim cổ chấn
Chinh tây xa mă vũ thư tŕ
Ngư long tịch mịch thu giang lănh
Cố quốc b́nh cư hữu sở tư

Dịch thơ

Nghe nói Trường An tựa hí trường !
Trăm năm thế cuộc lắm bi thương
Công hầu dinh thự thay người mới
Văn vũ y quan đổi khác thường
Chiêng, trống ầm vang lên Bắc tái
Quân, thư chậm trễ đến Tây phương
Sông thu lạnh vắng hơi tăm cá
Cố quốc thanh b́nh măi ước mong.

Bach Van Phi
06-13-2002, 03:29 AM
TUYỆT CÚ

Lưỡng cá hoàng li minh thuư liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lư thuyền.


Dịch thơ:

Liễu xanh hót cặp oanh vàng,
Trời lam trắng điểm một hàng c̣ baỵ
Song lồng mái tuyết non Tây,
Thuyền Ngô muôn dặm đỗ ngay cửa ngoài

TƯƠNG NHƯ dịch

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng c̣ trắng vút trời xanh.
Ngh́n năm tuyết núi song in sắc,
Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập ŕnh.

TẢN ĐÀ dịch

Ngao_0p
06-13-2002, 06:18 AM
NGUYỆT DẠ

Kim dạ Phu châu nguyệt ,
Khuê trung chỉ độc khan .
Dao lân tiểu nhi nữ ,
Vị giải ức Trường An .
Hương vụ vân hoàn thấp ,
Thanh huy ngọc tư hàn .
Hà thời ỷ hư hoảng ,
Song chiếu lệ ngân can .


Dịch nghĩa :
Đêm Trăng

Đêm nay trăng chiếu tại Phu châu; chỉ có những người trong pḥng khuê riêng ngắm bóng trăng này . Ở nơi xa thương cho đứa con gái nhỏ , chưa biết nhớ đến Trường An .
C̣n vợ th́ mớ tóc mây ướt đẫm sương thơm , cánh tay ngọc giá lạnh dưới ánh trăng trong . Biết bao giờ lại được cùng nhau dựa bên màn cửa trống , ngắm bóng trăng soi đôi ngấn lệ khô ?

Dịch thơ :

Đêm Trăng

Đêm nay trăng chiếu Phu Châu ,
Pḥng khuê riêng ngắm trăng sầu lẻ loi
Thương t́nh con trẻ thơ ngây
C̣n chưa biết nhớ đến người Trường An .
Tóc mây ướt đẫm sương thơm ,
Lạnh lùng tay ngọc phủ làn sáng trong .
Bao giờ cùng tựa bên song ,
Cho trăng soi ngấn đôi ḍng lệ khô ?

Bản dịch Trần Trọng San

Châu Phu này lúc trăng soi,
Buồng the đêm vắng riêng coi một ḿnh.
Đoái thương thơ dại đầu xanh,
Tràng An chưa biết mang t́nh nhớ nhau.
Sương sa thơm ướt mái đầu,
Cánh tay ngọc trắng lạnh màu sáng trong.
Bao giờ tựa bức màn không,
Gương soi chung bóng lệ ḍng ḍng* khô.
----
* Có sách ghi là " lệ ṛng sương khô"

Bản dịch Tản Đà



Đêm nay Phu Châu sáng
Ḿnh em ngắm trăng khuya
Nỗi nhớ Trường An ấy
Thương con chửa biết ǵ
Sương thơm làn tóc đẫm
Ánh lạnh cánh tay tê
Bao giờ cùng soi bóng
Đôi ḿnh ngấn lệ se.

Bản dịch : Khương Hữu Dụng

Ngao_0p
06-13-2002, 06:57 AM
ĐĂNG NHẠC DƯƠNG LÂU

Tích văn Động Đ́nh thủy ,
Kim thướng Nhạc Dương Lâu .
Ngô Sở đông nam sách ,
Kiền khôn nhật dạ phù .
Thân bằng vô nhất tự ,
Lăo bệnh hữu cô chu .
Nhung mă quan san bắc ,
Bằng hiên thế tứ lưu .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa

Lên Lầu Nhạc Dương

Trước kia từng nghe nói đến nước hồ Động Đ́nh , hôm nay mới lên lầu Nhạc Dương . Hồ này phân chia đất Ngô ở phía đông , với đất Sở ở phía nam ; trời đất dường như ngày đêm nổi trên mặt nước .
Về bà con ,bạn bè, không có một chữ nào cho biết tin tức ; chiếc thân già bệnh chỉ có một con thuyền . Ở phía Bắc quan ải , núi non vẫn c̣n chiến tranh . Đứng tựa hiên lầu , nước mắt cùng nước mũi tuôn trào .

Lên Lầu Nhạc Dương

Động Đ́nh nghe nói từ lâu ,
Hôm nay mới được lên lầu Nhạc Dương .
Sở Ngô chia cắt nam đông
Ngày đêm trời đất mênh mông mặt hồ .
Vắng tin bạn cũ người xưa ;
Chiếc thân già bệnh, bơ vơ con thuyền .
Chiến chinh ải bắc chưa yên ;
Lệ rơi chan chứa , tựa hiên ngậm ngùi .


Bản dịch Trần Trọng San

Động Đ́nh nghe tiếng từ xưa
Mà đây lầu Nhạc bây giờ mới lên
Đông , Nam, Ngô, Sở tách miền
Mênh mang trời đất ngày đêm bềnh bồng
Bạn bè một chữ vẫn không
Thân già nua bệnh chiếc bồng lẻ loi
Bắc phương giặc giă rối bời
Bên hiên đứng tựa, sụt sùi lệ sa

Nam Trân dịch

Ngao_0p
06-13-2002, 07:29 AM
Giang nam Phùng Lư Qui Niên

Kỳ vương trạch lư tầm thường kiến ,
Thôi Cửu đường tiền kỷ độ văn .
Chính thị Giang Nam hảo phong cảnh ,
Lạc hoa thời tiết hựu phùng quân .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Gặp Lư Qui Niên tại Giang Nam

Ngày trước , tại Trường An ,tôi thường gặp ông ở nhà của Kỳ vương , và đă mấy lần được nghe danh ông ở trước nhà của Thôi Cửu . Bây giờ chính ở nơi phong cảnh đẹp đất Giang Nam , trong mùa hoa rụng tôi lại gặp ông .

Gặp Lư Qui Niên tại Giang Nam

Trong phủ Kỳ vương thường gặp mặt
Trước nhà Thôi Cửu biết danh ai .
Đương khi phong cảnh Giang Nam đẹp
Giữa lúc hoa rơi lại gặp người .

Bản dịch Trần Trọng San

Trong nhà Kỳ Vương thường vẫn thấy
Trước thềm Thôi Cửu mấy lần nghe
Giang Nam phong cảnh thanh kỳ
Đến mùa hoa rụng không dè gặp anh

Trần Trọng Kim

Bach Van Phi
06-13-2002, 12:35 PM
MỘNG LƯ BẠCH

I .
Tử biệt dĩ thôn thanh
Sinh biệt thường trắc trắc
Giang Nam chướng lệ địa
Trục khách vô tiêu tức
Cố nhân nhập ngă mộng
Minh ngă trường tương ức
Quân kim tại la vơng
Hà dĩ hữu vũ dực
Khủng phi b́nh sinh hồn
Lộ viễn bất khả trắc
Hồn lai phong lâm thanh
Hồn phản quan tái bắc
Lạc nguyệt măn ốc lương
Do nghi chiếu nhan sắc
Thủy thâm ba lăng khoát
Vô sử giao long đắc

II .
Phù vân chung nhật hành
Du tử cửu bất chí
Tam dạ tần mộng quân
T́nh thân kiến quân ư
Cáo quy thường cục xúc
Khổ đạo lai bất dị
Giang hồ đa phong ba
Chu tiếp khủng thất trụy
Xuất môn tao bạch thủ
Nhược phụ b́nh sinh chí
Quan cái măn kinh hoa
Tư nhân độc tiều tụy
Thục vân vơng khôi khôi
Tương lăo thân phản lụy
Thiên thu vạn tuế danh
Tịch mịch thân hậu sự

Dịch nghĩa :

Bài 1: Bài thơ liên quán, tả từ lúc nhớ Lư Bạch, xong nằm mộng thấy, rồi tỉnh lại giữa đêm nằm suy nghĩ (thương xót bạn)

Bài 2: Bài thơ này nối với bài trên. Thi nhân nh́n trời thấy mây giăng, nhớ đến mấy ngày rồi nằm mộng thấy Lư Bạch, rồi ngẫm nghĩ đến những chuyện trong mơ của hai người, cuối cùng cảm thán cho số phận của bạn (và của con người ???)

Hai bài trên thật là một sự tiếc thương triền miên, tiếc không c̣n cùng bạn ở một bên thế giới, thế giới bên kia không biết ra sao, nhưng thấy ư Đổ Phủ có vẻ khó khăn tịch mịch làm sao, không lẽ chết đi th́ ḿnh không được tự do tự tại nữa chăng ? Sao có lẽ ? Ngay cả ở trên trần gian vốn là khổ này, Lư Bạch vẫn tung hoành được cơ mạ Nhưng đây là Đổ Phủ nghĩ vậy thôi, thương cho bạn mà cũng thương cho ḿnh.
Điệu thơ thật là âm ám như trong một giấc mộng dài buồn thảm mà có phần quỷ khí trong đó, như thể là vừa trở lại từ nơi xa xăm nàọ

I .
Người chết đi là đă hết lời
Người c̣n sống th́ lúc nào cũng thương xót
Giang nam là nơi chướng độc
Người bị đày không nghe tin tức
Cố nhân đi vào trong mộng
Biết là ta nhớ nhung đă lâu nay
Tôi e rằng hồn bạn không được như ư lắm
Nhưng lâu nay đường xá xa xôi không gặp không biết có phải vậy không
Hồn về đây cánh rừng phong xanh ngát
Hồn trở lại miền quan tái đen tối xa xăm
Bạn giờ đây đă nằm sa trong lưới
Làm sao mà có lông cánh bay bỗng khắp nơi
Trăng xuống chiếu trên rường nhà
C̣n ngờ như đang soi trên khuôn mặt bạn
Nước th́ sâu sóng th́ lớn
Mong bạn coi chừng cẩn thận con thuồng luồng dưới nước

II .
Mây trôi bềnh bồng cả ngày nay
Người khách ham chơi lâu ngày không thấy tới
Ba hôm nay nằm mộng thấy bạn
Thâm t́nh của bạn lộ rơ ta thấy
Lúc cáo từ bạn có vẻ bồn chồn không an
Nói rằng đường xá khó khăn không dễ lại thăm
Sông hồ nhiều sóng gió
Chèo lái sợ sẩy tay ch́m thuyền
Ra cửa c̣n xoa xoa đầu tóc bạc
Có vẻ như nghịch ư ḿnh sao đó
Nào mũ, nào lọng đầy kinh đô
Chỉ có ḿnh người này là tiều tụy
Ai bảo lưới trời lồng lộng
Về già rồi hóa ra thân lại bị lụy
Ngàn năm vạn năm sau danh tiếng
Nhưng chết đi rồi th́ im ĺm chẳng c̣n ǵ để nói

Dịch thơ :

I .
Chết biệt đành câm hơi
Sống biệt thường nhức nhối
Giang nam đất lam chướng
Khách đày tin ngóng mỏi
Anh nhập vào mộng tôi
Rơ tôi nhớ anh măi
Nay anh bị giam cầm
Cánh đâu mà vượt khỏi
E chẳng phải hồn sống
Đường xa khôn lường nổi
Hồn đến rừng phong xanh
Hồn về quan ải tối
Trăng xế lọt đầy nhà
C̣n ngờ gương mặt rọi
Nước sâu sóng gió to
Chớ để thuồng luồng hại

II .
Mây nổi suốt ngày trôi
Người đi măi biền biệt
Ba đêm hằng mộng anh
Thấy anh t́nh thắm thiết
Chào về thường bịn rịn
Ôi đến nhau khó thật
Sông hồ sóng gió nhiều
Thuyền bè e đắm mất
Dường trái chí b́nh sinh
Bước ra găi đầu bạc
Mũ lọng đầy kinh hoa
Một người này xơ xác
Lồng lộng lưới trời giăng
Gần già lụy chẳng thoát
Ngàn thu tiếng để đời
Ích ǵ sau lúc thác


Trần Trọng San

I .
Chết xa nhau nín đă đành
Sống xa nhau để đinh ninh bên ḷng
Giang nam hơi độc mịt mùng
Khách đi đày biết vân mồng ra sao
Chiêm bao ta bạn lẻn vào
Rơ ḷng ta chẳng lúc nào lúc quên
Biết đâu cách trở đôi miền
Sợ khi không phải hồn quen mọi ngày
Hồn về xanh ngắt ngàn cây
Hồn đi quan ải bóng mây đen rầm
Bạn nay ḍ lưới giam cầm
Cách nào vượt được xa xăm canh dài
Xà nhà trăng lặn rọi soi
C̣n như nhác thấy mặt người năm xưa
Sông sâu sóng nước không bờ
Giữ ḿnh chớ để sa cơ thuồng luồng


II .
Mây nổi chạy quanh ngày
Khách du đâu vắng biệt
Ba đêm gặp bác luôn
Ḷng tôi bác đă biết
Lối lại kêu khó khăn
Đ̣i về chi mải miết
Sông hồ sóng gió nhiều
Chèo lái lo khôn xiết
Chí cũ chắc không đành
Bước ra đầu lắc riết
Đầy kinh mũ lọng ai
Người ấy riêng thua thiệt
Đeo lụy lúc hồ già
Ai rằng trời xét nét
Muôn năm tiếng để đời
Vô ích sau khi chết

Nam Trân

I .
Chết đành lặng ngắt tăm hơi
Sống mà xa cách sao nguôi tấc ḷng
Giang nam chướng độc muôn trùng
Mong người bi đuổi tin hồng vắng tanh
Chiêm bao lẫn khuất bên ḿnh
Tỏ rằng ta vẫn nặng t́nh nhớ nhung
Bạn nay c̣n mắc lưới hồng
Cáng đâu tháo củi sổ lồng cao bay
Phải chăng hồn sống về đây
Nẻo đường xa lắc dễ hay mà lường
Hồn đi xanh ngắt rừng bàng
Hồn về cửa ải dặm đường tối đen
Trên xà xế bóng trăng xiên
Mơ hồ c̣n tưởng như in vẻ người
Nước sâu sóng dợn đầy giời
Giữ sao cho khỏi mắc mồi giao long


II .
Đám mây nổi suốt ngày trôi lững thững
Du tử kia đằng đẵng biết bao về
Luôn ba đêm thấy bạn lúc nằm mê
Biết bạn vẫn nặng nề t́nh thân ái
Khi lui gót băn khoăn ngần ngại
Giận đường đi lối lại khó bao nhiêu
Bước giang hồ sóng gió nổi sôi nhiều
Những e sợ lái chèo khi sẩy lạc
Ra tới cửa giơ tay xoa tóc bạc
Chí b́nh sinh không thỏa được nghĩ buồn chưa
Nào lọng che nào mũ đội đầy rẫy khắp kinh đô
Sao người ấy bơ phờ riêng một kiếp
Ai dám bảo lưới trời to rộng khiếp
Đến thân già c̣n vương vít măi chưa thôi
Tiếng tăm muôn thuở ngh́n đời
Âm thầm lặng lẽ nữa rồi thân sau

Á Nam

Bach Van Phi
06-13-2002, 01:05 PM
TẶNG VỆ BÁT XỬ SĨ

Nhân sinh bất tương kiến
Động như Sâm dữ Thương
Kim tịch phục hà tịch
Cộng thử đăng chúc quang
Thiếu tráng năng kỷ th́
Mấn phát các dĩ thương
Phỏng cựu bán vi qủy
Kinh hô nhiệt trung trường
Yên tri nhị thập tải
Trùng thượng quân tử đường
Tích biệt quân vị hôn
Nhi nữ hốt thành hàng
Di nhiên kính phụ chấp
Vấn ngă lai hà phương
Vấn đáp năi vị dĩ
Khu nhi la tửu tương
Dạ vũ tiễn xuân cửu
Tân xuy gián hoàng lương
Chủ xưng hội diện nan
Nhất cử lũy thập trường
Thập trường diệc bất túy
Cảm tử cố ư trường
Minh nhật cách sơn nhạc
Thế sự lưỡng mang mang

Dịch nghĩa

Đời con người thường không gặp nhau
Như là hai sao Sâm và Thương
Đêm nay cũng trở lại như đêm nào
Cùng chung dưới một ánh đèn
Thời trẻ được bao nhiêu lâu nhĩ
Hai ta tóc tai đều đă bạc
Hỏi thăm bạn bè hồi xưa, một nửa đă qua đời
Ta kinh hô ḷng nóng sôi
Có biết đâu 20 mươi năm sau
Lại trở về nhà thăm bạn
Xưa lúc từ biệt bạn c̣n chưa có gia thất
Bây giờ con cái bỗng nhiên hàng hàng ra chào
Niềm nỡ kính cẩn mời bạn của cha
Hỏi thăm ở nơi nào lại
Hai bên vừa hỏi vừa trả lời một hồi
Mấy đứa nhỏ đă đem rượu bày ra
Trong mưa đêm đi hái rau hẹ mùa xuân
Cơm vừa mới thổi có lẫn kê vàng
Chủ nhân nói khó mà có dịp gặp được nhau
Phải uống một hơi mười chén rượu
Mười chén rượu uống nào đă say
Chỉ cảm động (mà say) tấm ḷng của bằng hữu
Ngày mai rồi sẽ núi non xa cách
Việc đời cả hai bên đều man mác không biết về đâu

Dịch thơ :

Ở đời không gặp gỡ
Như cách vời Sâm Thương
Đêm nay giống đêm nào
Chung ánh nến canh trường
Được bao lâu khỏe mạnh
Mái tóc đều pha sương
Bạn xưa chết quá nửa
Ḷng kinh sợ bàng hoàng
Ngờ dâu hai mươi năm
Lại lên nhà quân tử
Xưa bạn chưa có vợ
Nay con cái đầy đàn
Mừng vui chào lạy bác
Hỏi tôi từ đâu sang
Hỏi đáp c̣n chưa dứt
Mâm rượu đă sẵn sàng
Rau xuân hái mưa tối
Cơm thổi lẫn kê vàng
Chủ than khó gặp mặt
Mười chén cạn một hơi
Mười chén cũng không say
Cảm động t́nh xưa cũ
Mai núi sông cách trở
Cùng man mác việc đời

Trần Trọng San

Người đời không được thấy nhau
Sâm Thương mỗi lúc dễ hầu gặp nhau
Đêm nay mới lại đêm nào
Ngọn đèn soi tỏ một bầu sáng trưng
Trẻ trung kể được mấy chừng
Tóc đầu thấy đă một vầng hoa dâm
Hỏi bạn xưa nửa về âm
Thở than ngán nỗi âm thầm xót xa
Hai mươi năm có đâu ngờ
Nay ta trở lại đến nhà thăm anh
Xa nhau gia thất chưa thành
Mà nay trai gái quẩn quanh một đàn
Kính nhường phụ chấp hỏi han
Hỏi ta đâu mới băng ngàn đến đây
Đôi bên chưa dứt phân bày
Trẻ nhà đă dọn mâm đầy rượu ngon
Đêm mưa cắt ngọn hẹ non
Cơm kê mới nấu hăy c̣n hơi bay
Chủ rằng gặp mặt khó thay
Mười chung một lượt uống ngay mới vừa
Mười chung uống chẳng say sưa
Cảm ḷng bạn cũ t́nh xưa vẫn c̣n
Rồi đây cách trở núi non
Sự đời đôi ngă tần ngần biết bao

Trần Trọng Kim

Đời người chẳng gặp nhau ra
Sâm Thương những tưởng như là đôi sao
Đêm nay thử hỏi đêm nào
Ánh đèn ánh nến soi vào cùng chung
Tóc đầu bạc cả này trông
Được bao nhiêu lúc trẻ trung mà già
Bạn xưa quá nửa ra ma
Ngẫm vào sốt ruột nói ra giật ḿnh
Ai ngờ lại đến nhà anh
Hai mươi năm đă bất t́nh đi mau
Xưa nay anh đă vợ đâu
Gái trai nay đă lau nhau đầy nhà
Ân cần chào hỏi bạn cha
Rằng thưa bác ở đâu mà lại đây
Chưa xong câu chuyện thơ ngây
Món ăn chúng đă sắp bày dâng ra
Mưa xuân đêm hái hẹ hoa
Gạo thơm mới thổi lại pha kê vàng
Bạn rằng gặp gỡ chẳng thường
Rượu mời mươi chén rót thường luôn tay
Dẫu mười chén cũng chưa say
T́nh anh nặng khiến rượu này nhẹ không
Ngày mai cách núi cách sông
Chuyện đời thôi lại mịt mùng đôi nơi

Nam Trân

Bach Van Phi
06-13-2002, 09:25 PM
TÚC KIẾN ĐỨC GIANG

Di chu bạc yên chử
Nhật mộ khách sầu tân
Dă khoáng thiên đê thụ
Giang thanh nguyệt cận nhân

Dịch nghĩa:

Dời thuyền lại đậu ở bến sông đầy khói
Trời chiều khách lại có thêm mối sầu
Ngoài khoáng dă trời sầm xuống hàng cây
Trên mặt sông trong vắt mặt trăng đi gần đến người

Dịch thơ

Dời thuyền đến đậu bên bờ khói
Sầu khách vừa dâng lúc tối trời
Đồng ruộng cây đem trời xuống thấp
Sông trong trăng sáng đến gần người

Trần Trọng San

Dời thuyền đậu bến khói mây
Chiều hôm xúc cảnh khách ngây mối t́nh
Đồng không trời thấp ngọn cành
Nước sông trong vắt trăng quanh cạnh người

Trần Trọng Kim

Bach Van Phi
06-13-2002, 11:45 PM
VỌNG NHẠC

Đại Tông phù như hà ?
Tề Lỗ thanh vị liễu .
Tạo hóa chung thần tú,
Âm dương cát hôn hiểu .
Đăng hung sinh tằng vân,
Quyết tí nhập quy điểu .
Hội đương lăng tuyệt đính,
Nhất lăm chúng sơn tiểu .

Dịch nghĩa:

Núi Đại Tông như thế nào ?
Đất Tề, đất Lỗ màu xanh không ngớt.
Tạo hóa hun đúc nét đẹp khí thiêng ở đó .
Sườn núi bắc(âm), nam(dương)phân chia
chiều sớm .
Ḷng (ngực) núi dao động phát sinh lớp lớp khói mây.
Giương mắt đắm vào bầy chim về tổ.
Được dịp lên tận đỉnh cao chót vót,
Ngắm nh́n mới thấy núi non chung quanh đều
nhỏ bé .

Dịch thơ :

Thái Sơn biết thế nào
Xanh biếc chia Tề Lỗ
Hùng vĩ thay tạo hóa
Trắng đen vẽ như mơ
Mây trôi bâng khuâng dạ
Chim lạc mắt trừng nh́n
Có khi lên tận đỉnh
Vọng xuống đám núi xanh

Bach Van Phi
06-13-2002, 11:53 PM
XUÂN VỌNG

Quốc phá sơn hà tại
Thành xuân thảo mộc thâm
Cảm thời hoa tiển lệ
Hận biệt điểu kinh tâm
Phong tỏa liên tam nguyệt
Gia thư để vạn kim
Bạch đầu tao cánh đoản
Hồn dục bất thăng trầm

Dịch nghĩa

Nước bị tàn phá, núi sông vẫn c̣n đấy
Muà xuân trong thành, cỏ cây mọc đầy
Cảm (thương) thời thế, hoa rơi lệ
(Oán) hận biệt ly, chim kinh sợ trong ḷng
Khói lửa báo động liên miên ba tháng trời
Thư nhà (đến), quư như muôn lạng vàng
Đầu bạc, xoa thấy càng lưa thưa
Coi bộ không đủ (dày) để cài trâm

Dịch thơ

Nước phá tan, núi sông c̣n đó
Đầy thành xuân cây cỏ rậm sâu
Cảm thời hoa rỏ ḍng châu
Biệt ly tủi giận, chim đau nỗi ḷng
Ba tháng khói lửa ṛng không ngớt
Bức thư nhà, giá đắt bạc muôn
Găi đầu tóc bạc ngắn ngun
Dường như hết thảy, e khôn búi tṛn.

Trần Trọng Kim

Nước tàn sông núi c̣n đây
Thanh xuân cây cỏ mọc đầy khắp nơi
Cảm thời hoa cũng lệ rơi
Chim kia cũng sợ hận người ĺa tan
Lửa phong ba tháng lan tràn
Thư nhà đưa đến muôn vàng chắt chiu
Xoa đầu tóc bạc ngắn nhiều
So le lởm chởm khó điều cài trâm

Trần Trọng San

Nước mất c̣n sông núi
Thành xuân cảnh um tùm
Biệt ly ḷng chim hăi
Cám cảnh lệ hoa tuôn
Lửa hiệu liền ba tháng
Thư nhà đáng mấy muôn
Găi hoài cùn tóc bạc
Chừng tuột chiếc trâm luôn

Tương Như

Bach Van Phi
06-13-2002, 11:55 PM
KHÚC GIANG II

Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện
Điểm thủy thanh đ́nh khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương tống mạc tương vi

Dịch thơ:

Khỏi bệ vua ra cố áo hoài
Bến sông say khướt, tối lần mai
Nợ tiền mua rượu đâu không thế ?
Sống bảy mươi năm đă mấy người ?
Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn
Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi
Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi
Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.

Tản Đà

Ta ngày giũ áo từ quan
Bên sông chén rượu miên man quay về
Bốn bề nợ rượu lê mê
Bảy mươi đếm lại xưa giờ mấy ai ?
Vờn hoa phơ phất bướm say
Chuồn chuồn trêu sóng nước bay dập d́u
Gió mây chuyển vận muôn chiều
Cùng nhau tận hưởng phiêu diêu tháng ngày

Vơ Thị Xuân Đào

Bach Van Phi
06-13-2002, 11:57 PM
GIAI NHÂN

Tuyệt đại hữu giai nhân,
U cư tại không cốc .
Tự vân lương gia tử,
Linh lạc y thảo mộc .
Quan Trung tích táng loạn,
Huynh đệ tao sát lục.
Quan cao hà túc luận,
Bất đắc thu cốt nhục.
Thế t́nh ố suy yết,
Vạn sự tùy chuyển chúc.
Phu tế khinh bạc nhi,
Tân nhân mỹ như ngọc .
Hợp hôn thướng tri thời,
Uyên ương bất độc túc .
Đản kiến tân nhân tiếu,
Ná văn cựu nhân khốc.
Tại sơn tuyền thủy thanh,
Xuất sơn tuyền thủy trọc.
Thị tỳ măi châu hồi,
Khiên la bổ mao ốc.
Trích hoa bất sáp phát,
Thái bách động doanh cúc .
Thiên hàn thúy tụ bạc,
Nhật mộ ỷ tu trúc .

Dịch nghĩa:

Có người con gái đẹp tuyệt trần,
Sống âm thầm trong núi non vắng vẻ.
Nàng kể lể vốn con nhà đàng hoàng,
Mà nay phiêu dạt cùng với cỏ cây.
Vào buổi Quan Trung loạn lạc xa xưa,
Anh em đều bị sát hại .
Quan quyền cao sang mà kể làm ǵ,
Chết chẳng nhặt nhạnh được thịt xương .
T́nh đời vốn rẻ rúng, ghét bỏ sự suy vi .
Muôn việc tùy cho ngọn đèn nhấp nháy .
Anh chồng là phường bạc bẽo,
Đem về người mới xinh như ngọc .
Cây hợp hôn c̣n biết nở đúng lúc,
Chim uyên ương không sống đơn độc .
Chỉ thấy nụ cười của người mới,
Mà không nghe tiếng khóc của người cũ .
Ở trong núi, nước suối được trong sạch,
Ra khỏi núi, nước suối bị vẫn đục .
Người hầu gái đi bán ngọc trở về,
Bứt dây dại che chắn cho mái tranh .
Ngắt đóa hoa mà không cài lên tóc,
Hái lá bách vốc đầy một bụm tay .
Trời buốt giá,tay áo màu xanh mong manh,
Chiều chiều đứng tựa khóm trúc dài .

Dịch thơ:

Người Đẹp


Một trang quốc sắc tuyệt đời ,
Náu thân hiu quạnh ở nơi hang cùng .
Kể rằng con cái nhà tông ,
Sa cơ phải lạc loài cùng cỏ cây .
Quan trung loạn lạc những ngày ,
Anh em bị hại bởi tay hung tàn .
Kể chi hiển trật cao quan ,
Thảm thay đến nổi xương tàn không thu .
T́nh đời suy có ai phù ,
Việc đời chi khác đèn cù xoay quanh .
Lang quân cũng thói bạc t́nh ,
Coi người mới đẹp như h́nh tiên sa .
Biết thời kia dạ hợp hoa ,
Cặp uyên ương nọ thường là ngủ đôi .
Chỉ trông người mới vui cười ,
Nghe đau tiếng khóc của ai cô pḥng .
Suối c̣n trong núi suối trong ,
Suối ra khỏi núi , suối trông đục ngàu .
Sai t́ đi bán hạt châu ,
Lều tranh rác nát phải khâu dây lài .
Ngắt hoa mái tóc không cài .
Vốc đầy lá Bách , hái hoài không thôi .
Lạnh lùng tay áo mỏng tơi ,
Trời hôm dựa khóm trúc dài thẩn thơ .

Bản dịch Trần Trọng Kim


Ghi chú :

Hợp hôn : tức là cây dạ hợp đến đêm là hoa nó tỏa mùi thơm .

Người ta đặt ra người con gái rong bài thơ là thân phận của Tử Mỹ .

Bach Van Phi
06-14-2002, 12:24 AM
THẬP THẤT DẠ ĐỐI NGUYỆT

Thu nguyệt nhưng viên dạ
Giang thôn độc lăo thân
Quyển liêm hoàn chiếu khách
Ỷ trượng cánh tùy nhân
Quang xạ tiềm cầu động
Minh phiên túc điểu tần
Mao trai y quất dữu
Thanh thiết lộ hoa tân

Dịch nghĩa:

Trăng thu đêm nay vẫn tṛn
Thân già cô quạnh ở xóm bên sông
Cuốn rèm , trăng c̣n ngó khách
Chống gậy , trăng vẫn theo ḿnh
Ánh dọi xuống làm cho con cầu long đă lặn phải cựa quậy
Bóng sáng soi vào , khiến con chim ngủ xoay ḿnh luôn
Lều tranh dựa bên dăy cây quưt cây bưởi
Đêm lạnh hạt móc mới đọng như hoa

Dịch thơ

NGẮM TRĂNG ĐÊM MƯỜI BẢY

Vành vạnh trăng thu chút chẳng sai
Xóm sông lụ khụ một ḿnh ai
Cuốn rèm , trông thấy như chào lăo
Chống gậy ra chơi lại đón người
Soi suốt rồng nằm ḍng nước chảy
Sáng choang chim ngủ bóng cành phơi
Nhà tranh ngồi tựa bên chồi quưt
Móc trắng ḷng ta cũng trắng ngời

Trần Tế Xương dịch

Ngao_0p
06-17-2002, 09:53 AM
Thục Tướng


Thục tướng từ đường hà xứ tầm ,
Cẩm Quan thành ngoại bách sâm sâm .
Ánh giai bích thảo tự xuân sắc ,
Cách diệp hoàng ly không hảo âm .
Tam cố tần phiền thiên hạ kế ,
Lưỡng triều khai tế lăo thần tâm .
Xuất sư vi tiệp thân tiên tử ,
Trường sử anh hùng lệ măn khâm .

Đỗ Phủ




Dịch nghĩa :
Thừa Tướng Nước Thục

T́m ở nơi nào thấy đền thờ của thừa tướng ? Chính là ở ngoài thành Cẩm Quan, nơi có hàng cây bách um tùm . Soi sáng thềm , cỏ xanh vẫn có màu vẻ xuân ; ở bên kia lá cây , chim oanh vàng vẫn cất tiếng hót hay .
Lưu Huyền Đức ba lần đến thăm , làm cho ngài phải bận tâm với kế sách b́nh định thiên hạ . Ngài đă có công mở nước và giúp rập hai triều , hết ḷng bậc lăo thần . Ngài đem quân đi đánh Ngụy , chưa thắng trận mà thân đă thác ; việc này măi măi khiến cho các bậc anh hùng lệ rơi đầy vạc áo



Thục Tướng

Biết đâu t́m đến đền Thục tướng ?
Phía ngoài thành Cẩm , bách rườm rà .
Soi thềm , cỏ biếc luôn tươi thắm ;
Bên lá oanh vàng vẫn hát ca .
Ba lượt ân cần , ơn chúa nặng ;
Hai triều giúp rập , bụng tôi già .
Ra quân chưa thắng , thân đà thác ;
Măi khiến anh hùng lệ xót xa .

Bản dịch Trần Trọng San .


Ghi chú :
_ Thục tướng : thừa tướng nước Thục , chỉ Khổng Minh _ Gia Cát Lượng thời Tam Quốc .

Ngao_0p
06-17-2002, 10:09 AM
Tiểu Hàn Thực Chu Trung Tác



Giai thần cưỡng ẩm thực do hàn ,
Ẩn kỷ tiêu điều đới hạt quan .
Xuân thủy thiền như thiên thượng tọa ,
Lăo niên hoa tự vụ trung khan .
Quyên quyên hư điệp qua màn nhạn ,
Phiến phiến khinh âu hạ cấp suyền .
Vân bạch sơn thanh vạn dư ư ,
Sầu khan trực chỉ thị Trường An .

Đỗ Phủ


Dịch nghĩa :
Làm Trong Thuyền Vào Ngày Tiểu Hàn Thực

Trong tiết lành , ta gượng uống rượu trong lúc đồ ăn hăy c̣n nguội lạnh . Đội mũ lông chim hạt , tựa ghế buồn hiu . Trên mặt nước c̣n xuân , con thuyền giống như ngồi trên trời . Lúc tuổi già , ngắm hoa trong lớp sương mù .
Con bướm đẹp nhởn nhơ bay qua cánh buồm đi thong thả . Từng con chim âu nhẹ nhàng sà xuống ḍng nước trôi nhanh . Mây trắng , núi xanh giải dài hơn vạn dặm . Buồn trông lên phía bắc đó chính là Trường An .


Làm Trong Thuyền Vào Ngày Tiểu Hàn Thực


Tiết lành, gượng uống lạnh lùng ;
Ghế ngồi c̣m cơi ,mũ lông ră rời .
Nước xuân , thuyền đứng giữa trời ;
Mắt già , như thấy hoa cười trong sương
Nhởn nhơ bướm lượn quanh buồm ;
Nhẹ nhàng âu đáp xuống ḍng cuộn trôi .
Núi xanh , mây trắng xa vời ;
Buồn trông phía bắc , là trời Trường An .


Bản dịch Trần Trọng San

Tieu Dieu Khach
06-17-2002, 04:29 PM
<font color= red>GIANG MAI</font>
<font color= blue>
Mai nhụy lạp tiền phá,
Mai hoa niên hậu đa.
Tuyệt tri xuân ư hảo,
Tối nại khách sầu hà.
Tuyết thụ nguyên đồng sắc,
Giang phong diệc tự ba.
Cố viên bất khả kiến,
Vu tụ uất ta nga.
<font color= red>
Bản dịch :
CÂY MAI TRÊN SÔNG</font>

Trước ngày chạp nhị mai vừa mới ló,
Qua sang năm mai nở đă đầy cành.
Vẫn biết rằng xuân ư tốt xinh xinh,
Nhưng dạ khách buồn tênh sao xiết kể !
Cây với tuyết nguyên cùng một vẻ,
Gió trên sông gợn sóng sẽ nhô đầu.
Cố viên nào thấy đâu đâu,
Núi Vu chót vót một màu xanh om.

Á NAM dịch </font>

Tieu Dieu Khach
06-17-2002, 04:43 PM
<font color= red>VỊNH CHIÊU QUÂN </font>
<font color= purple>
Quần sơn vạn hác phó Kinh môn,
Sinh trưởng Minh Phi thượng hữu thôn.
Nhất khứ thử đài liên sóc mạc,
Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn.
Hoạ đồ tỉnh thức xuân phong diện,
Hoàn bội không qui nguyệt dạ hồn.
Thiên tải tỳ bà tác Hồ ngữ,
Phân minh oán hận khúc trung luân.

<font color= red>Bản dịch :
VỊNH CHIÊU QUÂN</font>

Ngh́n non vạn suối tới Kinh môn,
Quê quán Minh Phi vẫn hăy c̣n.
Đài tía bước ra nơi sóc mạc,
Nấm xanh gửi lại bóng hoàng hôn.
Vẻ xuân, tranh cổ phôi pha nét,
Gót ngọc, đêm trăng phảng phất hồn.
Đàn phổ tiếng Hồ muôn thuở đó,
Khúc tỳ ai oán mạch sầu tuôn.
Khuyết danh
</font>

Ngao_0p
06-18-2002, 12:11 AM
Khách Chí


Xá nam xá bắc giai xuân thủy ,
Đản kiến quần âu nhật nhật lai .
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo ,
Bồng môn kim thủy vị quân khai .
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị ,
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi .
Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm ,
Cách ly hô thủ tận dư bôi .



Phía nam , phía bắc nhà toàn là nước xuân . Chỉ thấy những con chim âu ngày ngày bay tới . Trươc đây chưa từng có v́ khách nào mà quét đường hoa ; bây giờ mới v́ bạn mà mở cửa cỏ bồng .
V́ chợ xa , nên bữa ăn không có đủ vị ; nhà nghèo, chỉ có chén rượu cũ chưa lọc . Thôi đành đối ẩm với lăo hàng xóm ; cách rào , gọi mang ra hết chén rượu c̣n lại .


Khách Đến

Nước xuân đầy rẫy bắc nam ;
Ngày ngày âu vẫn thường sang chơi nhà .
Chưa v́ khách quét lối hoa ,
Cửa bồng nay mới mở ra v́ người .
Chợ xa thiếu vị dâng mời ;
Nhà nghèo ; chỉ có rượu ôi lâu ngày .
Với ông hàng xóm cùng say ,
Gọi đem hết rượu ra ngay bên rào .


Bản dịch Trần Trọng San

Bach Van Phi
06-18-2002, 01:14 AM
HỌA ƯNG

Tố luyện phong sương khởi
Thương ưng họa tác thù
Hộ thân tư giảo thỏ
Trắc mục tự sầu hồ
Điều tuyền quang kham trích
Hiên doanh thế khả hô
Hà đương kích phàm điểu
Mao huyết sái b́nh vu

Dịch nghĩa :

Gió sương nổi trên tấm lụa trắng
Con ưng xanh vẽ khéo lạ lùng !
Đứng né ḿnh định ŕnh loài cáo
Ghé mắt giống con khỉ rũ buồn
Dây tơ buộc chân trên cột sắt sáng loáng
Trước hiên nghe gọi sẽ bay ra
Bao giờ đánh tan lũ chim hèn
Máu lông rẩy giữa miền đồng cỏ

Dịch thơ

CHIM ƯNG VẼ

Ưng xanh ai khéo vẽ vời
Nổi trên lụa trắng , một trời gió sương
Gườm gườm đôi mắt liếc ngang
Nghiêng nghiêng ḿnh né như đang ŕnh mồi
Dây xinh , ṿng sáng hẳn hoi
Gọi thường bay xuống hiên ngoài cũng nên
Bao giờ đánh bọn chim hèn
Máu lông tung rắc giữa miền đồng hoang ?

Nhượng Tống dịch

Bach Van Phi
06-18-2002, 08:55 PM
TIỀN XUẤT TÁI

Văn cung đương văn cường
Dụng tiễn đương dụng trường
Xạ nhân , tiên xạ mă
Cầm tặc , tiên cầm vương
Sát nhân diệc hữu hạn
Liệt quốc tự hữu cương
Cẩu năng chế xâm lăng
Khởi tại đa sát thương !

Dịch nghĩa :

Giương cung nên giương cung cứng
Dùng tên , nên dùng tên dài
Bắn người , nên trước bắn ngựa
Bắt giặc , nên trước bắt chúa
Sự giết người cũng có hạn
Các nước đều có bờ cơi riêng
Ví bằng đủ chặn được kẻ xâm lăng
Cần chi phải giết hại nhiều người

Dịch thơ :

LẦN TRƯỚC RA TRƯỚC ẢI

Giương cung phải cung cứng
Dùng tên phải tên dài
Bắn người , bắn ngựa trước
Bắt giặc , bắt chúa ngay
Giết người cũng có hạn
Nước nào chẳng đất đai ?
Nếu đủ chặn xâm lược
Cần ǵ giết thẳng tay ?

Hoàng Tạo dịch

Bach Van Phi
06-18-2002, 09:21 PM
PHỤNG TẶNG VI TẢ THỪA TRƯỢNG NHỊ THẬP NHỊ VẬN


Hoàn khóa bất ngă tử
Nho quan đa ngộ thân
Trượng nhân thí tĩnh thính
Tiện tử thỉnh cụ trần
Phủ tích thiếu niên nhật
Tảo sung quan quốc tân
Độc thư phá vạn quyển
Hạ bút như hữu thần
Phú liệu Dương Hùng địch
Thi Khan Tử Kiến thân
Lư Ung cầu thức diện
Vương Hàn nguyện bốc lân
Tự vị phả dĩnh xuất
Lập đăng yếu lộ tân
Trí quân Nghiêu , Thuấn thượng
Tái sử phong tục thuần
Thử ư cánh tiêu điều
Hành ca phi ẩn luân
Kỵ lư thập tam tải
Lữ thực kinh hoa xuân
Triêu khấu phú nhi môn
Mộ tùy ph́ mă trần
Tàn bôi dữ lănh chá
Đáo xứ tiềm bi tân
Chủ thượng khoảnh kiến trưng
Thúc nhiên dục cầu thân
Thanh minh khướt thùy si
Tằng đăng vô túng lân
Thậm quư trượng nhân hậu
Thậm tri trượng nhân chân
Mỗi ư bách liêu thượng
Ổi tụng giai cú tân
Thiết hiệu Cống công hỉ
Nan cam Nguyên Hiến bần
Yên năng tâm ưởng ưởng
Chỉ thị tẩu tuân tuân
Kim dục đông nhập hải
Tức tương tây khứ Tần
Thượng liên Chung Nam sơn
Hồi thủ thanh Vị tân
Thường nghĩ báo nhất phạn
Huống hoài từ đại thần
Bạch âu một hạo đăng
Vạn lư thùy năng thuần

Dịch nghĩa :
Con nhà giàu không bao giờ chết đói
Mũ áo nhà nho nhiều lúc làm lỡ đời người
Xin bậc tôn trưởng hăy lắng tai nghe
Cho kẻ hèn mọn được giăi bày rơ rệt
Đỗ Phủ này lúc c̣n ít tuổi
Sớm được dự hàng "khách nước" vinh quang
Sách đọc vỡ muôn cuốn
Bút viết như có thần
Phú địch nổi Dương Hùng
Thơ gần với Tử Kiến
Lư Ung cũng mong biết mặt
Vương Hăn cũng muốn ở gần
Nghĩ ḿnh sẽ được trổ tài
Bước lên nơi trọng yếu
Giúp vua hơn Nghiêu Thuấn
Làm cho phong tục trở lại trong lằnh
(Nhưng) ư nghĩ ấy đă bị tan mất
Lại không được như người ẩn dật
Đâm ra đi lang thang hát nghêu ngao
Mười ba năm trời cưỡi trên ḿnh lừa
Ăn ở nhờ nơi kinh đô
Sớm gơ cửa nhà giàu
Chiều hút theo dấu bụi đám ngựa béo
Rượu thừa cùng chả nguội
Đến đâu cũng âm thầm xót xa
Vụt được vua vời đến
Chắc được bay nhảy có phần
(Nhưng ) giữa khoảng trời xanh , chim đành rũ cánh
Cá lờ đờ không chỗ giương vây
Thẹn ḿnh được bậc tôn trưởng rủ t́nh đằm thắm
Rất hiểu ḷng chân thực của cụ
Thường khi trước mặt trăm quan
Những câu thơ hay được đưa ra nhẩm đọc
Trộm bắt chước cái mừng của Cống Vũ
Chưa cam chịu cảnh Nguyên Hiến nghèo nàn
Hay đâu ḷng bùi ngùi
Mỗi bước ruột nẫu úa
Nay định phương đông vào bể
Sẽ ra phương tây đi khỏi đất Tần
Nh́n núi Chung Nam vẫn c̣n lmến tiếc
Nghoảnh về phía sông Vị trong vắt một màu
Bát cơm c̣n mang ơn nặng
Huống chi từ biệt bậc đại thần lại không nhớ nhung
(Từ đây ) chim bạch âu lẩn trong khoảnh mênh mông
Muôn dặm vẫy vùng ai c̣n chế ngự được

-Dương Hùng : tên chữ là Tử Vân , một nhà từ phú nổi tiếng đời Hán
-Tử Kiến : Tào Thực
- Lư Ung : một người nổi tiếng trong giới văn nghệ đương thời . Ông đă có lần đến thăm Đỗ Phủ
- Vương Hăn : một nhà thơ đương thời
-Cống Vũ : Người đời Hán bạn với Vương Cát . Khi Vương Cát được làm quan , Cống Vũ vui mừng khôn xiết . Đỗ Phủ ví ḿnh như Cống Vũ ,mừng Vi Tế được làm quan to
-Nguyên Hiến : học tṛ của Khổng Tử , nhà rất nghèo

Dịch thơ :

DÂNG TẶNG QUAN TẢ THỪ A HỌ VI


Khố lụa chẳng chết đói
Mũ nho thường tội thân
Cụ hăy lắng nghe thử
Hèn mọn xin phân trần
Phủ tôi lúc trẻ tuổi
Sớm dự khoa thi xuân
Sách đọc vỡ muôn quyển
Hạ bút như có thần
Thơ sánh sức Tào Thực
Phú ngang tài Tử Vân
Lư Ung t́m biết mặt
Vương Hăn muốn cầu thân
Tài ḿnh tưởng chẳng mấy
Sẽ nắm quyền trị dân
Giúp vua vượt Nghiêu Thuấn
Lại cho phong tục thuần
Hát rong phải lánh đời ?
Nguyền xưa dẫu lỗi dần
Cưỡi lừa mười ba năm
Đất kinh t́m kiếm ăn
Nhà giàu sớm gơ cửa
Ngựa béo chiều theo chân
Rượu thừa , miếng chả nguội
Nuốt tủi đă bao lần ?
Nhà vua vừa cho đ̣i
Bay nhảy chắc có phần
Mây xanh , cánh bỗng ră
Vũng cạn , vẩy đành quằn
Rất biết cụ thực bụng
Rất cảm cụ ân cần
Câu hay thường đọc lại
Trước mặt các triều thần
Ḷng mừng riêng khấp khởi
Cảnh nghèo bao khó khăn
Chạy kể đă vất vả
Ḷng dẫu không ăn năn
Nay định t́m vào bể
Sẽ ra ngay khỏi Tần
Núi Chung c̣n tiếc rẻ
Bến Vị tạm lần chần
Bữa ăn mong trả nghĩa
Huống nữa là ân nhân
Muôn dặm sóng mông mênh
Âu trắng ai dễ gần ?

Nhượng Tống dịch

Bach Van Phi
06-20-2002, 02:49 PM
KƯ ĐỖ VỊ

Hàn nhật kinh thiềm đoản
Cùng viên thất mộc bi
Giáp trung vi khách cửu
Giang thương ức quân th́
Thiên địa nhân hà tại
Phong trần bệnh tán từ
Phong thư lưỡng hàng lệ
Triêm sái ấp tân thi

Dịch nghĩa :

Ngày rét , mặt trời chóng qua thềm
Mất ổ , cùng đường , vượn buồn rầu
Nấn ná lâu ngày ở gửi nơi kẽm sông
Khi ở trên sông lại nhớ đến bác
Khắp trời đất biết gửi thân nơi nào ?
Bước phong trần đau ốm biết nài sao !
Gửi lá thư , hai hàng lệ nhỏ
Đầm đ́a bám vào ḷng thơ mới

Dịch thơ :

GỬI ÔNG ĐỖ VỊ

Bóng trời rét qua thềm thoăn thoắt
Vượn cùng đường mất ổ những bi ai
Nơi kẽm sông nấn ná bấy lâu rồi
Trên sông đó nghĩ người thêm tưởng nhớ
Khắp trời đâu biết đâu là chốn ở
Bước phong trần đau ốm nữa nài sao !
Phong thư hàng lệ tuôn trào
Đầm đ́a lă chă thấm vào hàng thơ

Á Nam dịch

Bach Van Phi
06-21-2002, 08:13 PM
TỐNG KHỔNG SÀO PHỦ TẠ BỆNH QUY DU GIANG ĐÔNG KIÊM TR̀NH LƯ BẠCH

Sào Phủ trạo đầu bất khẳng trú
Đông tương nhập hải tùy yên vụ
Thi quyển trường lưu thiên đại gian
Điếu can dục phất san hô thụ
Thâm sơn , đại trạch long xà viễn
Xuân hàn , dă âm phong cảnh mộ
Bồng lai Chức Nữ hồi vân xa
Chỉ điểm hư vô thị chinh lộ
Tự thị quân thân hữu tiên cốt
Thế nhân na đắc tri kỳ cố !
Tích quân chỉ đục khổ tử lưu
Phú quư hà như ? Thảo đầu lộ !
Thái hầu tĩnh giả ư hữu dư
Thanh dạ trí tửu lâm tiền từ
Băi cầm trù trướng nguyệt chiếu tịch
Kỷ tuế kư ngă không trung thư ?
Nam tầm Vũ Huyệt kiến Lư Bạch
Đạo Phủ vấn tấn kim hà như ?

Dịch nghĩa :

Bác Sào Phủ lắc đầu không chịu ở lại
Rắp sang đông , ra bể , theo làn khói mù
Tập thơ , c̣n để lại măi trong trời đất
Muốn phất chiếc cần câu giữa những cây san hô
Loài rồng rắn thường ở những nơi núi sâu đầm lớn xa thẳm
Xuân lạnh lùng , đồng xẩm tối , phong cảnh chiều rồi
Nàng Chức Nữ cưỡi xe mây từ núi Bồng Lai đến
Chỉ rơ khoảng hư vô là nơi đi về
Trong người bác vốn có cốt tiên
Người đời biết sao được cái đó
Tiếc bác nên một hai cố chèo kéo lại
Giàu sang là cái ǵ ? Hạt móc trên ngọn cỏ !
Thái Hầu người điềm tĩnh , ḷng tốt có thừa
Đêm thanh , đặt tiệc rượu ngay ở trước thềm
Dứt khúc đàn , bùi ngùi nh́n trăng soi trên bàn tiệc
Biết năm nào tin từ không trung gửi về cho ta ?
Về nam , hăy t́m đến Vũ Huyệt gặp Lư Bạch
Nhờ nói giúp : Phủ tôi có lời thăm hỏi hiện giờ ra sao ?

Dịch thơ :

Tiễn Khổng Sào Phủ cáo bệnh về sang chơi Giang Đông , nhân tiện gửi Lư Bạch


Sào Phủ lắc đầu chẳng ở lại
Sắp vào biển đông theo ngút khói
Tập thơ để măi giữa đất trời
Cần câu t́m cụm san hô tới
Núi sâu đầm lớn rồng rắn xa
Xuân lạnh đồng râm phong cảnh tối
Non bồng ả Chức quảy xe mây
Trỏ nẻo hư vô đường vời vợi
Vốn thật thân anh có cốt tiên
Người đời dễ biết đâu nguồn cội
Tiếc anh một hai muốn cầm anh
Giàu sang như móc đầu cỏ gội
Thái Hầu trầm lặng ư dồi dào
Trước hiên đặt rượu suốt đêm thâu
Buông đàn ủ dột , trăng soi tiệc
Bao giờ tin nhạn gửi cho nhau ?
Nam t́m Vũ Huyệt gặp Lư Bạch
Bảo Phủ hỏi thăm giờ ra sao ?

Khương Hữu Dụng dịch

Ngao_0p
06-23-2002, 06:34 AM
Xuân Nhật Ức Lư Bạch

Bạch dă thi vô địch ,
Phiêu nhiên tứ bất quần .
Thanh tân Dữu khai phủ ,
Tuấn dật Bào tham quân .
Vị bắc xuân thiên thụ ,
Giang đông nhật mộ vân .
Hà thời nhất tôn tửu ,
Trùng dừ tế luân văn .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Ngày Cuối Xuân Nhớ Lư Bạch
Thơ Lư bạch không có ai là địch thủ ; tứ thơ phơi phới , nhẹ nhàng không ai bằng được . Trong sáng , mới mẻ , giống như thơ của Dữu khai phủ ; hào hùng phiêu dật, giống như thơ của Bào tham quân .

Lúc này tôi đang ngắm hàng cây dưới trời xuân tại Vị Bắc , th́ bạn đang ở trong bóng mây chiều ở Giang Đông . Biết bao giờ được cùng nhau uống một chén rượu , và bàn kỹ về thơ văn .?

Ngày Xuân Nhớ Lư Bạch

Không có thơ nào hơn Lư Bạch ;
Ư phơi phới nhẹ , chẳng ai bằng .
Thanh Tân giống hệt Dữu Khai phủ ,
Tuấn dật như là Bào tham quân .
Vị Bắc cây xuân trời chốn cũ ,
Giang Đông mây vẫn bóng chiều tàn .
Bao giờ rượu lại cùng nâng chén ,
Câu chuyện văn chương lại được bàn ?

Bản dịch Trần Trọng San

Ghi chú :
• Dữu khai phủ : Dữu Tín , người Nam Bắc triều , làm chức khai phủ , có tài văn chương , là tác giả bài Ai Giang Nam phú nổi tiếng .
• Bào tham quân : Bào Chiếu , người thời Nam Bắc triều , làm chức tham quân , nổi tiếng có thi tài .
• Vị Bắc : lúc này Đỗ Phủ đang ở Hàm Dương , phía bắc sông Vị .
• Giang đông : nơi Lư Bạch đang ở lúc này , nay là miền nam tỉnh Giang Tô và miền Bắc tỉnh Chiết Giang .

Ngao_0p
06-23-2002, 06:42 AM
Thiên Mạt Hoài Lư Bạch

Lương phong khởi thiên mạt ,
Quân tử ư như hà .
Hồng nhan kỷ thời đáo ,
Giang hồ thu thủy đa .
Văn chương tăng mệnh đạt ,
Lị vị hỉ nhân qua .
Ưng cộng oan hồn ngữ ,
Đầu thi tặng Mịch La .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Nhớ Lư Bạch Ở Nơi Cuối Trời .
Trong lúc gió mát nổi lên ở nơi cuối trời , bạn có ư nghĩ ra sao ? Biết bao giờ chim hồng nhạn mới tới đây ? Sông hồ có nhiều nước thu .
Văn chương thường ghét hạnh vận hanh thông ; yêu quái vui mừng khi thấy có người đi qua . Lúc này chắc bạn đang tṛ chuyện với hồn oan của Khuất Nguyên , và ném thơ xuống tặng ở sông Mịch La .

Nhớ Lư Bạch Ở Nơi Cuối Trời .

Gió đà thổi mát chốn chân trời ,
Không biết sao rồi ư nghĩ ai ?
Hồng nhạn xa vời , tin tức vắng ;
Sông hồ tràn ngập , nước thu đầy .
Văn chương thường ghét ghen cùng mệnh ;
Yêu quái mừng vui thấy có người .
Chắc với hồn oan đang nói chuyện ,
Làm thơ gieo tặng Mịch La rồi .

Bản dịch Trần Trọng San


Ghi chú :
_ Mịch La : tên con sông nhánh của sông Tương , nơi Khuất Nguyên tự trầm .
_ Đỗ Phủ làm bài này trong mùa thu năm 759 , tại Tần Châu , trong khi Lư Bạch đang trên đường đi đày đày đến Dạ lang , qua sông Trường Giang và hồ Đ́nh Động .

Ngao_0p
06-23-2002, 06:50 AM
Vịnh Hoài Cổ Tích
(I)

Chi li đông bắc phong trần tế ,
Phiêu bạc tây nam thiên địa gian .
Tam giáp lâu dài yêm nhật nguyệt .
Ngũ khê y phục cộng vân san .
Yết hồ sự chủ chung vô lại ,
Từ khách ai thời thả vị hoàn.
Dữu Tín b́nh sinh tối tiêu sắt ,
Mộ niên thi phú động giang quan .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Làm Thơ Nhớ lại Dấu Vết Xưa
Lưu lạc giữa nơi gió bụi miền đông bắc , phiêu bạc trong khoảng trời đất miến tây nam . Lâu đài miền Tam Giáp dầu dăi lâu ngày dưới bóng mặt trời , mặt trăng . Quần áo của người vùng Ngũ Khê xen lẫn với mây núi .
Rút cuộc không thể tin cậy ở ḷng trung thành thờ vua của bọn rợ Yết . Nhà văn thương cảm thời thế vẫn c̣n chưa trở về được . Lúc b́nh sinh Dữu Tín rất buồn bă , thê lương ; khi tuổi già thơ phú làm rung động sông ải .

Dịch Thơ :

Vịnh Hoài Cổ Tích
(I)

Đă vương gió bụi miền đông bắc ,
Lưu lạc tây nam giữa đất trời .
Tam giáp lâu đài phơi nhật nguyệt ,
Ngũ khê xiêm áo lẫn ngàn mây .
Yết hồ thờ chúa , luôn quay quắt ;
Từ khách thương đời , vẫn nổi trôi .
Dữu Tín b́nh sinh hiu quạnh lắm ;
Tuổi già , sông ải đượm văn người .

Bản dịch Trần Trọng San


Ghi chú :
_ Ngũ Khê : năm ḍng nước ở Hồ Nam và Quí Châu . Đây là nơi ở của bộ tộc Khê , ăn vận khác với người đời Đường .
Đây là bài thơ thứ nhất trong năm bài Vịnh Hoài Cổ Tích của Đổ Phủ (đánh số thứ tự dể phân biệt )


Vịnh hoài cổ tích kỳ II

Dao lạc thâm tri Tống Ngọc bi
Phong lưu nho nhă diệc ngô si (sư)
Trướng vọng thiên thu nhất sái lệ
Tiêu điều dị đại bất đồng th́
Giang san cố trạch không văn tảo
Văn vũ hoang đài khởi mộng ti (tư)
Tối thị Sở cung cầu dẫn diệt
Chân nhân chỉ điểm đáo kim nghi


Dịch Thơ:

Vịnh hoài cổ tích kỳ II
(Nhà Tống Ngọc)

Lá rụng cảm thông sầu Tống Ngọc
Phong lưu nho nhă bậc thầy tôi
Ngàn thu tưởng vọng châu tầm tả
Nay cũng tiêu điều dẫu khác thời
Nhà cũ núi sông buồn vắng vẻ
Mộng suy văn vũ cảnh hoang đài
Thương thay tận diệt cùng vua Sở
Thuyền chủ c̣n ngờ dấu vết sai

Bản dịch: Chi Điền

Ngao_0p
06-23-2002, 06:56 AM
Vịnh Hoài Cổ Tích
(III)

Quần sơn vạn hác phó Kinh Môn ,
Sinh trưởng Minh Phi thượng hữu thôn .
Nhất khứ Tử Đài liên sóc mạc ,
Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn .
Họa đồ tỉnh thức xuân phong diện .
Hoàn bội không qui nguyệt hạ hồn .
Thiên tải tỳ bà tác hồ ngữ .
Phân minh oán hận khúc trung luân .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Vượt qua nhiều núi non , muôn ḍng suối , đi đến núi Kinh Môn . Tại đây vẫn c̣n có xóm làng , là chổ Minh Phi sinh trưởng khi xưa . Khi nàng ra đi , cung Tử Đài nối liền với sa mạc miền Bắc . Bây giờ chỉ c̣n lại mả xanh dưới bóng hoàng hôn .
Xem bức họa , vua Hán phảng phất nhận biết khuôn mặt nàng trong gió xuân . Nhưng chỉ c̣n hồn nàng với hoàn bội trở về dưới trăng . Ngàn năm sau c̣n truyền lại khúc đàn tỳ bà làm theo âm điệu Hồ ; trong khúc ca , bày tỏ rỏ ràng niềm oán hận .

]Dịch Thơ :

Vịnh Hoài Cổ Tích
(III)

Vượt non , qua suối , đến Kinh Môn ;
Xóm cũ Minh Phi nay vẫn c̣n .
Cung Hán một đi liền cơi Bắc ;
Mả xanh trơ lại dưới hoàng hôn .
Bức tranh thoảng gió xuân tô mặt ;
Hoàn bội về đây , nguyệt rọi hồn .
Muôn thuở tỳ bà vang giọng mọi ,
Điệu hồ c̣n măi hận trào tuôn .

Bản dịch Trần Trọng San


Ghi chú :
_ Kinh Môn : tên núi ở huyện Nghi Đô, tỉnh Hồ Bắc .
_ Minh Phi : tức Vương Chiêu Quân , dời Hán Nguyên đế , cung nữ Vương Chiêu Quân v́ không chịu hối lộ họa công Mao Diên Thọ , nên bị họa h́nh xấu , không được vua lưu ư . Đến khi quyết định gả Chiêu Quân cho chúa Hung Nô, vua mới gặp mặt nàng , rất hối tiếc , nhưng việc đă rồi .
_ Thanh trủng : mộ Vương Chiêu Quân ở huyện Qui Tuy , tỉnh Tuy Viễn . Theo truyền thuyết , vùng này cỏ đều bạc trắng , riêng cỏ mọc trên mộ Chiêu Quân là màu xanh , nên gọi là “ thanh trủng “ ( mả xanh ).
_ Hoàn bội : đồ trang sức của phụ nữ .
_ Oán hận : Chiêu Quân ở Hung Nô làm ra bài ca rất ai oán , gọi là Chiêu Quân oán


Vịnh hoài cổ tích kỳ IV

Thục chúa khuy Ngô hạnh tam hiệp
Băng nhiên, diệc tại Vĩnh An cung
Thúy hoa tưởng tượng Không Sơn lư
Ngọc điện hư vô đă tự trung
Cổ miếu sam tùng sào thủy hạc
Tuế thời phục hạp tẩu thôn ông
Vũ Hầu từ ốc trường lân cận
Nhất thể quân thần tế tự đồng

Dịch Nghĩa:

Vua Thục ḍ Ngô qua Tam Hiệp
Năm chết cũng tại Vĩnh An cung
Dung nhan tưởng tượng đồi hoang dại
Điện ngọc cô liêu giữa cánh đồng
Miếu cổ c̣ xây tổ trên cành tùng
Mấy lăo ông trong thôn cúng kiến quanh năm
Miếu thờ Vũ Hầu cũng gần đó
Vua tôi hương khói cùng một lúc

Dịch Thơ:

Vịnh hoài cổ tích kỳ IV
(Vĩnh An cung, Tiên chủ miếu)

Vua Thục chinh Ngô quá Tam-Hiệp
Băng hà cũng tại Vĩnh An Cung
Cỏ hoa chừng tưởng trên non vắng
Điện ngọc điêu tàn giữa đất hoang
Miếu cỏ hạc vàng xây tổ ấm
Hạ đông bô lăo lễ thần hoàng
Vũ Hầu lăng miếu bên Tiên Chúa
Nhất thể vua tôi một lễ dâng


Vịnh hoài cổ tích kỳ V

Gia Cát đại danh thùy vũ trụ
Tông thần di tượng túc thanh cao
Tam phân cát cứ vu trù sách
Vạn cổ vân tiêu nhất vũ mao
Bá trọng chi gian kiến Y Lă
Chỉ huy nhược định thất Tiêu Tào
Vận di Hán tộ chung nan phục
Chí quyết thân thiêm quân vụ lao


Dịch Nghĩa:

Đại danh của Gia Cát Lượng vang khắp ṿm trời
Người tôi trung xưa nay c̣n bức tượng thanh cao
Chia ba thiên hạ là mưu kế của ngài
Vạn thuở mây trời nhẹ tựa lông chim
Quyền cao sánh nổi với Y Doăn Lă Vọng
Chỉ quy quyết sách hơn cả Tiêu Hà Tào Tham
Biết vận nước dời đổi, cơ đồ nhà Hán không khôi phục được
Nhưng vẫn một ḷng lo việc quân cơ

Dịch Thơ:

Vịnh hoài cổ tích kỳ V
(Đền Vũ Hầu)

Gia Cát lừng danh trong vũ trụ
Công thần gương sáng đức thanh cao
Ba phần thiên hạ phân chia sẵn
Vạn cổ trần gian một vũ mao
Công nghiệp không thua tài Doăn Thượng
Kinh luân c̣n vượt trí Tiêu Tào
Vận suy triều Hán không khôi phục
Chí quyết trung hưng chẳng nại lao.

Bài dịch: Chi Điền

Ngao_0p
06-26-2002, 02:46 AM
NGUYỆT DẠ ỨC XÁ ĐỆ

Thú cổ đoạn nhân hành ,
Thu biên nhất nhạn thanh .
Lộ ṭng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Hữu đệ giai phân tán,
Vô gia văn tử sinh.
Kư thư trường bất đạt,
Huống năi vị hưu binh .

Đổ Phủ

Dịch nghĩa :
Đêm Trăng Nhớ Em
Tiếng trống nơi đồn thú vang lên, dứt hết vết chân ngườ iđi trên đường. Một tiếng nhạn kêu ở chốn biên thùy mùa thu. Từ đêm nay trở đi, sương móc rơi trắng xóa; trăng vẫn sáng tại quê xưa.
Có các em trai, nhưng đều ly tán; không c̣n nhà để mà hỏi thăm chúng c̣n sống hay đă chết. Gửi thư về, nhưng thư thường không tới nơi; huống chi chiến tranh vẫn c̣n chưa thôi.

Dịch thơ :

Đêm Trăng Nhớ Em


Trống dồn dứt vết chân đi;
Nhạn thu một tiếng biên thùy bi ai.
Đêm nay sương trắng đă rơi,
Quê xưa giờ vẫn sáng ngời bóng trăng.
Có em, đều đă chia tan;
Không nhà mà đến hỏi thăm mất c̣n.
Gửi thư, chẳng biết tới luôn,
Huống chi chinh chiến nay c̣n chưa thôi.


Bản dịch Trần Trọng San

Ngao_0p
06-27-2002, 03:54 AM
Mao Ốc Vi Thu Phong Sở Phá

Bát nguyệt thu cao phong nộ hào ,
Quyển ngă ốc thượng tam trùng mao .
Mao phi độ giang sái giang giao .
Cao già quái quyến trường lâm sao ,
Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao .
Nam thôn quần đồng khi ngă lăo vô lực ,
Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc .
Công nhiên băo mao nhập trúc khứ ,
Thần tiều khẩu táo hô bất đắc .
Qui lai ỷ trượng tự thán tức .
Nga khoảnh phong định vân mặc sắc ,
Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc .
Bố khâm đa niên lănh tự thiết .
Kiều nhi ác ngọa đạp lư liệt .
Sàng đầu ốc lậu vô can xứ ,
Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt .
Tự kinh táng loạn thiểu thụy miên ,
Trường dạ chiêm thấp hà do triệt .
An đắc quảng hạ thiên vạn gian ,
Đại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan ,
Phong vũ bất động an như san .
Ô hô , hà thời nhăn tiền đột ngột kiến thử ốc ,
Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ
Tháng tám , trời thu cao, gió giận dữ gào thét , cuốn đi ba lớp cỏ tranh trên mái nhà ta . Cỏ tranh bay qua sông , rải xuống miền đất bên sông . Cao th́ vắt vẻo treo trên ngọn cây rừng ; thấp th́ tả tơi rơi ch́m xuống ao nước .
Lũ trẻ xóm nam khinh ta già yếu , nhẫn tâm làm giặt cướp ngay trước mặt ta . Chúng công khai ôm cỏ tranh đi vào trong xóm trúc ; ta khô môi rát miệng , kêu thét mà không được . Trở về, chống gậy , thở than .
Một lát sau , gió yên mây đen như mực . Trời thu bát ngát đen tối lúc chiều tà . Chiếc chăn vải dùng nhiều năm , lạnh như sắt , bị đứa con thơ khó ngủ đạp rách toang . Ở đầu giường mái nhà dột , không chổ nào khô ; vết mưa nhiều nhưng gai vẫn c̣n chưa hết . Từ khi gặp cơn hoạn lạc , ḿnh ít ngủ , suốt đêm dài , ướt đẫm , biết làm sao hết được !
Mong sao có được ngàn vạn gian nhà lớn, để giúp cho các hàn sĩ trong thiên hạ đều được vui vẽ , không bị kinh động v́ mưa gió , yên ổn như núi non ! Hỡi ôi , biết bao giờ được trông thấy nhà này đứng cao sững trước mắt ; dù cho riêng nhà ta bị phá vỡ , ḿnh có chịu rét đến chết , cũng thỏa ḷng !


Dịch thơ :

Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ

Tháng tám , trời cao , gió thu gào ,
Thổi tung mái nhà , cuốn tranh pheo .
Tranh bay qua sông , rơi lao xao ;
Cao th́ trên rừng treo vắt vẻo ,
Thấp th́ phơ phất ch́m trong ao .
Lũ trẻ xóm nam khinh ta già không sức ,
Nỡ ḷng ngang nhiên làm trộm giặc ;
Ôm bừa cỏ tranh vào trong trúc .
Rát cổ , bỏng họng kêu không được ;
Trở về , chống gậy mà tấm tắc .
Phút chốc , gió yên mây như mực ;
Chiều đến , trời thu đen bát ngát .
Chăn vải lâu năm lạnh như sắc ,
Con thơ khó ngủ , đạp rách nát .
Đầu giường , mái dột , khắp nơi ướt ;
Mưa nhiều như gai , vết chưa nhạt .
Từ khi loạn lạc , ít ngủ ngon ;
Đêm dài ướt đẫm , làm sao bớt !
Mong sao nhà lớn có ngàn gian ,
Giúp cho hàn sĩ trên đời đều hân hoan ,
Gió mưa chẳng đọng , vững như non !
Hỡi ôi , bao giờ thấy được nhà cao này trước mắt ;
Nhà ḿnh có vỡ , chết rét , cũng thỏa ḷng !

Bản dịch Trần Trọng San

Đỗ Phủ làm bài này khoảng năm 761 ở Thành Đô thảo đường

Ngao_0p
06-27-2002, 04:02 AM
Bất Kiến

Bất kiến Lư sinh cửu ,
Dương cuồng chân khả ai .
Thế nhân giai dục sát ,
Ngô ư độc lân tài .
Mẫn tiệp thi thiên thủ ,
Phiêu linh tửu nhất bôi .
Khuông sơn độc thu xứ ,
Đầu bạch hảo qui lai .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Không gặp
Đă lâu không gặp bạn Lư sinh . Bạn phải giả đ̣ điên cuồng , thực đáng thương xót . Trong lúc người đời đều muón bạn phải chết , chỉ riêng tôi có ư muốn tiếc tài .
Bạn làm thơ rất mau lẹ , có lẽ đến ngàn bài ; bây giờ đang phải nổi trôi , lưu lạc với một chén rượu . núi Khuông Lư là nơi bạn từng đọc sách khi xưa ; đầu bạc rồi , bạn hăy trở về nơi đó .


Dịch thơ :

Không gặp

Lâu rồi không gặp Lư sinh ,
Giả điên vờ dại , cho ḿnh xót ai .
Giết đi là ư người đời ,
Ngậm ngùi riêng chỉ ḿnh tôi mến tài .
Lẹ mau thơ viết ngàn bài ;
Bây giờ một chén nổi trôi bụi trần .
Nơi xưa đọc sách Khuông Sơn ,
Mái đầu bạc trắng , cố nhân hăy về !

Bản dịch Trần Trọng San

_ Khuông sơn : tên núi ở tỉnh Giang tây , nơi Lư Bạch từng đến đọc sách

Ngao_0p
06-27-2002, 04:13 AM
Khương Thôn
( kỳ nhất )

Tranh vanh xích vân tây ,
Nhật cước há b́nh địa .
Sài môn điểu tước táo ,
Qui khách thiên lư chí .
Thê noa quái ngơa tại ,
Kinh định hoàn thức lệ .
Thế loạn tao phiêu đăng ,
Sinh hoàn ngẫu nhiên toại .
Lân nhân măn tường đầu ,
Cảm thán diệc hư hí .
Dạ lan cánh bỉnh đăng ,
Tương đối như mộng mị .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Khương Thôn ( bài một )
Đám mây đỏ cao ngất ở phía tây ; gót chân mặt trời bước xuống mặt đất bằng . Trước cổng nghèo , chim sẻ kêu xao xác , khi khách từ nơi xa ngàn dặm về đến nhà .
Vợ con đều sửng sốt khi thấy tôi c̣n sống ; khi đă hết kinh sợ , vẫn c̣n chùi nước mắt . Đời loạn, gặp cảnh lưu lạc ; được sống sót trở về , thực là ngẫu nhiên .
Những người hàng xóm đứng đầy tường , cũng đều cảm động , bùi ngùi . Đêm khuya , lại thắp đèn lên ; nh́n nhau , tưởng chừng như đang ở trong giấc mộng .


Dịch thơ :

Khương Thôn( Bài một)

Mây đỏ ngất bên tây ,
Mặt trời bước xuống đất .
Cổng nghèo , chim xao xác ,
Ngàn dặm khách về đây .
Vợ con đều sửng sốt .
Rồi gạ lệ trào tuôn .
Đời loạn , ḿnh lưu lạc ,
Sống về , thực thỏa ḷng .
Đầy tường người sớm cũ ,
Cảm động cũng thương ai .
Đêm khuya , đèn vẫn thắp ;
Trông nhau , ngỡ mộng rồi .

Bản dịch Trần Trọng San

_ Đỗ Phủ làm bài thơ này vào tháng 8 nhuận , năm 757 , trong khi rời huyện Phụng Tường ( tỉnh Thiểm Tây ) về thăm gia đ́nh tại Phu Châu ( tỉnh Thiểm Tây ) . Khương Thôn là vùng ngoại ô của Phu Châu

Ngao_0p
06-27-2002, 04:22 AM
Khương Thôn
( Kỳ nhị )

Văn tuế bách thâu sinh ,
Hoàn gia thiểu hoan thú .
Kiều nhi bất ly tất ,
Úy ngă phục khước khứ .
Ức tích hiếu truy lương ,
Cố nhiều tŕ biên thụ .
Tiêu tiêu bắc phong kính ,
Vũ sự tiễn bách lự
Lại tri ḥa thử thu ,
Dĩ giác tao sàng trú .
Như kim túc châm chước ,
Thả dụng ư tŕ mộ .

Đổ Phủ

Dịch nghĩa :
Khương Thôn ( bài hai )
Tuổi đă già nên phải cẩu thả cầu sống . Về nhà , thấy ít thú vui . Những đứa con thân yêu không rời khỏi đầu gối , v́ sợ tôi lại ra đi .
Nhớ lại khi xưa thường thích hóng mát , nên tôi lại đi quanh hàng cây bên ao . Gió bắc ào ào thổi mạnh . Những việc trái ư nung nấu nổi lo âu .
V́ biết lúa đă gặp rồi và hèm rượu đă rót , nên nay tôi co’ đủ rượu uống , để khuây khỏa lúc tuổi già .

Dịch thơ :

Khương Thôn
( bài hai )

Tuổi già cầu sống vội ,
Về nhà , ít thú vui .
Con thơ không rời gối ,
Sợ ta lại đi thôi .
Nhớ xưa thích hóng mát ,
Dạo quanh cây bên ao .
Ào ào gió bắc thổi ,
Nung nấu bao lo âu .
Nghe tin lúa gặt rồi ,
Hèm rượu cũng có nhiều .
Nay ta đủ rượu uống ,
Khuây khỏa lúc trời chiều .

Bản dịch Trần Trọng San

Ngao_0p
06-27-2002, 04:30 AM
Khương Thôn
( Kỳ tam )

Quần kê chính loạn khiếu ,
Khách chí khê đấu tranh .
Khu kê thướng thụ mộc ,
Thủy văn khấu sài kinh .
Phụ lăo tứ ngũ nhân ,
Vấn ngă cửu viễn hành .
Thủ trung các hữu huề ,
Khuynh kháp trọc phục thanh .
Khổ từ tửu vị bạc ,
Thử địa vô nhân canh .
Binh cách kư vị tức ,
Nhi đồng tận đông chinh .
Thỉnh vị phụ lăo ca ,
Gian nan quí thâm t́nh .
Ca băi ngưỡng thiên thán ,
Tứ tọa lệ tung hoành .

Đỗ Phủ

Dịch nghĩa :
Khương Thôn ( bài ba )
Đàn gà đang rối rít kêu ; khi khách đến , gà đá lộn nhau . Sau khi xua gà lên cây , mới nghe thấy tiếng gơ cổng .
Bốn năm ông già lại hỏi thăm tôi đă đi xa lâu ngày . Ông nào cũng mang theo bầu rượu nơi tay , cùng tôi rót uống say sưa .
Các ông phàn nàn rằng vị rượu nhạt , ruộng lúa không có người cày , chiến tranh vẫn c̣n chưa yên , con cái đều phải đi đánh miền đông .
Xin v́ các phụ lăo mà hát . Tự thấy hổ thẹn trước t́nh cảm sâu xa của các vị đối với nổi gian nan của ḿnh . Hát xong , ngẩng nh́n trời than thở , khiến cho các ông ngồi bốn bên rỏ lệ chứa chan .

Dịch thơ :

Khương Thôn
( Bài ba )

Gà đang rối rít kêu ,
Thấy người , liền đá lộn .
Xua gà lên trên cây ,
Mới nghe tiếng gơ cổng .
Phụ lăo bốn năm ông ,
Hỏi ta đi lâu ngày ;
Tay đều mang theo rượu ,
Nghiêng bầu cùng ta say .
Phàn nàn vị rượu nhạt ,
Không người cày ruộng đồng ,
Cjiê1n tranh c̣n chưa hết ,
Con cái đều sang đông .
Xin v́ phụ lăo ca ,
Hổ thẹn t́nh sâu xa .
Hát xong nh́n trời than ;
Bốn bên lệ chan ḥa .

Bản dịch Trần Trọng San

Bach Van Phi
07-04-2002, 01:43 PM
VÔ GIA BIỆT

Tịch mịch Thiên Bảo hậu
Viên lư đăn cao lê
Ngă lư bách dư gia
Thế loạn các đông tê
Tồn giả vô tiêu tức
Tử giả vị trần nê !
Tiện tử nhân trận bại
Quy lai tầm cựu khê
Cửu hành kiến không hạng
Nhật sấu khí thảm thê !
Đăn đối hồ dữ ly
Thụ mao nộ ngă đề
Tứ lân hà sở hữu ?
Nhất nhị lăo quả thê
Túc điểu luyến bản chi
An từ thả cùng thê
Phương xuân độc hà xừ
Nhật mộ hoàn quán khuê
Huyện lại tri ngă chí
Triệu linh tập cổ bề
Tuy ṭng bản châu dịch
Nội cố vô sở huề
Cận hành chỉ nhất thân
Viễn khứ chung chuyển mê
Gia hương kư đăng tận
Viễn cận lư diệc tề
Vĩnh thống trường bệnh mẫu
Ngũ niên uỷ câu khê !
Sinh ngă bất đắc lực
Chung thân lưỡng toan tê !
Nhân sinh vô gia biệt
Hà dĩ vi chửng lê ?

Dịch nghĩa :

Cảnh tiêu điều sau năm Thiên Bảo
Nhà vườn toàn là cỏ dại
Xóm ḿnh có hơn trăm nhà
Gặp đời loạn , mỗi người đi một phương
Người c̣n không tin tức ǵ
Người chết biến thành bụi đất
Thân hèn v́ thua trận
T́m lối cũ quay về
Đi măi chỉ thấy ngơ vắng
Ánh nắng thoi thóp , cảnh tượng thê lương !
Trước mắt chỉ thấy cáo cùng cầy
Xù lông nh́n ta gầm gừ , giận dữ
Bốn bề hàng xóm c̣n ǵ đâu ?
Một vài bà già góa bụa
Chim ngủ mến cành quen
Đâu dám ngại , đành nương náu với nghèo khổ !
Giữa mùa xuân thui thủi vác cuốc
Chiều tối vẫn tát nước ngoài đồng
Bọn nha lại trên huyện biết ḿnh về
Gọi gắt đi tập trống trận
Tuy chỉ phục dịch trong châu nhà
Nh́n lại chẳng có người nào
Đi gần chỉ có một thân
Đi xa cuối cùng lạc lối !
Quân nhà đă sạch sành sanh
Dù xa hay gần th́ cũng thế
Xót thương vô cùng , mẹ già ốm lâu năm
Chết đă năm năm rồi vẫn vùi bên khe lạch
Sinh ra ḿnh mà chẳng được nhờ
Suốt đời mẹ con đều chua xót !
Đời người đến nỗi không có nhà mà từ biệt
Thực làm kẻ dân đen cũng không đáng

Dịch thơ :

CUỘC TỪ BIỆT CỦA NHỮNG NGƯỜI KHÔNG NHÀ

Quạnh quẽ sau Thiên Bảo
Vườn lều chỉ cỏ gai !
Làng tôi dư trăm nhà
Thời loạn tản đông tây
Người c̣n không tin tức
Người chết lấp bùn lầy
Thằng tôi nhân thua trận
T́m lối cũ về đây
Đi hoài thấy ngơ trống
Buồn tênh bóng nắng gầy !
Chỉ gặp chồn với cáo
Xù lông khịt dọa tôi
Quanh làng ǵ đâu có ?
Bà góa một đôi người
Chim c̣n mến cành cũ
Đậu khổ vẫn không rời
Mùa xuân , riêng vác cuốc
Tối , c̣n tưới nương soi
Viên huyện hay tôi về
Ra lính , đă cho đ̣i
Tuy làm lính trong hạt
Trong nhà không c̣n ai
Đi gần riêng lủi thủi
Đi xa biệt mù khơi
Quê nhà đà hết sạch
Xa gần cũng thế thôi !
Xót mẹ nỗi đau ốm
Vùi xác năm năm rồi
Sinh tôi chẳng được ǵ
Suốt đời hận cả đôi
Người không nhà mà biệt
Sao gọi được là người ?

Khương Hữu Dụng dịch

Bach Van Phi
07-04-2002, 04:31 PM
TÂN HÔN BIỆT

Thỏ ty phụ bồng ma
Dẫn man cố bất trường
Giá nữ dữ chinh phu
Bất như khí lộ bàng !
Kết phát vi quân thê
Tịch bất noăn quân sàng
Mộ hôn thần cáo biệt
Vô năi thái thông mang !
Quân hành tuy bất viễn
Thú biên phó Hà Dương
Thiếp thân vị phân minh
Hà dĩ bái cô chương ?
Phụ mẫu dưỡng ngă th́
Nhật dạ linh ngă tàng
Sinh nữ hữu sở quy
Kê cẩu diệc đắc tương
Quân kim văng tử địa
Trầm thống bách trung trường
Thệ dục tùy quân khứ
H́nh thế phản thương hoàng
Vật vị tân hôn niệm
Nỗ lực sự nhung hàng
Phụ nhân tại nhân trung
Binh khí khủng bất dương
Tự ta bần gia nữ
Cửu trí la nhu thường
La nhu bất phục thi
Đối quân tẩy hồng trang
Ngưỡng thị bách điểu phi
Đại tiểu tất song tường
Nhân sự đa thác ngỗ
Dữ quân vĩnh tương vương

Dịch nghĩa :

Dây tơ hồng bám vào cây ḅng bong , cây gai
Dù ngọn dây có lan ra cũng không thể được dài
Có con gái gă cho người đi lính
Chẳng thà vất bỏ bên đường
Vấn tóc (1) về làm vợ anh
Giường của anh , em nằm chưa ấm chiếu
Chập tối đưa dâu , sớm mai từ biệt
Há chẳng là quá đỗi vội vàng !
Anh đi tuy không xa
Đến Hà Dương để đóng giữ biên giới
Nhưng thân phận em chưa được phân minh (2)
Biết lạy chào cha mẹ chồng thế nào cho phải ?
Nhớ khi ở với cha mẹ
Ngày đêm nuôi nấng giữ ǵn trong nhà
Sinh con gái th́ phải gả chồng
Con gà con chó cũng được mang theo (3)
Nay anh đến nơi vào sinh ra tử
Nỗi đau ngầm nung nấu trong ḷng em
Đă toan thề quyết đi theo anh
Song t́nh thế lại biến chuyển khó khăn
Anh chớ nên v́ vợ mới mà bịn rịn
Hăy gắng sức gánh vác việc quân
Nếu có đàn bà trong quân đội
E tinh thần binh sĩ khó lên cao
Em chỉ than thân là con gái nhà nghèo
Bộ áo xiêm lụa may măi mới xong
Áo xiêm ấy nay không mặc nữa
Trước mặt anh rửa hết phấn son
Ngước nh́n trăm giống chim bay trên trời
Mặc dù lớn nhỏ cũng đều có đôi
Sao đời người lại lắm điều lận đận
Em cùng anh trông ngónh nhau hoài

Dịch thơ :

CUỘC LY BIỆT CỦA ĐÔI VỢ CHỒNG MỚI CƯỚI

Tơ hồng leo phải cây đay
Quanh co quấn quít cho dây khó dài
Gả con cho mấy cậu cai
Chẳng thà bỏ quách ở nơi vệ đường
Rẽ ngôi , em bén duyên chàng
Chiếu em chưa ấm cái giường nhà trai
Cưới chiều hôm , vắng sớm mai
Duyên đâu lật đật cho ngươi xót xa !
Chàng đi dù chẳng bao xa
Hà Dương đất ấy cũng là đáng lo
Thân em mới mẻ thẹn tḥ
Chào cha , gửi mẹ sao cho nên điều ?
Ngày xưa cha , mẹ nuông chiều
Ngày đêm những bắt nâng niu giữ giàng
Đến khi về tới nhà chàng
Con gà , con chó cũng mang theo cùng
Chàng nay tới chốn hăi hùng
Nghĩ thôi em đă quặn ḷng đau thương
Cũng toan quyết chí theo chàng
Chút e t́nh thế vội vàng chưa yên
Thôi chàng gác mối t́nh duyên
Việc binh đă gánh th́ nên chuyên cần
Đàn bà ở đám ba quân
Sợ rằng gươm giáo kém phần xông pha
Xót em thanh bạch con nhà
Có may được tấm quần là từ lâu
Quần là c̣n mặc đi đâu ?
Đối chành , xin rửa hết màu phấn son
Ngửa trong chim chóc bao con
Con to , con nhỏ cũng c̣n bay đôi
Dở dang ngắm cái kiếp người
Cùng chàng , thôi sẽ suốt đời nhớ mong !

Ngô Tất Tố dịch

Bach Van Phi
07-06-2002, 03:42 PM
THÙY LĂO BIỆT

Tứ giao vị ninh tĩnh
Thùy lăo bất đắc an
Tử tôn trận vong tận
Yên dụng thân độc hoàn ?
Đầu trượng xuất môn khứ ?
Đồng hành vị tân toan
Hạnh hữu nha xỉ tồn
Sở bi cốt tủy can
Nam nhi kư giới trụ
Trường ấp biệt thượng quan
Lăo thê ngọa lộ đề
Tuế mộ y thường đan
Thục tri thị tử biệt ?
Thả phục thương kỳ hàn
Thử khứ bất tất quy
Hoàn văn khuyến gia xan
Thổ môn bích thậm kiên
Hạnh viên độ diệc nan
Thế dị Nghiệp thành hạ
Tùng tử thời do khoan
Nhân sinh hữu ly hợp
Khởi trạch suy thịnh đoan ?
Ức tích thiếu tráng nhật
Tŕ hồi cánh trường than
Vạn quốc tận chinh thú
Phong hoả bị cương loan
Tích thi thảo mộc tinh
Lưu huyết xuyên nguyên đan
Hà hương vi lạc thổ
An cảm thượng bàn hoàn
Khí tuyệt bồng thất cư
Tháp nhiên tồi phế can

Dịch nghĩa :

Bốn phương chưa ổn định
Thân về già cũng chẳng được yên
Con cháu chết trận hết
Một ḿnh sống để làm ǵ ?
Quẳng gậy ra cửa đi
Bạn đồng hành cũng lấy làm chua xót
May hàm răng vẫn c̣n
Thương nỗi tủy xương đă khô kiệt !
Thân trai đă mặc đồ giáp trụ
Vái dài từ biệt quan trên
Vợ già lăn ra đường gào
Hết năm rồi quần áo mỏng manh
Ai ngờ đến lúc tử biệt
Mà c̣n thương nhau rét !
Lần này đi chắc chắn không trở về
Vẫn c̣n nghe khuyên nhau cố ăn thêm
Nơi Thổ Môn thành lũy rất vững
Thành Hạnh Viên cũng khó vượt qua
H́nh thế không giống như ở dưới thành Nghiệp
Dù có chết cũng c̣n lâu
Đời người có tan có hợp
Kể ǵ tuổi trẻ hay già ?
Nhớ lại đương th́ trai tráng
Băn khoăn rồi lại thở dài
Muôn nước đều có chiến tranh đồn thú
Lửa báo động bốc khắp núi g̣
Thây chất làm tanh hôi cây cỏ
Máu chảy nhuộm đỏ sông ng̣i đồng ruộng
C̣n quê hương nào là đất yên vui
Mà c̣n dám chần chừ nữa ?
Dứt bỏ nơi ở tranh pheo này
Rời ră như nát cả gan phổi !

- Bạn đồng hành : Người cũng bị bắt đi lính như ḿnh
- giáp trụ : mũ áo của quân lính
- Thổ Môn : một nơi ở gần Hà Dương
- Hạnh Viên : một thị trấn thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay
- thành Nghiệp : thuộc huyện An Dương , tỉnh Hà Nam ngày nay

Dịch thơ :

CUỘC TỪ BIỆT LÚC VỀ GIÀ

Nước loạn lạc ,thân già lận đận
Con cháu đều chết trận hết rồi
Một ḿnh sống ở với ai ?
Ném phăng chiếc gậy , cửa ngoài ra đi !
Răng may chặt , xương th́ đă lỏng
Người cùng đi ai cũng xót thương
Tài trai mũ đội , giáp mang
Vái dài , phải dám khinh thường quan trên !
Vợ già khóc lăn trên đường cái
Quần áo đơn dầu dăi chiều đông
C̣n thương nhau nỗi lạnh lùng
Nào hay sống chết , thôi ḥng gặp nhau
Đi th́ được , về đâu được nữa
C̣n khuyên nhau cơm bữa gượng xơi !
Ải bền , trấn vững bao nơi
Chẳng như thành Nghiệp : chết thời c̣n lâu !
Đời tan hợp cứ đâu già cũ
Tiếc trẻ trung trót đă lữa lần
Muôn phương chật ních những quân
Núi rừng lửa hiệu xa gần cháy vung
Thây chất lại thối xông cây cỏ
Máu chảy ra nhuộm đỏ sông đồng
Đâu yên vui nữa mà mong
Lều tranh bỏ dứt đau ḷng tím gan

Nhượng Tống dịch

Bach Van Phi
07-06-2002, 09:47 PM
TÂN AN LẠI

Khách hành Tân An đạo
Huyện hô ao điểm binh
Tá vấn Tân An lại
Huyện tiểu cánh vô đinh
Phủ thiếp tạc dạ há
Thứ tuyển trung nam hành
Trung nam tuyệt đoản tiểu
Hà dĩ thủ vương thành ?
Ph́ nam hữu mẫu tống
Sấu nam độc linh b́nh
Bạch thủy mộ đông lưu
Thanh sơn do khốc thanh
Mạc tự sử nhăn khô
Thu nhữ lệ tung hoành
Nhăn khô tức kiến cốt
Thiên địa chung vô t́nh !
Ngă quân thủ Tương Châu
Nhật tịch vọng kỳ b́nh
Khởi ư tặc nan liệu
Qui quân tinh tản doanh
Tựu lương cận cố lũy
Luyện tốt y cựu kinh
Quật hào bất đáo thủy
Mục mă dịch diệc khinh
Huống năi vương sư thuận
Phủ dưỡng thậm phân minh
Tống hành vật khấp huyết
Bộc dịch như phũ huynh !

Dịch nghĩa :

Khách qua đường Tân An
Nghe rầm rộ bắt lính
Ướm hỏi viên lại Tân An
-(Rằng ) huyện nhỏ hết cả trai tráng
Đêm qua quan phủ lại hạ trát
Bắt tuyển xuống hạng trung nam
- Trung nam thấp bé quá
Giữ sao nổi thành nhà vua ?
Hạng trai mập mạp có mẹ đi tiễn
Riêng hạng gầy nhàng thất thễu lẽ loi
Chiều rồi , ḍng nước bạc vẫn cứ xuôi đông
Tận dăy núi xanh c̣n vang tiếng khóc
Thôi ! Đừng làm cho mắt ḿnh khô đi nữa
Hăy ngừng những hàng lệ ngổn ngang lại
Mắt khô tức là trơ xương
Trời đất bao giờ cũng dửng dưng lạnh nhạt
Quân ta đă lấy được châu Tương
Sớm chiều những mong yên ổn
Ai ngờ thế giặc khôn lường
Quân rút về các trại tản mát
Muốn tiện lương , phải đóng gần lũy cũ
Để luyện quân lính phải dựa kinh xưa
Đào hào không đào đến nước
Chăn ngựa cũng là việc nhẹ nhàng
Huống chi quân nhà vua là chính nghĩa
An ủi , nuôi dưỡng rất phân minh
Buổi tiễn đưa đừng khóc lóc thảm thiết nữa
Có quan bộc dịch chẳng khác ǵ cha anh !

- Tân An : một huyện thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay
- Trung nam : hạng thanh niên từ 18 đến 22 tuổi
- châu Tương : tức Nghiệp thành
- lũy cũ : trận địa cũ
- kinh xưa : chỉ thành Lạc Dương
- bộc dịch : chứa quan ngang hàng tể tướng , đây chỉ Quách Tử Nghi , khi ấy lui về đóng ở thành Lạc Dương , cầm cự với quân An Lộc Sơn

Dịch thơ :

TÊN LẠI HUYỆN TÂN AN

Khách qua đường Tân An
Nhộn nhịp nghe điểm binh
Hỏi thăm , thầy thông bảo :
- Huyện nhỏ không c̣n đinh
Hôm qua trát phủ xuống
Sung số tuyển cho nhanh
Số tuyển thấp bé quá
Giữ sao nổi đô thành ?
Anh béo , mẹ đưa chân
Anh gầy nh́n loanh hoanh
Nước bạc chiều chảy xuôi
Tiếng khóc vang non xanh !
Khóc chi cho hốc mắt ?
Nín đi thôi các anh !
Dẫu cho khóc rũ xương
Trời đất vẫn vô t́nh
Quân ta lấy Tương châu
Hôm sớm mong thanh b́nh
Lính chạy , trại tan vỡ
Liệu giặc ,ai người tinh !
Vận lương tới trước trận
Rèn lính ngay miền kinh
Đào hào chưa tới nước
Chăn ngựa việc cũng lành
Nuôi nấng rất phân minh
QUan tướng như mẹ cha
Khóc chi khi tiễn hành ?

Nhượng Tống dịch

Bach Van Phi
07-06-2002, 10:10 PM
ĐỒNG QUAN LẠI

Sĩ tốt hà thảo thảo ?
Trúc thành Đồng Quan dạo
Đại thành thiết bất như
Tiểu thành vạn trượng dư
Tá vấn Đồng Quan lại
Tu quan hoàn bị Hồ
Yêu ngă há mă hành
Vị ngă chỉ sơn ngu
Liên vân liệt chiến cách
Phi điểu bất năng du
Hồ lai đăn tự thủ
Khởi phục ưu Tây Đô
Trượng nhân thị yếu xứ
Chính hiệp dung đan xa
Gian nan phấn trường kích
Vạn cổ dụng nhất phu
Ai tai Đào Lâm chiến
Bách vạn hóa vi ngư
Thỉnh phúc pḥng quan tướng
Thận vật học Kha Thư !

Dịch nghĩa :

Quân lính bao khó nhọc
Đắp thành trên đường Đồng Quan
Thành lớn , sắt không vững bằng
Thành nhỏ , dài hơn vạn trượng
Ướm hỏi người nha lại ở Đồng Quan
(Rằng ) vẫn sửa sang cửa ải để đề pḥng giặc Hồ ?
(Người nha lại ) mời ta xuống ngựa cùng đi
Chỉ cho ta xem phía góc núi :
Hàng chiến lũy kéo dài như liền với mây
Chim bay cũng không vượt được
Giặc Hồ dù có đến cũng tự giữ lấy
Không c̣n phải lo cho Tây Đô nữa
- Ông xem những chỗ hiểm yếu :
Hẹp chỉ vừa một chiếc xe đi
Cung cái kích dài cũng khó khăn
Từ xưa vẫn chỉ dùng một người cũng giữ được
Thương thay ! Trận Rừng Đào
Trăm vạn quân đều hóa cá
Xin dặn ông tướng giữ cửa ải :
Coi chừng ! Chớ bắt chước Kha Thư !

- Đồng Quan : một cửa ải rất hiểm yếu ngày xưa , tây giáp núi Hoa Sơn , đông giáp Rừng Đào
- Rừng Đào : một địa điểm gần Đồng Quan , nơi Kha Thư Hàn , tướng nhà Đường bị An Lộc Sơn đánh tan, hơn mươi vạn quân chết đuối ở sông Hoàng Hà

TÊN LẠI Ở ĐỒNG QUAN

Bao quân lính ngày đêm vất vả
Thành Đồng Quan nay đă đắp nên
Thành to thừa sức vững bền
Thành con muôn trượng tiếp liền trời mây

Hỏi tên lại : thành này vội đắp
Ngự giặc Hồ , việc gấp phải không ?
Mời ta xuống ngựa đi cùng
Chỉ ra góc núi ,măi vùng xa xa:
Đó rào chiến thật là kiên cố
Dù chim bay cũng khó vượt qua
Quân Hồ hết lối xông pha
Tây Đô c̣n cách đường xa sợ ǵ
Ḱa lối hiểm men đi chót vót
Đường hẹp này chỉ lọt một xe
Dáo dài cũng khó giở nghề
Một người chống vạn , quen lề từ xưa
Trận Đào Lâm đánh bừa mang vạ
Hàng triệu quân làm cá sông Hoàng
Nhắn ông tướng giữ cửa Quan :
Coi chừng chớ lại học chàng Kha Thư !

Đoăn Kế Thiện dịch

Bach Van Phi
07-07-2002, 09:53 AM
THẠCH HÀO LẠI

Mộ đầu Thạch Hào thôn
Hữu lại dạ tróc nhân
Lăo ông du tường tẩu
LăO phụ xuất khan môn
Lại hô nhất hà nộ
Phụ đề nhất hà khổ !
Thính phụ tiền trí từ :
" Tam nam Nghiệp Thành thú
Nhất nam phụ thư chí
Nhị nam tân chiến tử
Tồn giả thả thâu sinh
Tử giả trường dĩ hỹ !
Thất trung cánh vô nhân
Duy hữu nhũ hạ tôn
Hữu tôn mẫu vị khứ
Xuất nhập vô hoàn quần
Lăo ẩu lực tuy suy
Thỉnh ṭng lại dạ quy
Cấp ứng Hà Dương dịch
Do đắc bị thần xuy "
Dạ cửu ngữ thanh tuyệt
Như văn khấp u yết
Thiên minh đăng tiền đồ
Độc dữ lăo ông biệt

Dịch nghĩa :

Buổi tối đến ngủ ở thôn Thạch Hào
Đêm ấy có tên lại đến bắt người
Ông già vượt tường chạy trốn
Bà già ra cổng nh́n xem
Tên lại quát tháo sao mà dữ thế
Bà già kêu van sao mà khổ thế
Lă1ng nghe bà già van lơn :
"Có ba con trai đều đi thú ở Nghiệp Thành
Một đứa vừa gửi thư cho biết
Hai đứa kia đều chết trận cả
Đứa sống , sống bấp bênh
Đứa chết thế là hết
Trong nhà chẳng c̣n ai
Chỉ có đứa cháu đang ấp vú
V́ có cháu nên mẹ cháu chưa đi
Ra vào không có lấy một manh quần lành
Già này tuy sức đă kém
Cũng xin theo cậu về ngay đêm nay
Nếu được kíp chuyển đi phục dịch ở Hà Dương
Th́ c̣n kịp sửa soạn bữa cơm sáng"
Đêm khuya , tiếng nói đă im bặt
Vẫn c̣n nghe như tiếng nghẹn ngào thút thít
Sớm mai khách lên đường
Chỉ cùng một ông già từ biệt

Dịch thơ :

TÊN LẠI THÔN THẠCH HÀO

Chiều trú Thạch Hào thôn
Đêm có lại bắt người
Ông lăo vượt tường trốn
Bà lăo ra cửa coi
Lại quát tháo ghê thật
Bà kêu khổ thương ôi
Thoạt nghe bà lăo thưa :
" Ba con đi lính trấn
Một đứa gửi tin về
Hai đứa vừa chết trận
Đứa sống sống qua ngày
Đứa chết đành thiệt phận
Trong nhà chẳng c̣n ai
Chỉ đứa cháu bú mẹ
Bận con , nó chưa đi
Tấm quần không lành lẽ
Mụ đây tuy già yếu
Xin theo ngài đi ngay
Về Hàm Dương nhận việc
Kịp thổi bữa sáng mai "
Đêm khuya đă dứt lời
Như nghẹn ngào ảo năo
Sáng từ biệt lên đường
Chỉ c̣n độc ông lăo

Tương Như dịch

Tieu Dieu Khach
09-18-2002, 04:41 PM
Cảm tác

Văn chương thiên cổ sự
Đắc thất thốn tâm tri
Tác giả giai thù biệt
Thanh danh khởi lăng thuỳ

Đỗ Phủ

Cảm tác

Văn chương là chuyện muôn đời
Có chăng được mất do người ta thôi
Khác chăng mỗi vẽ vẹn mười
Giử thanh danh măi sáng ngời về sau

Vơ Thị Xuân Đào ( Phỏng dịch )

Tieu Dieu Khach
09-18-2002, 04:43 PM
Trung thu

Thu cảnh kim tiêu bán
Thiên cao nguyệt bôi minh
Nam lâu thuỳ yến thưởng
Ty trúc tấu thanh thanh

Đỗ Phủ

Trung thu

Đêm thu một nửa long lanh
Lưng trời treo ánh trăng xanh sáng ngời
Lầu nam yến tiệc chơi vơi
Đàn lên sáo trổi hoà đôi nhẹ nhàng

Vơ Thị Xuân Đào ( Phỏng dịch )

Tieu Dieu Khach
09-18-2002, 04:56 PM
Khúc giang I



Nhất phiến phi hoa giảm khước xuân
Phong phiêu vạn điển chính sầu nhân
Thả khan dục tận hoa kinh nhăn
Mạc yếm thương đa tửu nhập thần
Giang thượng tiểu đường sào phí thuư
Uyển biêb cao trũng ngoạ kỳ lân
Tế suy vật lư tuy hành lạc
Hà dụng phù danh bạn thử thân

Đỗ Phủ


Dịch thơ:


Hoa rơi một cánh tan xuân
Phất phơ trong gió buồn dâng nảo ḷng
Ngắm nh́n hoa rụng bâng khuâng
Thương chi chén rượu hàng thần tráo trân
Chim xây tổ mái bên sông
Trên g̣ cao bóng kỳ lân cuối vườn
Chuyện đời nghĩ lại vui hơn
Công danh phù phiếm tâm hồn an nhiên

Vơ Thị Xuân Đào ( Phỏng dịch )

Bach Van Phi
11-24-2002, 04:32 PM
Truy tiễn đồng chu nhật
Thương xuân nhất thủy gian
Phiêu linh vi cửu khách
Suy lăo tiển quân hoàn
Hoa tạp trùng trùng thụ
Vân khinh xứ xứ san
Thiên nhai cố nhân thiểu
Cánh ích mấn mao ban

Dịch Nghĩa:

Một buổi trên thuyền tiễn đưa nhau
Thương cảnh xuân, chung một ḍng nước
Đă bao lâu, thân khách lênh đênh
Cảnh già yếu, lại mừng gặp anh trở lại
Màu hoa sặc sỡ chen lẫn lớp cây trùng điệp
Mây lơ lửng trên đỉnh núi khắp nơi
Bên giời hiếm bạn cũ
Mái tóc càng bạc phơ

Dịch Thơ:

Sông Bồi dong thuyền đưa Vi Ban về kinh

Cuộc đưa tiễn thuyền cùng một buổi,
Ḷng thương xuân theo với nước xuân sầu.
Kiếp lênh đênh thân khách đă bao lâu,
Cảnh suy lăo lại mừng nhau về chốn cũ.
Cây từng lớp màu hoa xem sặc sỡ
Khắp ngàn non tua tủa đám mây đưa
Bên giời người cũ lơ thơ
Buồn thêm tóc mái phất phơ điểm màu

Á Nam

Co Kiem Hung
03-30-2004, 11:36 PM
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ I

Hữu khách, hữu khách tự Tử Mỹ
Bạch đầu loạn phát thuỳ quá nhĩ
Tuế thập tượng lật tuỳ thư công
Thiên hàn nhật mộ sơn cốc lư
Trung Nguyên vô thư quy bất đắc
Thủ cước đống thuân, b́ nhục tử
Ô hô ! Nhất ca hề, ca dĩ ai !
Bi phong vị ngă ṭng thiên lai


Dịch Nghĩa:


Có người, có người tên chữ là Tử Mỹ
Đầu bạc phơ, tóc bù xù rũ xuống quá tai
Quanh năm lượm hạt dẻ, đi theo người nuôi vượn
Trời rét, buổi chiều ở trong hang núi
Trung Nguyên bặt tin, không về được
Chân tay cóng buốt, da thịt tê dại
Hỡi ôi ! Bài hát thứ nhất, tiếng hát đă xót xa
Gió buồn v́ ta từ trên trời thổi xuống...

Co Kiem Hung
03-30-2004, 11:41 PM
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ II

Trường sàm, trường sàm bạch mộc bính
Ngă sinh thác tử dĩ vi mệnh
Hoàng độc vô miêu, sơn tuyết thịnh
Đoản y sác văn bất yểm hĩnh
Thử th́ dữ tử không quy lai
Nam thân tứ ngâm tứ bích tĩnh
Ô hô ! Nhị ca hề, ca thuỷ phóng
Lư lư vị ngă sắc trù trướng !


Dịch Nghĩa:


Thuổng dài, thuổng dài cán gỗ trắng
Đời ta cậy nhờ ngươi mà sống
Khoai hoàng tinh không nẩy mầm, tuyết đầy núi
Áo ngắn kéo xuống không che nổi chân
Lúc này, ta và ngươi đều về không
Trai than thở, gái rên rỉ, bốn vách lặng lẽ
Hỡi ôi ! Bài hát thứ hai vừa cất lên
Hàng xóm v́ ta mà vẻ mặt thảm thiết

Co Kiem Hung
03-30-2004, 11:47 PM
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ III

Hữu đệ, hữu đệ tại viễn phương
Tam nhân các sấu, hà nhân cường
Sinh biệt triển chuyển bất tương kiến
Hồ trần ám thiên đạo lộ trường
Tiền phi giá nga, hậu thu thương
An đắc tống ngă tại nhữ bàng ?
Ô hô ! Tam ca hề, tam ca phát
Nhữ quy hà xứ thu huynh cốt ?

Dịch Nghĩa:


Có em trai, có em trai ở chốn xa xôi
Ba người đều gầy, có ai khoẻ mạnh đâu !
Sống chia ĺa, trằn trọc v́ không gặp nhau
Bụi Hồ mù trời, đường sá vời vợi.
Chim giá nga bay trước, chim thu thương bay sau
Làm sao đưa ta đến bên các em ?
Hỡi ôi ! Bài hát thứ ba, tiếng hát trỗi ba lần
Các em về, biết nhặt xương anh chốn nào ?

Co Kiem Hung
03-30-2004, 11:52 PM
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ IV

Hữu muội, hữu muội tại Chung Ly
Lương nhân tảo một, chư như si
Trường Hoài lăng cao, giao long nộ
Thập niên bất kiến lai hà th́ ?
Biên chu dục văng, tiễn măn nhăn
Diễu diểu Nam quốc đa tinh kỳ
Ô hô ! Tứ ca hề, tứ ca tấu
Lâm viên vị ngă đề thanh trú

Dịch Nghĩa;


Có em gái, có em gái ở Chung Ly
Chồng chết sớm, các con c̣n thơ dại
Sông Hoài sóng lớn, thuồng luồng dữ
Mười năm chẳng thấy em về lần nào.
Muốn vượt thuyền thăm em, tên đầy trước mắt,
Cơi nam bao nhiêu cờ xí thấp thoáng.
Hỡi ôi ! Hát bài thứ tư, tiếng hát bốn phen cất lên
Vượn rừng v́ ta kêu buồn giữa ban ngày.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:17 AM
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ V

Tứ sơn đa phong, khê thuỷ cấp
Hàn vũ táp táp, khô thụ thấp
Hoàng cao cổ thành vân bất khai
Bạch hồ khiêu lương, ḥng hồ lập
Ngă sinh hà vi tại cùng cốc ?
Trung dạ khởi toạ, vạn cảm tập.
Ô hô ! Ngũ ca hề, ca chính trường
Hồn chiêu bất lai, quy cố hương

Dịch Nghĩa:


Núi bốn bề lộng gió, nước suối đổ dồn dập
Mưa lạnh ào ào, cây khô ướt đẫm
Thành xưa đầy cỏ vàng, mây không tan
Chồn trắng nhảy lên cầu, chồn vàng đứng sững
Đời ta v́ sao lại ở nơi hang cùng ?
Nửa đêm ngồi dậy, muôn mối cảm xúc dồn tới
Hỡi ôi ! Bài hát thứ năm, lời hát c̣n dài
Hồn gọi không lại, đang mải về quê cũ.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:20 AM
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ V

Tứ sơn đa phong, khê thuỷ cấp
Hàn vũ táp táp, khô thụ thấp
Hoàng cao cổ thành vân bất khai
Bạch hồ khiêu lương, ḥng hồ lập
Ngă sinh hà vi tại cùng cốc ?
Trung dạ khởi toạ, vạn cảm tập.
Ô hô ! Ngũ ca hề, ca chính trường
Hồn chiêu bất lai, quy cố hương

Dịch Nghĩa:


Núi bốn bề lộng gió, nước suối đổ dồn dập
Mưa lạnh ào ào, cây khô ướt đẫm
Thành xưa đầy cỏ vàng, mây không tan
Chồn trắng nhảy lên cầu, chồn vàng đứng sững
Đời ta v́ sao lại ở nơi hang cùng ?
Nửa đêm ngồi dậy, muôn mối cảm xúc dồn tới
Hỡi ôi ! Bài hát thứ năm, lời hát c̣n dài
Hồn gọi không lại, đang mải về quê cũ.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:21 AM
Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ VI

Nam hữu long hề tại sơn thu
Cổ mộc lung tung chi tương cù
Mộc diệp hoàng lạc long chính trập
Phục xà đông lai thuỷ thượng du
Ngă hàng quái thử, an cảm xuất
Bạt kiếm dục trảm thả phục hưu.
Ô hô ! Lục ca hề, ca tứ tŕ,
Khê hác vị ngă hồi xuân tư

Dịch Nghĩa:


Phương nam có con rồng ở đầm trên núi
Cây cổ thụ cao vút, cành chằng chịt xen nhau
Giữa lá rụng úa vàng, rồng nằm cuộn khúc
Loài rắn miền đông tới lượn lờ trên mặt nước
Ta đến xứ sở lạ lùng này, không dám ra
Tuốt gươm toan chém nhưng lại thôi.
Hỡi ôi ! Bài hát thứ sáu, tiếng hát có vẻ chậm,
Núi khe v́ ta đưa dáng xuân về.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:24 AM
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ VII

Nam nhi sinh bất thành danh thân dĩ lăo
Tam niên cơ tẩu hoang sơn đạo.
Trường An khanh tướng đa thiếu niên,
Phú quư ưng tu trí thân tảo.
Sơn trung nho sinh cựu tương thức,
Đăn thoại túc tích thương hoài băo.
Ô hô ! Thất ca hề, tiễu chung khúc,
Ngưỡng thị hoàng thiên bạch nhật tốc...

Dịch Nghĩa:


Làm trai sinh ra chưa nên danh thân đă già
Ba năm đói chạy khắp nẻo núi hoang.
Bọn khanh tướng ở Trường An đa phần c̣n trẻ
Nên sớm đem thân vào chốn giàu sang.
Bọn làng nho quen biết cũ đều ở núi non
Thường bàn chuyện xưa, thương cho chí lớn.
Hỡi ôi ! Hát bài thứ bảy, tiếng hát buồn đă dứt,
Ngẩng trông trời cao, mặt trời trắng đi qua nhanh...

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:33 AM
Ai giang đầu

Thiếu Lăng dă lăo thôn sinh khốc
Xuân nhật tiềm hành Khúc Giang khúc
Giang đầu cung điện tỏa thiên môn
Tế liễu tân bồ vị thùy lục?
Ức tích nghê tinh há nam uyển
Uyển trung vạn vật sinh nhan sắc
Chiêu Dương điện lư đệ nhất nhân
Đồng liễn tùy quân tại quân trắc
Liễn tiền tài nhân đới cung tiễn
Bạch mă tước nghiệt hoàng kim lặc
Phiên thân hướng thiên ngưỡng xạ vân
Nhất tiếu chính trụy song phi dực
Minh mâu hạo xỉ kim hà tại?
Huyết ô du hồn quy bất đắc
Thanh Vị đông lưu, Kiếm Các thâm
Khứ trú bỉ thử vô tiêu tức
Nhân sinh hữu t́nh lệ triêm ức
Giang thủy giang hoa khởi chung cực
Hoàng hôn Hồ kỵ trần măn thành
Dục văng thành nam vọng thành bắc.

Dịch Nghĩa:


Nỗi đau xót bên sông

Ông già nhà quê Thiếu Lăng (1) nén tiếng khóc nghẹn ngào
Ngày xuân, lẻn đi trên khuỷu sông Khúc Giang (2)
Hàng ngh́n cửa cung điện ở bên sông đều im ỉm khóa
Cây liễu xinh, khóm bồ non, v́ ai mà xanh tươi?
Nhớ khi xưa, cờ bảy sắc trẩy xuống vườn ngự uyển phía nam
Cảnh vật trong vườn đều tưng bừng tươi thắm
Người bậc nhất trong cung Chiêu Dương (3)
Được ngồi cùng xe với vua, theo hầu bên cạnh vua
Trước xe là các nữ quan đeo cung tên
Ngựa bạch ngậm chặt chiếc hàm thiếc bằng vàng
(Nữ quan) xoay ḿnh, ngước nh́n trời, nhắm bắn lên mây
Một nụ cười đă rơi cả đôi chim đang bay sát cánh
(Người đẹp) mắt trong sáng, răng trắng bóng, bây giờ ở đâu?
Hồn bơ vơ vấy máu không nơi về được
Nước sông Vị trong xanh chảy về đông, hang núi Kiếm Các thăm thẳm
Kẻ đi người ở (4), như thế là tăm hơi vắng bặt
Người đời có t́nh cảm, lệ chảy ướt ngực
Nước sông và hoa cỏ bên sông há đều đau buồn cùng cực
Dưới bóng hoàng hôn, quân Hồ cưỡi ngựa tung bụi đầy thành
(Khiến ḿnh mê man) định đi tới phía nam thành lại hướng về phía bắc!

Dịch Thơ:


Thương đầu sông

Ông già Thiếu Lăng nghẹn ngào khóc,
Ngày xuân thui thủi khúc sông Khúc.
Bên sông cung điện khóa nơi nơi,
Bồ liễu v́ ai khoe thắm lục?
Nhớ thuở bóng cờ xuống vườn nam,
Vườn nam cảnh vật bừng sắc hương!
Trong điện Chiêu Dương người bậc nhất,
Cùng xe ngồi cạnh đức quân vương.
Trước xe thể nữ đeo cung tên,
Ngựa bạch ngậm chiếc nhàm hoàng kim,
Né ḿnh nh́n trời nhằm mấy bắn,
Một nụ cười rơi cả đôi chim.
Mặt ngọc răng ngà vắng bấy lâu,
Máu hoen hồn lạc biết về đâu!
Vị Thủy xuôi đông, Kiếm Các vắng,
Khuất, c̣n, vắng bặt tăm hơi nhau!
Việc đời nghĩ lại lệ ướt ngực,
Hoa, nước trên sông... đâu cùng cực?
Ngựa Hồ về tối, bụi đầy thành,
Ta muốn về nam, hóa sang bắc!

Hoàng Tạo và Tương Như



Chú thích:
(1) Tức Đỗ Phủ.
(2) Sông Khúc Giang ở phía đông Trường An.
(3) Triệu Phi Yến, người bậc nhất trong cung Chiêu Dương nhà Hán. Đây chỉ Dương Quư Phi.
(4) Ư nói: Dương Quư Phi bị thắt cổ chết ở Mă Ngôi, c̣n Đường Minh Hoàng chạy vào đất Thục.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:39 AM
Ai vương tôn

Trường An thành đầu đầu bạch ô
Dạ phi Diên Thu môn thượng hô
Hựu hướng nhân gia trác đại ốc
Ốc để đạt quan tẩu tị Hồ
Kim tiên đoạn chiết cửu mă tử
Cốt nhục bất đắc đồng tŕ khu
Yêu hạ bảo quyết thanh san hô
Khả liên vương tôn khấp lộ ngung
Vấn chi bất khẳng đạo tính danh
Đăn đạo cùng khổ khất vi nô
Dĩ kinh bách nhật thoán kinh cức
Thân thượng vô hữu hoàn cơ phu
Cao Đế tử tôn tẫn long chuyết
Long chủng tự dữ thường nhân thù
Sài lang tại ấp long tại dă
Vương tôn thiện bảo thiên kim khu
Bất cảm trường ngữ lâm giao cù
Thả vị vương tôn lập tư tu
Tạc dạ đông phong xuy huyết tinh
Đông lai thác đà măn cựu đô
Sóc phương kiện nhi hảo thân thủ,
Tích hà dũng nhuệ kim hà ngu!
Thiết văn thiên tử dĩ truyền vị,
Thánh đức bắc phục Nam Thiền Vu.
Hoa Môn ly diện thỉnh tuyết sỉ,
Thận vật xuất khẩu tha nhân thư.
Ai tai vương tôn thận vật sơ,
Ngũ Lăng giai khí vô thời vô.

Dịch Nghĩa:


Quạ đầu trắng ở đầu thành Trường An
Đêm bay đến kêu trên cửa Diên Thu (1)
Lại mổ rỉa nóc nhà to của người ta
Dưới nhà ấy, các quan lớn đă chạy lánh quân Hồ
Roi vàng quất găy, chín ngựa (2) đều chết cả
Người ruột thịt cũng không được giong ruổi cùng đi
Tiếp bên lưng đeo chuỗi ngọc báu và san hô xanh
Đáng thương thay, vương tôn khóc ở góc đường
Hỏi sao cũng không chịu xưng tên, kể họ
Chỉ xin làm tôi tớ v́ đang khổ sở khốn cùng
Hàng trăm ngày rồi luồn lách gai góc
Da dẻ suốt người không chỗ nào lành
Con cháu Cao Đế (3) đều có tướng mũi cao
Ṇi rồng tất phải khác người thường
(Bây giờ) lang sói được ở kinh đô, rồng phải lẩn ở đồng nội (4)
Vương tôn khéo giữ tấm thân ngh́n vàng
Nơi ngă ba đường, không dám dông dài tṛ chuyện
Chỉ v́ vương tôn nên dừng lại chốc lát
Đêm qua, gió đông thổi đến những mùi máu tanh hôi
Lạc đà từ phía đông đến nhan nhản đầy kinh đô cũ
Các chiến sĩ phương bắc (5) có thân thể mạnh, chân tay cứng
Xưa sao hăng hái sắc bén, giờ sao ngu đần
Nghe đồn thiên tử đă truyền ngôi (6)
Đức giáo thánh nhân làm cho Nam Thiền Vu (7) ở phía bắc phải cảm phục
Người Hoa Môn (8) rạch mặt (9) xin rửa nhục
Khá cẩn thận giữ miệng, đừng để kẻ khác ŕnh ḍ
Xót thay! Vương tôn nên giữ ǵn, đừng sơ hở
Khí thịnh vượng của Ngũ Lăng lúc nào chẳng có (10)


Dịch Thơ:


Thương vương tôn

Quạ đầu thành lông đầu trắng phớ,
Đêm bay kêu trên cửa Diên Thu.
Lại moi nhà các quan to,
Các quan chạy trốn giặc Hồ lung tung.
Chín ngựa chết, roi đồng đập gẫy,
Bỏ thịt xương, cố chạy lấy ḿnh.
Dưới lưng ṿng ngọc xanh xanh,
Góc đường ngồi khóc thương t́nh vương tôn.
Hỏi tên họ, đâu c̣n dám nhận,
Chỉ xin cho được phận tôi đ̣i!
Tháng ṛng chui rúc chông gai,
Trên ḿnh da thịt chẳng nơi nào lành.
Con cháu chúa thảy rành cao mũi,
Giống rồng xem khác với người thường.
Rồng thất thế, sói đầy đường,
Liệu mà giữ lấy ngh́n vàng tấm thân.
V́ vương tôn dừng chân đứng tạm,
Lối lại qua chuyện dám kề cà!
Gió đưa hơi máu đêm qua,
Sớm nay đô cũ lạc đà nghênh ngang.
Tướng phương bắc rặt phường thao lược,
Nay v́ đâu nhụt sức, kém tài?
Trộm nghe vua mới lên ngôi,
Đức đà phục được rợ ngoài Hung Nô.
Rạch da mặt, trả thù xin quyết.
Chớ rỉ răng, người biết không nên!
Vương tôn cố sức giữ ǵn,
Năm Lăng trông lại c̣n bền khí thiêng!

Nhượng Tống dịch


Đầu thành Trường An quạ trắng đầu,
Đêm bay trên cửa Diên Thu gào,
Lại đến nhà người mổ trên mái,
Dưới mái quan to chạy lánh Hồ!
Roi vàng găy nát, chín ngựa chết,
Ruột thịt chẳng được cùng ruổi dong.
Ngọc xanh châu báu giắt bên lưng,
Thương nỗi vương tôn khóc vệ đường!
Hỏi tên chẳng nói, chỉ nói khổ,
Xin làm đày tớ cơn khốn cùng.
Đă qua trăm ngày rúc gai cỏ,
Ḿnh không một chỗ da liền trơn.
Con chàu nhà vua đều mũi lộ
Giống rồng có khác với người thường.
Muông sói ở thành, rồng ở nội,
Vương tôn khéo giữ thân ngàn vàng!
Gặp giữa đường quan dám rỉ hơi,
Dừng với vương tôn chốc lát thôi.
Đêm qua gió đông thổi máu tanh,
Lạc đà tràn ngập kinh xưa rồi!
Phía bắc quân kia h́nh vạm vỡ,
Xưa sao dơng dạc, giờ sao tồi?
Trộm nghe nhà vua đă truyền vị,
Thuyền Vu đă chịu phục oai trời.
Hoa Môn rạch mặt thề rửa nhục,
Chớ hở môi ra chết với người!
Ơi hỡi vương tôn kín giữ lời!
Ngũ Lăng khí thiêng c̣n đời đời.

Khương Hữu Dụng

-------------------------

Chú thích:
(1) Cửa Diên Thu: cửa tây vườn thượng uyển trong cung nhà Đường
(2) Chín ngựa: số ngựa đóng xe của hoàng đế
(3) Cao Đế: tức Hán Cao Tổ. Đây ám chỉ vua Đường
(4) Chỉ Đường Huyền Tông phải lánh vào Thục, Đường Túc Tông phải ở Linh Vũ, c̣n An Lộc Sơn th́ xưng hoàng đế ở Lạc Dương
(5) Chỉ quân Kha Thư Hàn, tướng nhà Đường, pḥng thủ Đồng Quan, nhưng bị An Lộc Sơn đánh tan
(6) Huyền Tông truyền ngôi cho Túc Tông, c̣n ḿnh làm thái thượng hoàng
(7) Nam Thiền Vu phục tùng Hán Quang Vũ Đế. Đây ám chỉ Hồi Ngột thân thiện với Đường Túc Tông
(8) Hoa Môn: chỉ Hồi Ngột
(9) Tục Hung Nô xưa rạch mặt chảy máu để tỏ ḷng trung thành
(10) Ư nói nhà Đường c̣n có khí thế thịnh vượng có thể trung hưng được

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:44 AM
Ức đệ kỳ I

Táng loạn văn ngô đệ
Cơ hàn bạng Tế Châu
Nhân hi thư bất đáo
Binh tại kiến hà do ?
ức tạc cuồng thôi tẩu
Vô th́ bệnh khứ ưu
Tức kim thiên chủng hận
Duy cộng thuỷ đông lưu



Dịch Nghĩa:


Nhớ em

Thời buổi loạn lạc,nghe tin em
Đói rét nương náu ở châu Tế
Vắng người thư không đến nơi
C̣n giặc biết làm sao gặp nhau ?
Nhớ xưa cuống cuồng giục chạy
Không lúc nào biết ốm đau và lo lắng
Hiện nay hàng ngh́n mối hận
Phó mặc cùng ḍng nước chảy về đông



Dịch Thơ:


Nhớ em

Loạn ly nghe được tin em,
Mặc dầu đói khát vẫn yên nước Tề,
Người thưa thớt, thư về không tới;
Buổi binh đao khó nói tương phùng.
Nhớ ngày chạy loạn khổ chung,
Lo âu, đau ốm, khốn cùng khó an!
Ḷng c̣n nặng muôn ngàn mối hận;
Phó ḍng sông chảy tận phương đông ...

Chi Điền


Loạn lạc nghe tin chú
Cơ hàn náu Tế Châu
Vắng người thư chẳng tới
C̣n giặc,gặp nơi đâu ?
Nhớ thuở xưa cuồng chạy
Đau thôi lại thảm sầu
Bây giờ muôn hối hận
Phó mặc nước xuôi mau

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:46 AM
Ức đệ kỳ II

Thả hỉ Hà Nam định
Bất vấn nghiệp thành vi
Bách chiến kim thuỳ tại ?
Tam niên vọng nhữ quy
Cố hương hoa tự phát
Xuân nhật điểu hoàn phi
Đoạn tuyệt nhân yên cửu
Đông tây tiêu tức hi

Dịch Nghĩa:


Nhớ em

Hăy mừng Hà Nam đă yên
Không hỏi đến ṿng vây Nghiệp Thành
Qua trăm trận nay c̣n lại ai ?
Ba năm trông ngóng em về
Vườn cũ hoa tự nở
Ngày xuân chim vẫn bay
Khói bếp nhà ai đă tắt ngấm lâu rồi
Đông tây tin tức thưa thớt

Dịch Thơ:


Hà Nam mừng hết giặc
Thành Nghiệp giặc đang vây
Trăm trận c̣n ai đó ?
Ba năm nhớ chú đây
Vườn xưa hoa nụ nở
Xuân thắm cánh chim bay
Khói bếp nhà ai tắt
Vắng tin đông lẫn tây

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:49 AM
Bạc mộ

Giang thuỷ trường lưu địa
Sơn vân bạc mộ th́
Hàn hoa ẩn loạn thảo
Túc điểu trạch lâm chi
Cựu quốc kiến hà nhật ?
Cao thu tâm khổ bi !
Nhân sinh bất tái hảo
Mấn phát tự thành ty

Dịch Nghĩa:


Chiều hôm

Nơi này nước sông chảy hoài
Vào lúc chiều hôm nhuộm màu mây núi
Hoa lạnh lẽo nấp trong đám cỏ rối
Chim ngủ đêm chọn cành rậm
Ngày nào thấy lại đất nước cũ ?
Trời thu lồng lộng khiến ḷng càng buồn !
Một đời người không gặp dịp tốt hai lần
Mái tóc mấy chốc mà thành tơ bạc !



Dịch Thơ:


Nơi nước sông tuôn đổ
Chiều mây núi nhuộm màu
Hoa vàng xen cỏ rối
Chim tối chọn cành sâu
Nước cũ bao giờ thấy ?
Thu cao tấc dạ sầu !
Dịp may đời hoạ hiếm
Mấy chốc bạc phơ đầu

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:53 AM
Bi Thanh Bản

Ngă quân Thanh Bản tại đông môn
Thiên hàn ấm mă Thái Bạch quật
Hoàng đầu Hề nhi nhật hướng tây
Sổ kỵ loan cung cảm tŕ đột
Sơn tuyết, hà băng dă tiêu sắt
Thanh thị phong yên, bạch thị cốt
Yên đắt phụ thư dữ ngă quân
Nhẫn đăi minh xuân, mạc thảng thốt.

Dịch Nghĩa:


Quân ta đóng ở cửa đông Thanh Bản
Trời rét căm căm, ngựa uống suối Thái Bạch
Bọn mọi Hề trong bộ lạc "đầu vàng" (thế xuống như) mặt trời phía tây.
Chỉ có vài tên kỵ binh mà cũng giương cung xông tới.
Núi, tuyết, sông băng, cánh đồng xơ xác.
Chỗ xanh là khói, chỗ trắng là xương khô.
Ước ǵ gửi được thư cho quân ta,
(Khuyên hăy) kiên nhẫn đợi sang xuân, chớ nóng vội.


Dịch Thơ:


Thương trận Thanh Bản

Cửa đông Thanh Bản quân ta trú
Lạnh trời cho ngựa uống hồ núi
Bóng xế, vài tên lính kỵ Hề,
Vẫn dám giương cung, ngựa xông tới.
Núi tuyết, sông băng, đồng hắt hiu,
Trắng ấy xương mà xanh ấy khói.
Ước ǵ thư đến được quân ta:
Cố đợi ra năm đừng nóng vội!

Khương Hữu Dụng

--------------------------
Thanh Bản: Nơi tướng Phùng Quán đóng quân chống An Lộc Sơn.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:56 AM
Bi Trần Đào

Mạnh đông thập quận lương gia tử,
Huyết tác Trần Đào trạch trung thuỷ.
Dă khoáng thiên thanh vô chiến thanh,
Tứ vạn nghĩa quân đồng nhật tử.
Quần Hồ quy lai huyết tẩy tiễn,
Nhưng xướng Hồ ca ẩm đô thị.
Đô nhân hồi diện hướng bắc đề,
Nhật dạ cánh vọng quan quân chí.

Dịch Thơ:


Thương Trận Trần Đào

Đông sang...mười quận trai tài,
Máu tuôn thành nước đỏ tươi ṛng ṛng.
Im ĺm trời vắng, đồng không,
Bốn muôn quân nghĩa chết trong một ngày.
Giặc Hồ, tên tẩm máu đầy,
Hát câu hát mán, uống say phố phường.
Ngày đêm khóc ngóng Bắc phương,
Quan quân đâu tá? dân đương đợi chờ.

N.T

Co Kiem Hung
03-31-2004, 12:59 AM
Biệt Pḥng thái uư mộ

Tha hương phục hành dịch
Trú mă biệt cô phần
Cận lệ vô can thổ
Đê không hữu đoạn vân
Đối kỳ bồi Tạ Truyện
Bả kiếm mịch Từ Quân
Duy kiến lâm hoa lạc
Oanh đề tống khách văn




Dịch Nghĩa:


Từ giă mộ Pḥng thái uư

Ta đi công cán nơi quê người
Dừng ngựa giă từ nấm mồ lẻ loi
Gần nước mắt,không có đất khô ráo
Dưới ṿm trời có những đám mây rời rạc
Đánh cờ với Tạ Truyện
Mang gươm t́m Từ Quân
Chỉ thấy hoa rừng rụng
Nghe oanh hót tiễn đưa người


Dịch Thơ:


Lại ra miền đất khách
Dừng ngựa giă cô phần
Mây ủ dăng trời thấp
Đất hoen ướt lệ gần
Đánh cờ hầu Tạ Truyện
Mang kiếm viếng Tạ Quân
Chỉ thấy hoa rừng rụng
Con oanh hót tiễn chân

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:02 AM
Đăng lâu

Hoa cận cao lâu thương khách tâm
Vạn phương đa nạn thử đăng lâm
Cẩm giang xuân sắc lai thiên địa
Ngọc Lũy phù vân biến cổ câm (kim)
Bắc cực triều đ́nh chung bất căi
Tây sơn khấu đạo mạc tương xâm
Khả liên Hậu Chủ hoàn từ miếu
Nhật mộ liêu vi Lương phụ ngâm

Dịch Nghĩa:


Lên lầu

Bài này Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm 764, lúc vừa về Thành Đô, nói đến việc Quách Tử Nghi đánh bại giặc Thổ Phồn, thu phục lại Trường An.

Những đóa hoa nở trên lầu cao, làm cho ḷng khách đau thương.
Trong lúc muôn phương nhiều nạn, ta lên lầu này.
Sắc xuân đến với trời đất sông Cẩm giang.
Trên núi Ngọc Lũy, đám mây nổi biến đổi đời xưa, đời nay.
Sau cơn biến loạn, triều đ́nh miền bắc vẫn không thay đổi.
Vậy th́ bọn giặc cướp ở Tây Sơn kia chớ nên vào xâm lấn.
Thương thay Hậu Chúa (1)mà c̣n có đến miếu.
Buổi chiều tà, ta hăy làm bài Lương phụ ngâm. (2)


Dịch Thơ:

Lên lầu

Hoa sát thềm cao dạ khách đau
Muôn phương lâm nạn bước lên lầu
Ḱa sông xuân trải liền trời đất
Nọ núi mây vờn rối trước sau
Nước cũ uy linh khôn đỗi xóa
Giặc càn lẫn nấp chớ tham cầu
Đáng thương Hậu Chủ thăm đền miếu
Lương phụ chiều ngâm luống gợi sầu

Trần Huy Bích

-----------------------
(1) Hậu Chủ: tức Hậu chúa Lưu Thiện, con của Lưu Bị. Ngoài cửa Cẩm Quan tại Thành Đô, có miếu thờ Thục Tiên chúa (Lưu Bị), phía tây có miếu thờ Vũ hầu Gia Cát Lượng, phía đông có miếu thời Hậu chúa. Nhân việc cảm khái Lưu Thiện tín nhiệm Hoàng Hạo làm mất nước, ám chỉ vua Đường Túc Tông tin dùng Lư Phụ Quốc.
(2) Lương phụ ngâm: Theo sách Thục chí, Gia Cát Lượng khi cày ruộng có làm ra bài Lương phụ ngâm.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:04 AM
Đăng Duyện Châu thành lâu

Đông quận xu đ́nh nhật
Nam lâu túng mục sơ
Phù vân liên Hải Đại
B́nh dă nhập Thanh Từ
Cô chướng tần bi tại
Hoang thành Lỗ điện dư
Ṭng lai đa cổ ư
Lâm diễu độc trù trừ

Dịch Nghĩa:


Lên lầu thành Duyện Châu

Ngày đến Đông Quận thăm cha
Lên lầu Nam liếc mắt qua
Mây nổi nối liền Đông Hải và Đại Sơn
Đồng bằng tít tắp đến chân Thanh châu Từ
Ngọn núi chơ vơ c̣n tấm bia Tần
Trong thành hoang vẫn sót lại điện Lỗ
[Nơi này] xưa nay nhiều ư vị cổ kính
Đứng ngắm mà ḷng [cảm khái] dùng dằng

Dịch Thơ:


Đông Quận đến thăm cha
Lầu Nam liếc mắt qua
Thanh từ đồng nội phẳng
Hải Đại áng mây xa
Núi quạnh bia Tần sững
Thành hoang điện Lỗ tà
Nơi này nhiều dấu cũ
Đứng ngắm những lân la

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:07 AM
Đề Trương thị ẩn cư

Chi tử th́ tương kiến
Yêu nhân văn hứng lưu
Tế đàm chiên phát phát
Xuân thảo lộc ao ao
Đỗ tửu thiên lao khuyến
Trương lê bất ngoại cầu
Tiền thôn sơn lộ hiểm
Quy tuư mỗi vô ưu



Dịch Nghĩa:
Đề nơi ở ẩn của họ Trương

Lúc gặp gỡ bác
Cơn hứng thú buổi chiều mời người ở lại
Cá mè vượt đầm nhảy lơm bơm
Hươu chạy trong đám cỏ xuân kêu tác tác
Riêng mời ép chén rượu Đỗ
Chẳng cần t́m đâu quả lê Trương
Trước xóm, đường núi cheo leo
Mỗi lần say về chẳng lo lắng ǵ !



Dịch Thơ:
Được lúc chơi cùng bác
Hứng chiều núi giữ người
Cá ngoi đầm nước dẫy
Nai tác cỏ xuân tươi
Tại chỗ lê Trương hái
Riêng ai rượu Đỗ mời
Trước thôn đường núi hiểm
Chẳng ngại lúc say rồi

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:10 AM
Đề Huyền Vũ thiền sư ốc bích

Hà niên Cố Hổ Đẩu
Măn bích hoạ Thương Châu
Xích nhật Thạch Lâm khí
Thanh thiên giang hải lưu
Tích phi thường cận hạc
Bôi độ bất kinh âu
Tương đắc Lư Sơn lộ
Chân tuỳ huệ viễn du




Dịch Nghĩa:
Đề vách nhà của thiền sư Huyền Vũ

[Chẳng rơ] năm nào ông Cố Hổ Đầu
Vẽ cảnh Thương Châu đầy vách
Mặt trời đỏ chiếu vào rừng đá bốc hơi
Bầu trời xanh với sông biển cùng chảy
Cỡi gậy bay thường gần gũi chim hạc
Ngồi trên chén [làm thuyền] chẳng khiến âu sợ hăi
Như được đi trên dường Lư Sơn
Thực sự theo thầy Huệ Viễn dong chơi


Dịch Thơ:
Năm nao Cố Hổ Đầu
Đầy vách vẽ Thương Châu
Rừng đá vầng dương chói
Trời xanh nước biển sâu
Gậy bay thường lẫn hạc
Chén cỡi vốn quen âu
Như đến Lư Sơn dạo
Chơi cùng Huệ Viễn lâu

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:14 AM
Đảo y

Diệc tri thù bất phản
Thu chí, thức thanh châm
Dĩ cận hàn khổ nguyệt
Huống kinh trường biệt tâm
Ninh từ đảo y quyện
Nhất kư tái viên thâm
Dụng tận khuê trung lực
Quân văn không ngoại âm

Dịch Nghĩa:

Cũng biết người đi không trở về
Mùa thu đến, vẫn cứ lau sạch tảng đá (để giặt).
Đă gần đến ngày lạnh dữ
Huống chi lại v́ tấm ḷng ly biệt từ lâu
(Cho nên) chẳng quảng nện áo nhọc mệt
Để gởi ra nơi đồn ải xa xăm.
Dùng hết sức người ở pḥng khuê (phụ nữ)
Để chàng nghe được tiếng vang vượt qua quăng không ngăn cách.

Dịch Thơ:

Nện áo

Vẫn biết người đi chẳng trở lui,
Mùa thu tảng đá vẫn lau chùi.
Hàn phong giục giă ngày đông đến,
Cô quả buồn tênh cảnh biệt ly!

Chày nện áo bông không quản nhọc,
Miễn sao gửi được đến tay ai.
Pḥng khuê sức yếu ra công khó,
Mong được chàng nghe tiếng nện chày.

Chi Điền

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:17 AM
Xuân túc Tả tỉnh

Hoa ẩn dịch viên mộ
Thu thu thê điểu qua
Tinh lâm vạn hộ động
Nguyệt bạng cửu tiêu đa
Bất tẩm thinh kim thược
Nhân phong tưởng ngọc hà
Minh triêu hữu phong sự
Sổ vấn dạ như hà ?

Dịch Nghĩa:

Xuân, ngủ lại ở Tả tỉnh

Chiều, hoa núp bóng ven đường Tả Dịch
Chim bay về cất tiếng kêu thu thu
Sao chiếu trên vạn nóc nhà nhấp nháy
Trăng dọi qua chín tầng mây vằng vặc
Không ngủ,nghe tiếng khoá vàng
Gió thổi,tưởng tiếng nhạc ngựa
Sớm mai làm bài tấu dâng lên
[Vua] hỏi : đêm nay như thế nào ?

Dịch Thơ:

Vườn chiều núp bóng hoa
Ríu rít lũ chim qua
Vạn nóc tia sao nháy
Chín mây ánh nguyệt loà
Thức nghe ch́a khoá rít
Gió vẳng tiếng chuông hoà
Mai sớm dâng bài tấu
Hỏi han chuyện tối qua

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:20 AM
Xuân dạ hỉ vũ

Hảo vũ tri th́ tiết
Đương xuân măi phát sinh
Tuỳ phong tiềm nhập dạ
Nhuận vật tế vô thanh
Dă kính vân câu hắc
Giang thuyền hoả độc minh
Hiểu khan hồng thấp xứ
Hoa trọng Cẩm Quan thành


Dịch Nghĩa:

Đêm xuân mừng mưa

Mưa lành biết được tiết trời
Đang lúc xuân về mà phát sinh ra
Theo gió hây hẩy vào đêm tối
Tưới mát muôn vật mà không nghe tiếng
Đường quê đầy mây âm u
Thuyền trên sông chỉ thấy lửa sáng
Sớm mai trong vùng ẩm ướt đỏ thắm
Hoa nở đầy cả thành Cẩm Quan.



Dịch Thơ:

Trời tốt, mưa lành tới
Đang xuân chợt nhẹ rơi
Vào đêm theo với gió
Êm tiếng mát cho đời
Đường nội làn mây ám
Thuyền sông ánh lửa ngời
Sớm trông miền đỏ thắm
Hoa nở Cẩm Thành tươi

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:23 AM
Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc

Kiếm ngoại hốt truyền thu Kế Bắc,
Sơ văn thế lệ măn y thường.
Khước khan thê tử sầu hà tại,
Mạn quyển thi thư hỉ dục cuồng!
Bạch nhật phóng ca tu túng tửu,
Thanh xuân tác bạn hảo hoàn hương.
Tức ṭng Ba Giáp xuyên Vu Giáp,
Tiện há Tương Dương hướng Lạc Dương!

Dịch Nghĩa:

Khi đang ở đất Kiếm Ngoại, ta chợt nghe tin (quân ta) đă chiếm lại miền Kế Bắc
Vừa mới nghe qua, ta đă khóc ướt cả quần áo
Ta sẽ dược gặp lại vợ con, mối sầu c̣n đâu nữa?
Đến sách vở cũng mừng vui đến phát cuồng
Suốt ngày ta cứ ca hát uống rượu tràn
Ta đi theo mùa xuân xanh tươi mà về quê hương
Nghĩa là ta đi theo đường Ba Giáp xuyên qua Vu Giáp
Rồi xuống Tương Dương để đến được Lạc Dương.

Dịch Thơ:

Được tin quan quân lấy lại Hà Nam, Hà Bắc

Kiếm ngoại được tin thu Kế Bắc,
Thoạt nghe nước mắt ứa hai hàng.
Vợ con buồn thảm, liền vui vẻ,
Sách vở mừng điên gấp vội vàng.
Ngày đẹp hát ngao th́ chuốc rượu,
Trời xuân theo bước thẳng về làng!
Ngay từ Ba Giáp qua Vu Giáp,
Rồi xuống Tương Dương tới Lạc Dương.

DOĂN KẾ THIỆN

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:25 AM
Vũ miếu

Vũ miếu không sơn lư
Thau phong lạc nhật tà
Hoang đ́nh thuỳ quất dữu
Cổ ốc hoạ long xà
Vân khí sinh hư bích
Giang thâm tẩu bạch sa
Tảo tri thừa tứ tải
Sơ tạc khống Tam Ba



Dịch Nghĩa:

Đền thờ vua Vũ

Đền thờ vua Vũ trong núi quạnh
Gió thu thổi, mặt trời đă xế
Giữa sân vắng, quưt bưởi rũ bóng
Vách nhà cũ vẽ đầy rồng rắn
Hơi mây tuôn ra từ khoảng nhà trống
Sông sâu chảy trên làn cát trắng phau
Vốn biết vua Vũ đi bốn thứ xe,
Khai thông đường nước để chống giữ Tam Ba


dịch Thơ:

Miếu Vũ sườn non vắng
Trời thu bóng ác tà
Sân hoang cam quưt rũ
Vách cũ rắn rồng nhoà
Nhà trống hơi mây rợp
Cát vàng bóng nước sa
Nghe xưa xe bốn kiểu
Mở lối chắn Tam Ba

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:27 AM
Vũ hầu miếu

Di miếu đan thanh lạc
Không sơn thảo mộc trường
Do văn từ hậu chủ
Bất phục ngoạ Nam Dương



Dịch Nghĩa:

Miếu Vũ hầu

Ngôi miếu c̣n lại,nét vẽ đă phai
Núi trơ vơ,cỏ cây xanh tốt cao ngất
C̣n nghe vẳng lời từ biệt Hậu Chủ
Nhưng không trở về nằm khểnh ở Nam Dương


Dịch Thơ:

Núi vắng đầy cây cỏ
Đền xưa nhạt vách tường
C̣n nghe từ Hậu Chủ
Không trở lại Nam Dương

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:28 AM
Vu Sơn nhật t́nh

Cửu vũ Vu Sơn ám
Tân t́nh cẩm tú văn
Bích tri hồ ngoại thảo
Hồng kiến hải đông vân
Cánh nhật oanh tương họa
Ma thiên hạc sổ quần
Dă hoa can cánh lạc
Phong xứ cấp phân phân

Dịch Nghĩa:

Mưa lâu, núi Vu u ám
Mới tạnh, màu đẹp gấm thêu
Biết màu xanh biếc là cỏ bên hồ
Hiện rơ màu đỏ hồng, ḱa mây phương đông mặt bể
Suốt ngày oanh hót xướng họa cùng nhau
Vài đàn hạc bay xiết ṿm trời
Cỏ ngoài nội héo khô rơi rụng
Trong gió bay mau lệ tơi bời.

Dịch Thơ:

Ngày tạnh trên núi Vu

Mưa dầm u ám núi Vu,
Dứt mưa quang đăng muôn màu gấm thêu.
Cỏ bên hồ khoe màu xanh biếc,
Mây ráng hồng mấy chiếc phương đông.
Suốt ngày oanh hót cành đông,
Vài con hạc trắng bay ṿng trời mây.
Cỏ ngoài nội khô gầy rụng lá,
Trong gió bay tơi tả đầy đồng.

Chi Điền


------------------------
Vu Sơn: Ngọn núi ở phía đông huyện Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:32 AM
Tuyệt cú (tuyển nhất thủ)

Cấp vũ sảo khê túc
Tà huy chuyển thụ yêu
Hoàng sào cách li tịnh
Phiên tảo bạch ngư

Dịch Nghĩa:

Mưa rào lướt qua chân khe
ánh chiều tà chiếu ngang thân cây
đôi chim oanh đứng cạnh nhau bên tổ
Cá trắng nhảy lật tung cả rong

Dịch Thơ:

Tuyệt cú

Chân suối mưa rào lướt
Lưng cây bóng xế lồng
Oanh vàng gù cách tổ
Cá trắng nhảy tung rong

Tương Như

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:36 AM
Tuyệt cú (tuyển tam thủ)

Giang bích điểu du bạch
Sơn thanh hoa dục nhiên
Kim xuân khan hựu quá
Hà nhật thị quy niên


Dịch Nghĩa:

tuyệt cú

Sông xanh như ngọc,chim trắng mờ mờ
Núi thắm tươi,hoa càng rực rỡ
Trông cảnh xuân năm nay lại trôi qua
Biết bao giờ là năm trở về


Dịch Thơ:

Sông biếc chim mờ trắng
Hoa tươi núi thắm cao
Xuân nay đă thấy cảnh
Trở lại biết năm nao

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:39 AM
Tuư th́ ca

Chư công cổn cổn đăng đài sảnh,
Quảng Văn tiên sinh quan độc lănh.
Giáp đệ phân phân yếm lương nhục
Quảng Văn tiên sinh phạn bất túc.
Tiên sinh hữu đạo xuất Hi Hoàng,
Tiên sinh hữu tài quá Khuất Tống.
Đức tôn nhất đại đường khảm kha,
Danh lưu vạn cổ tri hà dụng ?
Đỗ Lăng dă lăo nhân cánh xuy,
Bị cát đoản trách mấn như ty.
Nhật thích thái thương ngũ thăng mễ,
Th́ phó Trịnh lăo đồng khâm lỳ.
Đắc tiền tức tương mịch,
Cô tửu bất phục nghi.
Vong h́nh đáo nhĩ nhữ,
Thống ẩm chân ngô sư.
Thanh dạ trầm trầm động xuân chước,
Đăng tiền tế vũ thiềm hoa lạc.
Đản giác cao ca hữu quỷ thần,
Yên tri ngạ tử điền câu hác !
Tương Như dật tài thân địch khí,
Tử Vân thức tự chung đầu các.
Tiên sinh tảo phú Quy khứ lai,
Thạch điền mao ốc hoang thương đài.
Nho thuật hà hữu ư ngă tai !
Khổng Khâu, Đạo Chích câu trần ai,
Bất tu văn thử ư thảm thảng,
Sinh tiền tương ngộ thả hàm bôi...


Dịch Nghĩa:


Bài hát lúc say

Các ngài ngất ngưởng lên đài sảnh,
C̣n thầy Quảng Văn th́ giữ chức quan lạnh.
Dinh cơ của các ngài rộn ràng, xôi thịt chán chê,
C̣n thầy Quảng Văn th́ cơm không đủ ăn.
Đạo của thầy vốn gốc ở vua Phục Hi,
Tài của thầy vượt cả Khuất Nguyên, Tống Ngọc.
Đức cao nhất đời nên thường lận đận,
Tiếng lưu muôn thuở biết dùng làm ǵ ?
Ông nhà quê Đỗ Lăng càng khiến người ta cười,
Áo vải ngắn ngủn chật ních, tóc bạc nhơ tơ.
Mỗi ngày lănh năm thưng gạo ở kho nhà nước,
Lúc nào cũng đến lăo Trịnh là bạn đồng tâm.
Có tiền tức th́ t́m nhau,
Mua rượu, chẳng ngần ngại ǵ.
[Say] quyên cả h́nh hài, xưng mày tao,
Uống rượu như thế đúng là thầy ta.
Đêm lặng lẽ, rót chén cảm v́ xuân,
Mưa phùn trước đèn, hoa rơi ngoài thềm.
Bất giác hát lớn khiến quỷ thần xúc động,
Biết đâu sẽ chết đói lăn nơi ng̣i rănh !
Tương Như tài cao mà phải tự rửa bát,
Tử Vân giỏi chữ cuối cùng cũng nhảy gác.
Thầy sớm ngâm bài phú Hăy về đi,
Ruộng đá, nhà tranh, rêu xanh loang lổ.
Cái đạo nhà nho có ích ǵ ?
Khổng Khâu, Đạo Chích đều thành đất bụi.
Đừng nghe chuyện ấy mà đau ḷng,
C̣n sống được gặp nhau, hăy cứ nâng chén

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:43 AM
Thu vũ thán

Vũ trung bách thảo thu lạn tử,
Giai hạ quyết minh nhan sắc tiên;
Trước diệp măn chi thuư vũ cái,
Khai hoa vô số hoàng kim tiền.
Lương phong tiêu tiêu xuy nhữ cấp,
Khủng nhữ hậu th́ nan độc lập.
Đường thượng thư sinh không bạch đầu,
Lâm phong tam khứu hinh hương khấp


Dịch Nghĩa:

Than mưa thu

Dưới mưa, trăm loài cỏ đều tàn úa,
Cây quyết minh dưới thềm có vẻ tốt tươi.
Lá mọc đầy cành như cái lọng lông thuư,
Hoa nở ra vô số đồng tiền vàng.
Gió mát hây hây thổi gấp vào mầy,
E về sau mầy khó đứng một ḿnh.
Chàng học tṛ trên nhà đầu bạc phơ,
Đón gió, ba lần ngửi mùi thơm mà khóc.


Dịch Thơ:

Mưa thu trăm cỏ đều tàn úa,
Cây quyết ngoài hiên vẫn mỡ màng.
Nẩy lá đầy cành như lọng biếc,
Đơm hoa vô số nụ tiền vàng.
Lồng lộng qua cây làn gió thốc,
Làm sao đứng vững khi đơn độc ?
Thư sinh bạc tóc ở trên nhà,
Đón gió ba lần ngửi hương khóc !

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:48 AM
Thu hứng ḱ III

Quỳ phủ cô thành lạc nhật tà,
Mỗi y Nam Đẩu vọng kinh hoa.
Thính viên thực há tam thanh lệ
Phụng sứ hư tuỳ bát nguyệt tra.(*)
Hoạ tỉnh hương lô vi phục chẩm,
Sơn lâu phấn điệp ẩn bi già.
Thỉnh khan thạch thượng đằng la nguyệt,
Dĩ ánh châu tiền lô địch hoa.



Dịch Nghĩa:

Ánh mặt trời xiên xuống thành Phủ Quỳ vắng vẻ
Ta thường dơi sao Nam Đẩu hướng về kinh đô
Nghe vượn kêu ba tiếng rơi nước mắt thật
Đi sứ theo chiếc bè tám tháng uổng công
Nhớ ḷ hương nơi dinh vẽ, ôm gối thao thức
ở tường vôi lầu canh trên núi vọng tiếng kèn buồn
Hăy xem trăng qua cây leo dọi trên mặt đá
Đă sáng lấp lánh trên bông lau ngoài băi sông.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:50 AM
Thiên hà

Đương th́ nhiệm hiển hối
Thu chí tối phân minh
Túng bị vi vân yểm
Chung năng văn dạ thanh
Hàm tinh động song khuyết
Kiện nguyệt lạc biên thành
Ngưu nữ niên niên độ
Hà tằng phong lăng sinh


Dịch Nghĩa:

Sông trời

Tuỳ theo thời mà khi sáng khi mờ
Thu đến th́ vô cùng tỏ rạng
Dù có lúc bị màn mây mỏng che
Nhưng rốt cuộc vẫn trong trẻo suốt đêm
Chứa sao lay động trên 2 cửa khuyết
Đưa bóng trăng xế ở thành biên giới
Năm năm, Ngưu Lang Chức Nữ qua sông
Chưa từng có sóng gió nổi lên


Dịch Thơ:

Khi mờ khi lại tỏ
Thu đến rạng tinh anh
Mây mỏng dù che chắn
Đêm dài vẫn sáng thanh
ánh sao lay cửa khuyết
Bóng nguyệt xế bên thành
Ngưu Nữ năm năm vượt
Chưa từng dậy sóng xanh

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:57 AM
Thập lục dạ ngoạn nguyệt

Cựu ấp kim ba sảng
Giai truyền ngọc lộ thu
Quan sơn tuỳ địa khoát
Hà hán cận nhân lưu
Cốc khẩu tiều quy xướng
Cô thành địch khởi sầu
Ba Đồng hồn bất mị
Bán dạ hữu hàm chu


Dịch Nghĩa:

Ngắm trăng đêm mười sáu

Trước đây đă dồn nén sóng vàng
Nay truyền báo mùa thu có móc ngọc
Chốn quan sơn trải rộng theo mặt đất
Sông Ngân Hà như chảy bên người
Trong hẻm núi bác tiều hát trở về
Nơi thành vắng, tiếng địch trỗi buồn
ở kẽm Ba không chợp mắt được
Nửa đêm vẫn có chiếc thuyền ra đi


Dịch Thơ:

Sóng vàng xưa ấp ủ
Móc ngọc báo thu dồn
Giải đất quan sơn rộng
Bên người ngân hán tuôn
Núi khe tiều hát tới
Thành lặng sáo ru buồn
Thao thức miền Ba Giáp
Đêm dài thuyền trẩy luôn...

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 01:59 AM
Thê thành tây nguyên tống Lư phán quan huynh, Vũ phán quan đệ phó Thành Đô phủ

Đăng cao tống sở thân
Cửu toạ tích phương thần
Viễn thuỷ phi vô lăng
Tha sơn tự hữu xuân
Dă hoa tuỳ xứ phát
Yêu liễu ước hàng tân
Thiên tế thương sầu biệt
Ly diên hà thái tần !



Dịch Nghĩa:

Trên cánh đồng phía tây Thê thành, đưa ông anh Lư phán quan, ông em Vũ phán quan đi phủ Thành Đô

Lên cao đưa tiễn những người thân của ta
Ngồi dai tiếc th́ giờ quư báu
Mặt nước xa chẳng phải không gợn sóng
Ngọn núi khác vẫn sẵn vẻ xuân
Hoa đồng nội nở khắp nơi
Liễu tơ mềm buông rũ từng hàng
Nơi góc trời ngậm ngùi nỗi biệt ly
Tiệc tiễn đưa sao mà nhiều thế nhỉ ?



Dịch Thơ:

Lên núi đưa thân thích
Ngồi dai tiếc khắc qua
Nước xa làn sóng gợn
Núi khác dáng xuân pha
Cỏ nội hoa san sát
Tơ non liễu thiết tha
Chân trời buồn tiễn biệt
Sao lắm tiệc chia xa !

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:05 AM
Các dạ

Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh
Thiên nhai sương tuyết tế hàn tiêu
Ngũ canh cổ giác thanh bi tráng
Tam hiệp tinh hà ảnh động diêu
Dă khốc kỷ gia văn chiến phạt
Di ca sổ xứ khởi ngư tiều
Ngọa long dược mă chung hoàng thổ
Nhân sự âm thư mạn tịch liêu

Dịch Nghĩa:

Trong ngày tháng cuối năm, thời gian giục giă qua mau. Giữa khi sương tuyết ở bên trời, đêm ngừng giá lạnh. Tiếng trống và tù và nổi lên nghe bi ai, hùng tráng vào lúc canh năm. Bóng những v́ sao và sông Ngân lay động trong miền Tam Hiệp.

Biết bao nhà vang tiếng chiến chinh trong tiếng khóc đồng quê. Trong khi ở một vài nơi, nổi lên điệu hát của người đánh cá, kiếm củi trong tiếng ca mọi rợ.

Rồng nằm, ngựa nhảy cuối cùng đều thành đất vàng. Việc đời và thư tín thảy đều vắng vẻ, yên tịnh.

Dịch Thơ:

Đêm tối trên gác

Năm tàn ngày tháng dục qua mau,
Biên cảnh sương pha tuyết dăi dầu.
Kèn trống bi hùng thôi thúc sáng,
Tinh hà dao động cơi Tam Châu.
Nhà nhà than khóc hờn chinh chiến!
Đây đó ḥ ca mấy chú tiều.
Danh tướng mưu thần ba tất đất,
Việc đời, thư tín thảy buồn thiu!

Chi Điền

------------------------------------------
Đỗ Phủ làm bài này vào mùa đông năm 766, khi ở Quỳ Châu.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:09 AM
Cầm đài

Mậu Lăng đa bệnh hậu
Thượng ái Trác Văn Quân
Tửu tứ nhân gian thế
Cầm đài nhật mộ vân
Dă hoa lưu bảo yếm
Mạn thảo kiến la quần
Quy phụng cầu hoàng ư
Liêu liêu bất phục văn

Dịch Nghĩa:

Sau buổi lắm bệnh ở Mậu Lăng
Càng thêm yêu Trác Văn Quân
Quán rượu trong cơi nhân gian
Cầm đài dưới bóng mây chiều
Hoa dại nằm trong chén quư
Cỏ hoang vương gấu quần là
Ư phượng cầu hoàng xưa
Nay không c̣n được nghe lại nữa.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:11 AM
Cửu khách

Cơ lữ tri giao thái
Yêm lưu kiến tục t́nh
Suy nhan liêu tự thẩn
Tiểu lại tối tương khinh
Khứ quốc ai Vương Xán
Thương th́ khốc Giả Sinh
Hồ ly hà túc đạo
Sài hổ chính tung hoành


Dịch Nghĩa:

Ở đất khách lâu dài

Sống gửi nằm nhờ mới biết t́nh nghĩa bạn bè
ở lâu dài mới thấy rơ thói đời
Tự cười ḿnh vẻ mặt nhăn nheo già cỗi
Tên lại nhỏ mà khinh người thái quá
Vương Xán đau buồn bỏ nước ra đi
Giả Nghị khóc thương cho thời thế
Lũ chồn cáo đâu đáng nói đến
Hạng sói cọp đang lúc nghênh ngang


Dịch Thơ:

Sống gửi hay t́nh bạn
ở lâu biết thói đời
Mặt già riêng nửa dáng
Lại nhỏ cũng khing người
Vương Xán buồn xa nước
Giả Sinh khóc tiếc thời
Cáo chồn đâu đáng kể
Sói cọp vẫy vùng chơi !

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:14 AM
Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang

Lăo khứ, bi thu cưỡng tự khoan
Hứng lai kim nhật tận quân hoan
Tu tương đoản phát hoàn xuy mạo
Tiếu thảnh bành nhân vị chỉnh quan
Lam thủy viễn ṭng thiên giản lạc
Ngọc sơn cao tịnh lưỡng phong hàn
Minh niên thử hội tri thùy kiện
Túy bả thù du tử tế khan

Dịch Nghĩa:

Về già, buồn cảnh thu, gượng gạo cho khuây khỏa.
Hôm nay nhân lúc cao hứng, cùng bác mua vui thật ra tṛ.
Tóc ngắn ngủn, những thẹn bị gió thổi bay mũ (1)
Cười ḿnh đến phải nhờ người bên cạnh sửa hộ mũ cho chỉnh tề (2).
Ḍng Lam thủy từ ngàn suối xa xa đổ lại.
Ngọc sơn ṿi vọi cũng lạnh như hai ngọn núi cao.
Sang năm, gặp tiết này, biết ai c̣n mạnh khoẻ.
Sẽ uống say, rồi cái nhánh thù du điểm kỹ nhau xem.


Dịch Thơ:

Ngày trùng cửu ở nhà họ Thôi huyện Lam Điền

Tuổi già thu đến gượng khuây khoa
Cao hứng vui chơi bác tại nhà
Những thẹn tóc thưa cơn gió lốc
Lại cười mũ lệnh khách nâng qua
Lam Giang suối đổ ngàn biên tái
Ngọc Lĩnh hơi lên ngọc Thái Ḥa
Năm đến, tiết nầy ai mạnh yếu?
Thù du sẽ điểm sổ phần ta!

Chi Điền

--------------------------------
(1) Do điển Mạnh gia đời Tần, nhân tiết trùng cửu (9 tháng 9), chơi núi Long Sơn, bị gió thổi rơi mũ, thành một đề tài để Tôn Thịnh làm bài văn trào lộng.
(2) Cũng do điển Mạnh gia rơi mũ, phải nhờ người bên cạnh là Hoàn Ôn sửa mũ lại cho

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:19 AM
Tống hàn lâm Trương tư mă Nam Hải lặc bi

Quan niệm thông nam cực
Văn chương lạc thượng đài
Chiếu ṭng tam điện khứ
Bi đáo bách man khai
Dă quán nùng hoa phát
Xuân phàm tế vũ lai
Bất tri thương hải thượng
Thiên khiển kỷ th́ hồi


Dịch Nghĩa:

Đưa ông tư mă Trương ở viện hàn lâm đi Nam Hải khắc bia

Mũ măo thông suốt đến tận cơi nam
Văn chương đưa từ bậc quan lớn xuống
Chiếu ban ở ba điện sai ra đi
Bia đến xứ trăm man dựng mở
Hoa nở rậm ở quán nhà quê
Mưa nhẹ rơi trên cánh buồm xuân
Biết đâu ở chốn biển xanh
Chẳng mấy chốc vua cho về

Dịch Thơ:

Mũ miện thông nam cực
Văn chương bậc thượng đài
Chiếu từ cung điện xuống
Bia dựng xứ man ngoài
Quán nội hoa đua nở
Buồm xuân mưa nhẹ phai
Biết đâu miền biển ấy
Mấy chốc được lui hài

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:21 AM
Tặng Lư Bạch

Thu lai tương cố thượng phiêu bồng
Vị tựu đan sa quư Cát Hồng
Thống ẩm cuồng ca không độ nhật
Phi dương bạt hộ vị thuỳ hùng ?


Dịch Nghĩa:

Tặng Lư Bạch

Thu tới nh́n nhau c̣n như cỏ bồng xiêu dạt
Chưa luyện xong đan thẹn với Cát Hồng
Uống say khướt hát lung tung cho hết ngày
Đă bướng lại ngông,v́ ai mà làm anh hùng ?


Dịch Thơ;

Thu sang thân vẫn tựa phiêu bồng
Chửa luyện xong đan,thẹn Cát Hồng
Uống măi hát tràn qua suốt buổi
Tranh hùng ai nhỉ,bướng cùng ngông !

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:25 AM
Tặng Hoa khanh

Cẩm Thành ti quản nhật phân phân,
Bán thập giang phong bán nhập vân
Thử khúc chỉ ứng thiên thượng hữu,
Nhân gian năng đắc kỷ hồi văn!


Dịch Nghĩa:

Tiếng đàn tiếng sáo ở Cẩm Thành ngày ngày d́u dặt,
Nửa tan vào tiếng gió của gịng sông, nửa vút lên tầng mây.
Khúc nhạc này chỉ ứng được với thượng giới thôi.
Giữa trần gian nào ai nghe được mấy lần!


Dịch Thơ:

Tặng vị khanh họ Hoa

Cẩm Thành d́u dặt tiếng tơ,
Nửa bay theo gió, nửa chờ mây trôi.
Khúc này thượng giới có thôi,
Trần gian thử hỏi mấy hồi được nghe!

Nguyễn Danh Đạt

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:27 AM
Tần Châu tạp thi

Tần Châu thành bắc tự
Truyền thị Ngỗi Hiêu cung
Đài tiển sơn môn cổ
Đan thanh dă điện không
Nguyệt minh thuỳ diệp lộ
Vân trục độ khê phong
Thanh Vị vô t́nh cực
Sầu th́ độc hướng đông


Dịch Nghĩa:

Thơ vặt ở Tần Châu

Ngôi chùa phía bắc thành Tần Châu
Tương truyền là cung vua Ngỗi Hiêu
Rêu trên cửa núi cũ kỹ
Nét vẽ ở điện hoang trơ trọi
Trăng soi sáng hạt móc đầu lá rũ
Mây đưa gió thổi qua khe
Sông Vị trông quá thờ ơ
Buồn bă chỉ chảy về hướng đông


Dịch Thơ:

Tần Châu chùa cơi bắc
ấy chốn Ngỗi Hiêu xưa
Cửa núi làn rêu cũ
Đền hoang nét vẽ thưa
Trăng soi sương lá giọt
Mây giục gió khe đưa
Thanh Vị thờ ơ thế
Về đông buồn quạnh chưa !

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:36 AM
Sơ nguyệt

Quang tế huyền sơ thướng
ảnh tà luân vị an
Vi thăng cổ tái ngoại
Dĩ ẩn mộ vân đoan
Hà Hán bất cải sắc
Quan sơn không tự hàn
Đ́nh tiền hữu bạch lộ
ám măn cúc hoa đoàn


Dịch Nghĩa:

Trăng non

Vành cung mới lên, ánh nắng mờ nhạt
Bóng nghiêng nghiêng, h́nh chưa ổn định
Nhích chậm lên bên ngoài ải cổ
Đă nấp sau đám mây chiều
Qua ngân hà, không thay đổi dáng vẻ
Chốn quan sơn, tự nhiên thành giá lạnh
Trước sân có sương móc trắng
Bao trùm các đoá hoa cúc

Dịch Thơ:

Nhàn nhạt vành cung mọc
Chênh chênh dáng chửa đều
Dần nhô ngoài ải vắng
Đă nép cạnh mây chiều
Ngân Hán nguyên màu cũ
Quan san giá lạnh nhiều
Trước sân làn móc trắng
Cúc nở rợp yêu kiều...

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:38 AM
Dă vọng I

Thanh thu vọng bất cực
Thiều đệ khởi tằng âm
Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh
Cô thành ẩn vụ thâm
Diệp hi phong cánh lạc
Sơn quưnh nhật sơ trầm
Độc hạc quy hà văn ?
Hôn nha dĩ măn lâm

Dịch Nghĩa:
[/i]
Trông cảnh đồng quê

Bầu thu trong vắt khôn cùng
Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên
Nước xa lẫn ṿm trời quang đăng
Thành cô quạnh nấp trong sương dày
Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần
Núi tít mù mặt trời vừa lặn
Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu ?
Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng.[/i]

Dịch Thơ:

Bầu thu vời mút mắt
Lớp lớp bóng im xa
Nước thẳm in trời tạnh
Thành hoang khuất móc sa
Lá thưa theo gió rụng
Núi quạnh lẫn dương tà
Hạc tối về đâu nhỉ ?
Rừng đêm rộn ác tà...

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:40 AM
Dă vọng I

Thanh thu vọng bất cực
Thiều đệ khởi tằng âm
Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh
Cô thành ẩn vụ thâm
Diệp hi phong cánh lạc
Sơn quưnh nhật sơ trầm
Độc hạc quy hà văn ?
Hôn nha dĩ măn lâm

Dịch Nghĩa:

Trông cảnh đồng quê

Bầu thu trong vắt khôn cùng
Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên
Nước xa lẫn ṿm trời quang đăng
Thành cô quạnh nấp trong sương dày
Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần
Núi tít mù mặt trời vừa lặn
Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu ?
Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng.

Dịch Thơ:

Bầu thu vời mút mắt
Lớp lớp bóng im xa
Nước thẳm in trời tạnh
Thành hoang khuất móc sa
Lá thưa theo gió rụng
Núi quạnh lẫn dương tà
Hạc tối về đâu nhỉ ?
Rừng đêm rộn ác tà...

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:43 AM
Dă vọng II

Tây Sơn bạch tuyết tam thành thú
Nam Phố thanh giang vạn lư kiều
Hải nội phong trần chư đệ cách
Thiên nhai thế lệ nhất thân diêu
Duy tương tŕ mộ cung đa bệnh
Vị hữu quyên ai đáp thánh triều
Khoá mă xuất giao đồ cực mục
Bất kham nhân sự nhật tiêu điều

Dịch Nghĩa:

Trông cảnh đồng quê

Đồn Tam Thành ở vùng tuyết trắng Tây Sơn
Cầu Vạn Lư bắc ngang ḍng sông trong Nam Phố
Trong cơi gió bụi các em đều xa cách
Nơi góc trời ứa lệ,một ḿnh ta lạc loài
Tuổi tác sắp già,càng đau ốm luôn
Chưa có chút mảy may nào báo đáp ơn vua
Cỡi ngựa ra ngoài thành trông vời
Không chịu nổi việc đời mỗi lúc một héo hon.

Dịch Thơ:

Ngắm đồng nội

Tây Sơn tuyết trắng ba thành lính
Nam Phố sông trong một nhịp cầu
Góc bể xa em mờ mịt bụi
Chân trời lẻ bóng tả tơi châu
Ơn vua chẳng chút công đền đáp
Luống tuổi càng nhiều lúc ốm đau
Cỡi ngựa ra thành vời mắt ngắm
Việc đời mỗi lúc một dầu dầu...

Lê Nguyễn Lưu

---------------------
Tây sơn tuyết phủ ba thành thú,
Nam Phố sông xanh Vạn Lư kiều.
Bốn bể các em trong gió bụi,
Bên trời ḿnh khách sống cô liêu!
Tuổi già sắp đến thân đau yếu,
Chưa chút công lao đáp thánh triều.
Ruổi ngựa ngoài thành ngh́n vạn dậm,
Khổ ḷng trước cảnh măi tiêu điều.

Chi Điền

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:45 AM
Quy nhạn

Đông lai vạn lư khách
Loạn định kỷ niên quy
Trường đoạn giang thành nhạn
Cao cao hưởng bắc phi

Dịch Nghĩa:

Người khách từ vạn dặm đi đến từ hướng đông.
Loạn dẹp yên mấy năm sẽ về
Ruột đứt từng đoạn, con nhạn ở thành nơi bờ sông.
Bay về phía bắc ở trên cao.

Dịch Thơ:

Nhạn về

Viễn khách từ đông đến
Yên: về, biết lúc nào?
Ải nh́n nhạn: ruột đứt!
Bay hướng bắc cao cao

Nguyễn Huy Hùng

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:48 AM
Quan Lư Cố Ngôn

Phương trượng hồn liên thuỷ
Thiên Thai tổng ánh vân
Nhân gian trường kiến hoạ
Lăo khứ hận không văn
Phạm Lăi chu biên tiểu
Vương Kiều hạc bất quần
Thử sinh tuỳ vạn vật
Hà xứ xuất trần phân ?


Dịch Nghĩa:

Xem [Tranh và thơ] Lư Cố Ngôn

Phương trượng bao la nối tiếp mặt nước
Thiên Thai bao trùm làn mây sáng
Người đời thường thấy tranh vẽ
Ta già rồi chỉ tiếc nghe suông
[Hiềm v́] thuyền Phạm Lăi nhỏ bé
Hạc của Vương Kiều không nhóm lại
Cuộc sống này là tuỳ ở muôn vật
Nơi đâu thoát khỏi đời bụi bặm này ?



Dịch Thơ:

Phương Trượng mênh mông nước
Thiên Thai rạng rỡ mây
Người đời thường thấy vẽ
Luống tuổi chỉ nghe thầy
Phạm Lăi thuyền khoang nhỏ
Vương Kiều hạc lẻ bầy
Cuộc đời do tạo vật
Đâu thoát cơi trần đây ?

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:50 AM
Quan Công Tôn đại nương đệ tử vũ kiếm khí hành

Tích hữu giai nhân Công Tôn thị
Nhất vũ kiếm khí động tứ phương.
Quan giả như sơn sắc trở táng,
Thiên địa vi chi cửu đê ngang.
Quắc như Nghệ xạ cửu nhật lạc,
Kiểu như quần đế tham long tường.
Lai như lôi đ́nh thu chấn nộ,
Băi như giang hải ngưng thanh quang.
Giáng thần châu tự lưỡng tịch mịch,
Văn hữu đệ tử truyền phân phương.
Lâm Dĩnh mĩ nhân tại Bạch Đế,
Diệu vũ thử khúc thần dương dương.
Dữ dư vấn đáp kư hữu dĩ,
Cảm th́ phủ sự tằng uyển thương.
Tiên đế thị nữ bát thiên nhân,
Công Tôn kiếm khí sơ đệ nhất.
Ngũ thật niên gian tự phản chưởng,
Phong trần hồng động hôn vương thất.
Lê viên đệ tử tán như yên,
Nữ nhạc dư tư ánh hàn nhật.
Kim túc đôi tiền mộc dĩ củng,
Cù Đường thạch thành thảo tiêu sắt.
Đại diên cấp quản khúc phục chung,
Lạc cực ai lai nguyệt đông xuất.
Lăo phu bất tri kỳ sở văng,
Túc kiển hoang sơn chuyển sầu tật.



Dịch Nghĩa:

Bài hành xem học tṛ của đại nương Công Tôn múa điệu kiếm khí

Xưa có người đẹp họ Công Tôn,
Mỗi lần múa điệu kiếm khí, bốn phương rung động.
Người xem vững như núi cũng khiếp đảm.
Trời đất theo nhịp múa mà lên cao xuống thấp.
Sáng rực như Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời,
Vững vàng như các chúa tiên cỡi rồng lượn.
Đến khi sấm sét thu hết cơn giận dữ,
Dừng như sông bể đọng ánh sáng trong veo.
Làm môi thắm, tay áo ngọc nay đă vắng tênh,
Về già có cô học tṛ để truyền nghề.
ấy là người đẹp xứ Lâm Dĩnh ở thành Bạch Đế.
Múa khúc tuyệt diệu này, thần thái hiên ngang.
Cùng ta tṛ chuyện trong chốc lát,
Cảm thời thế nhiều ngang trái mà xót thương !
Thị nữ của tiên đế có tám ngh́n người,
Kiếm khí của Công Tôn đứng hàng đầu.
Khoảng năm chục năm trôi qua tựa như trở bàn tay,
Gió bụi tơi bời tối tăm cả cung vua.
Đệ tử Lê viên tan tác như khói,
Phong tư đội nữ nhạc chỉ c̣n ánh nắng lạnh lẽo.
Trước g̣ Kim Túc, côi cối chầu hầu,
Nơi thành đá Cù Đường, cỏ xác xơ buồn bă.
Trên tiệc, khúc sáo dồn dập đă dứt
Vui xong sinh buồn, trăng mọc trời đông.
Già này chẳng biết sẽ đi về đâu,
Chân chai lê trong núi hoang theo nỗi sầu.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:52 AM
Dạ yến Tả thị sinh

Phong lâm tiêm nguyệt lạc
Dạ lộ tĩnh cầm trương
ám thuỷ lưu hoa kính
Xuân tinh đới thảo đường
Kiểm thư thiêu chúc đoản
Khan kiếm dẫn bôi trường
Thi băi văn Ngô vịnh
Biên chu ư bất vong


Dịch Nghĩa:

Dự tiệc đêm ở chỗ chàng họ Tả

Rừng gió thổi, vầng trăng nhạt lặn
Sương đêm làm tiếng đàn lắng lại
Ḍng nước âm thầm chảy qua luống hoa
ánh sao xuân chiếu trên nhà cỏ
Đốt ngọn nến cứ ngắn đi để xem sách
Trông lưỡi gươm mà uống rượu hoài
Làm thơ xong lại nghe điệu hát Ngô
Trong ư nghĩ vẫn không quên chiếc thuyền


Dịch Thơ:

Rừng gió vầng trăng xế
Sương đêm lắng tiếng đàn
Lối hoa ḍng nước tối
Nhà cỏ ánh sao tàn
Đọc sách khêu đèn lụn
Trông gươm nhấp chén tràn
Thơ rồi nghe điệu hát
Nhớ măi chiếc thuyền nan

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:55 AM
Dữ Chu sơn nhân

Cẩm lư tiên sinh ô giác cân
Viên thu vu lật vị tuyền bần
Quán khan tân khách nhi đồng hỷ
Đắc thực giai trừ điểu tước tuần
Thu thủy tài thắm tứ ngũ xích
Giă hàng cáp thu lưỡng tam nhân
Bạch sa thúy trúc giang thôn mộ
Tương tống sài môn nguyệt sắc tân

Dịch Nghĩa:

Tặng ông họ Chu ở trên núi

Thầy đồ thôn Cẩm (1) chiếc khăn đầu ŕu thâm.
Vườn thu hoạch được khoai, hạt giẻ, chưa hẳn là nghèo.
Khách khứa đă quen, trẻ con thấy đến, mừng rỡ.
Trước sân kiếm ăn được, ri sẻ đă dạn người.
Nước mùa thu mới sâu độ bốn năm thước
Chiếc đ̣ chở vừa hai ba người.
Cát trắng, tre xanh, cảnh chiều hôm trên xóm bến,
Tiễn nhau trước cổng gióng tre, ánh trăng mới mọc sáng ngời.

Dịch Thơ:

Tặng ông họ Chu ở trên núi

Trên đầu ông đội khăn đầu ŕu,
Khoai, giẻ vườn ông chưa hẳn nghèo.
Mừng khách, trẻ con quen mặt hỏi,
Dạn người, chim chóc được mồi theo.
Sông thu một dăi nông sờ nước
Thuyền khách ba thang đủng đỉnh chèo.
Cát trắng trúc xanh trời sắp tối,
Cửa sài đưa khác bóng trăng treo.

PSV

------------------------------------
Ông họ Chu là Chu Hy San, bạn của Đỗ Phủ.
(1) Cẩm: Cẩm Giang, nơi Chu Hy San ở.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 02:57 AM
Dữ Nhiệm Thành Hứa chủ bạ du nam tŕ

Thu thủy thông câu húc
Thành ngung tiến tiểu thuyền
Văn lương khan tẩy mă
Xâm mộc loạn minh thiền
Lăng thục kinh th́ vũ
Bạc hoang bát nguyệt thiên
Thần triêu giáng bạch lộ
Diêu úc cựu thanh chiên

Dịch Nghĩa:

Nước mùa thu làm cho thông mương lạch.
Góc thành có chiếc thuyền nhỏ đi tới.
Buổi chiều lạnh lẽo nh́n cảnh tắm ngựa.
Cây xanh tốt, tiếng ve kêu khắp nơi
Ấu chín, trận mưa đúng mùa
Bạc hà mọc hoang, trời tháng tám
Sáng ngày, sương rơi trắng xóa
Xa nhớ chiếc nệm xanh xưa cũ (1)


Dịch Thơ:

Cùng ông chủ bạ họ Hứa, quê ở Nhiệm Thành, đi chơi hồ phía Nam

Nước thu thông rạch, rănh.
Thành ngoại chống thuyền con.
Tối mát, ngựa bơi tắm,
Rừng sâu, ve véo von.
Mùa mưa ngâu, ấu chín.
Tiết tháng tám, hà non.
Sáng sớm mù sương trắng,
Nhớ quê nệm cũ g̣n.

Nguyễn Huy Hùng

(1) Câu này muốn nhắc lại chuyện Vương Hiến Chi, ban đêm họ Vương ngủ trong thư trai, th́ có trộm đến viếng. Vương bèn nói: nhà ta có tấm nệm màu xanh là cổ vật, để ta vào lấy ra cho.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:01 AM
Giang bạn độc bộ tầm hoa

Hoàng tứ nương gia hoa măn khê
Thiên đóa vạn đóa áp chi đê
Lưu liên hí điệp thời thời vũ
Tự tại kiều oanh kháp kháp đề

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:03 AM
Phụng tế dịch trùng tống nghiêm công tứ vận

Viễn tống ṭng thử biệt
Thanh sơn không phục t́nh
Kỷ thời bôi trùng bả ?
Tạc dạ nguyệt đồng hành
Liệt quận âu ca tích
Tam triều xuất nhập vinh
Giang thôn độc quy xử
Tịch mịch dưỡng tàn sinh


Dịch Nghĩa:

Bài thơ bốn vần lại tiễn đưa ông Nghiêm ở trạm phụng tế

Tiễn bác đi xa,từ đây chia ĺa
Núi xanh chan chứa t́nh
Mấy khi lại nâng chén rượu ?
Hôm qua cùng đi dưới trăng
Dân các quận khen ngợi nhớ tiếc
Suốt ba triều ra vào vinh hiển
Nay một ḿnh về ẩn xóm ven sông
Lấy cảnh vắng nuôi cuộc đời c̣n lại


Dịch Thơ:

Tiễn bác đường vời vợi
Non xanh chan chứa t́nh
Thuở nào say chén ngọc ?
Đêm trước dạo trăng xinh
Các quận dân thương tiếc
Ba triều chức tước vinh
Xóm sông về ẩn dật
Vắng vẻ trọn đời ḿnh

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:07 AM
Phục sầu

Vạn quốc thượng nhung mă
Cố viên kim nhược hà
Tích quy tương thức thiểu
Tảo dĩ chiến trường đa

Dịch Nghĩa:

Lại buồn

Muôn nước vẫn c̣n lo việc quân
Vườn cũ nay ra sao rồi ?
Trước kia trở về,người quen ít ỏi
Nay đă sớm có lắm cảnh sa trường


Dịch Thơ:

Lại buồn

Muôn nước ham chinh chiến
Vườn quê biết thế nào ?
Xưa về thưa bạn hữu
Nay sớm rộn binh đao

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:12 AM
Phục sầu I

Vạn quốc thượng pḥng khấu
Cố viên kim nhược hà
Tích qui tương thức thiểu
Tảo dĩ chiến trường đa

Dịch Nghĩa:

Các nơi c̣n phải pḥng ngừa giặc giă (1)
Vườn cũ (2) nay ra sao?
Chuyến trước về (3), lác đác chỉ c̣n ít người quen biết.
V́ phần nhiều phải ra chiến trường lâu rồi.


Dịch Thơ:

Lại buồn bài I

Giang sơn tan tác nạn binh đao,
Vườn cũ hôm nay biết thế nào?
Ngày trước trở về thân thích vắng,
Giờ đây chiến địa khắp nương hào!

Chi Điền

-------------------------------------------
(1) Nhà Đường lúc này đang bị nạn Thổ Phồn lấn cướp Mân Châu và Linh Châu. Kinh đô phải giới nghiêm.
(2) Chỉ chỗ ở cũ của Đỗ Phủ ở Lạc Dương.
(3) Năm 758, Đỗ Phủ từ Hoa Châu về Lạc Dương.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:17 AM
Giang Hán

Giang Hán tư quy khách
Càn khôn nhất hủ nho
Phiến vân thiên cộng viễn
Vĩnh dạ nguyệt đồng cô
Lạc nhật tâm do tráng
Thu phong bệnh dục tô
Cổ lai tồn lăo mă
Bất tất thủ trường đồ



Dịch Nghĩa:

Sông Giang sông Hán

ở Giang Hán có người nhớ quê
Trong trời đất có ông đồ gàn
Đám mây với trời cùng xa tít
Đêm dài với trăng cùng cô đơn
Mặt trời lặn,ḷng vẫn hăng hái
Gió thu thổi,bệnh sắp bớt rồi
Xưa nay c̣n lại con ngựa già
Cần chi phải có tài chạy đường dài



Dịch Thơ:

Giang Hán mơ quê cũ
Càn khôn một bác đồ
Mây cùng trời tít tắp
Đêm với nguyệt đơn cô
Chí mạnh khi ngày xế
Bệnh lùi lúc gió thu
Ngựa già c̣n lại đó
Sá kể sức trường đồ.

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:33 AM
Hiểu vọng

Bạch Đế canh thanh tận
Dương Đài sắc tự phân
Cao phong thượng hàn nhật
Điệp lĩnh túc mai vân
Địa sách giang phàm ẩn
Thiên thanh mộc diệp văn
Kinh phi đối mỹ lộc
Ưng cộng nhĩ vi quần

Dịch Nghĩa:

Thành Bạch Đế tiếng trống tan canh
Trên Dương Đài ánh sáng hiện ra
Ngọn núi cao mặt trời mọc c̣n lạnh
Núi trùng điệp, mây mờ nằm thu lại
Đất lở, buồm trên sông lúc ẩn lúc hiện
Trời xanh, nghe tiếng lá cây rụng
(Ngồi ngoài) cửa tre nh́n đàn hưu nai
Muốn cùng lũ ngươi làm bạn

Dịch Thơ:

Sáng sớm xem phong cảnh

Tiếng trống tan canh Bạch Đế thành,
Dương Đài rực sáng ánh b́nh minh.
Đầu non vầng nhật c̣n trong lạnh,
Sườn núi làn mây chửa bủa nhanh.
Đất lở, buồm phơi thay sắc thái,
Trời thanh, đá đổ dội âm thanh.
Trông nai ngoài ngơ thong dong bước,
Những muốn cùng nai kết bạn lành.

Chi Điền

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:34 AM
Kỷ

Vĩnh dữ thanh kh¨º biệt
M&ocirc;ng tương ngọc soạn c&acirc;u
V&ocirc; t¨¤i trục ti¨ºn ẩn
Bất cảm hận b¨¤o tr¨´
Loạn thế khinh to¨¤n vật
Vi thanh cập hoạ xu
Y quan ki¨ºm đạo tặc
Thao thiết dụng tư tu


Dịch Nghĩa:

Con hoẵng

Vĩnh biệt khe suối trong trẻo
Sắp bị dọn l¨ºn c¨´ng với thức ăn ngon
Kh&ocirc;ng c¨® t¨¤i theo c¨¢c bậc ti¨ºn ở ẩn
Đ&acirc;u d¨¢m giận bọn đầu bếp
Đời loạn coi thường mọi vật
Tiếng k¨ºu nhỏ m¨¤ tai hoạ cũng đến
Bọn ¨¢o mũ cũng như bọn trộm cướp
Ăn uống nhồm nho¨¤m tho¨¢ng chốc hết ngay


Dịch Thơ:

Vĩnh biệt suối khe trong
M¨®n ngon sắp dọn c¨´ng
Theo thi¨ºn t¨¤i chẳng kịp
Giận bếp d¨¢m sinh l¨°ng
Đời loạn kh&ocirc;ng g¨¬ vẹn
Thầm k¨ºu cũng mắc v¨°ng
Quan quyền c¨´ng trộm cướp
Ngốn ngấu chốc l¨¤ xong !

L¨º Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:35 AM
Khách ṭng

Khách ṭng nam minh lai
Di ngă tuyền khách châu
Châu trung hữu ẩn tự
Dục biện bất thành thư
Giam chi kíp tư cửu
Dĩ sĩ công gia tu
Khai thị hoá vi huyết
Ai kim trưng liễm vô !


Dịch Nghĩa:

Khách từ

Khách từ biển Nam tới đây
Cho tôi một hạt ngọc người cá
Trong ngọc có nét chữ mờ mờ
Cố phân biệt mà không nhận ră câu ǵ
Giấu nó trong hộp đă lâu rồi
Đợi để nhà quan dùng đến
Mở xem, nó biến thành cục máu
Thương thay ! Nay không c̣n ǵ nộp thuế !


Dịch Thơ:

Khách từ Nam hải tới
Cho một hạt tuyền châu
Trong ngọc in mờ chữ
Lần xem chẳng rơ câu
Giấu hoài trong hộp kín
Chờ để các quan thâu
Mở ngó hoá thành máu
Thương thay ! Thuế má đâu ?

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:37 AM
Lâm giang tống Hạ Tiêm

Bi quân lăo biệt lệ chiêm cân
Thất thập vô gia vạn lư thân
Sầu kiến chu hành phong hựu khởi
Bạch đầu lăng lư bạch đầu nhân


Dịch Nghĩa:

Buồn bă v́ phải từ biệt người bạn già, lệ ướt đầm khăn
(Bạn) đă bẩy mươi tuổi, thân không nhà cửa
Buồn trông thuyền đi, gió lại nổi lên
Dặm sóng bạc đầu, người cũng bạc đầu


Dịch Thơ:

Tới sông tiễn Hạ Tiêm

Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu
Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu ?
Buồn trông trận gió theo thuyền nổi
Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu

Tản Đà

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:39 AM
Lạc nhật

Lạc nhật tại liêm câu
Khê biên xuân sự u
Phương phi duyên ngạn phố
Tiều thoán ỷ than chu
Trác tước tranh chi truỵ
Phi trùng măn viện du
Trọc giao thuỳ tạo nhữ ?
Nhất chước tán thiên ưu



Dịch Nghĩa:

Mặt trời lặn

Bóng mặt trời đă ngang bức mành
Bên khe, vẻ xuân vắng lặng
Cỏ thơm đầy vườn bên bờ sông
Người đốn củi nấu nướng trên thuyền cạnh thác
Chim sẻ mổ nhau giành cành rơi xuống
Côn trùng bay chơi khắp sân
Rượu đục ai chế ra mày ?
Uống một cuộc tan hết ngh́n mối lo âu


Dịch Thơ:

Ác lặn xế ngang mành
Khe xuân cảnh vắng tênh
Bếp tiều thuyền cạnh thác
Cỏ biếc băi bên ghềnh
Sâu giỡn bay đầy viện
Chim sa mổ cướp cành
Rượu giao ai cất chế ?
Một cuộc hết lo quanh !

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:41 AM
Lữ dạ thư hoài

Tế thảo vi phong ngạn
Nguy tường độc dạ chu
Tinh thuỳ b́nh dă khoát
Nguyệt dũng đại giang lưu
Danh khởi văn chương trứ
Quan ưng lăo bệnh hưu
Phiêu phiêu hà sở tự
Thiên địa nhất sa âu


Dịch Nghĩa:

Đêm ở đất khách,viết nỗi ḷng

Trên bờ cỏ lăn tăn dưới gió hiu hiu
Chiếc thuyền vươn cao cột buồm trong đêm quạnh
Sao rũ xuống cánh đồng bằng phẳng bao la
Trăng tung toé trên sông chảy cuồn cuộn
Danh tiếng há nhờ văn chương mà lừng lẫy
Làm quan cũng nên về nghỉ khi già ốm
Chơi vơi giống như cái ǵ ?
Một con chim âu giữa trời đất


Dịch Thơ:

Nỗi niềm đêm đất khách

Gió êm bờ cỏ mượt
Thuyền chiếc cột buồm cao
Sông rộng trôi vầng thỏ
Đồng bằng rợp ánh sao
Thơ văn danh há cậy
Già yếu chức nài bao
Âu trắng trong trời đất
Chơi vơi tựa chốn nao ?

Lê Nguyễn Lưu
--------------------

Bên bờ cỏ dợn gió hiu hiu,
Cô quạnh thuyền con dưới bóng chiều.
Đồng rộng mênh mông sao rủ thấp,
Sông dài cuồn cuộn bóng trăng thâu.
Văn chương mấy thuở lừng danh tiếng,
Hoạn lộ già nua phải cáo lui.
Thân thế chơi vơi tuồng ngoại vật,
Băi sa trời rộng giống chim âu.

Chi Điền

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:42 AM
Lưu Cửu pháp tào Trịnh Hà Khâu Thạch Môn yến tập

Thu thủy thanh vô để
Tiêu nhiêu tịnh khách tâm
Duyến tào thừa dật hứng
An mă đáo hoang lâm
Năng lại phùng liên bích
Hoa diên trực nhất kim
Văn lai hoành xuy hảo
Hoằng hạ diệc long ngâm

Dịch Nghĩa:

Nước mùa thu trong vô cùng
Rất tịch mịch làm sạch ḷng người khách
Một nhóm quan duyến tào nhân dịp hứng thú
Đi ngựa đến rừng hoang
Vị quan nhỏ, tài, gặp viên ngọc bích giá liên thành.
Chiếu hoa giá trị bằng một nén vàng
Chiều tối nghe tiếng sáo thổi rất hay
Dưới chỗ nước sâu cũng có rồng ngâm.

Dịch Thơ:

Cùng Lưu Cửu pháp tào và Trịnh quê ở Hà Khâu ăn tiệc ở Thạch Môn

Nước thu trong biết bao
Ḷng sạch, lâng lâng sầu
Hứng thú quan quyền cảm
Rừng hoang vó ngựa vào
Ngọc nhiều thành, đức độ
Mâm một nén, sang giàu
Chiếu tối vẳng đưa sáo
Rồng ngâm đáy vực sâu

Nguyễn Huy Hùng

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:45 AM
Mạn hứng kỳ I

Nhăn khan khách sầu sầu bất tỉnh
Vô lại xuân sắc đáo giang đ́nh
Tức khiển hoa khai thâm tháo thứ
Tiện giác oanh ngữ thái đinh ninh.


Mạn hứng kỳ II

Thủ chủng đào lư phi vô chủ
Dă lăo tường đê hoàn tự gia
Kháp tự xuân phong tương khí đắc
Dạ lai xuy chiết sổ chi hoa.

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:48 AM
Nguyệt

Thiên thượng thu kỳ cận
Nhân gian nguyệt ảnh thanh
Nhập hà thiềm bất một
Đảo dược thố trường sinh
Chỉ ích đan tâm khổ
Năng thiêm bạch phát minh
Can qua tri măn địa
Hưu chiếu quốc tây dinh



Dịch Nghĩa:

Trăng

Trên trời đă gần sang mùa thu
Khắp cơi người, bóng trăng trong trẻo
Vào dải ngân hà, cóc vẫn không mất
Giă thuốc, thỏ cứ sống hoài
Chỉ khổ thêm tấm ḷng son
Càng điểm bạc mái tóc dần
Biết rằng chiến tranh khắp mọi nơi
Xin chớ soi trại miền tây


Dịch Thơ:

Trời lộng thu gần tới
Vầng trăng tỏ khắp nơi
Cóc sang sông rạng vẻ
Thỏ giă thuốc lâu đời
Chỉ để ḷng son khổ
Càng thêm tóc trắng bời
Can qua c̣n chốn chốn
Trại lính chớ soi người

Lê Nguyễn Lưu

Co Kiem Hung
03-31-2004, 03:49 AM
Nhật mộ

Ngư Dương há lai cửu
Các dĩ bế sài môn
Phong nguyệt tự thanh dạ
Giang sơn phi cố viên
Thạch tuyền lưu ám bích
Thảo lộ trí thu căn
Đầu bạch đăng minh lư
Hà tu hoa tẫn phồn

Dịch Nghĩa:

Buổi chiều

Trâu dê xuống núi về đă lâu
Ai nấy đều đă đóng cổng tre
Trăng gió trong đêm vắng lặng
Núi sông chẳng phải nơi vườn xưa
Suối trên đá chảy bên vách lờ mờ
Sương đầu ngọn cỏ rỏ xuống gốc cây thu
Đầu bạc phơ dưới ánh đèn sáng
Cần ǵ hoa đèn nở ra nhiều !


Dịch Thơ:

Giă núi trâu dê xuống
Nhà nhà cổng đóng then
Gió trăng đêm đă vắng
Sông núi chốn không quen
Vách đá ḍng khe chảy
Cây thu móc cỏ hoen
Bạc đầu trong ánh nến
Nào thiết lắm hoa đèn

Lê Nguyễn Lưu