View Full Version : Bùi Giáng - Đại lăo Cái Bang
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 01:24 AM
Bước vào năm Bính Tư (1996), Bùi Giáng vừa tṛn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dăi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn c̣n sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng.
Trong sinh hoạt Văn học, Nghệ thuật Việt Nam, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Hiện tượng Bùi Giáng.
Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê b́nh văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca.
NGƯỢC D̉NG THỜI GIAN
Bùi Giáng sinh ngày 17.12.1926 tại Vĩnh Trinh, Quảng Nam. Lúc nhỏ theo học Trung, Tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó tiếp tục học Trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu bằng Thành chung (Trung học), ông ở trong vùng kháng chiến thuộc Liên Khu V (Nam Ngăi b́nh Phú), năm 1950 ông đỗ Tú Tài II Văn chương. Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ B́nh Trị Thiên) theo học Đại học nhưng khi nghe Viện trưởng Đại học đọc diễn văn, ông bỏ ư định theo học và theo đường núi Trường Sơn trở lại cố hương.
Theo lời người bào đệ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư Tưởng Bùi Giáng ngày 21.10.95 tại Majestic, Huntington Beach, CA, Bùi Giáng "Có vợ vào lúc c̣n rất trẻ, sau năm 1945. Nhưng v́ đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng nước độc, người vợ trẻ đă qua đời sau cơn bạo bệnh". Ông chung t́nh chung nghĩa với "mộng ban đầu", suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi "hồn nguyên tiêu" bao nhiêu h́nh ảnh mang dáng dấp của người t́nh muôn thuở vào cơi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.
Theo lời người em là Bùi Vịnh: "Vào tháng Năm 1957, ông quyết định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc gia. Và tại Huế, ông thi lại bằng Tú Tài tương đương, rồi vào Sài G̣n, ghi danh vào Đại học Văn Khoa. Cả lần nầy nữa, sau khi nh́n danh sách các giáo sư giảng dạy, ông đă quyết định chấm dứt việc học ở trường của ḿnh tại đây . Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở các trường Trung học tư thục ..." .
Ông tinh tường về Anh, Đức, Pháp & Hán văn, không biết ông theo học tiếng Đức & tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên cứu triết học Đức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài t́nh. Ông có trí nhớ kỳ lạ và "trí quên" rất độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không biết ǵ cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại.
GS Vũ Kư, thầy dạy của ông, trong bài "Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc" trong Giai phẩm Quảng Đà 94 "Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại ở Sài g̣n th́ Bùi Giáng đă nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ỏ ngơ hẻm Trương Minh Giảng và Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa".
"Với Tất Cả Bùi Giáng" của Trần Phong Giao, Bùi Giáng "Lập gia đ́nh năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu v́ chiến tranh và nạn lụt đă cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông".
Đó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên quan với ông nhưng đă khác nhau. Theo sự ghi lại của "người thầy cũ và cũng là người anh" thiếu chính xác dấu ấn quan trọng trong giai đoạn 9 năm "kháng chiến" đă ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia "kháng chiến", theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong t́nh yêu, tâm hồn điên loạn...
Sau 3 năm "chia cắt" đất nước, phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh giới giữa 2 miền. Bài thơ "Nỗi ḷng Tô Vũ" của ông đă ghi "Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt".
Không bao giờ muốn và để ai đề cập "tiểu sử", theo ông "Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn". Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu Văn học cần phải t́m hiểu chính xác, nh́n lại Văn học Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt. Hy vọng, một ngày nào đó, có được "tiểu sử" của ông từ tuổi thơ đến thời điểm "tam thập nhi lập".
Trước năm 1975, nhiều cây bút viết về tư tưởng, thơ văn Bùi Giáng nhưng không đề cập về "tiểu sử" nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông. Tháng 5.1973, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện "Số báo đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng", 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng về Bùi Giáng có tính cách khác lại và cả hai cùng hỏi và nói "Chuyện rong chơi". Nhận định thơ văn của ông với Thanh Tâm Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ.
Có nhiều tác phẩm đă đề cập đến ông, điển h́nh như Cao Thế Dung: Văn Học Hiện Đại, Thi Ca & Thi Nhân, Du Tử Lê: Năm sắc Diện, Năm Định Mệnh, Tạ Tỵ: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Trần Tuấn Kiệt: Thi Ca Việt Nam Hiện Đại...
Gần 2 thập niên, tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:
Sách Giáo khoa, Luận đề (1957 - 1959) : - Bà Huyện Thanh Quan, - Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính, - Truyện Kiều & Truyện Phan Trần, - Cung Oán Ngâm khúc, - Nguyễn Công Trứ, - Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, - Phan Bội Châu, - Chu Mạnh Trinh, - Tôn Thọ Tường & Phan văn trị.
Sách dịch: - Cơi Người Ta của Saint-Exxupéry, _ Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, - Khung Cửa Hẹp của A. Gide, - Hoa Ngơ Hạnh của Shakespeare, - Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, - Ngộ Nhận của A. Camus, - Con Người Phản Kháng của A. Camus , - Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , - Kẻ Vô Luân của A. Gide, Orphélia Hamlet của Shakespeare , - Ḥa Âm Điền Dă của A. Gide, - Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery , - Mùi Hương Xuân sắc của Gerald de Narval, - Sương B́nh Nguyên của các tác giả Âu Mỹ , - Kim Kiếm Điêu Linh của Ngọa Long Sinh...
Sáng tác:
-Thơ: Mưa Nguồn, - Lá Hoa Cồn, - Ngàn Thu Rớt Hột, - Màu Hoa Trên Ngàn, - Bài Ca Quần Đảo, - Sa Mạc Trường Ca...
-Biên khảo, Tạp văn, Tùy bút: - Tư Tưởng Hiện Đại, 3 quyển, - Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại, 2 quyển - Sao Là Không Có Triết Học Heidegger?, - Đi Vào Cơi Thơ, - Thi Ca Tư Tưởng, - Sa Mạc Phát Tiết, - Sương B́nh Nguyên, - Trăng Châu Thổ, - Mùa Xuân Trong Thi Ca, - Mùa Thu trong Thi Ca, - Thúy Vân, Tam Hợp Đạo Cô, - Biển Đông Xe Cát, - Ngày Tháng Ngao Du, - Đường Đi Trong Rừng, - Lời Cố Quận, - Lễ Hội Tháng Ba, - Con Đường Ngă Ba...
Tại hải ngoại, có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:
- Thơ Bùi Giáng, năm 1990, nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện, gần 200 bài thơ.
- Thơ Bùi Giáng, Thế kỷ 1994, Phạm Xuân Đài thực hiện, gồm 106 bài thơ.
- Thơ Bùi Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm 81 bài thơ, tranh b́a "Thiếu nữ" do Bùi Giáng vẽ.
Sau khi Bùi Giáng qua đời , có rất nhiều tác phẩm của ông được ấn hành tại hải ngoại
Suốt 4 thập niên, Bùi Giáng đă cống hiến cho đời, cho nền Văn học Nghệ thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một con người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy g̣, bệnh tật, tâm tính lúc b́nh thường khi điên loạn mà tạo dựng "kho tàng quư báu" cho Văn học Việt Nam, điều rất lạ, không thể hiểu được.
NGÔN NGỮ & CUỘC SỐNG
Gần gủi, tiếp xúc với Bùi Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về ông, thương mến, cảm quư con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.
Viết về Bùi Giáng, với Mai Thảo: " Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương... Sự h́nh thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn c̣n là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn nụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đă là của nó... Bùi Giáng đă đem lại cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận". Thế mà, chân dung & đời sống của nhà thơ "Mái tóc ông đỗi màu. Mấy chiếc răng của bị gẫy, nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với mọi h́nh hài thực tế... Ông ấy chỉ c̣n da bọc xương trong quần áo thùng th́nh, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải c̣n thêm cây gậy... Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuổi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một ṿng gai quái dị, đám con nít reo ḥ chỉ chỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói". "Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang...
"Trần gian lắm kẻ không cơm áo
Mà con thờ thẩn cứ nh́n trăng."
Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đă ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng" (Uyên Thao - Thơ Việt Hiện Đại).
Sau năm 1975, thảm họa chung của đất nước, Bùi Giáng cũng bị nhốt 3 tháng ở trại giam Gia Định. Ông bất chấp tất cả. Ông gọi mầy tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức ăn "cặn bả" của con người mà không bị nhiễm trùng. Thế rồi, tháng ngày sau đó, theo Phạm Xuân Đài "Cuộc sống của anh tại Sài g̣n hiện nay là của một cuồng sĩ, khi th́ thu ḿnh trong túp lều của anh tạ một khu vườn bên Gia Định, khi th́ lang thang vô định trong cơn điên...Đi lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đă làm được". Thế nhưng "Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca - của anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió băo lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ".
Vũ Kư viết nhiều giai thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài hoa, điên khùng, lang bạt... một Bùi Giáng với t́nh yêu ảo tưởng trong thơ văn và một Bùi Giáng lăng mạn với bóng hồng ở tuổi 60. Không hiểu v́ cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô, một cô là Đ.N.L.H ( giáo viên cấp ba, người Huế ) và một cô là H.H.T.V, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc đến nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương với Bùi Giáng, thường gặp gỡ nhau. Thế rồi cô L.H "lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc t́nh tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên". Đó cũng là một hiện tượng, thử tưởng tượng h́nh ảnh Đại lăo Cái bang ăn mặc rách rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng tuổi c̣n đôi mươi, tâm t́nh với nhau.
Ngày nay, ở trong nước đă có vài bài viết về ông với h́nh ảnh con người điên loạn sống bên lề cuộc đời nhưng thi văn của ông vẫn giữ thế đứng trong nền văn học. Văn chương, Nghệ thuật của ông như một cơi trời bao la, khác xa với tư tưởng của người cầm bút theo giáo điều chủ trương "hiện thực xă hội"!
Dẫn chứng vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông nửa tỉnh nửa động, đời sống của ông bất định, nay đây mai đó, ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ bí, lúc thật b́nh dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan niệm sáng tác của ông "chơi mà thôi", chẳng có ǵ bận tâm, chẳng có ǵ để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.
Trước kia, Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn pḥng ở Đại học Vạn Hạnh, ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ, gặp đâu ngũ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau nầy, thân nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Định, căn pḥng nhỏ trên lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài g̣n, ông để đó, rong chơi dưới gầm cầu Công lư, vĩa hè.
Với ông, tư tưởng triết học Đức của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Witman, Emily Dickinson...Văn chương Pháp của A. Gide, St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của Shakespeara. Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất tài t́nh. Cuộc đời của ông điên, tỉnh, ông đă đề cập trong tác phẩm, t́nh yêu huyễn hoặc thấy bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học, tư tưởng cao siêu của con người, theo ông, đều có đề cập trong Kiều của Nguyễn Du.
Sức sáng tạo của ông rất kỳ diệu. Như một tay vơ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm trang cho một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác ngay tại chỗ, viết như đă nhập tâm từ trước.
Ông có năng khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học, đọc, tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết được ngôn ngữ nước đó. V́ vậy, khi t́m hiểu M. Heidegger, ông học tiếng Đức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp, Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Ông dịch Kim Kiếm Điêu Linh để học thêm chữ Hán. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm "chuyển ngữ" th́ không c̣n thoát được cái ư của nó. Chẳng hạn Ngàn Thu Rớt Hột nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là "h́nh ảnh cứt" dê bao năm ông gần gủi với nó trên núi rừng. Làm sao chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, h́nh ảnh bóng bẩy đó được.
Có lần Huy Tưởng gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm "rớt hột", nghe nói ông có chăn ḅ ở quê đúng không? -đúng! đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thoải mái, xem như hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi thôi.
Nguồn thơ của ông dạt dào, bất tận, ông viết nhiều về h́nh ảnh ở quê hương, ở núi rừng Trung Việt. Điều bắt gặp trong thơ của ông với chữ Kim ở đầu. "Người t́nh trong thơ" Kim Novak, Kim Cương. Ngài ra với vài h́nh bóng Kim thấp thoáng:
"Ôi phương cảo Ôi Kim Liên
Cảo thơm Kim Thúy diện tiền Kim Hoa!
Ôi Kim Ngọc Ôi Kim Nga
Chắc ǵ mai hậu mà ra phụ ḷng".
(Ra Hoa)
"Tuy nhiên hồn mộng chan ḥa
Đầu tiên Kim Thúy Kim Hoa thập thành
Cuối cùng thừa thượng Kim Thanh
Đi về vô tận tập thành Kim Liên
Kim Nga Kim Ngọc diện tiền
Đầu sương cuối tuyết thần tiên bấy chầy".
(Cuối Ngày Em Đi)
Ông lang thang suốt 4 thập niên, thời gian quá dài cho một đời người, xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế nhưng đôi lúc t́m trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống khổ thiết tha cho mối t́nh đầu đời đă hoài công t́m lại:
"Chắp tay tôi lạy ông trời
T́m người yêu giúp giùm tôi một lần"
(T́m Em)
"Em nhớ hay không hồn ḥa dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya
Vàng cao gót nai đầu truông hăi sợ
Gió cây rung trút lá mộng tan ĺa"
(Nỗi Ḷng Tô Vũ )
H́nh ảnh người vợ, người t́nh ban đầu, yêu thương say đắm, đă vĩnh viễn ra đi để lại cho ông "điên" với t́nh, với thủy chung h́nh bóng cũ:
"Em chết bên bờ lúa
Để lại trên đường ṃn...
...Đêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng khuya trốn gió...
...Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang"
Bất hạnh trong t́nh trường, ông rong ruỗi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng rái tim rướm máu, bằng tài hoa lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.
"Văn Thơ cùng Tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai đoạn của văn chương Việt Nam", phải hiểu con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ư thơ, văn và tư tưởng của ông, ông sáng tạo lúc tĩnh, ngao du lúc động để măi măi đi t́m h́nh ảnh xa thẳm, mịt mù! Hồn thơ luôn luôn chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối tượng khơi động, ḍng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng chu du, mộng mị khắp bốn phương trời để "thơ và giai nhân" kết tinh thành "thiên cổ lụy" ngất ngây, nồng nàn, say đắm ḥa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca.
Một h́nh bóng, suốt cả cuộc đời trôi nỗi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát.
Vương Trùng Dương
--------------------------------------------------------------------------------
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không?
1926-1998
Bùi Giáng, tuổi Bính Dần, sinh năm 1926 tại Thanh Châu, Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Con thứ của ông bà Bùi Thuyên và Huỳnh Thị Kiều. Năm Mậu Dần ông được tṛn 6 giáp, 72 tuổi. Ông được văn giới, không phân biệt không gian thời gian, yêu mến trọng vọng. Những tác phẩm đầu của ông là sách giáo khoa in năm 1957, như Một vài Nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan, Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm ... Nhưng tiếng tăm ông nổi bật từ tập thơ "Lá Hoa Cồn" (1963). Ông là một nguời tự học và học rất trễ, tuy nhiên khả năng tinh thông nhiều ngôn ngữ của ông, kể cả những ngôn ngữ khó như chữ Hán và tiếng Đức, làm kinh ngạc mọi người trong văn giới.
Những cuốn sách đầu của ông là sách giáo khoa in năm 1957, Bùi Giáng đă là một tên tuổi quá quen thuộc với đông đảo bạn đọc. Ông thường tự nhận là "trung niên thi sĩ" cùng hàng loạt biệt danh trào lộng : thi sĩ Đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ...
Ông được xem như một "ngôi sao" trên ṿm trời văn hóa văn nghệ miền Nam trước đây, được không ít độc giả xưng tụng là "thiên tài", là "bậc thượng trí", là "đáng tiêu biểu hơn cả về thi ca bây giờ và có lẽ... vạn đại" và tôn ông làm "thần tượng". Gần đây, một số tác phẩm, dịch phẩm của Bùi Giáng được tái bản rộng răi.Ông đă dịch nhiều sách Pháp, Anh, Hán văn như Hamlet của Shakespeare, Hoàng tử bé của Saint'Exupéry, Ngộ nhận của Albert Camus, Khung cửa hẹp,và Ḥa âm điền dă của André Gide, Kim kiếm điêu linh của Ngọa Long Sinh...
Ông đă biên soạn các tiểu luận triết học và văn học như Tư tưởng hiện đại,Thi ca tư tưởng, Lễ hội tháng ba, Con đường ngă ba, Con đường phản kháng, Đi vào cơi thợ.. Đặc biêt, gây nhiều tranh luận sôi nổi nhất là những tập thơ của ông, từ Mưa nguồn, Lá hoa cồn... đến Trăng châu thổ, Sương b́nh nguyên, Bài ca quần đảo, Rong rêu...Ai đă từng tiếp xúc Bùi Giáng trong trang sách lẫn ngoài cuộc đời, hầu như chưa thể b́nh luận ǵ về ông. Biết b́nh với luận thế nào khi kẻ khen th́ tâng hết lời mà người chê th́ lại đả tới số. Riêng vấn đề họ Bùi có điên chăng cũng đă làm tốn hao bao giấy mực. Người bảo ông điên. Người cho rằng ông giả vờ điên. Người lại quả quyết Bùi Giáng không điên. Sự thật ra sao, nếu nh́n từ góc độ khoa học ?
Về tài dịch, th́ cuốn "Terre des hommes" đă được ông dịch và đặt tên là "Cơi Người Ta" th́ quả thật không c̣n ǵ thần t́nh hơn.
Tin tức trích từ báo SaigonUSA, 9/10/98
SAIG̉N ' Thi sĩ Bùi Giáng đă qua đời lúc 2 giờ chiều ngày Thứ Tư 7 Tháng Mười (tức 11 giờ đêm ngày 6'10'1998 tại California) trong lúc đang điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫỵ Ông Bùi Giáng, 73 tuổi, là một thi sĩ có tiếng thơ độc đáo, cũng là tác giả nhiều tác phẩm văn suôi về triết học, văn học, và ngay khi c̣n sống đă trở thành một huyền thoại trong làng văn nghệ Việt Nam v́ nếp sống ngang tàng, không màng danh lợi của ông, dưới bất cứ chế độ nàọ
Thi hài thi sĩ Bùi Giáng sẽ được nhập quan vào sáng ngày 8 Tháng Mười và quàn tại Nhà Tang lễ chùa Vĩnh Nghiêm, Sài G̣n. Gia đ́nh thi sĩ tại Sài G̣n cho biết sẽ an táng ông tại Nghĩa Trang G̣ Dưa, Thủ Đức. Bào đệ của ông là ông Bùi Văn Vịnh sẽ tổ chức lễ phát tang, và các văn nghệ sĩ và độc giả yêu thơ sẽ làm lễ tư ởng niệm ông tại vùng Tiểu Sài G̣n, miền Nam California.
Người Việt đă loan tin khi thi sĩ Bùi Giáng được đưa vào bệnh viện ngày 23 Tháng Chín v́ bị té, đứt mạch máu năọ Theo tin của ông Bùi Văn Nam Sơn, một người bà con ở Đức về thăm th́ thi sĩ Bùi Giáng té ngă khi đứng lên thắp đèn, sau khi ông đă uống nhiều rượụ Ông đă được đưa vào Bệnh viện Chợ Rẫy, đươ .c mổ đêm 25 Tháng Chín, nhưng quá yếu nên rất ít hy vọng phục hồi.
Giới văn nghệ sĩ ở Sài G̣n rất xúc động khi nghe tin Bùi Giáng vào bệnh viện, kéo nhau đến thăm ông. Tin ông vào bệnh viện được báo chí khắp nơi loan báo, ở trong nước cũng như ở hải ngoại.
Thi sĩ Bùi Giáng sinh năm 1925 tại Quảng Nam, thủa nhỏ đă học ở Quảng Nam và 4 năm ở Huế. Khi trưởng thành ông sống ở Sài G̣n, nổi tiếng với hành trạng và văn chương phóng túng, ngang tàng. Những tập thơ nổi tiếng của ông là Mưa Nguồn, Lá hoa cồn, Mùa thu bi ca, Ngày Tháng ngao du, v.v. Ông viết các sách triết học như Tư tưởng hiện đại, Thế nào là siêu thực, Heidegger và Husserl, H́nh ảnh Jean Paul Sarte, Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại, Khô ?ng Tử, Lăo tử, Gandhi, v.v. Ông cũng dịch các tác phẩm của Albert Camus (L'homme révolté), André Gide, St'Exupéry, René Char, v.v. Về văn học Việt Nam, ông đă viết các khảo luận về truyện Kiều, Bà huyện Thanh Quan, Tản Đà, v.v.
Nhưng khi nghe tin thi sĩ Bùi giáng qua đời, các độc giả trước hết sẽ nhớ đến các vần thơ trác tuyệt, mênh mông lăng đăng như các lời nhắn nhủ của ông sau đây:
Em về mấy thế kỷ sau
Nh́n trăng có thấy nguyên mầu ấy không
Ta đi c̣n gửi đôi ḍng
Lá rơi có dội ở trong sương mù
Và người V.Nam ở nước ngoài chia sẻ nỗi ngậm ngùi khi đọc Bùi Giáng:
Hỏi rằng: người ở quê đâu?
Thưa rằng: tôi ở rất lâu Quê nhà.
Lễ động quan Bùi Giáng được cử hành vào lúc 7 giờ sáng chủ nhật 11.10.1998, có đông đủ thân nhân và Bùi Tộc Vĩnh Trinh, tiễn đưa Bùi Giáng từ Chùa Vĩnh Nghiêm về chôn cất tại Thủ Đức. Họ Bùi nguyên gốc ở Nghệ An, sau dời đến Quảng Nam lập nghiệp kể từ đời Hậu Lê, qui tụ bao quanh các làng Vĩnh Trinh, Lệ Trạch, Cù Bàn, An Lâm, Cổ Tháp và Thành Châụ Tổ đ́nh của họ Bùi đặt tại Thủ Đức. Trước ngày động quan Bùi Giáng, Hội Nhà Văn muốn biểu lộ sự kính trọng đối với một ng̣i bút lớn đă qua đời, bằng cách đề nghị đuợc an táng Bùi Giáng tại Nghĩa Trang Thành Phố nhưng người em trai của Bùi Giáng là Bùi Văn Luân không chấp thuận. Sau đó Hội Nhà Văn đề nghị hiến tặng hai mảnh đất hợp với hai mảnh đất của Bùi Tộc Vĩnh Trinh cho được rộng răị Tối thứ Bảy, số người mến mộ thi văn Bùi Giáng, đa số là các học sinh, sinh viên, giới trẻ, đô ? tới nhà quàn Vĩnh Nghiêm tiễn biệt một thiên tài đă vĩnh viễn ra đi kéo dài tới 2 giờ khuya khiến không c̣n một chỗ trống để chứa ngườị Sổ tang ghi tên nhiều nguời, dày tới hàng trăm trang. Đám tang có tới hàng ngàn người tham dự, được đánh giá là một trong những đám tang có đông người dự kể tư ` sau năm 1975... Trước khi hạ huyệt, nữ nghệ sĩ Kim Cương - một người từng được Bùi Giáng lúc sinh thời nói tới nhiều bên cạnh những nhân vật có thật của đương thời như Phùng Khánh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, Kim Novak, John Keats... - được mời đọc điếu văn. Tiếp tới nhà văn Sơn Nam, Huy Tuởng tiếp tục ngỏ đôi lời trước mộ người quá cố
Trích từ Văn Bút Ngày nay ( USA )
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 01:38 AM
Giờ ngẫu nhĩ như hồng bay em ạ
Và yêu thương như lá ở bên hoa
Và luyến ái như tơ vàng bốn ngả
Bủa vi vu như thoáng mộng la đà .
Em đă lại với đời về nắng ấm
Thắm không gian thương nhớ bóng h́nh em
Anh đă đợi chờ em từ lâu lắm
Ngày đi không để lại lạnh trăng rằm.
Anh mơ ước với ngàn xuân mở rộng
Quên năo nùng sa mạc của yêu thương
Chân cứ bước theo nhịp hồn cử động
Em là em anh đợi khắp nẻo đường.
Em có nụ cười buồn buồn môi mọng
Em có làn mi khép lá cây rung
Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
Hồ gương ơi! sao sóng lục vô chừng!
Con mắt ấy có gieo buồn rớt lệ
Trê n nẻo đường lạnh lẽo lối lang thang
Môi thắm ấy mấy lần thao thức kể
Với đèn khuya ṿ vơ mộng khôn hàn.
Trời đất nhớ lần đầu ... năm trước ...
Đó một lần đôi mắt đă nh́n lên
Và trời hiểu ngày sau đôi mắt ngước
Một lần kia sẽ c̣n dịp đáp đền.
Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi. Cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm .
Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt
Để nh́n em qua khe hở du dương
Ṿng theo máu hai ṿng tay khép chặt
Ồ thưa em ta thấy mộng không thường.
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 01:42 AM
Bàn chân bước nghe một lần sóng dậy
Sắc khuynh thành một thuở động binh đao
Người lên ngựa ngoảnh đầu về có thấy
Bờ xa bay tuyết bạch phủ sương đào.
V́ mong đợi ngày về xuân hối hả
Ở bên mành thỏ lặn bóng ngàn dâu
Sầu lục thúy sầu thu sen thủy tạ
Mộng hoa đầu trong nước ngập theo nhau
V́ con mắt một lần kia đă ngó
Giữa nhân gian bủa dựng một màu trời
Đài vũ trụ hồn chiêm bao rạng tỏ
Một nụ cười thế giới sẽ chia đôi
Gịng nước bạc gịng sông trôi theo dơi
Cuối chân trời h́nh bóng một chân mây
Đời xiêu đổ nguồn xưa anh trở lại
Giữa hư vô em giữ nhé chừng này.
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 01:47 AM
Em đi về như mây núi đầu xuân
Gió bay qua nước chảy suối vô cùng
Mừng như thể hôm qua về đồng nội
Buồn bă cũ đă bẽ bàng bước vội
Để bây giờ c̣n một mối riêng tây
Lời nhân gian không tiếng để phơi bày
Thu trăng mộng như trang mờ cổ lục
Mưa vội vă như b́nh minh thúc giục
Vào nhớ nhung như vào giữa hội hoa
Lá xanh xao như cành nhánh gật gù
Và thánh thót đến cây già cổ thụ
Anh lại thấy một trời xưa đă cũ
Đă đi về cùng với gót chân em
Đă đi qua cùng với cánh tay mềm
Anh mở miệng không nói lời nào cả
V́ bất chợt thấy môi cười em ạ
V́ vui mừng xa lạ bỗng quen nhau
V́ vu vơ vui sướng ngó pha màu
Cây im cỏ nước cợt cồn đùa cát
Và vạn vật rủ rê nhau bát ngát
Dàn mênh mông vây bủa gió xa bay
Anh đến bên em ghé sát mi mày .
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 01:55 AM
(Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi
Trung Việt Nam Ngăi B́nh Phú )
Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi
San sát đồi phủ phục quấn núi xanh
Chiều xuống rồi tơ ḷng rộn ràng rối
Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh
*
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Nhảy múa tung sườn núi vút gịng khe
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Vang vang lên đồi núi giọng be be
*
Những bận nào Trà Linh qua Đá Dừng Ḥn Dựng
Dùi Chiêng về Phường Rạnh ngược Khe Rinh
Bao lần anh cùng chúng em lận đận
Bôn ba qua rú rậm luống rùng ḿnh
*
Những bận nào Quế Sơn Rù Ŕ con suối ngược
Nước trôi nguồn nước lũ xuống phăng phăng
Những bận nào mịt mùng mưa gió ướt
Đẫm thân ḿnh co rúm lạnh như băng
*
Em nhớ hay không? hồn hoa dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya
Vàng cao gót nai đầu truông hăi sợ
Gió cây rung trút lá mộng tan ĺa
*
Nhưng từ nay Giáp Nam anh đóng trại
Cố định rồi - em khỏi ngại ngày đêm
Dưới nắng mưa tha phương du mục măi
Cay đắng từng, bùi ngọt mặn mà thêm
*
Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện
Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi
Khoanh mấy ṿng tay anh thoăn thoắt bện
Ṿng cho em từng chiếc sắp xong rồi
*
Chiều đă xuống em đà no nê chắc
Huưt tù và! em xúm xít lại anh đeo cho
Mỗi chúng em mỗi ṿng mây mỗi sắc
Lại mau đây! to nhỏ cổ anh so
*
Này em Đen chiếc ṿng vàng tươi lắm
Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
Này em Hoa Cà (1) hỡi! chiếc nâu
*
Ngẩng đầu lên! dê ơi anh thong thả
Đeo ṿng vào em nghển cổ cong xinh
Ngẩng đầu lên! đây ḷng anh vàng đá
Gửi gắm vào ṿng mây nhuộm tơ duyên
*
Ngẩng đầu lên nh́n anh mờ mắt lệ
Từ lần đầu ṿng ngọc tuổi hai mươi
Trao người em trăm năm lời ước thệ
Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi (2)
*
Ṿng em xong, ṿng anh dành riêng chiếc
Dành riêng ḿnh - Dê hỡi hiểu v́ sao ?
V́ ḷng anh luống âm thầm tha thiết
Gán đời ḿnh trọn kiếp với Dê Sao
*
Nh́n anh đây các em Vàng Đen Trắng
Tía Hoa Cà lổ đổ thấu ḷng chưa ?
Từ từ đưa chiếc ṿng lên thủng thẳng
Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa
*
Và giờ đây một lời thề đă thốt
Ngh́n thu sau đồi núi chứng cho ta
Cao lời ca bê hê em cùng thốt
Ḥa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha
*
Và giờ đây hoàng hôn mờ trĩu nặng
Bốn bề tràn lan bóng mịt mùng sa
Xếp hàng ngay nhanh lên hàng ngũ thẳng
Rập ràng về bế hế rập ràng ca
---
(1) Dê Hoa Cà có lông lổ đổ tía hồng xem như hoa cà vậỵ Đẹp vô cùng. Nhất là những buổi chiều, sắc
lông óng ả dưới nắng vàng - xa xa h́nh bóng dê rực rỡ nổi bật trên triền núi xanh lợ Dê Hoa Cà c̣n gọi là Dê Sao (v́ lông lổ đổ sáng như sao).
(2) Ư nói cái lần đầu, thuở hai mươi tuổi, trao cái
ṿng ngọc cho vị hôn thê mà không cảm động bằng lần đầu đeo ṿng cho dê vậỵ
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 01:59 AM
Trời cao nguyên lụt tràn đê
Nguồn trôi nước lũ xuống đè cát xanh
Muà Xuân hẹn Thu về em trở lại
Ta nh́n nhau trong bóng nước mơ màng
Nước chảy măi bởi v́ xuân trở lại
Với gịng trong em hạn ở bên đường.
Em sẽ khóc khi nh́n trong khóe mắt
Thấy một ḿnh người đi lại lang thang
C̣n ghi giữ ân t́nh trong cỏ nhặt
Múa vi vu v́ hẹn với truông ngàn.
Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại
Thuở xưa kia ... bờ nước ấy xưa kia
Ta sẽ đợi nghe đời em nói măi
Bên đời ai vẫn đợi đă chia lià .
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Bên đời đi c̣n giữ măi hay không
Gịng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng.
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 02:05 AM
Ta đi c̣n giữ đôi gịng
Lá rơi có dội ở trong sương mù
B.G.
Như thế Nàng Kiều hay Nàng Thơ đă mang Trung Niên Thy Sỹ ra đi tít cơi sa mù, đi khuất. Tôi đă lặng người khi nghe tin ông mất v́ bị té và bể mạch máu trong đầụ Không biết là ông té thật hay ông chỉ vung một tuyệt chiêu cuối cùng cho hai vùng năo bộ trái và phải ḥa nhập thành một cơi uyên nguyên mà cánh chuồn chuồn của ông đă không ngừng nghỉ kiếm t́m trong mấy chục năm qua ?
Có thể lắm bởi v́ cái sự vụ hai miền hai cơi đă không từng gây ra lắm cảnh đoạn trường cho chúng ta đó hay saọ Hẳn là ông đă t́m thấy được mùa xuân phía trước, cái cơi nguyên xuân của Mưa Nguồn , Xin chào nhau giữa con đường .
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau ? Ngày ông mất, anh Thi Vũ tặng tôi tập thơ " Đêm Ngắm Trăng " của Bùi Giáng mới xuất bản ở Việt Nam gần đâỵ Thật là một món quà quư giá v́ xa nước đột ngột năm 75, tôi không giữ được một tập thơ nào của ông ngoại trừ vài ấn bản mới xuất hiện sau này ở hải ngoạị
Một trong những trang đầu của Đêm Ngắm Trăng có ba chữ Ngày Ngắm Gió được đặt trong dấu ngoặc, đứng đơn độc một ḿnh. Có thể ít người chú ư tới nhưng tôi đă dừng lại thật lâu để đọc măi ba chữ ấy và bất giác đối với tôi nó mang một ư nghĩa thật mênh mông phiêu hốt như cuộc đời của Bùi Giáng.
Ông đă đứng ngắm những trận gió hỗn mang từ Cổ Hy đến Tây Phương Tuyệt Mù Hư Vô Chủ Nghĩa, trở lại chốn huyền môn tâm pháp Đông Phương, một đôi lần lận đận trước Con Đường Ngả Ba (1), những cơn tẩu hỏa nhập ma làm ông thất điên bát đảo trước Ngả Ba của Bát Nhă Ba La Mật.
Hăy nghe ông định nghĩa thế nào là Ngả Ba : " Ấy là một loại Ngả Ba riêng biệt. Một loại ngả ba theo dơi măi con đường trong mỗi bước chân đi , trong từng mỗi mỗi niệm, mỗi mỗi sát na thù thắng. Trên con đường tư tưởng, không ai một lần vượt qua Ngả Ba là coi như vĩnh viễn từ nay không c̣n Ngả Ba nào chon von eo óc khiến bàng hoàng. Phải luôn luôn thể hội một điều : Ngả Ba c̣n hằng tại ở măi dưới bước chân đi hàng hai theo thể lệ chữ 'Bát' cho máu me đánh măi nhịp chữ 'Không'..." Nhưng không sao, trước những câu hỏi siêu h́nh hiểm hóc của Đường Vô Núi, Lối Ra Rừng ông tiếp tục hô lớn "không phải, không phải" hoặc "không biết, không biết, và không biết..." sống trọn vẹn vai tṛ Lăo Ngoan Đồng của cơi tư tưởng bởi chưng
Ngày mai cá sóng phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi
(Đêm Ngắm Trăng)
Không biết, không biết hay chỉ là sự bất lực của chữ nghĩa - "Ở trong c̣n lắm điều hay/ Nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung" (Nguyễn Du). Và thản nhiên ngắm gió trước những ngả ba sinh tử kiệt cùng của tư tưởng trong suốt cuộc đời của ông, thái độ rất chịu chơi của kẻ có nội công thâm hậu khác hẳn với những lối làm dáng của các triết gia đùa giởn với chữ nghĩa đương thờị
Nói đến những cơn điên tam đảo tứ , trong những bài viết về Bùi Giáng, một số không nhỏ thường đặt câu hỏi là ông có điên hay không và những giải thích dài ḍng chung quanh chuyện điên. Có lẽ chúng ta không nên mất th́ giờ cho những câu hỏi như vậy, câu hỏi không cần phải đặt ra bởi v́ " Người ta vốn điên, điên một cách thiết yếu đến nỗi không điên cũng là điên theo một lối khác - Les hommes sont si necessairement fous, que ce serait être fou par un autre tour de folie, de n'être pas foụ (Pascal)".
Bùi Giáng đă dùng câu này để mở đầu cho lời tựa của bản dịch Mùi Hương Xuân Sắc (Sylvie Souvernirs Du Valois) của
Gérard De Nerval. Như vậy câu hỏi nên đặt ra là liệu chúng ta có phải điên hay không điên một cách thiết yếu để thấy cái nghĩa lư của những câu thơ:
Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Dở chừng như mộng dở chừng như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên
(Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 1994)
Lời tỉnh táo, lời mê man
Điệu tha thiết rống điệu bàng hoàng ca
......................................
Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hăy đầm đ́a tuôn
(Y Ư Mộng Du Ư Mê, sđd)
Hiển nhiên vấn đề không c̣n phải là điên nhưng chính cái hạn hữu của ngôn ngữ đă làm con người ngộ nhận nhaụ Không ǵ đáng buồn hơn khi chợt thấy rằng chúng ta không hơn không kém chỉ là những người mù sờ voi, mọi lối nh́n chỉ là phiến diện của lăng kính đờị Người ta đă nhân danh những giá trị, những danh xưng để Việt Nam trở thành một băi chiến trường trong mấy chục năm quạ Thế hệ của tôi là những thanh niên lớn lên ở thời sáu mươi, chúng tôi chóng già với khói thuốc ở những quán cà phê và những khắc khoải hiện sinh. Ư Thức Mới , Im Lặng Hố Thẳm của Phạm Công Thiện như những làn gió mới để chúng tôi quên đi cái chủ nghĩa hiện sinh buồn nôn của thời thượng lúc bấy giờ. Nhưng chiến tranh sát nách, chúng tôi đă không c̣n có nhiều th́ giờ nữạ Đa số chúng tôi từ giả hố thẳm của tư tưởng và lao đầu vào cuộc chiến trước mặt, một hố thẳm thực sự, kết tủy của những bế tắt của triết học Tây phương trước những Ngả Bạ Tôi nhớ Phạm Công Thiện với lời gởi thật trang trọng đến Nguyễn Du trong đầu trang sách của Im Lặng Hố Thẳm như một "người cha tóc trắng của thi ca và tư tưởng Việt Nam, ngồi im lặng trên mây núi Hồng, già với gió thụ.." nhưng h́nh như ông không dành nhiều trang sách ở phía trong cho Nguyễn Du v́ một lư do này hay một lư do khác cho đến gần ba mươi năm saụ Trái lại, Bùi Giáng trong mọi vần thơ đă làm sống lại người cha tóc trắng đó, đă mang sinh khí mới cho ḍng lục bát nói riêng và thi ca Việt nói chung.
"Thơ Nguyễn Du thị hiện một cách đoạn trường như thế, th́ sự cố nào xảy ra cho thằng tài tử ? Ấy là sự cố Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn... Mọi bài thơ tôi viết ra, đều là vịnh thơ Nguyễn Du tại chỗ gay cấn âm thầm nhất. Dịch thơ từ đó biến ra làm Vịnh Kiều, trong từng cơn cưỡng bức. Cưỡng bức thơ Nguyễn Du cũng là tự ḿnh cưỡng bức ḿnh."
(Thi Ca Tư Tưởng, An Tiêm, tr. 63)
Tại sao ông lại cưỡng bức ḿnh quá đổi như thế ?
"Thơ là cái ǵ không thể bàn tới, không thể dịch, diễn ǵ được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng lời thợ Th́ có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, hoặc một cơn gió thụ Mà muốn thực hiện sự đó, th́ ngoài việc làm thơ ra, con người không c̣n phép ǵ khác. Thế có nghĩa là : muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác."
(Thi Ca Tư Tưởng, An Tiêm, tr. 14)
Và ông đă làm rất nhiều bài thơ khác, những thiên khảo luận như là một lối gơ cửa, đưa người đọc bước vào những ngưỡng cửa khác nhau của Thi Ca và Tư Tưởng, từ Tây sang Đông, Heidegger, Hoelderlin, Nietzsche, Khổng, Lăo, Trang, Nguyễn Du... Những lối dẫn nhập có vẻ đùa giởn nhưng rất gạn lọc và nghiêm túc v́ ông cho rằng "...kẻ nào tự xét ḿnh từ trong tinh thể mà ra chả có chi là phiêu bồng tí chút th́ chả nên cưỡng cầu tự ép uổng ghé vào thi ca thâm xứ làm chị.." (Đi Vào Cơi Thơ).
Lời nhắn nhủ cần được gởi đến cho những nhà phê b́nh văn học theo lối từ chương sách vở. Đă có một vài nhà phê b́nh ở hải ngoại mất rất nhiều th́ giờ phân tích ông với lối chả có chi là phiêu bồng tí chút đó. Quả thật họ không nên cưỡng cầu tự ép uổng vào thi ca thâm xứ của ông làm ǵ.
Tôi yêu Bùi Giáng nhất ở chỗ ông cũng là một thi sĩ ngợi ca t́nh yêu lăng mạn. Ai trong chúng ta lại không một lần lận đận, một lần lỡ dở trong t́nh trường nhất là khi sự đổ vỡ ấy lại là lần đầu tiên trong đờỉ
Có lẽ sự trắc trở của thuở ban đầu đó đă khiến ông yêu Thúy Kiều nhiều hơn v́ đồng cảnh ngộ ?
Những nàng kiều nữ gặp giông băo trong t́nh trường hoặc là những quyến rũ mê hoặc của thuỡ thanh xuân trở thành những nhân vật hoặc đề tài ưng ư đối với ông. Alissa của Khung Cửa Hẹp chết trong cô đơn, Môi cười ở cuối sân ga/ Phố nào cố quận xưa là tiễn nhau/ Lệ vàng xanh mắt mai sau/ Chùm bông tuyệt mỏng pha màu vĩnh lỵ Adrienne của Mùi Hương Xuân Sắc chết trong tu viện, Trang hồng kim hải ra hoa/ Trổ bông mùa phượng tên là Adrienne/ Anh về đuối mộng cuồng điên/ Mùa thu quốc sắc ưu phiền ngập trang. Cô Gái Lạ Thiên Thu Thánh Nữ Thấp Thoáng Adrienne đă có những liên hệ ǵ đến Mẫu Thân Phùng Khánh Trí Hải Ni Cổ (Không biết, không biết và không biết. Chắc ông sẽ trả lời như vậy nếu được hỏi). Từ Mưa Nguồn đến Chớp Biển, Bùi Giáng luôn luôn nhắc đến đâu đó một mối t́nh đầu dang dở nhưng cảm động hơn cả là trong tập thơ cuối cùng Đêm Ngắm Trăng, ở tuổi hơn bảy mươi h́nh bóng người t́nh đầu tiên, Nàng Tiên Một Lần, rơ ràng hơn và xuất hiện trong nhiều bài thợ Một điểm cần ghi nhận là có nhiều câu từ những tập thơ trước như Mưa Nguồn chẳng hạn đă được lập lại trong những tập in sau nàỵ
Mai sau c̣n dự Hội nào
Ngó nhau từ kỷ niệm đầu băo giông
(Đêm Ngắm Trăng, Mưa Nguồn)
T́nh thứ nhất ? mộng mưa nguồn
Từ nay vĩnh viễn con đường chẻ đôi
(Đêm Ngắm Trăng)
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ h́nh hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
C̣n hai con mắt khóc người một con
(Mưa Nguồn)
Ngày mai vĩnh biệt cơi đời
Trùng lai có lẽ cuối trời biệt ly
(Đêm Ngắm Trăng)
....................................................
"Có Một Ngày Như Thế... anh đị.." lời nhạc của Trịnh Công Sơn như một nhắc nhở cho chúng ta cái mỏng manh của kiếp ngườị Đến và đi, phiêu bồng như một áng mây nhưng đă từ lâu trong cơi Mưa Nguồn ta đă thấy một người Thi Sĩ Của Trần Gian đă yêu chốn này rất mực...
Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian măi măi
V́ nơi đây tôi sống đủ vui sầu
(Mưa Nguồn)
Vũ Hoàng Thư
Đầu Năm 99
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 02:12 AM
Xuân Alissa
Em nằm với là trong cây
Bữa hôm nay mộng thấy ngày hôm qua
Môi cười ở cuối sân ga
Phố nào cố quận xưa là tiễn nhau
Lệ vàng xanh mắt mai sau
Chùm bông tuyết mỏng pha màu vĩnh ly
Thu Juliette
Nguyên từ đức dũng có thừa
Âm thanh vội tạc giữa mùa hoài trông
Ngày mai cá sóng phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi
Đào nguyên mù mịt mưa tuôn
Em sầu Tố Nữ , em buồn tiên Nga
Ta về ngóng lại mưa sa
Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 02:15 AM
Tháng năm ḍng nước trôi xa
Người qua, người sẽ đi qua những người
Tôi qua ... không một hẹn lời
Hẹn ḥ chi bấy, bước dời về đâu ?
Tặng đời đóa đóa hoa sầu
Nhớ nhau từ đóa mộng đầu ră đôi
Giọt nước như giọt mưa rơi
Mỗi mùa mưa đến tôi ngồi chắp tay
Mưa về đọng ở hàng mi
Mắt tôi hồng lệ dựng xây hồng vàng
Đèo bồng đeo đuổi đa mang
Đẩy xua u oán, đá vàng hiểu cho
Đi đi lỡ bước sang đ̣
Cuồng ca tuư vũ không ḍ lênh đênh
Đi đi suốt kiếp mỏi mềm
Nhọc nhằn đă lắm c̣n lênh đênh hoài
Gịot mưa gơ nhịp dẻo dai
Hoàng hôn gơ nhánh cửa cài kín bưng
Đi đi t́nh mộng vô chừng
Đăm chiêu vô tận ngại ngùng vỡ toang
Như tia nắng biếc chiều tàn
Lửa đời thoi thóp khôn hàn trái tim
Niềm vui níu nhánh mộng ch́m
Tâm hồn cô độc tâm t́nh t́m nhau
Gom từng cơn nắng nhỏ chơi
Nụ cười hiu hắt phanh phơi nỗi đời
Nhánh đời gió lộng trùng khơi
Nhặt lên thả xuống chiều vời vợi bay
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 02:21 AM
...
Trần gian hỡi ? Tôi về đây sống
Tôi dă t́m đâu ư nghĩa lầm than
Tôi ngẩng mặt ngó ngàn mây cao rộng
Tôi cúi đầu nh́n mặt đất thấp den
Tôi chấp nhận trăm lần trong thổn thức
Tôi bàng hoàng hốt hoan?g những đêm đêm
Tôi xin chịu cuồng si để san'g suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ yêu em
Tôi tự nguyện sẽ một ḷng chung thủy
Qua những lần buồn tủi vơi đảo điên
Thân xương máu đă đành là ủy mị
Thà xin em cùng lên thác xuống ghềnh
Em đứng mũi , anh chịu sào có vững
Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng
Tôi đă nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
Xin yêu , măi yêu và yêu nhau măi
Trần gian ôi ! Can'h bướm , can'h chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn
C̣n ở lại một ngày c̣n yêu măi
C̣n một dêm c̣n thở dưới trăng sao
Th́ can'h mộng c̣n tung lên không ngại
Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao
Nhưng Em hỡi , trần gian ơi , ta biết
Sẽ rồi ra vin~h biệt với người thôi
Ta chết lặng bó tay đầu lắc
Đài xiêu ôi xuân sắp run.g mất rồi
Đêm ứa lệ phồng mi hai mắt
Bàn tay ta nhỏ như lá cây khô
Ḿnh hoa ră đầm đià sương theo móc
Dỡ làm sao những can'h tiếp nhau rơi
Ta gửi lại đây những lời áo năo
Những lời yêu thương phun.g hiến cho Em
Rồi ta gục đầu trong trang giấu hăo
Em bảo rằng :
" Đừng tuyêt von.g nghe không
C̣n trang thơ thắm lại với trời hồng . "
1962
BuiGiang
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 02:27 AM
Nghe trời đổ lộn nguyên khê
Tiếng vàng rụng rớt gieo về động xanh
Gót chân khơi rộng bóng cành
Nhịp vang đầu núi vọng thành lũy siêu
Thời gian chắc bước bên chiều
Khóc sông bến lạ mưa chiều sớm xuân
Cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng
Hồn du mục cũ xa gần hử em
Kie^'n ca^.n
06-02-2002, 02:47 AM
Những giai thoại về Bùi Giáng nơi đây , đă không c̣n mang tính giai cấp chế độ hoặc một h́nh thức chính trị nào , mà chính là chúng ta ... những người yêu thích tâm hồn ngỗ ngáo của ông .
Lục Bát
Sau khi chiếm miền Nam, các cán bộ văn hóa từ Bắc vào rồi lần lượt nắm giữ các chức vụ của đảng và nhà nước giao phó, đô `ng thời để "làm việc" với các đối tượng văn hóa miền nam. Một trong những người được giao công tác để chỉnh huấn giới văn nghệ Quảng Đà là một cán bộ tập kết xuất thân từ địa phương. Cán bộ đó có bút hiệu là Thu Bồn, lấy tên của gịng sông lớn nhất tỉnh.
Trước sự miễn cưỡng và chống đối lộ hoặc ngầm của giới văn nghệ sĩ địa phương, trong một buổi sinh hoạt tư tưởng văn hóa, cán bộ thơ Thu Bồn muốn thúc đẩy các văn nghệ sĩ miền Nam tham gia tích cực vào sinh hoạt mới của nhà nước, đă ép mời nhà thơ Bùi Giáng lên diễn đàn để trổ tài làm thơ lục bát "như hơi thở" của ông mà người ta vẫn đồn. Bùi Giáng khiêm nhượng từ chối nhưng vẫn bị nài ép. Cuối cùng, không thể chô 'i từ, Bùi Giáng lên bục, và chỉ vào nữ sĩ Thu Ba, lúc ấy đang ngồi cạnh nhà thơ Thu Bồn, mà ứng khẩu rằng:
"Thu Ba ngồi cạnh Thu Bồn Thu Bồn thích quá, sờ ? tay Thu Bạ"
Rồi tức th́ ngồi xuống trước sự ngẩn ngơ của diễn giả Thu Bồn, nữ sĩ Thu Ba, và cử tọạ
Mọi người nhao nhao: Thơ lục bát ǵ lạ thế? Vần điệu niêm luâ .t trật lất! Không chuẩn, phải làm lại!
Thế là Bùi Giáng lại bị lôi lên. Ông làm mặt nghiêm đọc tiếp:
"Thu Ba ngồi cạnh Thu Bồn Thu Bồn thích quá, sờ ? vai Thu Bạ"
Cả hội trường lại cười ầm lên, rồi náo loạn. Người ta kháo nhau, thơ văn miền Nam quả là tệ hại! Chả thế mà phải cải tạo cho nghiêm chỉnh lên.
Bùi Giáng bị ép phải làm lại cho nghiêm chỉnh luật thơ lục bát trước khi ngồi xuống.
Cuối cùng ông mới nói đôi lời phân trần về yêu cầu của ngư ời nghe, đại ư là nếu mọi người nhất định bắt ông phải làm thơ cho đúng với niêm luật, th́ ông phải sửa như thế nầy:
"Thu Ba ngồi cạnh Thu Bồn Thu Bồn thích quá, sờ ? mồm Thu Ba"
Rồi ông đủng đĩnh bước ra cửa trước những con mắt ngơ ngác của Thu Bồn. C̣n Thu Ba th́ thẹn đỏ mặt. Mọi người được một trận cười nghiêng ngửạ
Sữa Mẹ
Một chuyện khác, được dân Sài G̣n chuyền nhau với nụ cười ư nhị. Có nhiều nguời quả quyết chuyện dưới đây có thật một trăn phần. Có người khác nghi ngờ đây là một chuyện ngụ ngôn ẩn ư do ḷng người dân muốn t́m mọi cách khéo léo bày tỏ thái độ chống lại nhà nước CSVN và quan thầỵ
Chuyện kể rằng, một lần, Bùi Giáng lang thang ngoài đường phố Sài G̣n. Chợt mọi người tụ lại nói năng chỉ chơ om x̣m. Công an h́nh cảnh được triệu đến. Một cảnh náo nhiệt xảy rạ Mỗi người nói một chuyện, kẻ nói một dàng, không ai rơ chuyện ǵ. Măi hồi sau cảnh sát mới hiểu sơ nội vụ và câu lưu đương sự họ Bùi v́ bị tố cáo là dă "xâm phạm tiết hạnh" của một nữ du khách người Ngạ Cán bộ h́nh cảnh lấy cung nghi can:
'Anh kia, có phải anh đă bóp vú bà Liên Xô kia không?
Bùi Giáng thản nhiên đáp:
'Dạ có.
'Quả thật tội anh rành rành, mà anh không biết xấu hổ. Tại sao anh lại dám làm một chuyện tồi bại ngay giữa ban ngày ban nhật như thế?
Cán bộ xem xét bà Liên Xô "nạn nhân" với bộ ngực đồ sộ, rô`i nh́n lại thân h́nh ủ rũ héo úa của thủ phạm. Không giữ được ṭ ṃ, hỏi nghi can:
' Thân thể ốm yếu như anh th́ làm ǵ được, mà cứ đ̣i ṃ mâ ~m bà tả vĩ đại thế kiả
Bùi Giáng lúc lắc cái đầu bù xù tóc rối:
'Tui đâu dám ham hố ǵ bả.
Tui chỉ muốn coi thử cái "vú Liên Xô" nó vĩ đại cỡ nào để xem nó có nuôi nổi dân tộc ḿnh không !
--------------------------------------------------------------------------------
Tôi có "hân hạnh" thấy BG 2-3 lần trong đời . 1 lần vào trước 1975, lúc đó tôi khoảng 9-10 tuổi, theo ông anh vào Viện Đại Học Vạn Hạnh Saigon mà BG là 1 giảng viên . Lên pḥng ông thấy ông đang đánh cờ với 1 ông bạn trên 1 cái giường . C̣n gói xôi ông đang ăn th́ nằm bên 1 cái giường khác trong pḥng . Thỉnh thoảng giữa 2 nước cờ ông chạy về giường múc miếng xôi ăn . Tôi chỉ thấy mắc cười sao ông không để gói xôi ngay bên cạnh dể vừa ăn vừa dánh cờ . Nhưng dĩ nhiên là không dám hó hé ǵ, chỉ xớ rớ bên ông anh rồi đi về .
Vài năm sau 1975, trước khi vượt biên tôi gặp ông trong 1 quán càphê . Khi đó ông đă không c̣n b́nh thường . Ông ngồi lẩm nhẩm :" Mẹ kiếp ! thà đi lăn lóc như tao c̣n hơn ngồi coi cái con Kim Cương sạo sự hằng đêm " . Không biết ông có ư nói ǵ . Hay là ông mỉa mai KC (người mà ông rất si mê) được nhà nước cưng, lúc đó đóng kịch đều đều . Rồi ông múa may 1 chút rồi lại đi đâu mất . Gặp ông 1 lần nữa cũng trong cái trạng thái cuồng sĩ như vậy, dơ dáy, rách rưới, điên hay bất cần đời hay tuyệt vọng với thế nhân, thách đố / đầu hàng với hiện hữu tôi cũng chẳng biết . . Hồi đó tôi đă biết là mời ông vào nhà, cho tiền hay quần áo, thức ăn là điều vớ vẫn với ông mà thôi .
Thật sự sau này tôi đọc lại và đọc thêm 1 số sách của ông, tôi mới thưởng thức nhiều hơn v́ tuổi đă lớn khôn . Đọc 1 đọan văn dịch có phần sáng tác của ông tôi mê mẩn thích thú rồi lại thẫn thờ suy nghĩ . Không hiểu v́ sao 1 tấm ḷng yêu tha nhân thắm thiết như thế, 1 nhân cách tài hoa lăng mạn như vậy, 1 lối phân tích tỉnh táo có phần trào phúng như vậy mà cuối cùng lại dẫn đến sự tuyệt vọng trong tư tưởng đến độ phát điên (hay bất cần đời đến cực điểm - cũng không khác ǵ điên) . Sao ông không nghe Trịnh Công Sơn ... Tôi ơi đừng tuyệt vọng ... (H́nh như ông đâu thèm nghe TCS . H́nh như ông chê TCS . Tôi có nghe nói nhưng mà tôi không tin lắm . Bởi v́ nếu vậy th́ BG chưa hẳn là thoát tục - Ờ, mà có thể BG không thoát tục, có thể ông tục lụy đến cực đoan th́ sao ??? )
Tôi để ư thấy ngoài thơ Kiều, BG rất thích thơ Hồ Dzếnh . Câu nào ông gắn vào dịch phẩm của ông cũng đúng chóc .
Sau khi được cứu trên sa mạc bởi 1 người du mục Trung đông, St Exupery viết trong "Cơi Người Ta" : "Anh hiện ra với chúng tôi trong phong độ lai láng cao vời, và bao dung nhân hậu, như một đấng chí tôn có quyền lực ban cho nước uống . Tất cả bạn hữu của tôi, tất cả kẻ thù của tôi, cùng bước tới bên tôi trong h́nh hài của anh, và tôi không c̣n 1 kẻ thù nào ở thế gian nữa cả . " BG kết bằng Hồ Dzếnh : " Ư thiêng choán hết linh hồn . C̣n đâu gió nhớ cung buồn mà ca " .
Và đây " Chiều buồn như mối sầu chung .
Ḷng im nghe thoảng tơ trùng chốn xa " . (H Dzếnh)
Khi BG mở đầu cho 1 đoạn tâm sự về Con Người .
Không hoàn toàn sống trong tâm trạng của tác giả, không có cái tài hoa của sự hiểu biết thấu suốt Pháp ngữ th́ BG không thể gắn những câu thơ xuất thần như thế trong bản dịch .
Và vẫn làm tôi luôn tự hỏi v́ sao ông chọn làm người điên . V́ sao ông chối bỏ cái thế giới này mà đă có lần ông (cùng với tác giả) đă yêu thương rất mực . Không lẽ cái điên của BG chỉ hoàn toàn là bệnh lư ?
--------------------------------------------------------------------------------
BÙI GIÁNG VÀ NỖI L̉NG TÔ VŨ
PHẠM XUÂN ĐÀI
Tôi đọc bài thơ Nỗi Ḷng Tô Vũ của Bùi Giáng lần đầu tiên vào thập niên 50, trên tờ Phổ Thông do ông Vũ Quốc Thúc chủ trương, xuất bản tại Hà Nội trước cuộc di cư năm 1954. Tuổi học sinh, đọc là tôi mê bài ấy ngay, nỗi mê gần giống như khi đọc Les Étoiles của Alphonse Daudet, có lẽ với nhiều cảm động hơn. Một bên là chàng chăn dê giữa rừng núi với t́nh yêu bầy dê của ḿnh, một bên là chàng chăn cừu với mối t́nh chớm nở với cô con gái ông chủ. Tuổi thanh thiếu niên dễ "bắt" những rung động ấy lắm. Và tôi không ngờ "mối t́nh" của tôi với Nỗi Ḷng Tô Vũ của Bùi Giáng lại dai dẳng đến thế, sau này tôi đă đọc nhiều thơ, văn của anh, đă quen biết anh, nhưng h́nh ảnh chàng chăn dê trên núi trong một buổi chiều "ước thệ" với những ṿng đeo cổ dê và cổ chính ḿnh vẫn ở măi trong ḷng tôi như một vùng trong sáng thuộc vào tuổi trẻ. Tuổi trẻ của tác giả, và sau đấy, của tôị
Một bài thơ cảm động mô tả việc chăn dê ở vùng đồi núi Quảng Nam và t́nh yêu bầy dê của tác giả, với các h́nh ảnh vô cùng nên thợ Nhưng câu đề từ ở đầu bài: Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt - Nam Ngăi B́nh Phú gây thắc mắc cho nhiều người, trong đó có tôị Trong những dịp gặp Bùi Giáng trước năm 1975 và gần đây, đầu thập niên 90, tôi đều quên nhờ anh giải thích những điều rơ ràng là nói quá lên: về thời gian, không làm ǵ có chuyện Bùi Giáng đi chăn dê trong 15 năm, về không gian th́ cả vùng núi đồi Nam Ngăi B́nh Phú là quá lớn đối với địa bàn chăn dê thật của nhà thi sĩ. Bây giờ tôi đành t́m cách giải thích câu ấy một ḿnh vậỵ
Công việc chăn dê của Bùi Giáng chỉ có vào một thời gian ngắn tại núi đồi huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, trong khoảng từ 1945 đến 1952 là năm anh "nhảy đồn" để về thành phố. Câu đề từ trên về thời gian và không gian đều được nới dài và rộng ra, để nhằm gợi một cái ǵ đấy nhiều hơn là để tường tŕnh một giai đoạn của đời tác giả. "Mười lăm năm" có lẽ được mượn từ đoạn đời trôi nổi của nàng Kiều, một khoảng thời gian trở thành chuẩn mực để chỉ nỗi trắc trở lênh đênh; trong giới văn học, "mười lăm năm lưu lạc" gần như thành một thành ngữ. Và miền núi đồi bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên gợi nên cái không gian Liên khu Năm trong thời kháng chiến chống Pháp mà Bùi Giáng đă đi lại nhiều lần. Thời gian ấy, không gian ấy sẽ hỗ trợ cho không khí và nỗi ḷng của chàng Tô Vũ mới, và làm cho mối t́nh của chàng với bầy dê thấm đượm một màu sắc riêng. Mười lăm năm nói lên một nỗi truân chuyên, mượn số năm lưu lạc của nàng Kiều để chỉ một thời gian ngắn hơn nhiều của đời ḿnh, Bùi Giáng có lẽ đă có tiên cảm về nỗi bất trắc lớn lao của dân tộc trong ṿng vây không thoát được của chủ nghĩa cộng sản. Và núi rừng Nam Ngăi B́nh Phú là một không gian đặc biệt của thời ấy, lúc phá hết phố phường biệt ly đời gấm hoa, đời sống cả một vùng giai đoạn đầu kháng chiến nhuốm đầy vẻ tươi sáng hào hùng dù rất kham khổ thô sơ, nhưng từ đầu thập niên 50 bắt đầu xuất hiện các vệt đen của đấu tranh giai cấp và việc ép buộc đổ vào một khuôn tất cả mọi sinh hoạt tinh thần, tư tưởng -- cái khuôn mác xít.
Nỗi ḷng Tô Vũ là nỗi ḷng của kẻ lưu đàỵ Tô Vũ là một nhân vật bên Tàu thời Hán Vũ Đế, khi đi sứ sang Hung Nô đă bị nước này giữ lại, bắt đi chăn dê trong 19 năm, gọi là Tô Vũ Mục Dương. Bùi Giáng học ở kinh đô Huế, năm 1945 ở vào tuổi 19, đầu óc đang trong cơn khao khát rộng mở đến bao chân trời kiến thức, th́ v́ thời cuộc phải ngưng học đột ngột, về sống với xóm làng rừng núi quê nhà. Nhưng điều quan trọng là khi cuộc kháng chiến bùng nổ, vùng Nam Ngăi B́nh Phú thành biệt lập với thế giới bên ngoàị Một đời sống hoàn toàn tự cấp tự túc, kể cả và nhất là về học thuật, văn hóa, tư tưởng. Thời ấy nền giáo dục của cả Khu Năm chỉ đến hết bậc trung học, muốn học đại học phải ra đến Khu Bốn mới có. Năm 1950 Bùi Giáng thử thời vận một lần với việc học vấn, lên đường đi dọc theo dăy Trường Sơn ra đến Hà Tĩnh để theo học đại học tại đấỵ Nhưng ngay trong buổi khai giảng, sau khi nghe diễn văn của ông Viện trưởng th́ Bùi Giáng quyết định bỏ về không học nữạ Bài diễn văn ấy có lẽ đă bắt đầu có dấu hiệu của sự nô dịch dân tộc bằng hệ ư thức mác xít. Bùi Giáng thất vọng. Các dự cảm đang biến thành sự thật. Sau đó ông chỉ c̣n một con đường là tự biến ḿnh thành Tô Vũ. Đó là sự tự lưu đày trên quê hương, với ư thức rất rơ rằng tư tưởng của ḿnh, đời sống trí tuệ của ḿnh đang bắt đầu bị vây khổn. Cuộc đời chăn dê và h́nh ảnh bầy dê chỉ là lối thoát mặt nổi của riêng một người, trong một thời mà bao nhiêu dáng vẻ phong phú bay bổng của tinh thần đang dần dần phải đưa hết vào trong một cái rọ.
Rơ ràng "đoạn đời 15 năm" và "núi đồi Trung Việt Nam Ngăi B́nh Phú" là lối nói thậm xưng để thành một loại mật ngôn, nhằm chuyển tải một tâm sự. Ngay cả việc chăn dê cũng chỉ là một cái cớ. Thời gian, không gian, công việc ấy chỉ là các khái niệm tượng trưng, nhờ đó gợi lên những t́nh ư mông lung hơn về một thời điểm, một nơi chốn và một t́nh trạng. Nội dung bài thơ chỉ thuần túy nói về việc chăn dê và cái t́nh của tác giả đối với bầy dê, với h́nh ảnh, ư tứ và ngôn từ đẹp, nên thơ, độc đáọ Duy chỉ tựa đề bài thơ và nhất là câu đề từ hơi lạ, khiến người đọc suy nghĩ, và t́m cách đưa ra một giải thích. Nhưng đó là một mấu chốt không thể không giải của bài thơ Nỗi Ḷng Tô Vũ.
----------------------------------------------------------------------------------
ANH GIÁNG
BÙI VĂN NAM SƠN
Anh Giáng là sao Văn Khúc "hạ giáng" vào cửa họ Bùi ta chăng? Là một Thi Quỷ hay Thi Tiên có một không hai trong nền văn Dân tộc? Là một bậc La Hán tự phát nguyện trở thành xác thịt để khóc cười an ủi chúng sinh? Khen hay chê, thích hay không, Anh vẫn thuộc vào loại thiên tài không định nghĩa được (génie indéfinissable) làm bằng một thứ nguyên liệu rất hiếm, là một giống chim lạ rất dễ tuyệt chủng mà Trời Đất -- không nỡ làm đứt mạch văn, làm cạn ṇi t́nh -- lâu lâu lại cho phục sinh một lần. Thứ nguyên liệu ấy rất nhẹ đồng cân nên ít bám bụi, lung linh sương bóng ( hốt hề hoảng hề ), khó nắm bắt mà lại cũng rất kềnh càng "quá cỡ thợ mộc," nếu ta không chịu khó gắng sức lên một tí th́ không đo lường được:
Hỏi tên, rằng biển xanh dâu
Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đă xa;
Gọi tên, rằng một hai ba...
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm!
(Trích từ bài "Vài nét về Bùi Giáng")
BÊN LINH CỬU THI SĨ BÙI GIÁNG
Hai ngày 8 và 9 tháng Mười 1998, đông đảo văn nghệ sĩ, các nhà hoạt động văn hóa, bạn hữu và những người mến mộ đă đến viếng linh cữu thi sĩ Bùi Giáng quàn tại Nhà tang lễ chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài G̣n.
Liễn thờ thi sĩ do Bùi tộc Vĩnh Trinh và gia đ́nh soạn, ghi: LÔ HỎA THUẦN THANH (Lửa ḷ xanh biếc), với câu:
Tái tửu thân du Hoan Hỷ địa
Thao bút thi thành Phương Ngoại thiên
(Quảy rượu thân chơi miền Hoan Hỷ
Múa bút thành thơ chốn Ngoại Thiên)
Bên linh cữu treo hai câu của các môn đệ khóc:
Mưa gió ngàn thu rớt hột về thăm dăm gái núi
Lá hoa mấy độ băi cồn vương vấn trận mưa nguồn
Nhà thơ Tường Linh, người đồng hương, đă viết vào sổ tang:
Bùi huynh! Trung Phước đợi anh về
Đồi cũ mong người thuở giữ dê
Đến thời tụng kinh trưa ngày 9/10, người ta thấy có mặt nghệ sĩ Kim Cương, người mà trung niên thi sĩ Bùi Giáng chép tặng bài Sầu ca sĩ trong cuốn Đường đi trong rừng, và thường xuyên nhắc lại với hai tiếng "mẫu thân." Bên thềm chùa, gợi hỏi:
* Thưa, trong những "ngày tháng ngao du" thi sĩ Bùi Giáng có gặp chị năm nàỏ
Kim Cương: Trong một đám cưới của người bạn cách đây hơn 40 năm.
* Từ đó đến nay, qua gặp gỡ, chị có thể vui ḷng cho biết vài cảm nhận về dịch giả Cơi Người Tả
Kim Cương: Tôi may mắn được thi sĩ Bùi Giáng nhắc đến trong thơ và ngoài đường lang thang. Một khuya đă lâu lắm rồi, chừng hơn 25 năm trước, anh đập cửa nhà tôi và hét: "Mẫu thân, mở cửa!" Tôi hỏi anh Giáng ở đâu về mà bơ phờ vậỵ Anh bảo ở nhà thương Biên Ḥa, khi không có một Bồ Tát hiện tới bảo anh phải về Sài G̣n gấp để nhờ "mẫu thân" Kim Cương bảo lănh mới "an toàn hiện sinh sinh hiện." Tôi nói không dám nhận mấy tiếng "mẫu thân." Về sau anh quát: "Đồ phàm phu tục tử như ái khanh một triệu năm sau chưa hiểu thấu t́nh yêu của trẫm!" Tôi chỉ cười và kính anh là tài hoa muôn một.
Ngày khác, anh Giáng đến mặc bộ đồ nhiều màu, vai deo lủng lẳng mấy lon sữa ḅ rỗng. Con tôi thấy vậy thiệt thà nói: "Trông bác Giáng cứ như một chiếc xe hoa dzậỵ" Tôi bảo không phải dzậy: "Bác Giáng là nhân tài đất nước, không lấy bề ngoài mà nói lung tung được." Cách đây bốn, năm tháng tôi có mua mấy bộ đồ đem đến nhà anh ở G̣ Vấp. Rất cảm động, trong các đồ liệm theo anh có bộ đồ của tôi...
Bach Van Phi
06-04-2002, 01:40 AM
Em ngó buổi chiều buồn có phải
Buồn cũng như buồn những buổi chiều xưa
Tṛng con mắt đă mỏi ṃn có phải
Sắc của trời hương của đất lưa thưa
Những nhịp bước bên đường c̣n dội măi
Vang về đâu không vọng lại hồi âm
Của réo rắt riêng một lần măi măi
Gió phương trời ù mộng giữa hoa tâm
Em hỏi măi tuy biết lời đáp lại
Chẳng bao giờ thoả đáng giữa đời câm
Em ngó măi những chiều về trở lại
Mang những ǵ về trong cơi trăm năm
Bach Van Phi
06-04-2002, 01:42 AM
GIĂ TỪ ĐÀ LẠT
Nói nữa sao em, với lời lỡ dở
Đường lây lất chiều bay sương lổ đổ
Đứng bên trời em ở lại hôm qua
Ngàn thông ơi ở đó đón bóng tà
Và giữ lại chuyện đời ta đi mất
Bước khúc khuỷu truông ngàn khe khóc lóc
Dặm mơ màng tăm tắp mấy mù khơi
Lùi bay đi để ở lại bên người
Tơ vấn vít gió muà mời mọc én
Tay lẩy bẩy níu ǵ xuân bay biến
Ô thiều quang! làn nước cũ trôi mau
Em đi lên vói bắt mấy hương màu
Miền đất Thượng có mấy bờ hoa mọc
Xa biệt lắm mưa nguồn trên mái tóc
Đà mấy lần thổi lạc lệ lưa thưa
Buổi sớm hôm buồn tinh tú ai ngừa
Bàn chân bước vơi tay buông kể lể
Trời với đất để ḷng em lạnh thế
Hoa hương ơi c̣n diễm lệ bao giờ
Những ân t́nh đầu liễu rũ lơ thơ
C̣n hay mất trong trăng mờ khuya khoắt
Người xuống núi mang về đâu có chắc
Những dịp về c̣n nữa ở mai sau ?
Dặm hồng vàng ai đứng lại nh́n nhau
Tay Doc
06-04-2002, 01:49 AM
Anh lùa ḅ vào đồi sim trái chín
Cho ḅ ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nh́n lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
Anh nằm xuống để nh́n lên cho thỏa
Anh thấy ḷng mở rộng đón trời xanh
Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn ḿnh
Anh quên mất ḅ đương gặm cỏ
Anh chỉ nghe tiếng cọ ŕ rào
Có hay không ? ḅ đương gặm đó ?
Hay là đây tiếng gió th́ thào ?
Hay là đây tiếng suối lao xao
Giữa gịng cỏ xuôi ghềnh chảy xuống ?
Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm
Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng
Mùi lên men phủ ngập mông lung
Không biết nữa mà cần chi biết nữa
Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang mang
Với ḅ giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó ḿnh không
Tieu Dieu Khach
06-05-2002, 02:51 PM
NGƯỜI CON GÁI MẶC QUẤN
Người con gái hôm nay mặc quần đỏ
v́ hôm qua đă mặc chiếc quần đen
đen và đỏ là hai màu rồi đó
cũng như đời, đường hai nẻo xuống lên
Người con gái hôm nay mặc quần trắng
v́ hôm qua đă mặc chiếc quần hồng
hồng và trắng là hai màu bẽn lẽn
cũng như núi và rừng đều rất mực chênh vênh
Người con gái hôm nay mặc quần tím
v́ hôm qua đă mặc chiếc quần vàng
vàng và tím là hai màu mỉm miệng
mím môi cười và chúm chím nhe răng
Người con gái hôm nay mặc quần rách
v́ hôm qua đă mặc chiếc quần lành
lành và rách đều vô cùng trong sạch
bởi v́ là lành rách cũng long lanh
Tieu Dieu Khach
06-05-2002, 02:53 PM
Ồ Các Em
Nói thật đúng? từ biển dâu khép mở
Thật rơ ra, anh đă biết từ đầu
Từ xa lắm đầu tiên anh đă rơ
Rằng các em là tuyệt thể hương màu
Anh đă gặp các em từ vĩnh viễn
Của tương lai tận tuyệt tới bây giờ
Em đă định từ tâm can tưởng niệm
T́m tới anh chất vấn một vần thơ
Anh định nói rằng ấy là vô ích
Thơ thiên thần là tâm niệm tóc tơ
Em cười rộ : "- Anh ba rơi số dzách
Anh tận cùng là ba trợn trơ trơ"
Anh xấu hổ hỏi rằng: "em nói thật?
Hay giỡn chơi ? Anh hổ thẹn bất ngờ
Từ quá văng xa xưa những chồng chất
Tấp nập về trên tại thể bơ vơ
Em mở miệng nhe răng cười năo nuột
Anh nh́n em như nh́n thấy đất trời
Em đẹp đẽ như tuyết băng trắng muốt
Anh nh́n em như tinh thể tuyệt vời
Anh gạ gẫm: "Em cho anh hôn chút
Bỡi từ xưa anh rất mực bơ vơ"
Em đáp lại: "Chỉ cho hôn nửa phút
C̣n nửa kia c̣n lại cho ông trời"
V́ khởi thuỷ tới vô chung vô thuỷ
Người t́nh em là rất mực ông giời
Ông trời ấy bây giờ say luư tuư
Mà yêu em vẫn vĩnh viễn ông giời"
(Hôn em nửa phút pha phôi
Thiên thu kư ức nửa lời của em)
Trích Rong Re^u
Tieu Dieu Khach
06-05-2002, 02:59 PM
V́ Bữa Đó
V́ bữa đó cửa buồng em khép kín
Nên bốn bề tiếng động đă xâm lăng
Và tràn ngập vào sâu trong cung điện
Đáy linh hồn em rạn vỡ bao phen
V́ bữa đó nh́n nhau hai con mắt
Giữa bốn bề bóng tối lạnh tro phai
Nên em muốn bàn tay ta xiết chặt
Ngón vô ngần đau khổ ở trong tay
Và vuốt ngực nghe chừng như lá phổi
Đă điêu tàn trong lệ đẫm liên miên
Ḍng ngơ ngác tự bao giờ đă lỗi
Trong chờ mong tiếng vọng ở xa miền
C̣n lại đó chút ǵ em có biết
Có hiểu rồi và đă có nghe ta
Nói lơ láo một lời khi úp mặt
Ngón vô ngần đau khổ lúc buông ra .
Bach Van Phi
06-06-2002, 12:33 AM
NGUYỄN HUỆ
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa ...
Người đi ṿng chuyến đó
Núi rừng cây lá vang
Ánh trời trưa rực đỏ
Ráng chiều thắm pha vàng
Mười vạn quân theo gót
Tha thiết một niềm tin
Mây trời cao chót vót
Gịng nước suối động ḿnh
Bàn chân người đặt xuống
Bàn chân người bước lên
Miệng cười trong ư chuộng
Lời sông núi van xin
Người qua sông Giản Thủy
Người tới huyện Phú Xuyên
Hà Hồi chiêng trống giậy
Ngọc Hồi rợp bóng tinh
Người trở về từ đó
Với nàng công chúa kia
Đầu mùa trăng rạng tỏ
Hoa bướm vội tan ĺa
Đời sau thương tiếc măi
Tự hỏi v́ cớ chi ?
Gian thần nào ám hại
Hoặc có thể chỉ v́
Ngày băng rừng heo hút
Muỗi rừng cắn thịt da
Sốt rét rừng thiêu đốt
Nên người vội băng hà ?
Người không thể nấn ná
Ở thêm một thời gian ?
Sáu quân nh́n chưa thỏa dạ
Sông núi phụ muôn vàn
Thôi xin người đừng nức nở
Nếu sau này đường dang dở
Những ai về
Ôm măi mộng người đi
Bach Van Phi
06-06-2002, 12:39 AM
LỜI SƠN NỮ
Gánh than lên bán chợ Trời
Thiên Thần xúm hỏi: Em người ở đâu?
Thưa rằng: Em ở rất lâu
Trần gian dưới đó dăi dầu liên miên
Bảo rằng: chưa rơ tuổi tên?
Thưa rằng: tên tuổi là Em đây rồi
Nghĩa là Sơn Nữ đó thôi
Hỏi rằng: sao chẳng thấy môi em cười?
Thưa rằng: cười gượng không vui
Nên đành mím miệng một đời cho qua
Hỏi rằng: dưới đó bông hoa
Nở vào mùa Hạ hay là mùa Xuân?
Thưa rằng: cái đó em quên
V́ chưng lo đốt than nên không nh́n
Hỏi rằng: một chút của tin
Muốn trao em giữ, em xin thứ ǵ?
Thưa rằng: Em chẳng biết chi
Hỏi rằng: Em thích xiêm y không nào?
Thưa rằng: Dày mỏng ra sao?
Bảo rằng: toàn gấm lụa đào nhung hoa
Thưa rằng: chẳng hợp màu da
Toàn thân như hột chà là em đen
Bảo rằng: hăy tắm suối tiên
Một giờ sau Em sẽ đổi đen ra hồng
Thưa rằng: Em có tấm chồng
Yêu màu da cũ kiếu ông em về
Tieu Dieu Khach
06-06-2002, 01:09 AM
GỈNG SÔNG
Chiều bên lá lung lay vàng cửa khép
Bóng trời sa trùm phủ tiếng em cười
Vườn cỏ lạnh hoa buồn không nói xiết
Bước chân dừng nghe ră lệ hai nơi
Lời hẹn ước em nghiêng đầu tóc xoă
Để than van sầu thiên cổ theo nhau
Hồn tuổi trẻ bay trở về giữa dạ
Nhờ dung nhan em bất tuyệt xuân đầu
Trời thuở đó ngần nào em khổ sở
Khóc khi nh́n gió thổi nước sương buông
T́m xa vắng bên kia bờ đổ vỡ
Gịng sông em đâu có biết ngọn nguồn
Tieu Dieu Khach
06-06-2002, 01:12 AM
NHỮNG NHÁNH MAI
Những nhành mai sớm sương bên lá
Những nhành liễu chiều gió bên cây
Cũng lay lắt bởi đời xuân em ạ
Thế nên chi anh cũng viết gịng này .
Hồng vàng tụ bữa kia em có thấy
Nước xuôi gịng là cổ độ nh́n theo
Tuổi mười sáu bây giờ lên gấp gảy
Mộng miên man là mây phủ lưng đèo
Buồn phố thị cũng xa bay như gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy bổng như hươu
Bờ cơi dựng xuân xanh em c̣n đó
Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu
T́m theo dấu chân người xưa tư lự
Ở bên đường ngóng dơi khánh vân bay
Mờ con mắt một lần lên tiếng thử
Em ồ em, anh nói một lời này .
Ngao_0p
06-19-2002, 04:03 AM
Tóc Bạc Thưa Rằng
Một bữa trăng sao
Xuống rừng rú dại
Một bữa trời trăng
Buồn không thể nói
Cầm gương lên hỏi
Tóc bạc thưa rằng
Trời đất cách ngăn
Đừng mê con gái
Bực quá liền quăng
Tấm gương xuống đất
Vẫn nghe măi rằng
_ Đó là sự thật !
Ngao_0p
06-19-2002, 04:18 AM
Ai Đi Tu
Trời sầu đất muộn thế ru
Ban đầu em đă đi tu vội vàng
Chân trời oán hận tràn lan
Lỗi từ phương trượng u hàn niềm hoa
Bây giờ ngó lại người ta
Gẫm rằng thiên hạ ai là đi tu .
Ngao_0p
06-19-2002, 04:37 AM
Kính Thưa
Kính thưa công chúa Kim Cương,
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây .
Tờ thư rất mực móng dày,
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau?
Lạc loài đă rớt đi đâu,
Chiếc ch́a khoá mộng rực màu so le .
Ấy lời của tuyết của băng,
Ấy lời của mộng hàng hàng vu vơ .
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 01:41 PM
Bằng bút ch́ đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng
Bằng bút ch́ trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng
Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng giờ từng phút
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không .
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 01:44 PM
Quanh co phường phố gọi ḿnh
Sao ngôn ngữ bỗng tự t́nh quả nhiên
Cô đơn chứa đưng đầy miền
Cảo thơm tiền kiếp đầu tiên bây giờ
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 01:59 PM
Cũng vô lư như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Đời đă mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nh́n viễn tượng lúc đầu xanh
Buổi trưa đi vào giữa ḷng lá nhỏ
Tiếng kêu kia c̣n một chút mong manh
Ḍng nức nỡ như tia hồng đốm đỏ
Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
Lá cũng mất như một lần đă lỡ
Trời đă xanh như tuổi ngọc đă xanh
Trời c̣n đó giữa tháng ngày lỡ dở
Hồn Nguyên Tiêu ai kiếm lại cho ḿnh
oOo
Đường vất vă vó ngựa chồn lảo đảo
Cồn sương đi vào sương lạnh miên man
Bờ bến củ ngậm ngùi sông nước dạo
Đêm tàn canh khắc ngợi nguyệt gương ngàn
Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống
Ngón trên tay và tóc xoă trên đầu
T́nh đếm lại muôn vàn thôi đă uổng
Để bây giờ em có biết nơi đâu
Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa
Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng
Hồn cỏ hoa Phượng Thành Hy Lạp úa
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 02:08 PM
Em về mấy thế kỷ sau
Nh́n trăng có thấy nguyên màu ấy không
Ta đi c̣n gởi đôi ḍng
Lá rơi có dội ở trong sương mù ?
Những thương nhớ lạnh bao giờ
Đường thu chia ngă chân trời rộng thênh
Đây phồn hoa của thị thành
Đây hồn thuỷ thảo khóc t́nh ngữa ngang
Càn khôn xưa của riêng chàng
Xưa đài vủ trụ thiếp mang riêng ḿnh
Bây giờ đón bước em xinh
Sầu đau nhan sắc bất b́nh ra sao .
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 02:21 PM
Bóng mây trời củ hao ṃn
Chiêm bao náo động riêng c̣n hai tay
Tấm thân với mảnh h́nh hài
Tấm thân thể với canh dài bảo dông
Cá khe nước cơng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Ầm trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngữa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ h́nh hài của tiên nga trên trời
oOo
Bây giờ riêng đối diện tôi
C̣n hai con mắt khóc người một con .
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 03:13 PM
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Th́ cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng .
Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người
Xin chào nhau giữa bàn tay
Có năm ngón nhỏ phơi bày bóng con
Thưa rằng những ngón thon thon
Chào nhau một bận sẽ c̣n nhớ nhau
Xin chào nhau giữa làn môi
Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam
Thưa rằng bạc mệnh xin cam
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây
Xin chào nhau giữa bụi đầy
Nh́n xa có bóng áng mây nghiên đầu
Hỏi rằng : người ở quê đâu ?
Thưa rằng : tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng : từ bước chân ra
V́ sao thấy gió đàn xa dặm dài ?
Thưa rằng : nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng : đất trích chiêm bao
Sá ǵ ngẫu nhỉ mà chào đón nhau
Thưa rằng : ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên xuân .
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 04:24 PM
Một ngôi văn tinh kỳ, lạ lùng, quái đản vừa rụng trên bầu trời văn học. Chỉ cần nói như vậy th́ có lẽ bất cứ ai cũng biết ngay là thi sĩ Bùi Giáng vừa qua đời.
Trong ṿng nửa thế kỷ vừa qua, chưa có một nhà thơ nào tạo được một bóng dáng lồng lộng trên ṿm trời thơ như Bùi Giáng. Ông làm thơ, viết văn, b́nh luận về văn học, triết học, chuyển dịch nhiều tác phẩm văn chương của thế giới sang Việt ngữ. Tất cả đều theo một thể điệu riêng biệt của ông. Văn nghiệp của Bùi Giáng vô cùng đồ sộ. Nội chuyện làm một bảng thư mục Bùi Giáng cũng đ̣i hỏi chúng ta mất nhiều th́ giờ và công phu lắm, chứ chưa nói đến vấn đề ǵ khác.
Bùi Giáng có một sức đọc và viết vô cùng kinh khủng. Viết liên tu bất tận, ngưng viết th́ đọc, ngưng đọc th́ viết. Đọc sách Tây, sách Tàu, Đức ngữ, Anh ngữ, Pháp ngữ. Cái lạ lùng vô cùng quí báu mà Bùi Giáng mang lại cho chúng ta chính là sự uyên bác, tài hoa, thâm trầm, bí ẩn của ông, tất cả đều nhào biến một cách vô cùng tự nhiên rồi hiện ra trong một vẻ giản dị tài t́nh của một tâm hồn và ngôn ngữ Việt. Trước bế tắc tư tưởng của phương Tây cùng sự tràn lan của chủ nghĩa hư vô, ông đă trở về với ngọn nguồn phương đông nhất thể, trở lại với cái hài hoà của đạo tự nhiên, đạo vũ trụ, mộc mạc, sơ nguyên, ẩn mật nơi tư tưởng Trang, Lăo, Thiền, để nối kết những phân ly nứt rạn càng lúc càng vô cùng trầm trọng. Ông gom hết mọi chuyện lại rồi đưa đẩy tuôn trào thành một chuyển động tư tưởng bát ngát, một ḍng thơ yêu kiều, thâm thuư.
Tư tưởng và chất thơ cổ kim đông tây tuôn chảy qua tâm hồn Bùi Giáng, biểu hiện thành một ḍng thơ độc đáo và tuyệt vời nhất mực. Tinh thể thi ca di động qua một vài đỉnh núi chon von cô độc như Nguyễn Du, Holderlin Heidegger, Nietzche, càng bát ngát hơn khi chuyển động qua hồn thơ mênh mông của Bùi Giáng. Mỗi chữ, mỗi lời, từng câu từng tiếng đều là thơ. Lời nói thiệt với tinh thể của ngôn ngữ là thơ, mà lời nói dỡn chơi duới chiếc áo dùng dằng của ngôn ngữ cũng là thơ. Đi, đứng, nằm, ngồi, cười khóc, vui đùa đều là thơ. Lúc không điên là thơ, mà lúc điên vẫn cứ là thơ. Đi cho tới cùng cái sâu thẳm nhất của ngôn ngữ, tới đỉnh cao chót vót của nó, sống với nó trong từng mỗi giây phút, trong từng mỗi sát na, xưa nay có lẽ mới chỉ mới có Bùi Giáng là một.
Từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng, đường bay của thơ thực là kỳ diệu, mênh mông, vô lượng. Ông là chiếc bóng của Nguyễn Du, hay chính ông đă đẩy Nguyễn Du đến tận cùng thể tính của thi ca, làm lồng lộng, chất ngất một hồn thơ nước Việt.
Sống với thơ, giỡn chơi với ngôn ngữ để tạo nên thơ. Chữ nghĩa của Bùi Giáng lúc nào cũng có một điều ǵ đó rất dị thường. Ông chỉ cần sắp đặt những đề tựa từ mục lục một tập thơ của một tác giả khác th́ đă mang lại cho chúng ta một bài thơ tuyệt đẹp. Nhưng sắp đặt và xô đẩy chữ nghĩa phải là theo cách của ông, chớ không thể của người nào khác được. Hay ông ngắt câu, ngắt đoạn từ một bài thơ lục bát của một người làm thơ khác, biến đổi h́nh thức thành một bài thơ tự do, tức thời bài thơ ấy sẽ trở nên vô cùng kỳ dị và đẹp đẽ lạ lùng. Rất nhiều người làm thơ đă biến đổi thể thơ lục bát 6/8 thành 3/3/2/6, 4/2/6/2, hay 2/4/8, hay 6/4/4, hay c̣n biến đổi nhiều hơn nữa thành 1/2/3/2/2/2/2 th́ có lẽ là đều bắt nguồn từ cách giỡn chơi của Bùi Giáng.
Cuộc đời Bùi Giáng và thơ của ông, ngay từ bước khởi đầu dường như đă có nhiều điều bất thường :
Lỡ từ lạc bước chân ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa cuối cùng
Gần đây, thân nhân Bùi Giáng xuất bản tập thơ "Chớp Biển", kỷ niệm Bùi Giáng vừa đúng 70 tuổi, giúp cho chúng ta nhiều dữ kiện để hiểu biết ông hơn. Hiểu một tác giả qua cuộc đời và hoàn cảnh sống của tác giả ấy như phương pháp phê b́nh của Saint Beuve vẫn c̣n là một trong những cách thẩm thấu với văn chương rất thông t́nh đạt lư. Bà Bùi Giáng qua đời cách đây hơn nửa thế kỷ, cảnh ly tan đó đă xô đẩy Bùi Giáng đến những đổ vỡ cùng cực. Bóng dáng người nữ ám ảnh ông suốt đời, để rồi từ đó ông sẽ nghiệm ra được một cách vô cùng sâu thẳm về tính nữ, về nguyên lư mẹ. Nói như Nguyễn Xuân Hoàng, ai cũng cần một bà mẹ. Bà mẹ đó cũng thể hiện ra trong một bóng dáng khác là người chị, cô em gái nhỏ hay chính là đứa con gái của ḿnh. Tất cả cái thiêng liêng và tục luỵ của mẫu người nữ đă biến hiện chập chùng qua h́nh ảnh người vợ, để rồi chuyển động nhiều hơn mà trở thành bà mẹ uyên nguyên của đất trời.
Nhiều lúc ông kể lể nghiêm trang, đạo mạo, có lúc lại đùa giỡn, cười cợt với h́nh bóng các mẫu thân, tuy vẫn có pha đôi chút ngậm ngùi :
Mẹ về trong cơi người ta
Một hôm mẹ gọi con ra bảo rằng
Trần gian vui sướng lắm chăng ?
Hay là đau khổ hỡi thằng chiêm bao.
Giữa những vần thơ điên của ông, đôi lúc chúng ta sẽ t́m thấy những câu thơ vô cùng kỳ diệu nói về bà mẹ thiêng liêng ấy, tất cả đều như rạo rực, sinh sôi, triển nở.
Một hôm nào em mở cửa đầu khe
Và bữa đó đến bây giờ cỏ rạ
Thi nhau mọc mặt trời lên lả tả
Bông lúa chín trong rừng kêu tiếng lá
Chóc chim xanh đ̣i đẻ trứng bây giờ.
Nhắc đến các h́nh ảnh mẫu thân của Bùi Giáng, tôi cũng muốn nhân đây chép thêm mấy câu thơ rất đẹp của ông về cô em gái nhỏ, mà đọc lên hẳn rằng chúng ta dễ liên tưởng ít nhiều đến người vợ cũ năm xưa đă chia ĺa với ông quá sớm, khi họ vừa mới cùng nhau bước chân vào đời. Dĩ nhiên, cô em gái nhỏ ấy cũng có thể là một trong những người nữ Bùi Giáng tiếp tục gặp về sau :
Em là em anh đợi khắp nẻo đường
Em có nụ cười buồn buồn mây mọng
Em có làn mi khép lá cây rung
Em có đôi mắt như sầu xanh soi bóng
Hồ gương ơi ! sao sóng lục vô chừng !
(. . . )
Em ở lại với đời ta em nhé
Em đừng đi cho ta nắm tay em
Ta muốn nói bằng thơ bay nhẹ nhẹ
Vào trong mơ em mộng giấc êm đềm
Ta sẽ đặt mười ngón tay lên mắt
Để nh́n em qua khe hở du dương
Ṿng theo máu hai ṿng tay khép chặt
ồ thưa em ta thấy mộng không thường .
Cái tang bà Bùi Giáng đóng đinh suốt đời ông. Rồi cùng lúc, ông gặp nhiều điều bất ưng ư giữa một thời đại mà bạo lực là phương tiện hàng đầu của con người.
Thời kháng chiến, ông đi chăn ḅ giữa những đồi sim ở một vùng rừng núi nào đó giữa miền Trung đất nước, để tự thấy ḿnh là một thứ Tô Vũ của thời đại. Ông kết những ṿng hoa dại đeo vào cổ ḅ, cổ dê, và đùa giỡn suốt ngày với đàn thú hiền từ. Cho ḿnh là Tô Vũ, có lẽ đó cũng là một cách Bùi Giáng nói cho chúng ta biết ông là người bị lưu đày ngay chính nơi quê nhà của ḿnh chứ không cần biệt xứ nơi đâu. Sau này, thỉnh thoảng ông cũng nhẹ nhàng vẽ lại cho chúng ta thấy đôi chút cảnh quan rùng rợn, tang thương của những ngày ấy :
Hăi hùng bi kịch đồi tranh
Trùng quan vó ngựa tế nhanh trong mù
Thây người ở nát phía sau
Ngh́n thu khép mắt khổ đau khôn hàn .
Rồi ḥa b́nh được lập lại, nhưng Bùi Giáng không c̣n thể nào trở lại sống cuộc đời b́nh thường như chúng ta nữa. Những chấn động dữ dội của thời tuổi trẻ đă góp phần dồn đẩy ông tới bờ vực chon von. Định mệnh đă chọn ông là một thiên tài điên của của dân tộc, đẩy ông bước chân theo Nguyễn Du, để ông kết bạn với Gérard de Nerval, Saint Exupéry, Khuất Nguyên, Tô Đông Pha, Apollinaire, André Gide, Camus, René Char, để đôi khi nghiêm trang đàm đạo với Khổng Tử, Heraclite, Parménide để sống cuộc đời quỉ khốc thần sầu của một cuồng sĩ ngoài chợ, và tuyệt vời nhất vẫn là viết để lại cho đất nước những ḍng thơ kỳ diệu độc nhất vô nhị.
Cuộc đời Bùi Giáng và thơ Bùi Giáng chỉ c̣n chập chùng lên nhau giữa những giấc chiêm bao, phù du, mộng mị. Ông sống ở đời lúc tỉnh lúc điên : lúc tỉnh đă là chiêm bao nhưng lúc điên th́ càng là chiêm bao quá cỡ. Trước năm 75, thỉnh thoảng ông mới lên cơn điên nhưng sau năm 75 cơn điên kéo dài lâu quá. Bà Irina, một phụ nữ Nga có nhiều liên hệ thân thiết với Việt Nam, khi gặp Bùi Giáng đă lặng lẽ tuôn chảy những ḍng lệ nóng hổi cho một thiên tài mà bà nh́n thấy như h́nh bóng một Diogène thời đại, cầm cây đuốc đi giữa ban ngày để t́m chân lư. Chân lư đă bị khuất lấp cả hai mươi thế kỷ rồi, chứ phải đâu chỉ là những ngày trước mắt. Vậy nên, nơi chiếc bàn viết lữ thứ, khi cầm bút viết lại để sống đời của một nhà văn lưu vong, Mai Thảo nhắc đến Bùi Giáng, phác thảo đôi nét về Bùi Giáng rất hay, sống động và tài t́nh, nhưng tôi cho là Mai Thảo rất nhầm lẫn khi qui tội điên của Bùi Giáng cho những nguyên nhân thời đại :
Và ở Sài G̣n vẫn c̣n Bùi Giáng
Tối tối về chùa đêm làm thơ
Ngày ca múa khóc cười giữa chợ
Kẻ sĩ điên thế kỷ mù rồi .
(Mai Thảo, Viết văn trở lại)
Hăy thử đọc lại vài câu thơ sau của Bùi Giáng tự nói về ḿnh. Ông gần như luôn sống giữa một lớp sương mù dày đặc của những giấc mộng chồng chất. Ông sống như một ông đạo, như một trích tiên, như ma quỉ hay như một đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ đến cùng cực :
Đi về với gió phù du
Mở trang mộng mị cho mù sa bay .
Quê nhà chỉ c̣n là giấc mộng đă qua, thân thế cũng chỉ là một nỗi đời hư huyễn :
Hỏi tên, rằng biển xanh dâu
Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đă xa
Gọi tên, rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm !
Ông đă tự hỏi và rồi tự đáp về tên tuổi và quê hương thực của ḿnh :
Hỏi tên ? - Cổ lục phong trần
Hỏi quê ? - Mộng tưởng tiền tŕnh bơ vơ
Ông luôn lập đi lập lại ư tưởng ấy khi có dịp :
Hỗn mang về giữa hiên nhà
Bây giờ cố quận tên là chiêm bao
Cái thế giới chiêm bao mộng mị ấy, có lúc ông chợp bắt được thành những câu thơ rất đẹp :
Ta đă gọi chiêm bao về mộng mị
Chắp ân t́nh cho nghĩa rộng tinh sương
Về tuế nguyệt bước ngao du tận mỵ
Người có nghe tang hải réo vô thường ?
Sống và mơ mộng giữa thế giới đó, ông vác cần câu đi câu con cá hư vô ngoài biển đông :
Tôi làm Nam Hải Điếu đồ
Ngồi câu con cá hư vô giữa trời
Ông yêu mến, quí trọng từng đốm nhỏ li ti của trời đất và sự sống, từng cây cỏ dại, từng cánh bướm, cánh chuồn chuồn :
Xin yêu măi và yêu nhau măi măi
Trần gian ôi ! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.
Khi tỉnh táo mà viết được Tôi nói điệu điên rồ / ấy là vui vậy th́ quả là ông đă thoát ra khỏi mọi phiền trược của cuộc đời, chẳng c̣n câu chấp ǵ cả, ông sống hoan hỉ như một đứa trẻ với một nguồn thơ tinh khôi, hồn nhiên, đầy hoan lạc.
Đọc thơ Bùi Giáng để cảm cái t́nh và cái ư của nó, để sống cái thâm diệu của tư tưởng đă hé mở và như luôn hứa hẹn một cơi mênh mông bát ngát dị thường sau đó. Đọc thơ ông cũng là để thưởng thức chữ dùng cực kỳ tài t́nh của ông. Có những chữ rất thông tục, tầm thường, nhiều khi chúng ta không muốn sử dụng v́ không được nhă, nghe hơi nặng tai. Vậy mà khi những chữ ấy rớt vào tay họ Bùi, không cần tỉa gọt trau chuốt ǵ cả, chỉ xô đẩy tự nhiên như hít vào thở ra, th́ nó sẽ trở thành thơ. Hăy đọc thử bốn câu thơ sau, chúng ta sẽ thấy ngay cái tài hoa lạ lùng của Bùi Giáng khi biến đổi một chữ tầm thường thành chữ của thơ như thế nào. Ông phả vào chữ cái tài hoa ẩn mật của hồn thơ để mang lại cho nó một sức mạnh vô cùng kỳ bí :
Người con gái lội qua khe
Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau
Bàn chân với nước cùng nhau lại đè .
Chữ khe, rồi lại chữ đè thực là đắc địa. Dùng chữ đến như vậy th́ không c̣n là viết văn, làm thơ nữa, mà là thợ trời của chữ. Ngay khi ông lên cơn điên, nhưng chưa điên quá độ, mà mới chỉ trôi nổi giữa những cơn điên nhẹ, ông cũng mang lại cho chúng ta những câu vần vè quàng xiên rất vui vẻ. Nhớ lại những ngày đi chăn ḅ chăn dê giữa núi rừng, thời trai trẻ rồi liên kết với việc làm thơ và một số h́nh ảnh khác, tức thời những h́nh ảnh và các con chữ sẽ xô đẩy nhau. Ông viết mấy ḍng sau, như một bức tranh của trẻ con vẽ, không đầu không đũa, không luật tắc, thấy và thích ǵ th́ cứ quẹt bừa, cứ bôi bác bừa những vệt màu đường nét, vậy mà sẽ mang lại cho người xem nhiều điều lư thú :
Làm thơ như thể chăn trâu
Chăn ḅ, chăn ngựa ngơ hầu chăn dê
Chăn hùm thiêng mệt chán chê,
Chăn beo, chăn gấu, nghiệp nghề chăn voi.
Đi vào cơi thơ Bùi Giáng, bên những cơn điên dài của ông, giữa những cơn chiêm bao mộng mị, đôi lúc thấy ông điên vậy mà nh́n kỹ lại th́ ông chẳng điên chút nào. Vậy nên, có nhiều người cho là Bùi Giáng không điên, như Viên Linh cho rằng ông chỉ chọn một thái độ sống như vậy mà thôi. Trước thế giới Bùi Giáng, chúng ta như đứng nơi một ngă ba đường, hay giữa những lối ṃn trong rừng thẳm mà cần phải chọn một hướng đi, mỗi người phải tự định hướng cho riêng ḿnh.
Riêng tôi, lúc nào tôi cũng thấy Bùi Giáng là một thiên tài điên. Điên nhưng rất hiền hoà, rất thơ mộng, điên như thánh. Giữa những cơn điên kéo dài lâu quá, ông như không c̣n phân biệt cái thực và hư. Có một bữa, ông đ̣i tôi chở về một căn nhà nào đó bên miệt Phú Nhuận để ông cho vịt ăn, v́ nhiều ngày quá rồi ông chưa trở về chắc là vịt đói lắm. Trên căn gác tôi đưa ông về, ông rào một chuồng vịt khoảng mấy thước vuông ông ném gạo cho vịt ăn, nói nói cười cười rất hoan hỉ, nhưng đàn vịt ấy chỉ toàn là một bầy vịt bông nhựa. Trước năm 75, tôi gặp ông rất thường v́ mỗi buổi chiều rảnh rỗi tôi thường ghé Đại học Vạn Hạnh viếng thăm thầy Tuệ sĩ rồi cũng tạt qua thăm ông. Lúc nào cũng thấy ông làm việc, nằm ở một góc nhà, chung quanh đầy sách vở, đọc đọc chép chép không ngừng nghỉ. Ngoài những cơn cuồng, Bùi Giáng rất lặng lẽ, ghét chuyện thị phi, tranh chấp ô trọc. Tôi c̣n nhớ khoảng năm 1971, tuần báo T́m Hiểu của cô Phan Lâm Hương (con gái út cụ Phan Huy Quát) có thực hiện một cuộc nói chuyện với Bùi Giáng rất hay và nghiêm trang, có thể giúp cho người đọc chia sẻ được nhiều điều với Bùi Giáng. Nhưng sau đó th́ có vấn đề, v́ bài báo ấy mà một thi sĩ khác, cũng là loại cô phong đỉnh của ṿm thơ Việt Nam hiện đại, gây hấn với Bùi Giáng quá cỡ. Bùi Giáng sau đó rất sợ mấy nhà báo. Ông than phiền hoài, cho rằng mấy ông làm báo đă kéo Bùi Giáng vào việc thị phi ở đời, từ đó ông không c̣n muốn gặp mấy người kư giả, viết báo thường thích gây chuyện chộn rộn ở đời.
Bùi Giáng tránh né chuyện thị phi, và ông rất ghét bạo lực, bạo động, bạo quyền. Hơn 25 năm trước, tôi thấy ông nuôi một đàn chó nhỏ, đi đâu cũng dẫn theo làm chúng sủa vang các hẻm đường, có lúc ông cho hết vào bao bố và vác trên vai làm chúng cũng muốn ngất ngư, ngộp thở, chỉ c̣n kêu hục hục trong bao. Có lần ông để quên đàn chó ở nhà bà Bé Kư cả tuần lễ làm Bé Kư phải nuôi ăn và chăm sóc rất mệt, hở tay ra là chúng sủa vang nhà không ai chịu nổi. Đàn chó này, mỗi con đều có tên, và tôi rất kinh hoàng thấy ông gọi con chó xấu xí, nhếch nhác nhất trong đám bông tên nhân vật số một của lịch sử hiện đại. Và sau năm 75, chẳng lạ ǵ khi mà cứ những chỗ đông người, chợ búa xô bồ, cuồng sĩ họ Bùi thường đứng diễn thuyết, hùng hồn kể tội cụ Hồ Chí Minh và dàn cầm quyền chóp đỉnh hiện nay.
Tôi cũng c̣n nhớ, có lần nói chuyện với ông, tôi mới chỉ lỡ lời nhắc đến các nhà nho cách mạng đất Quảng, hai cụ Phan Tây Hồ, Huỳnh Thúc Kháng, th́ ông tức giận rồi lên cơn điên ngay, chộp lấy cổ áo tôi, gần như muốn xô tôi xuống từ lầu ba trường Vạn Hạnh.
Qua mấy chuyện nhỏ này, tôi cảm thấy rằng, Bùi Giáng chỉ muốn sống với mọi người trong một thế giới hài hoà, an lạc. Đua tranh rồi bạo động chỉ là mầm mống của phân ly, mất quân b́nh và rối loạn. Ông yêu thích cuộc sống lặng lẽ tự nhiên, như một đôi lần tôi thấy ông len lén chào mấy người đệ tử của ông Đạo Dừa với một vẻ hỉ hoan bất tận bộc lộ ra trên khuôn mặt. Ông chào rất kính cẩn mấy ông đạo này, những người đă tự phát nguyện tịnh khẩu vài ba năm, có người quyết tịnh khẩu cho đến khi nào hoà b́nh được lập lại mới sẽ mở miệng, cất tiếng với đời.
Bên trên là vài giai thoại về Bùi Giáng bởi v́ đề cập dến Bùi Giáng mà không nhắc qua các giai thoại dính dáng đến ông th́ quả là thiếu sót. Mới đây, trên Việt Báo Kinh Tế số ra ngày 17 tháng 10 năm 1998, ông La Toàn Vinh, cựu sinh viên Trường Mỹ Thuật Gia Định nhắc lại vài h́nh ảnh Bùi Giáng mà ông bắt gặp ở Sài G̣n trước đây, đọc rất vui. Đọc đến chỗ khi Xuân Diệu diễn thuyết trong khuôn viên Trường Mỹ Thuật, ông đi tới đi lui ngoài cổng trường và chửi đổng : " Mẹ mày Xuân Diệu... Mẹ mày Xuân Diệu... ", tôi phải cười ph́ và nhớ ngay đến dáng đi, điệu nói, tiếng cười của ông.
Có thể không cần đọc Bùi Giáng, mà chỉ cần nghe những giai thoại về ông th́ cũng đủ để sống được chất thơ và đời thơ của Bùi Giáng. Những giai thoại như thế, nếu cất công đi ghi chép lại nơi bạn hữu, thân nhân của Bùi Giáng và trên khắp đường phố Sài G̣n th́ có lẽ chúng ta sẽ có cả một quyển sách dày như tự điển, góp phần phong phú đời sống văn học đất nước trước mắt và cho cả mai sau.
Chúng ta vừa đi qua một vài nơi giữa khu vườn bát ngát mênh mông của cơi thơ Bùi Giáng. Khi viết bài này, tôi rất tiếc là không có trong tay tài liệu ǵ về Bùi Giáng, chỉ đành nhặt nhạnh mấy câu thơ nơi các bài báo gần đây, tuy nhiên cũng hi vọng là đă vẽ phác được đôi nét về ông, làm sống lại đôi chút h́nh ảnh một thiên tài của dân tộc.
Bùi Giáng là thiên tài nhưng là một nhà thơ điên, v́ vậy ông viết quàng xiên nhiều quá. Nhưng cũng chẳng hề ǵ, mấy ngàn trang sách của ông chỉ cần lọc lại thành một tập thơ nhỏ, rồi với tập thơ ấy chỉ cần tinh lọc thêm một lần nữa để chỉ c̣n lại chừng mươi bài, th́ với mươi bài thơ ấy ông cũng đă là một nhà thơ lớn bậc nhất của thời hiện đại, một v́ sao lấp lánh rạng rỡ hoài trên ṿm trời thơ của dân tộc Việt.
Huỳnh Hữu Uỷ
( Viết xong ở gác nhỏ đường Hồ TâyThành phố Vườn, ngày 19.10.1998 )
oOo
Tái bút : Bài viết trên đây đă gửi đi để kịp chuẩn bị sắp chữ và lên khuôn th́ t́nh cờ tôi vừa t́m lại được tờ Tạp chí Thơ số ra mắt vào mùa Xuân 1994 có in một bài viết rất hay của Thanh Tâm Tuyền về Bùi Giáng cùng với hai bài thơ của Bùi Giáng. Tôi chẳng thể nào không viết thêm mấy ḍng tái bút này, dù biết có làm phiền hà toà soạn trong việc sắp xếp lại trang báo trước khi đưa đi in, để trích lại ở đây một đoạn văn của Bùi Giáng mà Thanh Tâm Tuyền đă trích dẫn cùng một bài thơ của Bùi Giáng mà Tạp chí Thơ đă chọn để in lại.
Đây là bài thơ Bao giờ của Bùi Giáng :
Bằng bút ch́ đen
tôi chép bài thơ
trên tường vôi trắng
Bằng bút ch́ trắng
tôi chép bài thơ
trên lá lục hồng
Bằng cục than hồng
tôi đốt bài thơ
từng giờ từng phút
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe người khóc có ngờ chi không.
Quả là một bài thơ tuyệt đẹp với những h́nh ảnh tự động xô đẩy đuổi bắt nhau. Những h́nh ảnh chuyển động trên một đường biên của hữu thức và vô thức. ảnh tượng và sắc màu rất cụ thể mà rơ ràng là vô thực và đầy mộng mị. Tất cả là để dẫn đến một dấu hỏi về cuộc đời và ư nghĩa nhân sinh, đầy khúc mắc mà nhẹ nhàng, tế nhị, và vô cùng bao dung. Có thể nói đó là một bài thơ siêu thực hiện đại mà vẫn chứa chất một cái hồn cổ kính thơ mộng.
Và đây là mấy ư kiến về thơ của Bùi Giáng mà Thanh Tâm Tuyền đă dẫn :
"Thơ là một cái ǵ không thể bàn tới, không thể dịch, diễn th́ được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng lời thơ. Th́ có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, hoặc một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện sự đó, th́ ngoài việc làm thơ ra, con người không c̣n phép ǵ khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác.
Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ, chứ không điên rồ mà bàn luận về thơ. Người đời nay trái lại, họ buộc phải luận thơ có mạch lạc luận lư, không được "bốc đồng", vịnh lăng nhăng. Cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghị vậy.
Thơ tôi làm chỉ là một cách d́u ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm băo dông một lúc th́ lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá ṿng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu, chuồn chuồn, đem phó thác thảm hoạ trần gian cho chuồn chuồn mang trên cánh bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng một vong hồn bát ngát, rồi quay về đồng ruộng làm mục tử chăn trâu.... Trong chiêm bao thơ về lăng đăng th́ từ đó vần bất tuyệt cũng lăng đăng chiêm bao."
Có lẽ chưa từng có ai bàn về thơ với giọng điệu dị thường như vậy. Ông đă mở ra một cơi mênh mông, thăm thẳm cho thơ, và mời gọi người ta bước vào. Và tôi hết sức đồng ư cũng như thích thú với mấy lời của Thanh Tâm Tuyền :
"Đừng có nghĩ, hăy buông mặc theo ông, như ông đă từng buông mặc trong trận đồ kẻ trước. Ông luôn luôn nhắc nhở nơi ông là những bóng vang ai khác. và ta hăy là bóng vang của ông".
Xin cảm ơn thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, chỉ với bài viết Bùi Giáng, một hồn thơ bị vây khốn rất ngắn của ông, đă soi sáng cho tôi nhiều điều về cái sâu thẳm không cùng của nhà thơ Bùi Giáng. Vậy th́, hăy bước vào cơi thơ Bùi Giáng bằng cách trút bỏ tất cả hệ luỵ, vứt bỏ cả những phân tích, phê b́nh, lư luận để mà hít thở và mơ mộng cùng ông, để phiêu bồng cùng ông qua những chân trời không cùng
Huỳnh Hữu Uỷ .
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 04:34 PM
Ngày nay ngày mai hay ngày mốt
Tôi gặp lại người trong cốt cách phiêu linh
Ngày xưa tuyết bạch bất b́nh
Đă từng vô tận tâm t́nh đi hoang
Ngày hôm nay hôm nọ hôm nào
Người đă kể một lần cho tôi biết
Niềm đau đớn xót xa như vĩnh quyết
Niềm điêu linh như vĩnh biệt muôn đời .
Tôi về giữ mộng mù khơi ,
Kết thành vinh tượng cho đời chiêm bao .
( Đêm Ngắm Trăng )
Kie^'n ca^.n
07-07-2002, 04:49 PM
Nằm giữ vườn cây nhớ bốn trời
Ba bề bảy ngơ nhớ muôn nơi
Tưởng chừng thiên hạ menh mông qúa
Mà thơ ta chỉ có vài lời
Tặng người có nhận hay không ?
Thong long lá lục hoa hồng
Trái soài vàng ửng nắng lồng sương mai
Tôi nằm ở giữa vườn cây
Tấm ḷng men rượu từ nay chịu chừa
Điên cuồng nhảy múa sớm trưa
Từ nay chấm dứt - thượng thừa hoàng trang .
( Đêm Ngắm Trăng ) .
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:34 PM
Ăn Mặc Nâu Sồng
Thấy nàng ăn mặc nâu sồng
Bỗng mơ tưởng tới ruộng đồng hoang liêu
Lầu xanh dứt nhịp phù kiều
Tà xiêm bạo động tư triều giậy cơn
Nâu sồng ăn mặc sớm hôm
Đêm nằm ngó nguyệt sáng ḍm song the.
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:36 PM
Anh Em
Anh thương em như thương một bà trời
Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ
Kể ra từ bấy tới giờ
T́nh yêu phảng phất như tờ giấy rung
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:37 PM
Áo xanh
Lên mù sương, xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Th́ xin cứ để bóng chiều đi qua
Biển dâu sực tỉnh giang hà
C̣n sơ nguyên mộng sau tà áo xanh .
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:39 PM
Bé Con Ơi
Rong rêu ngày tháng rong chơi
T́m xuân tinh thể chốn nơi nào là
Sưu tầm túy vũ cuồng ca
Hồn nhiên như thể như là hài nhi?
Chiêm bao tóc thuận tơ tùy
Tồn sinh nặng nhọc nhu mỳ ở đâu
Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
Dịu dàng cuối lá đầu hoa
Mười về châu lệ chín sa ḍng ḍng
Miêu Cương mạc ngoại hoài mong
Hồng hoang chín bệ tấm ḷng đầu thai
Mùa xuân hiện giữa ngàn mai
Nguyên h́nh Nữ Chúa trên ngày phù du.
thơ Bùi Giáng
Thế Kỷ 1994
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:40 PM
Bờ Lúa
Em chết trên bờ lúa
Để lại trên đường ṃn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
Anh qua miền cao nguyên
Nh́n mây trời bữa nọ
Đêm cuồng mưa khóc điên
Trăng cuồng mưa trốn gió
Mười năm sau xuống ruộng
Đếm lại lúa bờ liền
Máu trong ḿnh ṃn ruỗng
Xương trong ḿnh ră riêng
Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:41 PM
Bữa Nay Ruộng Nhớ
Ruộng đồng mọc lúa
Ruộng đồng mọc lúa quanh năm
Em về đại lộc tôi nằm B́nh dương
K ra hai nẻo lộn đưng
Sầu riêng châu chấu một nưng năm xưa
Ruộng đồng không mọc
Ruộng đồng không mọc lúa mùa
Từ hôm cánh tr¡ng c̣ lưa tiếng buồn
đêm nào nhỏ giọt khe mương
đêm này rớt hột mù sương bây gi .
Bữa nay ruộng nhớ
Bữa nay ruộng nhớ lưng tri
Thông ngàn lũng tạ núi ngồi chiêm bao
Ra đi mang hận hội nào
Cổng xô c̣n vọng điệu chào bay ngang.
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:44 PM
Cây Cỏ Giậy Th́
Em đi cây cỏ giậy th́
Ngày xuân vô lượng cùng đi lên đường
Trùng lại giây phút phố phường
Niềm vui quá khứ phi thường hồi sinh
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:47 PM
Chào Em
Chào em? có lẽ chẳng nên
Nói ǵ nữa cả? giữa đêm tối ṃ!
Chào em tính mệnh so đo?
Chào em tính thể ṭ ṃ tuyết vân?
Ấy xa xuôi? ấy gũi gần?
Từ từ tự hỏi, tần ngần em sẽ thấy ra
Đi về trong cơi người ta
Người là người lạ ta là quá quen?
Anh từ thể dục dưỡng điên
Thành thân thơ mộng thiên nhiên một giờ
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:48 PM
Chuyện chiêm bao (15)
Bàn chân em bước du dương
V́ em đi lúc gió đương bay về
Đường quanh quẹo lối ven khe
Xuống lên lớp lớp sơn khê dịu dàng
Xuống rừng em bước vào thôn
Viếng thăm thôn nữ thành thân láng giềng
Thôn làng từ thuở đầu tiên
Ước mơ thấy một nàng tiên về làng
Tôi từ khởi bước lang thang
Gặp bao tiên nữ muôn vàn tái lai
Tái sinh rất mực đầu thai
Hỏi tôi có biết một ai ấy là?
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:49 PM
Chuyện Chiêm Bao (ba)
Bất khả tâm giao bất khả ngh́
Hỡi ôi thần phách thất uy nghi
Màn trời chiếu đất đêm ngày ngủ
Đường đất thôn làng năm tháng đi
Cố gắng trăm năm t́m kiếm măi
Mỏi ṃn ngh́n mối thể thân ly
Đoạn trường từ đó thành số dzách
Ngao ngán bất ngờ ngọt một cây
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:50 PM
Chuyện chiêm bao (7)
Sương xuân về với nguyệt nguyên tiêu
Trúc thạch u trầm tỏa hắt hiu
Thảng sử thần ly kiêm phách lạc
Cầm bằng sự đổ dữ tâm xiêu
Chịu chơi gường gạo đỡ buồn chút
Gay cấn trầm phù trướng tịnh liêu
Số dzách đoạn trường là nhứt thể
Một cây phức tạp ấy muôn điều
Đười ươi giũ áo t́nh phong nhă
Khỉ đột trút quần tưởng Việt siêu
Thôi nhé từ đây tới đâu đó
Thanh lâu phồn thịnh ngọc tiên tiêu
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:51 PM
Chuyện Chiêm Bao (4)
Bấy nay dưới nguyệt tưởng gần xa
Tượng thể chan ḥa quỷ ghẹo ma
Thao thức bây chầy thơ dội măi
Tuyệt vời từ đó mộng tuôn ra
Thịnh triều cơ sở tầm vô mịch
Chiến trận trường kỳ cứu thất tra
Những tưởng tầm sưu sương sái diện
Nào ngờ khai thác tuyết khuynh hoa
Ôi thôi mộng mỵ thần ly thánh
Bào háo vô năng tái lập ṭa
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:53 PM
Chuyện chiêm bao (9)
Đêm nằm thao thức tới b́nh minh
Nửa khóc nửa cười quỷ hóa tinh
Ú ớ liên tồn vi diệu ngữ
Ầm ừ tục tiếp quái quỷ thanh
U căn ẩn đế vô tâm xứ
Đảo phụng điên hoàng hữu xưng danh
Tồn lư lao đao tiền diện khuếch
Măn sàng nhiệt huyết khả kham thinh
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:54 PM
Chuyện Chiêm Bao (2)
Đêm đêm anh ngủ màn trời
Nằm trên chiếu đất dịch dời tủy xương
Tủy xương dời dịch tuyết sương
Trùng quan thu tóm về vườn giá băng
Mồ hôi sa mạc hằng hằng
Đổ ra thánh thót cản ngăn bốn mùa
Nắng mưa dù thiệt dù thua
Thiệt thua thù thắng thượng thừa thành thân
Bấy nay kẻ Việt người Tần
Bấy nay dưới nguyệt đếm gần đếm xa
Đếm lui đếm tới đời ta
Đếm từ mạt thế đổi ra thịnh triều
Bất ngờ dừng sững đến điều
Hồng hoang thái thậm hoang liêu dại khờ
Đầy vai địa lư chép tờ
Thơ về quá muộn tóc tơ điêu tàn
Trời màn đất chiếu hỗn mang
Sầu đi hỗn độn quá quan điệu chào
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:56 PM
Chuyện chiêm bao (1)
Mông mông trời nước tán thành
Mưa thu cây cối cúi nh́n hoàng hoa
Hoàng hoa Khuê Nữ đậm đà
Sơ khai đậu khấu mặn mà tái sinh
Đi qua tuổi trẻ một ḿnh
Giữa mùa hoa cúc th́nh ĺnh rét run
Lá cồn khe khẽ nỗi buồn
Trần gian tưởng niệm cỗi nguồn tương lai
Ngồi bên bến, tựa gốc cây
Ngó chuồn chuồn lượn đầu ngày đầu hôm
Sầu Riêng Măng Cụt hội đàm
Lái Thiêu hương mật chảy tràn môi nhau
Nhe răng thánh thót càu nhàu:
Anh đừng bóc lột mận đào hớ hênh
Cằn nhằn từ dưới tới trên
Từ sau tới trước ghi tên tuổi vàng
Tuổi vàng tên ngọc ngửa ngang
Trầm phù hạnh phúc chứa chan lệ ngà
Yêu đào từ mọc cành thoa
Ngần sương Thúy Đạm vừa sa dấu bèo
Thien Sat Ma Yeu
12-19-2003, 05:56 PM
Chuyện Chiêm Bao (13)
Rừng đêm lá rụng liên miên
Bên bờ suối ngọc nàng tiên một ḿnh
Nàng về từ cuối chân mây
Giữa đêm nàng tắm suối này suối kia
Nàng có mặc áo mặc quần
- Đây là rất mực giữa rừng
Chẳng ma nào thấy, nàng ngần ngại chi
Cởi phăng quần áo ra đi
Suối rừng mát mẻ chờ nàng tắm cho
Chẳng ma nào ngó thấy đâu!
Ngại ngùng ngượng nghịu? V́ c̣n có tôi?
Nhưng tôi đâu phải là ma?
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:37 AM
Chuyện Chiêm Bao (12)
T́nh yêu như mộng thương như tiếc
Xúc cảm tợ tơ tóc tợ sầu
Ân nghĩa thâm trường ngày theo tháng
Buồn đau sâu thẳm nguyệt mờ sao
Đêm ngày tưởng niệm tâm như vượn
Nhảy múa hú vang sắc loạn màu
Viết măi một bài thơ chẳng dứt
Dằng dai gọt dũa đẽo từng câu
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:38 AM
Chuyện Chiêm Bao (11)
Lá cây ngọn cỏ thật bơ vơ
Mỗi lúc gió về mới sởn sơ
Cúi rạp ḿnh tung lên một lúc
Ngửa ngang lá dí xuống lô xô
Nhánh cành quấn quưt t́nh thắm thiết
Giông gió giập đè nghĩa tục thô
Tiếp tới cơn mưa tuôn xối xả
Phỉ t́nh hoan lạc lặng như ru
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:39 AM
Chuyện Chiêm Bao (10)
Chết đi sống lại là như thế
Bước lỡ đi lầm há chẳng nhe
Vạn kiếp khôn nguôi sầu lữ thứ
Ngh́n thu khó hiểu chuyện t́nh quê
Em nghèo em khổ trăm năm lụy
Bữa đói bữa no vạn thuở què
Tê cóng tứ chi tim phổi cháy
Đổi thân thay thể ối ê chề
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:39 AM
Chuyện Chiêm Bao (5)
Tôi nằm khóc lóc bấy nhiêu bao
Bao bấy mà ra chẳng giọt nào
Lệ thắm u tồn sương tuế nguyệt
Xuân hồng trường tại tuyết ly tao
Măn khai trực diện lan như huệ
Trào trướng quai nhai vũ tợ mao
Bước một ḿnh đi riêng một bước
Bóng người ở cuối cơi tiêu tao
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:41 AM
Chuyện Chiêm Bao (6)
Chút đau đớn đứng chút đ́u hiu
Tùy thuận phồn hoa bước giấn liều
Mộng ảo liên tồn vô mịch xứ
Phù du liêu lạc khởi năng kiêu
Tầm sưu túy điệu buồn khôn tả
Trừ Khước Vu Sơn uổng quá nhiều
Em tưởng ở đời chẳng thấy thú
Tiền đường phó thác lạc linh phiêu
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:42 AM
Chuyện Chiêm Bao (8)
Nhứt chi nhứt nhật há Bồng Doanh
Thiên cổ phù trầm khởi phục sinh
Ngọc định xuy lai tồn lưu khúc
Kim đồng hóa tác tục phàm thanh
Phiêu bồng tâm sự phồn hoa tán
Lưu thủy phong sương thịnh tuyết thành
Mộng tưởng thiên niên tầm để sự
Hoa tàn thánh tức bất kham thinh
Nhứt thời thanh quyết giang đông măn
Kỷ xứ phục hoài yến dự oanh
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:43 AM
Cọp Beo Và Hoàng Hậu
Áo vàng Hoàng Hậu nắng trưa
Một hôm về ngủ lúc vừa ra đi
Beo và Gấu thầm th́ sau trước
"Brigitte ôi! cô bước hai chân"
Trần gian bất tuyệt một lần
Nghe triều Biển Lục xa dần Non Xanh
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:45 AM
Đêm Chiêm Bao
Màu xanh trút giũ tay vàng
Biển đêm náo động nằm ngang nghe trời
Mộng cuồng nhớ một người thôi
Dọc dừa kiêu hănh làn môi nhu mỳ
H́nh dung chớp nhoáng chân đi
Cầu rung động nhịp sương th́ thầm gieo
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:46 AM
Đêm Lục Tỉnh
Những điều trông thấy mà ra
Chiêm bao nghi hoặc hằng nga trên trời
Buồn như chết ở giữa đời
Từng dêm lục tỉnh xa vời từng đêm
Gặp ông Khổng Tử bên thềm
Gặp bà Khổng Tử trang nghiêm nụ cười.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:47 AM
Dư Vang
Sáng nay chim hót lạ lùng
Tưởng từ mộng tưởng núi rừng xa xôi
Sáng nay mây gío đầy trời
Vườn Xuân lá lục em ngồi ngắm hoa
Sáng nay t́nh tự ngọc ngà
Người yêu ở lại giang hà tuổi xanh
Ngàn dặm em đi cùng anh
Dừng chân bến nước long lanh mây vàng
Ta ngồi ngóng măi dư vang
Kéo dài giữa cuộc tân toan sinh b́nh
Dư vang từ những b́nh minh
Phương trời cổ lục kiên trinh đợi người
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:48 AM
Đường Xuân (14)
Đường xuân chờ đợi đă lâu
Bàn chân em bước từ đầu tiên đi
Em đi lúc gió đang bay
Gió bay em bước cỏ say sưa mừng
Bàn chân trần năm ngón chân
Chân năm ngón như sương đầm lá ướt
Cỏ chào em như phơi mở linh hồn
Em giẫm lên nhẹ nhẹ dịu dàng
T́nh yêu xuân thăm nồng nàn xiết bao
Cơi bờ từ đó về sau
Em từ bờ cỏ chiêm bao đi về
Xuân xanh từ đó tê mê
Nhân gian vô lượng hội hè một hôm (liên miên)
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:49 AM
Dzách
Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên
Đời này đất đá cằn khô
Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời
Điên rồi rốt cuộc hỡi ôi
Cũng đành chấm dứt ĺa đời hết điên
1996
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:50 AM
Em Mọi Điên
Một tiếng hát giữa rừng hô hấp
Chết trăm năm ẩn nấp khung đời
Trời ma đất quỷ hai nơi
Em điên từ bữa ra đời em điên
Beo và cọp trước tiên chạy trốn
Vượn đ́u hiu nh́n lộn cây hoa
Em về giũ áo mù sa
Tiền tŕnh vạn lư anh là đười ươi
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:51 AM
Em Mọi ơi
Chiều nay anh làm thơ
Chẳng c̣n hay như trước
Suốt một tháng
Viết không được một câu
Th́ lấy đâu ra thơ
Mà tặng em cho được
Tặng một câu cũng chưa đủ
Th́ lấy đâu bốn câu
Cho đủ một bài.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:52 AM
Em từ
Em từ non nước Viễn Khơi
Trùng lai cố quận chịu chơi một lần
Em từ tỷ lệ thanh tân
Một muôn ra một thành phần tương lai
Em từ đọ mặt mốt mai
Từ em thánh nữ ra ngoài tiên nương
Em đi nhảy vọt phi thường
Tầm sương sái diệt đoạn trường chào em
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:53 AM
Gà Gáy Sáng
Gà gáy sáng, năm rưỡi giờ
Giờ sáu rưỡi, ngồi làm thơ
Tính t́nh di dưỡng mộng mơ điều ḥa
Phiền khúc nghiệt, phá nguyệt hoa
Càng thêm hoa nguyệt thiết tha càng càng
Năo nùng phong vận tân hoan
Phu mỳ ngậm đắng dịu dàng nuốt cay
Thiên hương quốc sắc lạ thay
Một ṭa sẵn đúc dày dày thiên nhiên
Khiến đời tứ đảo tam điên
Cuồng quay đảo phụng cường kiên điên hoàng
Ấy phúc lạc, ấy hân hoan
Ấy ai dặn ngọc thề vàng với ai ...
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:55 AM
Gơ Cửa Tồn Sinh
Suốt đời phải thức suốt đêm
Suốt ngày ngủ nướng mới nên con người
Tồn sinh quá khứ chôn vùi
Cơn say suốt kiếp - trận cười thâu canh
B́nh sinh lao khổ đă đành
Cũng từ b́nh sử tựu thành mà ra
"Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh"
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:55 AM
Hăy Vô Ngôn
Giập đầu vái tạ cô nương đẹp
Dám hỏi bao giờ có đẹp hơn
Miệng ngọc cười x̣a lên tiếng đáp
Rằng xin các hạ hăy vô ngôn.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:57 AM
Hương Hoa Đầu Tiên
Cây mít ra trái bồ đào
D́ Trang ra hái hoàng mao khuynh thành
Trái cây năm tháng dụm dành
Cơi đời chất ngọt ngọn ngành chở che
Ra hoa từ đó tṛn xoe
Môi người chúm chím lúc nhe răng cười
H́nh dung quốc sắc đất người
Quả nhiên tụ kết muôn trời thiên hương
Thiên thanh bừng nở hằng thường
Xuân xanh đóa đóa mộng trường hoa hoa
Thưa em đời rộng chan ḥa
Niềm đau ngào ngạt v́ hoa ban đầu
Kể từ cảm ứng tiêu tao
Toàn nhiên dự cảm hương màu sơ khai
1993
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:57 AM
Kể Chuyện
Kể lại chuyện rằng năm đă cũ
Đă bao giờ một bận muôn năm
Em nhớ chuyện rằng xưa lỡ dở
Diều đứt dây trẻ cũng cầm bằng.
Kể lại chuyện rằng dù sao nữa
Nguồn xưa sóng lạc nước tiêu dao
Mắt khép mi sầu không lệ nữa
Nh́n nhau bận đó cúi xin chào .
Bốn vó lên đèo truông ải vang
Trùng quan một bận gió lên ngàn
Tiền tŕnh cỏ lạ xông ngây ngất
Con mắt khô rồi ngó ngửa ngang.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 09:59 AM
Không Đề
tặng riêng cho Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo. Bài thơ phổ biến lần đầu vào tháng 9 năm 2000 với chữ kư và lời đề tặng của tác giả.
Những người bạn
từ xa xôi về
Đem lại cho chúng tôi
những niềm vui vô lượng
Có người cười rực rỡ như mặt trời
Có người ngậm ngùi
khóc kể (lể) như mặt trăng
Có người hỏi không hiểu Việt Nam
là ǵ như thế
(v́ người ấy rời Việt Nam lúc ba bốn tuổi)
Dù sao tất cả vẫn dường như là
tin cậy, tin yêu
vào một cái ǵ đó tương lai sẽ
đem lại cho đất đai xứ sở nghèo khó
một chút ǵ bất ngờ sẽ
chuyển dịch toàn thể vào một
xán lạn bất th́nh ĺnh
và mọi sự sẽ sẽ sẽ vân vân vân....
Bùi Giáng
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 10:00 AM
Không Đề 1
tặng riêng cho Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo. Bài thơ phổ biến lần đầu vào tháng 9 năm 2000 với chữ kư và lời đề tặng của tác giả.
Những người bạn
từ xa xôi về
Đem lại cho chúng tôi
những niềm vui vô lượng
Có người cười rực rỡ như mặt trời
Có người ngậm ngùi
khóc kể (lể) như mặt trăng
Có người hỏi không hiểu Việt Nam
là ǵ như thế
(v́ người ấy rời Việt Nam lúc ba bốn tuổi)
Dù sao tất cả vẫn dường như là
tin cậy, tin yêu
vào một cái ǵ đó tương lai sẽ
đem lại cho đất đai xứ sở nghèo khó
một chút ǵ bất ngờ sẽ
chuyển dịch toàn thể vào một
xán lạn bất th́nh ĺnh
và mọi sự sẽ sẽ sẽ vân vân vân....
Bùi Giáng
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 10:01 AM
Logos
Rêu tri phủ xuống hiên xanh
Một bầy chim én vây thành sang thu
Sương Hy Lạp phượng lên mù
Ba mươi thế kỷ cầm dù dưới mưa
đầu sông nước gọi cây mùa
Gốc du sung đẩy sóng đùa phăng trôi
Cành nguyên thủy mọc xa tri
Chùm xuân xanh thổi lại đi lang thang
Bừng trong môi dựng đoạn trưng
Tấm nương tử lạc loài nương náu ngưi
Một hoàng hôn đợi hai môi
Một b́nh minh đón hai đi biệt ly
Một đêm bếp núc lạ kỳ
Nghe trong thớ củi mộng ǵ đi hoang
Hai tay chấp nối điêu tàn
Trong ḿnh mẩy phó thác vàng son cho
Li con kỳ chú sang đ̣
Mai sau về giữa cánh so phiêu bồng
Chín phương tri tuyết ra bông
Trong nguồn thủy thảo đất hồng khai nguyên
đầu sơ mộng cuối phi tuyền
Ngàn năm mai trúc chim chuyền bữa naỵ
Ruộng đồng mọc lúa
Ruộng đồng không mọc
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:23 PM
Mái Hiên
Bay về ổ chín từng cao
con chim giă biệt chào mái hiên
nước lang thang cháy xà miền
ṿng quanh ngơ nọ mà triền miên chi
tôi người thủy thủ ra đi
chân trời thấy nước đợi kỳ lên mây
sao đêm đố xuống triều đầy
ai đưa kiếm vút ngang mày hư không
gió theo cánh ngỗng ngang trời
chớ sương tuyết cũ lại đời phiêu linh
từ đây ta hẹn với ḿnh
hồn trong cơi mộng biên đ́nh chưa tan
đầu hiên cung bậc điêu tàn
lần kia đổ giậu giọng vàng xô mau
lạnh lụng dấu bước bờ sau
mấy đời ly biệt về đau trong ḿnh
năm sầu sa mạc nín thinh
đi vào giá buốt mông mênh cuối trời
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:24 PM
Màu Trời Đó
Màu trời đó bữa nay về trở lại
Một mùa xưa người nhớ chứ năm kia
Ngày chạm mắt dưới mùa xuân man dại
Dịp trùng lai em hẹn với tan ĺa
Đường có cỏ có bờl lau rộng có
Lá cây bay và em có đi qua
Bàn chân bước lệ buồn em có nhỏ
Xuống điêu tàn em khóc mộng tiêu ma
Nguồn thao thức ta về từ một buổi
Trời bay mây bốn hướng gió xa mong
Từng cánh én mang trùng dương về nội
Đâu rồi em? sóng đục đă theo gịng
Em cho phép ta ngồi đây hỏi lại
Và gọi về trăng mùa cũ lang thang
Màu trời đó để ngàn sương hớt hải
Xuống li ti là dựng vội con đường
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:24 PM
Mộng
Hoàng hôn cơn mộng tháp tùng
Từng vô duyên gọi bóng nùng diễm qua
Anh về từ cuối nguyệt hoa
Nh́n em như mộng mị xa xa dần
Em đi sương bóng vô ngần
Nh́n anh như ngó một lần người điên
Về sau kư ức trược phiền
Làm sao quên được thuyền quyên một lần.
thơ Bùi Giáng
Thế Kỷ 1994
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:25 PM
Một buổi trưa
Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc
Mây trên trời xuống phủ ở trên vai
Màu phương cảo pha mờ trên nét ngọc
Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai.
Em có định sẽ cùng ai kể lể
Một nỗi đời hư huyễn giữa chiêm bao
Vừng hiu hắt nguyệt hờn mây nhỏ lệ
Một mùi hương nồng tụ ở nơi nào
Câu chuyện ấy một lần em đă rơ
Để bây giờ không thể lại phanh phơi
Đường đi xuống khung trời sương lổ đổ
Hờn dung nhan em có sợ bên người?
Con mắt ấy v́ sao em khép lại
Làn mi kia em thử ghé lên nh́n
Ṿng tay đẹp như cành xuân thơ dại
Ngón la đà sao chẳng chịu đưa tin
Một buổi trưa nắng vàng in trên tóc
Lùa chân mây về ở dưới chân trời
Bước vội vă một lần nghe gót ngọc
Giẫm trang đời lá rụng uá thu phai.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:26 PM
Mùa Phượng Cũ
Thiệt tḥi đời mộng phiêu linh
Cành sương ngọc thụ tồn sinh cát lầm
Giấc quày quả lạnh anh trâm
Bóng đu sung rớt bến trầm luân sâu
Hoài mong hiu hắt nhịp cầu
Mà hương quan vắng xa màu mây trôi.
Sim ngàn sổ lá buông rơi
Cành Nam ước nguyện sai lời tử sinh
Gió sương từ tạ biên đ́nh
Bóng sa hồ khép chặt t́nh mông lung
Rêu tần ngần tuyết in phong
Sóng phơi trường mộng từ trong dậy nguồn
Rập rờn đầu liễu xanh buông
Mùa trăng nước đẩy xô buồn đi xa
Trang hồng kim rải ra hoa
Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai
Tơi bời ngọc trắng măng mai
Khuynh thành sắc nọ đưa vai nghiêng về.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:27 PM
Mười Hai Con Mắt
Hùm thiêng một cặp nhu mỳ
Một đôi bốn mắt từ bi mơ màng
Từ phen đá biết tuổi vàng
Một lời vâng tạc muôn vàn mai sau
Ăn làm sao? nói làm sao?
Thủy chung muôn một? c̣n đau đớn ngh́n?
Hùm thiêng chắp nối của tin
Cho người thổn thức cầu xin đá vàng
Ấy từ khởi sự dư vang
"Ngựa về Núi Đá điêu tàn đầu thai"
Em về trúc thạch mốt mai
Sẽ nh́n thấy măi thiên tài chết điên
Từ Bi một cặp Hùm Thiêng
Sẽ từ đó nói liên miên một lời
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:29 PM
Người Điên Uống Rượu
Uống và sy nói lăng nhăng
Miệng mồm lư như thằn lằn đứt đuôi
Tâm can chân thể chôn vùi
Mặt trời không mọc với người lem nhem
C̣n đâu nguyệt tỏ bên thềm
Ôi người uống rượu c̣n thêm điên rồ
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:31 PM
Ông Điên
Ông điên từ bữa hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm
Thanh thiên về dự hội đàm
Thành thân thiên hạ muôn vàn mai sau
* * *
Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau
Tuyệt mù biển cạn sông sâu
Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ
1996
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:32 PM
Quanh Co
Quanh co phường phố gọi ḿnh
Sao ngôn ngữ bỗng tự t́nh qủa nhiên
Cô đơn chứa đựng đầy miền
Cảo thơm tiền kiếp qủa nhiên bây giờ .
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:33 PM
Rằng B́nh Minh Đợi
Xuân thu trang điểm t́nh h́nh
Nghe đâu t́nh trạng nhớ t́nh huống xưa
Ghé thăm Thần Nữ xin thưa
Rằng b́nh minh đợi cơn mưa buổi chiều
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:34 PM
Riêng Ḿnh
Mặc người
mưa Sở mây Tần
Riêng ḿnh ǵn giữ
một lần đầu tiên
Thưa em! chín nẻo
thuyền quyên
Chờ em chín chục
thiều nhiên quang nḥa
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:35 PM
Rong Chơi
Ngao du tuế nguyệt thập thành
Nắng mưa ch́m nỗi đă đánh lâm ly
Hoàng hôn vĩnh dạ thuận tùy
B́nh minh tái tặng nhu mỳ cho em.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:36 PM
Sầu Riêng Châu Chấu
Sầu riêng châu chấu năm xưa
Em về với ruộng cày bừa đă xong
Em về r¡c cỏ vào trong
Vui về với hội trổ đồng đồng xanh
Sầu riêng gác bỏ sau ghềnh
Năm xưa châu chấu mang tên chuồn chuồn.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:36 PM
Thiên Thanh Là Là
Đế vương ở tít thâm cung
Hai bên tường đá song trùng uy nghiêm
Một hàng cây bóng thần tiên
Dập d́u ở giữa khuôn viên thêu thùa
Bé con bốn đứa nô đùa
Một trai ba gái bốn mùa chạy quanh
Đế vương kỳ bí thập thành
Làm thơ kể chuyện thiên thanh là là
Ông trời đùa quỷ rỡn ma
Tập thành thiên hạ lá hoa muôn màu
thơ Bùi Giáng
Thế Kỷ 1994
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:37 PM
Thưa Cô Nương
Tại hạ ra biển
Phen này lần ấy
Để nh́n cô nương tắm
Lúc bấy giờ bỗng dưng
Tâm hồn tại hạ biến ra
Làm nước biển
Vậy xin cô nương dừng ngay cuộc tắm
Kẻo mà đau đớn tâm hồn tại hạ vô cùng
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:38 PM
Trước Khi
Trước khi về chín suối
Em xin gửi đá vàng
Của trăm năm buồn tủi
Về trở lại nhân gian
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:40 PM
Từ Giă
Người mộc mạc trái tim cũ kỹ
Vói hai tay bắt lộn ṿm trời
Chiều qua mang một cơi đời
Đi về lẽo đẽo giữa đời đi qua.
(Văn, Sài G̣n)
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:41 PM
Từng Cơn
Ùn lên ngọn nước bốn mùa
Núi phơ phất tuyết cổng chùa tịch liêu
Hai hàng phượng đỏ giấn liều
Từng cơn quạnh quẽ nắng chiều rỉ hoen.
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:42 PM
Vẫn Là Là
Dấu bèo phong vận nín thinh
Sóng phơi trường mộng b́nh minh vô thường
Nắng hồng chiếu bóng đài gương
Lời nghi hoặc hỏi đoạn trường từ đâu
Nối đuôi khởi sự từ đầu
Ví dù kết thúc trước sau vẫn là
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:44 PM
V́ Mệt Mỏi Nên Học Bài Không Thuộc
V́ buồn rầu nên làm thơ không ra
V́ phiền muộn nên trái bom không nổ
V́ trắng da nên brigitte không già
V́ nàng da trắng nên ta
Nhớ nàng như thể phận ta da vàng
Đầu đuôi thơ viết lộn hàng
Hóa ra nét chữ lên đàng quẩn quanh
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:45 PM
V́ Sao Khùng
V́ yêu dấu quá Nàng thơ
Với em vô tận nên ngơ ngẩn buồn
Thần tiên Thánh Phật bao dung
Hiểu ḷng tôi lắm - tôi khùng v́ thơ
Thien Sat Ma Yeu
12-20-2003, 12:46 PM
Vỗ Về
Ta đứng lại bên này chờ đợi
Ồ phải không? Em đó phải không
Ta đếm lại từng ngón tay lẩy bẩy
Đời chúng ta là mấy trăng tṛn
Ngày vui ngắn? Ḷng đă vơi mấy bận
Ngày vui đi? Mấy bận giữa ḷng ta
Để lây lất mưa về xuân lấm tấm
Ồ thiều quang tan biến vội sao mà
Em có khóc? Ta xin em đừng khóc
Em nh́n ta lệ chảy có vui ǵ
Trang phượng mở giữa nguồn em hăy đọc
Nước xuôi ḍng ngàn thu hận mang đi.
Ngao_0p
03-14-2005, 09:53 PM
Bờ Trần Gian
Đường cong có cỏ mọc ven bờ
Đứng trong vườn lá chuối tơ
Chó sủa sớm chiều đi qua ngơ
Gà con mất mẹ chạy bâng quơ
Cá ở ngoài khe có ít nhiều
Cồn lau cỏ lách có hoang liêu
Em về có hỏi răng ri rứa
Nhắm mắt đưa chân có bận liều
Bùi Giáng
Ngao_0p
03-14-2005, 10:01 PM
Lời Người Điên
Chúng tôi người ngợm vô thường
Lúc mê man lúc chán chường thể thân
Các em gắng gổ đôi phần
Đừng quên uống rượu lần khân sinh b́nh
Dịu dàng sống giữa gia đ́nh
Ngày ngày tháng tháng hậu t́nh năm năm
Trái tim nguyệt tỏ đêm rằm
Máu me mây gió tơ tằm vấn vương
Ở đời kiệt tận xẩu xương
H́nh hài biến thể thân mường tượng thân.
Bùi Giáng
Ngao_0p
03-14-2005, 10:14 PM
Nhiên Tượng
Xin ngó lại bàn chân em bước
V́ em đi vào lúc gió đương bay
Năm ngón nhỏ như sương đầm lá ướt
Em đưa tay anh vói bắt chừng này
Ngồi kể lại chuyện ngày xưa cũ kỹ
Em không nghe v́ anh cũng không nghe
Hồn hoa phấn xông hương sầu dị dị
Tóc vàng tơ tỉ mỉ ngón tay đè
V́ ngọc trắng cát lầm thu xiêu lệch
Gió băng trời xin thổi bụi bay theo
Ngàn xuân vô ngần trong bóng nguyệt
Đầu xanh em tư lự suối thông đèo
Nằm xuống cỏ nghe tràn lan nước gội
Chảy ṿng quanh Thu Lục Tỉnh bao la
Cồn Sa Đéc Sóc Trăng sương ṿi vơi
Gió lên bờ kim hải sóng xanh xa
Chợt ngoảnh lại thấy rằng em ngủ mất
Em ngủ quên phiền sương rộng trăng ngà
Hồn bỏ lại mộng thừa trong thớ đất
Anh nh́n em trong suốt giữa xương da.
Bùi Giáng
-------------------------------------------
Mỗ t́nh cờ mà bắt gặp được một loạt bài viết về đại thi sĩ Bùi Giáng, có những bài đă đăng trong đây rồi xong có những bài chưa đăng nên mạo muội đăng lên chia sẽ cùng mọi người.
-------------------------------------------
Bùi Giáng là một con người gây kinh ngạc cho bất kỳ ai quan tâm đến ông. Làm thơ, dịch tiểu thuyết của các tác gia danh tiếng trên thế giới, viết sách nghiên cứu triết học đông tây kim cổ với những kiến thức vô cùng uyên bác… nhưng Bùi Giáng đồng thời lại c̣n chạy nhảy la hét ngoài đường trong bộ dạng của những con người mà ta quen gọi là điên.
Cuộc đời Bùi Giáng v́ vậy luôn được bao phủ bởi vô số những giai thoại ly kỳ, những thông tin hư hư thực thực. Trước nay, có khá nhiều bài viết về ông nhưng đều rất tản mạn, hầu hết chỉ là những bài lẻ tẻ đăng báo hoặc bài của nhiều người viết trong các tuyển tập hoặc đặc san kỷ niệm Bùi Giáng. Dựa trên những tài liệu có được và những tác phẩm của ông, chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những thông tin tương đối có hệ thống về diện mạo của con người tài năng thuộc hạng siêu phàm nhưng rất kỳ dị này.
Từ năm 1962 trở đi, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Càng về sau càng nhiều hơn. Nói về số lượng, th́ ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam trước giải phóng. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ th́ phải kể bằng đơn vị ngàn bài. Tuy nhiên, ông hoàn toàn không phải một học giả cần mẫn, suốt ngày giam ḿnh trong thư viện, miệt mài bên trang sách mà thậm chí c̣n ngược lại. Nhiều người từng gần gũi ông ngạc nhiên nói rằng họ chỉ thấy Bùi Giáng suốt ngày lang thang rong chơi nhàn nhă, bia rượu uống tràn, thế nhưng khi nhà xuất bản cần, chưa đến một ngày ông đă mang đến cả năm bảy trăm trang sách. Vậy ông viết sách vào lúc nào?
Một nhà văn gần gũi với Bùi Giáng trước năm 1975 kể lại chuyện viết sách của ông như sau: "Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ (Giám đốc Nhà xuất bản An Tiêm lúc đó) v́ một tấm ḷng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, đă dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản tác phẩm của Bùi Giáng trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đă in đêm in ngày, in mệt nghỉ, v́ những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung măn nhất của Bùi Giáng, cơi văn cơi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm".
Nhà văn này kể tiếp: "Vậy mà mỗi lần gặp thi sĩ hồi đó, cảm tưởng bao giờ cũng giữ được là đă gặp một Bùi Giáng rất nhàn rỗi, rất rong chơi. Bước chân vào nhà thầy Thanh Tuệ, chúng tôi đă thấy Bùi Giáng ngồi đó trước, tươi cười, ung dung trong cái phong thái của một con người nhàn nhă nhất thế giới, chẳng có một dấu vết nhỏ nào của một người viết đang gió táp mưa rơi với ngàn ngàn trang sách". Ai cũng lấy làm ngạc nhiên và cố gắng t́m hiểu nhưng không thể nào hiểu nổi. Chưa bao giờ những người gần gũi Bùi Giáng bắt gặp ông đang ngồi viết sách. Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm ǵ hết, chẳng ai một lần nh́n thấy Bùi Giáng đang làm ǵ hết. Thầy Thanh Tuệ cũng chỉ lắc đầu cười: "Tôi cũng lấy làm kỳ. Ảnh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Đêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Nhưng ảnh viết tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng th́ ảnh ngừng. C̣n nói ảnh đem bản thảo tới th́ nói buổi sáng buổi chiều ảnh đă tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có th́ giờ đọc. Điều kỳ lạ là thể loại trước tác nào ảnh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh vô tả. Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết tới phê b́nh triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy".
Có người ngạc nhiên quá, t́m cách rủ Bùi Giáng tới quán uống rượu để t́m hiểu. Nhưng chỉ tốn rượu đăi Bùi Giáng chứ chẳng khai thác được chút thông tin nào. Vặn hỏi măi ông cũng không giải thích điều ǵ. Bùi Giáng chỉ cười cười, đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu và nói "vui thôi mà" trước sự ngơ ngẩn của người hỏi chuyện. Trước sau ông không hề giải thích bất cứ thắc mắc nào. Nhà văn kể trên nói tiếp: "Chừng như ông không có ǵ giải thích, sự thành h́nh một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đă là của nó. Ừ, vui, ba chữ "vui thôi mà" là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng trước mọi sự t́m hiểu".
Trần Đ́nh Thu
Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại làng Thanh Châu thuộc xă Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh của Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của ḍng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ chánh qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền.
Bùi Giáng là con thứ 2 của ông Bùi Thuyên với bà Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài G̣n, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng. Và Bùi Giáng cũng tỏ ra thích thú với tên gọi này. Thỉnh thoảng ông cũng tự xưng cái tên thứ đó trong những câu thơ của ḿnh. Sau này trong một bài thơ khá hài hước, Bùi Giáng viết: "-Ủa, phải anh Sáu Giáng đó không?/- Và cô có phải cô Bông năm nào?/- Anh c̣n nhớ rơ, ôi chao/Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh/Anh điên mà dzui dzẻ thập thành/C̣n chúng tôi tỉnh mà đành buồn thiu".
Mặc dù là người gặp may mắn trên đường học vấn nhưng Bùi Giáng luôn luôn phá ngang. Bùi Giáng từng viết rằng ông không có ư định học để lấy bằng cấp. Ông Bùi Văn Vịnh, một người em ruột cùng cha cùng mẹ khác của Bùi Giáng cho biết, sau khi học xong bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng được gia đ́nh cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa. Năm 1945, khi đang học lớp Đệ Tứ th́ thời thế thay đổi. Đại chiến thế giới thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp, rồi Cách mạng Tháng Tám thành công. Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung. Rồi Bùi Giáng lên đường đi theo kháng chiến. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương, rồi lên đường ra Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học. Từ Quảng Nam thuộc Liên khu V ra tới Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV phải đi bộ theo đường ṃn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi ra đến nơi, không hiểu sao ngay trong ngày khai giảng, Bùi Giáng đă quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam.
Bỏ học trở về nhà, ông theo chân đàn ḅ rong ruổi khắp các vùng đồi núi. Sau này ông có sáng tác bài thơ Nỗi ḷng Tô Vũ in trong tập Mưa nguồn để kỷ niệm cho khoảng thời gian này. Một số tài liệu cho rằng Bùi Giáng đă có nhiều năm chăn dê nhưng thực ra ông chỉ trải qua 2 năm chăn ḅ, từ 1950 đến 1952 trên vùng rừng núi Trung Phước. Có lẽ đây là quăng đời lăng mạn nhất của ông. Và ông đă gọi quăng thời gian này là 15 năm chăn dê, như Tô Vũ ngày xưa. Nhớ lại những tháng ngày này, ông viết: "Tôi bỏ học, chẳng biết chi sách vở. Chạy về quê làm thằng chăn ḅ. Bao nhiêu thơ làm ra, tôi âm thầm tặng hết cho chuồn chuồn châu chấu!".
Bài thơ Nỗi ḷng Tô Vũ dài đến 60 câu, được nhiều người thích đọc. Bài thơ với những lời thơ hết sức thiết tha, đằm thắm, ông dành cho những nàng thơ đặc biệt của ông là những con ḅ, đọc lên nghe rất thú vị. Trong bài thơ, ông xưng anh với những con ḅ mà ông đă biến chúng thành dê cho giống chuyện Tô Vũ ngày xưa và gọi chúng là em: "Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện/Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi". Ông tặng các nàng thơ của ông những chiếc ṿng bằng mây mà ông tự đan đủ màu sắc như người ta tặng kỷ vật cho người ḿnh yêu: "Này em Đen chiếc ṿng vàng tươi lắm/Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu/Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh/Này đây em Hoa Cà hỡi! Chiếc nâu". Mỗi nàng dê một chiếc ṿng, ông tự tay đeo vào cổ các nàng và thủ thỉ: "Ngẩng đầu lên! Dê ơi anh thong thả/Đeo ṿng vào em nghển cổ cong xinh/Ngẩng đầu lên! Đây ḷng anh vàng đá/Gửi gắm vào ṿng mây nhuộm tơ duyên". Tặng xong kỷ vật cho các nàng dê rồi ông mới thề thốt: "Và giờ đây một lời thề đă thốt/Ngh́n thu sau đồi núi chứng cho ta/Cao lời ca bê hê em cùng thốt/Ḥa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha".
Lấy dê, thực chất là ḅ, làm nàng thơ quả là một chuyện xưa nay chưa có ai làm. Nhưng đáng kinh ngạc hơn nữa là ông so sánh chuyện đeo ṿng mây cho dê với việc trao ṿng cầu hôn cho vị hôn thê của ḿnh: "Ngẩng đầu lên nh́n anh mờ mắt lệ/Từ lần đầu ṿng ngọc tuổi hai mươi/Trao người em trăm năm lời ước thệ/Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi". Trong lần xuất bản đầu tiên của tập Mưa nguồn, Bùi Giáng c̣n ghi chú rơ ư khổ thơ này là, ngày xưa khi ông cưới vợ, th́ cái giây phút đeo chiếc ṿng đính hôn kỳ diệu ấy không làm ông xúc động bằng bây giờ đeo ṿng mây cho dê! Thật là một cảm xúc khác người. Sau này chúng ta sẽ thấy, thứ cảm xúc này không phải do ông cố nặn ra cho thành bài thơ lạ mà đó là những ǵ diễn ra thực tế trong tâm trí ông.
Nỗi ḷng Tô Vũ là một bài thơ độc đáo bởi đối tượng cảm xúc của tác giả không phải là cảnh đẹp, là người thơ mà là những con dê. Bài thơ không giống ai đó có những đoạn thơ đẹp lạ lùng: "Em nhớ hay không hồn hoa dại cỏ/Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya/Vàng cao gót nai đầu buông hăi sợ/Gió cây rung trút lá mộng tan ĺa"...
Trần Đ́nh Thu
Hai năm chăn bò có lẽ cũng quá đủ để nhà thi sĩ thả hồn mình rong ruổi theo những dặm đường du mục. Những ấn tượng sâu đậm trong thời kỳ này đã được Bùi Giáng tái hiện trong một số bài thơ mà ông sáng tác sau này.
Ngoài bài thơ độc đáo Nỗi lòng Tô Vũ, còn có bài Anh lùa bò vào đồi sim trái chín. Tuy không hay bằng Nỗi lòng Tô Vũ nhưng bài thơ này cũng thể hiện một tình yêu thiên nhiên đắm say và mãnh liệt của Bùi Giáng: “Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa/Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh/Chìm ngây ngất vào trong đôi mắt lả/Anh lim dim cho chết lịm hồn mình", "Cây lá bốn bên song song từng lứa/Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn/Hạnh phúc trời với đất mang mang/Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ/Với người ngó ngất ngây đương nằm đó/Không biết trời đất có ngó mình không". Quả thật là một tâm hồn quá khoáng đạt.
Tháng 5 năm 1952, Bùi Giáng bỏ lại sau lưng những đàn bò cùng "hồn hoa dại cỏ" trên những đồi sim trái chín để ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương. Bằng tú tài trước đây do Liên khu V thuộc Chính phủ Kháng chiến cấp, đổi lại để vào Sài Gòn là khu vực đang thuộc vùng địch tạm chiếm ghi danh theo học Đại học Văn khoa. Nhưng một lần nữa ông cũng quyết định bỏ học khi đọc danh sách các giáo sư giảng dạy ở Đại học Văn khoa vì thấy không "tâm phục khẩu phục". Theo tác giả Thụy Khuê thì đây là lần cuối cùng ông bận tâm với chuyện học hành. Sau sự cố này, Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa.
Sau khi kết thúc chuyện học hành, Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác thơ văn. Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm... Sau đó ông bắt tay vào dịch tác phẩm văn học, giới thiệu tác gia danh tiếng của nước ngoài. Ngoài việc nghiên cứu và viết sách, Bùi Giáng còn đi dạy ở một số trường trung học. Và vì thế mới có những câu chuyện ly kỳ về việc giảng Kiều của Bùi Giáng.
Câu chuyện sau đây do một tác giả thuật lại trong một đặc san về Bùi Giáng, không nói rõ là mình chứng kiến hay giai thoại. Chuyện kể rằng, một lần nọ Bùi Giáng giảng Kiều cho các em học sinh, đến đoạn Từ Hải bị chết đứng giữa trận tiền, ông cảm thấy uất ức quá. Ông không chịu nổi việc một người anh hùng như Từ Hải mà phải bỏ thân nơi chiến trường vì bị mắc lừa. Từ bức xúc thái quá dẫn đến kích động thần kinh nên Bùi Giáng la hét dữ dội. Càng căm tức Hồ Tôn Hiến bao nhiêu thì ông càng la hét bấy nhiêu. Rồi ông khóc tức tưởi, đập bàn đá ghế, gục đầu thổn thức trên bàn giáo viên. Hết hét lại khóc, hết khóc lại hét.
Học sinh lúc đầu còn ngạc nhiên thích thú nhìn ông thầy mình thể hiện cảm xúc, nhưng sau thấy ông làm quá thì đâm ra sợ hãi. Bởi trước mặt chúng đang là một ông thầy đạo mạo bỗng nhiên trở thành một con người không còn biết gì đến chung quanh, chỉ la hét than khóc như cha chết mẹ chết. Quả thật Bùi Giáng đã biến tiết dạy của mình thành đám ma của Từ Hải, khiến từ học sinh cho đến ban giám hiệu phải một phen hết hồn. Sau sự cố "đám ma Từ Hải" đó, nhà trường đành phải mời thầy nghỉ dạy vì không dám để thầy làm các em học sinh phải thêm một phen hoảng hồn bạt vía nữa.
Cung Tích Biền cũng kể một câu chuyện tương tự nhưng kỳ dị hơn nữa. Theo Cung Tích Biền thì đây chỉ là một giai thoại, tuy nhiên căn cứ vào những gì xảy ra với Bùi Giáng trước nay thì chúng ta có thể tin được đó là câu chuyện có thật. Câu chuyện xảy ra vào khoảng đầu thập niên sáu mươi. Bùi Giáng đi dạy môn Việt văn cho một trường trung học ở một vùng tỉnh lỵ nọ. Hiển nhiên dạy Việt văn thì phải đến lúc ông đụng đến Truyện Kiều và Nguyễn Du. Và chuyện gì đến phải đến. Trong một giờ Việt văn, khi giảng đến đoạn nàng Kiều phải bán mình chuộc cha để hồng trần lưu lạc, Bùi Giáng đã bật khóc òa, khóc tức tưởi, khóc nức nở ngay giữa lớp học. Có lẽ nước mắt cũng không làm ông nguôi bớt nỗi cảm thương người con gái tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều. Vì thế ông vừa khóc vừa nhảy phóc qua cửa sổ lớp học, chạy bộ ra bến xe rồi đón xe đò về Sài Gòn tức thì. Học trò nam nữ trong lớp thì cứ ngồi chờ mãi, tưởng thầy đi rửa mặt cho sạch nước mắt để dạy tiếp hoặc đi đâu đó một lát rồi sẽ trở lại, bởi vì trên bàn thầy vẫn còn sách vở, bao thuốc lá. Nhưng hết tiết học cũng không thấy thầy trở lại. Ngày hôm sau cũng không thấy thầy trở lại. Cả tuần sau thầy cũng không quay lại. Bởi vì thầy đã quyết định bỏ lớp bỏ trường, bỏ luôn cả vùng đất tỉnh lỵ ấy đến nhiều năm sau. Hỏi thầy nguyên nhân vì sao thì thầy ngậm ngùi nói "mần răng mà trở lại nơi em Kiều đã một lần hy sinh cho cái trò chơi nhân gian kỳ ảo chỗ liên tồn" ấy.
Trần Đình Thu
Đến Sài Gòn được ít lâu, Bùi Giáng bắt tay vào việc viết sách. Nhưng những cuốn sách đầu tiên Bùi Giáng viết ra, vì chưa có "thương hiệu" nên dĩ nhiên chưa có nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền ra in, do vậy ông phải tự lo.
Nhưng với một người vừa chân ướt chân ráo đi lập nghiệp như ông, làm sao có tiền để in sách. Vì vậy, ông phải xoay xở bằng nhiều cách. Một số người cho rằng Bùi Giáng đã nhờ người bà con đang làm ăn phát đạt lúc đó là bác sĩ Bùi Kiến Tín cho mượn tiền để in sách. Nhưng những người thân cận với Bùi Giáng cho biết ông đã về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa hưởng ở Quảng Nam để lấy tiền in sách. Theo chúng tôi, chi tiết này là chính xác, vì nó đúng với bản chất con người Bùi Giáng.
Khởi đầu, Bùi Giáng tập trung vào việc nghiên cứu Truyện Kiều. Đây là tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh mẽ với ông trong thời kỳ còn học trung học. Năm Bùi Giáng mười sáu tuổi, đọc những cuốn sách của Nguyễn Bách Khoa, ông đã cảm thấy bức xúc vì những lời Nguyễn Bách Khoa đả phá Truyện Kiều quá nặng nề.
Lúc đó, không khí tranh luận về Truyện Kiều khá sôi nổi. Bùi Giáng đã hăng hái bước vào cuộc. Cuốn Một vài nhận xét về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần do Tân Việt xuất bản vào năm 1957 có những bài viết rất hay về Truyện Kiều. Cùng với một vài tác giả khác, ông chống lại những quan điểm cho rằng Truyện Kiều là một tác phẩm phản đạo đức, không mang tính nhân bản. Ông bênh vực quyết liệt cho nàng Kiều. Lúc này, tác giả Nguyễn Sĩ Tế vừa tái bản tập sách Luận đề về Nguyễn Du, trong đó phê phán nhân vật Kiều nhu nhược, lẩn thẩn, ham mê vật chất... Bùi Giáng bèn "ra tay nghĩa hiệp" bênh vực giai nhân. Ông đối thoại thẳng thắn với Nguyễn Sĩ Tế, cho rằng Nguyễn Sĩ Tế hẹp hòi trong cách nghĩ: "Sao ở mọi chốn khác ông Tế tỏ ra chu đáo là thế, mà riêng đây, ông nỡ cứ hẹp hòi. Mười năm trước ông Nguyễn Bách Khoa từng lớn tiếng: hoàn cảnh xã hội chi phối con người. Nhưng khi đem cái nguyên tắc ấy áp dụng trong việc phê phán nhân vật, bao lần ông đã không chịu xét cái cảnh ngộ nào đã trực tiếp chi phối tâm trạng con người nào"..., rằng: "Ông tàn nhẫn quá. Mà chúng tôi tự lượng sức mình không đủ để bênh vực cho giai nhân. Chúng tôi đành quay mặt đi, không dám thấy, và chỉ xin phép yếu ớt khẽ kêu lên một tiếng xuýt xoa một đôi bận mà thôi - những bận nào mũi dao của ông tỏ ra tàn bạo quá". Với một giọng văn lúc thiết tha trầm lắng, lúc sôi nổi mạnh mẽ, Bùi Giáng góp phần làm cho người đọc cảm thương nàng Kiều hơn.
Những cuốn sách đầu tiên của Bùi Giáng có lẽ bán chạy nên các nhà xuất bản bắt đầu chú ý đến ông. Những cuốn sau, Bùi Giáng không cần phải bỏ tiền ra in nữa mà ông giao bản thảo cho các nhà xuất bản in để lấy tiền. Từ lúc đó trở đi, Bùi Giáng kiếm được kha khá nhờ những khoản nhuận bút. Vừa dạy học vừa viết sách, nếu khéo thu xếp như Nguyễn Hiến Lê, hẳn ông đã tạo dựng được cơ ngơi.
Thế nhưng Bùi Giáng hầu như không giữ lại cho riêng mình được cái gì. Một phần lớn khoản tiền nhuận bút ông đem tiêu pha rất lung tung, trong đó dành khá nhiều cho việc mua chó và khỉ về nuôi. Những người thần tượng hóa Bùi Giáng tỏ ra rất đắc ý với những việc làm khác người đó của ông.
Vào những năm về sau, khoảng gần cuối thập niên sáu mươi, ông in được nhiều sách, tiền nhuận bút cũng nhiều, ông càng tiêu tiền một cách kỳ cục hơn. Nhiều người kể có lúc thấy đàn chó của ông lên đến mấy chục con. Phạm Mạnh Hiên cho biết: "Hồi đó, sách của Bùi Giáng thường in ở nhà xuất bản An Tiêm, mỗi lần thầy Thanh Tuệ đưa tiền nhuận bút, tôi phải đi với anh Bùi Giáng. Lại lên đường ngao du nhờ cái bộ vó thư sinh hiền lành của tôi mà nhiều lần mấy cái khách sạn ở Chợ Lớn đã để cho chúng tôi cùng vào trú ngụ, bởi bên cạnh tôi có cái ông trung niên kỳ dị, ăn mặc cổ quái chẳng giống ai, lại dẫn theo cả đàn chó hay vài ba chú khỉ nhỏ"... "Ngày đó hễ có tiền là anh Giáng ra ngay khu chợ Bến Chương Dương mua cả bầy chó, cả bầy khỉ". Cái thú đi giang hồ đã làm cho Bùi Giáng “nướng” hết những khoản nhuận bút vừa nhận. Có lần say ngất ngưởng, sáng tỉnh dậy, thấy mình đang nằm ở vỉa hè.
Một người quen khác của Bùi Giáng kể: "Hơn 25 năm trước, tôi thấy ông nuôi một đàn chó nhỏ, đi đâu cũng dẫn theo làm chúng sủa vang các hẻm đường, có lúc ông cho hết vào bao bố và vác trên vai làm chúng cũng muốn ngất ngư, ngộp thở, kêu hục hục trong bao. Có lần ông để quên đàn chó ở nhà bà Bé Ký cả tuần lễ làm bà Bé Ký phải nuôi ăn và chăm sóc rất mệt, hở tay ra là chúng sủa vang nhà không ai chịu nổi". Khoảng năm 1974, một người em ruột của Bùi Giáng mua được ngôi nhà ở Thị Nghè và mời ông về ở. Ông đến, dắt theo cả đàn vừa chó vừa khỉ khiến hàng xóm hết sức kinh ngạc.
Trần Đình Thu
Nhiều độc giả từng biết đến một thứ văn dị thường của Bùi Giáng. Dị thường nhưng hồn nhiên trong trẻo, có lẽ đó là đặc điểm trong văn chương ông. Nhưng đă có thời văn chương ông chỉ hồn nhiên trong trẻo thôi, không có chút dị thường nào.
Hăy đọc một số tác phẩm đầu tiên của Bùi Giáng th́ biết, trước hết là những cuốn ông viết ra trong thời kỳ mới đến Sài G̣n. Chúng được đặt tựa một cách khiêm nhường, chẳng hạn Một vài nhận xét về..., xuất bản trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1959. Những cuốn sách này được viết ra nhằm phục vụ cho học sinh trung học. Trong sách có kèm theo những đề bài tập làm văn cho học sinh luyện tập, nội dung liên quan đến các tác phẩm cổ điển của văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm... Trên thực tế, đây là những cuốn sách thuộc thể loại giới thiệu tác giả tác phẩm, người lớn cũng có thể đọc và t́m thấy nhiều điều thú vị. Ở đây không có những ngôn ngữ kỳ dị mà ta thường gặp đầy rẫy trong những tác phẩm sau này của ông.
Hăy đọc một đoạn văn Bùi Giáng mở đầu phần bài viết về Lục Vân Tiên: "Lục Vân Tiên. Không một cuốn truyện nào đă làm xúc động tuổi nhỏ của chúng ta nhiều bằng tác phẩm của cụ Đồ Chiểu. Ngày tôi c̣n nhỏ, tôi được người vú già kể cho nghe. Kể đi kể lại măi, và tôi cứ đ̣i kể lại cho nghe hoài. Dường như mỗi lần nghe lại, lại thấy mới măi ra. Từ đó h́nh ảnh nhân vật Lục Vân Tiên cứ ám ảnh tôi luôn"... "Thế rồi ngày nay tôi lại nói chuyện Lục Vân Tiên với bà con nghe. Tất nhiên là nói sẽ dở lắm. V́ tôi không làm sao có được cái giọng của người vú già là một lẽ. Cái giọng trịnh trọng, chậm răi, cảm động, lạ lùng, sau khi đằng hắng đủ ba lần, rồi mới bắt đầu: Trước đèn xem chuyện Tây Minh. Bao giờ cũng vậy, trước khi lựa lời kể lại, bà chậm răi cao giọng ngâm mấy lời thơ đầu của cụ Đồ Chiểu. Và từ đó, cái câu Ai ơi lẳng lặng mà nghe măi măi trong tâm tư tôi sẽ c̣n vang một âm vang huyền hoặc".
Đọc những đoạn văn đó ta có thể mường tượng ra ông là một người lịch thiệp, tóc tai, áo quần tươm tất, quá khác biệt với những ǵ mà ta thường hiểu về một thứ ngôn ngữ Bùi Giáng cà riềng cà tỏi được viết ra bởi một tác giả râu ria xồm xoàm, áo quần kỳ dị. Văn chương của ông lúc bấy giờ đẹp lung linh, không hề có những ngôn từ "lai rai theo điệu du côn" như ông tự nhận sau này.
Chưa hết, hăy đọc tiếp một đoạn văn trong cuốn sách viết về Chinh phụ ngâm: "Rồi những buổi sáng, những buổi chiều, có sương, có khói, có cánh nhạn ở cuối ngàn, có mây hồng vây ải lạnh, người sẽ trở gót ra lại bên đầu cầu, nh́n lại làn nước trong như lọc, kể lể những ǵ với nước suối, tỉ tê những ǵ Ngàn dâu xanh ngày kia che khuất bóng chàng, ngày nào sẽ trả lại cho ta bóng chàng về giữa những hàng cờ bay phấp phới?".
Không chỉ bóng bẩy và hoa mỹ, ng̣i bút Bùi Giáng lúc này c̣n thể hiện sự sắc sảo, tinh tế lạ thường khi phân tích tác phẩm. Hăy đọc thêm một đoạn này nữa trong cuốn sách viết về Truyện Kiều: "Kiều đă sống một cuộc sống giống chúng ta. Nàng đă đau khổ. Như mọi chúng ta thôi. Nhiều hơn một số, và ít hơn một số. Nàng tỏ ra có thiện chí ít nhiều, và nhiều lần tội lỗi. Đời nàng tầm thường là h́nh ảnh kiếp người tầm thường. Nhưng khi kể lại đời nàng cho ta nghe, Nguyễn Du đă có một giọng điệu nhặt, khoan, trầm, bổng thế nào, và đă làm sáng ngời bài học luân lư. Chúng ta cảm động. Khi lặng nghe Nguyễn Du chậm răi giọng lời, chúng ta thấy bên kia câu chuyện tầm thường, giữa cuộc sống tối tăm, một kiếp người đương vùng vẫy. Trong tâm khảm ta, từ nay h́nh ảnh ấy sẽ in sâu, rơ nét, đậm màu"... "Giá trị luân lư của Đoạn trường tân thanh không do những hành động vụn vặt của Kiều, mà do lời thuật chuyện của thi nhân, lời đây không phải là lời văn, mà là giọng nói của một tấm ḷng. Lời nói mang nặng biết mấy tâm tư tâm linh của người dân Việt hội tụ lại ở đây, một lần duy nhất, trong sáng hơn ca dao, thâm thúy hơn tôn giáo, diễm tuyệt hơn văn chương, v́ cái giọng năo nùng của một kiếp sống dở dang trong ḷng đau thương của thế kỷ".
Tuy nhiên, những áng văn tài hoa ngời sáng đó đă lùi dần để nhường chỗ cho một loại văn chương khác hẳn - một thứ văn chương vừa tài hoa vừa kỳ dị, tài hoa hơn và ngày càng kỳ dị hơn.
Màu thanh thiên mở
Một phút nữa thôi
Và màu sẽ mất
Suối sẽ xa đồi
Như mây xa đất
Một trang cũ kỹ
Mới lại một lần
Linh hồn giản dị
Bờ cơi thanh tân
Em sẽ đi đâu
Với đời đi mất
Tờ giấy phai màu
Hồng kia có thật
Máu ở vành môi
Về tim mấy bận
Suối bỏ rơi đồi
Ai làm sao giận
Với một ṿng tay
Với ṿng tay nữa
Ôm tháng giữa ngày
Đồng khô chết lúa
Với ṿng tay của
Mười ngón tay măng
Xin mở một lần
Màu thanh thiên của…
Trần Đ́nh Thu
Tiếp theo những cuốn sách giới thiệu các tác giả cổ điển Việt Nam, Bùi Giáng chuyển qua viết khá nhiều cuốn sách về con người, tác phẩm và tư tưởng của các nhà văn, nhà triết học phương Tây.
Đầu tiên là cuốn Tư tưởng hiện đại in năm 1960, đề cập đến Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone Weil, Paul Claudel, Saint Exupéry, Jean Paul Sartre, André Malraux. Cuốn sách này thể hiện một kiến thức uyên bác của tác giả, tuy Truyện Kiều thứ thiệt, thơ giả Kiều do tác giả sáng tác, thơ Tản Đà, thơ của nhiều nhà thơ khác được đưa vào đây không ít.
Năm 1963, bộ sách 2 tập dày ngót ngàn trang Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại ra đời. Đây là một cuốn sách vừa uyên thâm vừa kỳ lạ. Hăy đọc một đoạn văn ở phần Lời tựa: "Đă là con người quay chong chóng trên quả địa cầu tṛn, có một ai không cảm thấy ḿnh là lá cỏ lá rêu mù sương lá lách, lau cồn ĺa kim dứt cải…Vậy phải biết nhắm hai con mắt lại để làm một cái giây leo như Tố-Như leo khắp ḿnh mẩy Hoa Thi Đường Thi không chừa một chỗ".
Người đọc có cảm giác như ông nhảy phóc vào trong tư tưởng của triết gia này và… quậy. Xin hăy đọc đoạn văn sau đây nằm trong chương Martin Heidegger và vấn đề hữu thể: "Người yêu ta xấu với người / Yêu nhau th́ lại bằng mười phụ nhau / Nỗi niềm tưởng tới mà đau / Hàng rào giun dế gặm sâu cẳng gà / Con ơi học lấy nghề cha / Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. Tại sao một đêm ăn trộm bằng ba năm làm? Bằng ba năm hay bằng hai? Bằng hai hay bằng bốn? Một đêm mà bằng bốn năm kia ư? / Nhiều quá? – Mấy th́ vừa? – Hai năm? Ít quá? – Vừa bằng là ấy ấy ấy chính lààà BAAA. Và ta xin trở lại với nguyên ư của nguyên t́nh nguyên mộng lụy CA DAO LÀ MUÔN NĂM NGÀN ĐỜI VẠN ĐẠI NƯỚC VIỆT LÀ SƯƠNG TUYẾT KIỀU ĐẠM IN PHA: Con ơi! Nhớ lấy lời cha. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. – Vâng. Con nhớ lời cha. Tại sao nhớ? – V́ con có nghe. – Tại sao nghe? – V́ con có thấy. – Thấy ǵ? – Thấy rơ ràng lù lù trước mặt là… - Là ǵ? Là: Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. – Ai ăn trộm? – Sartre ăn trộm áo quần của Heidegger – Áo quần đẹp mới hay không? Đẹp mới vô ngần. Nhưng… Nhưng sao? Nhưng than ôi! Tại sao lại xảy ra cái chuyện này là cái nỗi nông kỳ bí… - Kỳ bí như thế nào? Cái nỗi nông nông nỗi ǵ? – Thưa rằng áo quần của Heidegger vốn của Heidegger th́ vốn của Heidegger mặc áo Heidegger coi ra rỡ ràng thật đẹp là Heidegger rỡ ràng quắc thước là hùng dũng Heidegger rạng vẻ cân đai Heidegger râu hùm mày ngài Heidegger hàm én đồ sộ cả cười hàm én Heidegger có nh́n đêm tế ngộ trông mặt là Heidegger trông mặt cả cười với Kiều và Thúy và Tố và Như và Nguyễn Du là ấy chính Heidegger đúng điệu thiên tài vùng vẫy trong bấy nhiêu niên đáng lẽ từ thiên thu làm nên kinh thiên động địa nếu gặp người từ lâu tri kỷ là đúng điệu tri kỷ của Heidegger…". Đoạn văn kiểu như vậy dài ngót cả mấy chục trang sách. Đọc nó người ta thấy như bước vào một mê hồn trận.
Trong hai tập sách dày hơn một ngàn trang này có rất nhiều đoạn văn như thế. Không ai có thể biên tập được những cuốn sách này. Bùi Giáng cũng biết điều đó nên trong phần mở đầu một chương của cuốn Tư tưởng hiện đại, Bùi Giáng viết: "Bài này trước kia chúng tôi đăng ở tạp chí MAI, kư tên chung với ông Hoàng Minh Tuynh. Ông Tuynh đă có nhă ư muốn bày tỏ niềm thông cảm đối với tôi là một kẻ xưa nay vốn chịu nhiều những hững hờ của độc giả. Bùi Giáng, đó là một danh từ có âm hưởng lăng nhăng, không gây được tin tưởng. Ông Tuynh đă chịu khó bỏ giúp tôi những đoạn nào tôi viết quá trớn theo điệu du côn của Sartre và loại hẳn những tiếng bê bối lai rai là những tiếng tôi quen dùng". Bùi Giáng đă cám ơn người biên tập cho ông trong phần mở đầu đó. Có lẽ đây là người duy nhất biên tập văn Bùi Giáng, và nhờ đó cuốn sách này trở nên gọn gàng, ta có thể hiểu được một số nội dung mà Bùi Giáng đưa ra. Nhưng bởi v́ ông Tuynh là đồng tác giả. C̣n nếu biên tập viên th́ không thể làm được như ông Tuynh.
Có một số người Bùi Giáng nhắc lại măi trong những trang viết của ḿnh như là một nỗi ám ảnh. H́nh bóng họ đă ăn sâu vào tiềm thức ông do những ấn tượng mạnh mẽ lúc ban đầu. Khi bệnh t́nh bộc phát, những h́nh bóng đó sẽ xuất hiện trở lại trong văn thơ ông theo những cách khác nhau. Trên lĩnh vực tri thức, đại thi hào Nguyễn Du và triết gia người Đức Martin Heidegger được ông lặp lại nhiều nhất.
Khi bước vào con đường nghiên cứu, Bùi Giáng quan tâm đến Nguyễn Du đầu tiên cùng với một số tác giả cổ điển khác. Chúng ta nhớ lại, cuốn Một vài nhận xét về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần được ông viết vào năm 1957 thật sáng trong mạch lạc. Kể từ đó, thiên tài Nguyễn Du bắt dầu "nhập hồn" Bùi Giáng. Ước tính có đến cả ngàn lần Bùi Giáng nhắc tên Nguyễn Du. Trong thơ, trong văn, trong giới thiệu tư tưởng và triết học, thậm chí cả trong những bản dịch tiểu thuyết nước ngoài… đâu đâu ta cũng bắt gặp h́nh bóng Nguyễn Du. Bùi Giáng c̣n sáng tác nhiều bài thơ về Nguyễn Du. Một số bài thơ khác không liên quan, th́ ông lại đề tặng Nguyễn Du.
Tuy nhiên, không phải như thế là Bùi Giáng sẽ dành những câu chữ hay ho nhất để viết về "cố nhân" của ḿnh. Ngược lại, phần lớn những bài thơ viết về Nguyễn Du đều rất cà rỡn. Ta hăy đọc vài đoạn thơ Bùi Giáng viết về Nguyễn Du. Đây là một đoạn trong bài Nhớ ông: "Nhớ hoài ông Nguyễn ông Du / Ông Như ông Tố Điếu Đồ biển Nam / Hồng Sơn Liệp Hộ hội đàm / Hồng Sơn sơn nguyệt minh quang một ḿnh". Hoặc một đoạn khác trong bài Tố Như nhớ quê: "Tôi nay lăo nhược hơn ông / Tôi ngoài bảy chục thong dong một mười / Ông chưa tới tuổi sáu mươi / Ĺa đời lúc mới tuổi ngoài năm lăm".
Đó là trong thơ. V́ thơ th́ không phải lúc nào cũng đưa được một người nào đó vào măi nên sự xuất hiện của Nguyễn Du cũng có giới hạn. Nhưng trong văn xuôi th́ Bùi Giáng liên tục đưa Nguyễn Du vào. Đi sâu vào các trang sách của Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn Du xuất hiện dày đặc. Khen thơ Hồ Dzếnh, Bùi Giáng viết: "Cũng may cho ông Nguyễn Du sinh ra ở thế kỷ trước. Nếu sinh ra đồng thời với Hồ Dzếnh, ắt ông Nguyễn Du không c̣n chịu viết Đoạn Trường Tân Thanh làm ǵ". Viết về một câu chuyện không đâu vào đâu, Bùi Giáng cũng lại nói về Nguyễn Du: "Lại cũng như ông Nguyễn Du ham có hơn ba trăm năm sau có kẻ khóc ḿnh. Có một mẫu thân Phùng Khánh cho con bú trong hiện tại đă đủ rồi, hà tất phải dỗ con nín khóc ba trăm năm sau". Viết về Albert Camus, Bùi Giáng cũng không quên Nguyễn Du: "Rồi những điều Nguyễn Du nói với ma, th́ quỷ lại tưởng là nói với quỷ. Những điều Nguyễn Du nói với quỷ, th́ thần thánh lại tưởng là nói với thánh thần. Những ngộ giải chạy tràn lan. Quỷ không hài ḷng về Nguyễn Du, thần thánh bực bội v́ Nguyễn Du". Trong những cuốn sách như Mùa thu trong thi ca, Thi ca tư tưởng, Đường đi trong rừng… cứ một đôi trang là ta bắt gặp h́nh ảnh Nguyễn Du hiện lên qua cái lăng kính hài hước của Bùi Giáng: "Nguyễn Du không kinh hoàng nhảy lui. Cũng không bị tẩu hỏa nhập ma, vùng vẫy rú lên một tiếng như Zarathustra also sprach. Ông điềm nhiên làm Nam Hải Điếu Đồ. Kẻ câu ấy câu cái ǵ tại Nam Hải?"… "Và đó cũng là duyên do kỳ dị thiên biến vạn hóa đă khiến Nguyễn Du mở một trận Ẩn Tàng kỳ bí cổ kim bằng cách: cả hư không đặt để nên lời, cả nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung của song trùng tịch hạp thượng thừa huyền môn tâm pháp – Nguyễn Du đều đem gán vào môi miệng Bạc Bà Tú Bà"…
Bùi Giáng c̣n có cái thú làm thơ giả Kiều để kư tên chung Bùi Giáng – Nguyễn Du hoặc Bùi Giáng – Tố Như. Đó là những đoạn lục bát chen vào giữa những đoạn văn xuôi, có tí chút "chất Kiều". Trong cuốn Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại có nhiều đoạn giả Kiều rất dài. Những câu giả Kiều ấy có khi sai cả vần sáu tám.
Cùng với Nguyễn Du là Heidegger. Ông này cũng xuất hiện rất nhiều trong các trang viết của Bùi Giáng, không kém ǵ Nguyễn Du. Không rơ triết gia người Đức này "nhập hồn" Bùi Giáng lúc nào mà đến năm 1963, khi Bùi Giáng viết bộ sách hai tập Martin Hedegger và tư tưởng hiện đại th́ đă thấy ông bị "tẩu hỏa nhập ma" bởi triết gia này rồi. Bùi Giáng đă viết đến năm sáu cuốn sách liên quan đến Heidegger. Nhưng như thế vẫn chưa thỏa măn, ông lại đưa triết gia này vào trong rất nhiều cuốn sách khác. Tuy nhiên khác với Nguyễn Du, Bùi Giáng ít dám "sờ cằm vuốt râu" Heidegger, dù đôi lúc cũng cà rỡn kiểu như: "Ông Cụ Già Nua Nước Đức Heidegger", "Heidegger Đức Quốc Nua Già". Người ta có cảm giác Heidegger được ông kính nể như một người thầy c̣n Nguyễn Du th́ ông mến yêu như một người ông vậy…
Trần Đ́nh Thu
Bùi Giáng yêu cũng thật lạ lùng. Trong ḷng ông có rất nhiều người đẹp, nữ nghệ sĩ Kim Cương và diễn viên điện ảnh Mỹ Marilyn Monroe chiếm một vị trí đặc biệt. Đối với hai người này, Bùi Giáng mạnh dạn nói năng mà không hề e ngại điều ǵ. Bởi trong tâm thức ông, họ là hiện thân của cái đẹp nhân gian.
Hiện có rất nhiều giai thoại về chuyện Bùi Giáng mê Kim Cương, nhưng có lẽ ta cũng không cần t́m hiểu rằng chúng thật giả bao nhiêu phần trăm, bởi điều đó không mấy quan trọng. V́ như trường hợp Marilyn Monroe, một người ở tận bên kia đại dương mà vẫn nhập vào hồn ông được, huống ǵ là Kim Cương tài sắc ở ngay tại Việt Nam.
Kim Cương là đối tượng số một của Bùi Giáng. H́nh bóng của người đẹp này dường như thường trú trong vô thức của ông chứ không phải thỉnh thoảng mới hiện ra như một số người khác. Bùi Giáng đă dùng mọi cách biểu đạt kỳ quái nhất để nói về Kim Cương. Bài thơ sau đây hẳn sẽ làm cho một số độc giả nữ cảm thấy "kỳ kỳ" nhưng đồng thời nó cũng cho thấy sự ám ảnh kinh khủng của người đẹp Kim Cương đối với ông. Đó là bài Cô Kim Cương ơi, in trong tập Sa mạc phát tiết, nguyên văn như sau: "Nếu ngày sau tôi chết đi, mà cô không thể giỏ cho một giọt nước mắt/Th́ cô có thể giỏ cho một giọt nước tiểu cũng được/(Nhớ giỏ ngay trên nấm mồ)/Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm cười mà đón nhận/(Ngậm cười chín suối hăy c̣n thơm lây)". Thật là một bài thơ không thể nào tưởng tượng nổi.
Nhưng không chỉ có vậy. Trong cuốn sách Con đường ngă ba, Bùi Giáng c̣n bị ám ảnh dữ dội hơn nhiều. Suốt mấy trang liền, ông nhắc đi nhắc lại "lời đề nghị" ở trên: "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ. Thiên tài buổi Hoàng Hôn thốt một lời như thế. Nhưng Vũ Lâm Xuân của Thệ Đa Lâm vẫn không thể trùng sinh trên đống xương tơi tả của ḿnh..."... "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ. Đó quyết nhiên là lời rốt ráo tối hậu. Không cách ǵ nói khác. Nấm mồ tại hạ. Không thể đổi tiếng đó ra làm một tiếng nào khác. Hăy đi tiểu. Có thể nào đổi tiếng đi tiểu ra làm một tiếng khác..."... "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ vẫn vĩnh viễn là ngôn ngữ tuyệt trù bất tận thi nhiên. V́ chỉ nói như vậy th́ ngàn vạn năm sau riêng h́nh ảnh cô Kim Cương sẽ vĩnh viễn đi về Trong Tháng Ba Lễ Hội để giải oan cho Tượng Vương hồi xứ Hoa Nghiêm Kinh..."... "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ là sự vụ cần yếu ban sơ cho cuộc tối sơ đi về hủy thân giữa trần thổ. Cô Kim Cương vén xiêm đi tiểu xong rồi, th́ từ nấm mồ của trần thổ hủy thân đó sẽ nảy nở ra cuộc đầu thai nơi núi đá...". Cứ một ư như vậy mà Bùi Giáng nói dông nói dài măi. Nhưng sau đó, cách khoảng mấy trang, Bùi Giáng lại đổi ư, không muốn giữ lời đề nghị trên nữa: "Hỡi mẫu thân Kim Cương! Mẫu thân hăy dừng cuộc đi tiểu trong một thời gian để suy ngẫm trở lại xem có thể tạo ra một vũ trụ khác để đi tiểu".
Chúng ta không cần quan tâm đến ư nghĩa của từng câu chữ. Nhưng chúng mang cái ư nghĩa tổng quát, đó là sự ứng xử của vô thức đối với từng khái niệm. Ở đây là sự ứng xử với cái đẹp khác giới tính của thi sĩ trong trạng thái tâm thần không b́nh thường.
Theo sau Kim Cương, Marilyn Monroe cũng được Bùi Giáng mê cuồng. Ông đă sáng tác một số bài thơ về người đẹp này. Ta hăy đọc bài Trời khóc Marilyn để xem Bùi Giáng viết về người đẹp này như thế nào: "Trời xanh úp mặt nghe tin/Thôi rồi! Em Má Ri Lyn đi rồi/Từ đây ta bỏ ngai trời/Thu thời gian đập tơi bời càn khôn/Giữa hư vô nếu em c̣n/Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta/Úp môi ôm mặt khóc ̣a/Cồn lê lên miệng là ba bốn lần".
Đó là bài thơ ông in trong tập Hoa lá cồn, xuất bản năm 1963. Sau đó trong phần Mưa nguồn ḥa âm, ông lại viết một bài thơ với cái tựa cũ là Trời khóc Marilyn. Bài thơ có mấy chục câu bắt đầu từ chữ luống, một loạt câu khác bắt đầu từ chữ một. Bài thơ này có một số câu chữ đi vượt quá giới hạn "đố tục giảng thanh", không thể trích dẫn vào đây được. Nhưng nó cho thấy rơ cái cách mà Bùi Giáng tŕnh bày về cái đẹp trần tục theo cảm hứng của ông.
Có lẽ nói măi cũng không hết được chuyện Bùi Giáng làm thơ về những người đẹp. Cho nên ta hăy đọc mấy câu thơ mà ông "phân loại đánh giá người đẹp" trong bài Quốc sắc Việt Nam sau đây: "Nam Phương Hoàng hậu đẹp một cách thong dong/Kim Cương Nương tử đẹp một cách thoải mái/Hà Thanh Công chúa đẹp một cách cởi mở/Trí Hải Ni cô đẹp một cách không lời". Bài thơ này c̣n dài nhưng chỉ trích dẫn chừng này câu cũng đủ cho thấy "vị giám khảo cuộc thi Người đẹp Việt Nam" này có con mắt tinh đời lắm.
Trần Đ́nh Thu
Không chỉ có Kim Cương và Marilyn Monroe, Bùi Giáng c̣n say đắm nhiều phụ nữ khác. Mỗi người một vẻ, họ hiện ra trong nhiều màu sắc kỳ bí khác nhau. Đó không phải là những nàng thơ theo nghĩa thông thường mà là hiện thân của cái đẹp.
Một cách vô thức, Bùi Giáng phân biệt họ theo những tiêu chí khác nhau. Những người đầu tiên có thể kể đến là Hoàng hậu Nam Phương và ni cô Trí Hải. Khác với nghệ sĩ Kim Cương và cô đào rực lửa người Mỹ Monroe Marilyn là hiện thân của cái đẹp nhân gian trần tục, hai người này thuộc về thế giới của cái đẹp thoát trần.
Một ngày nọ, Bùi Giáng nhận được một phong b́ gửi đến, trên có dán con tem in h́nh Nam Phương Hoàng hậu. Sự kiện nhỏ nhoi ấy lập tức gây xúc động lớn với ông. Từ lúc đó, Hoàng hậu Nam Phương trở thành một h́nh bóng ám ảnh ông. Bà bắt đầu xuất hiện trong các trang viết của thi sĩ. Trong cuốn Mùa thu trong thi ca Bùi Giáng viết: "Suốt bao năm dài tại hạ làm thơ, chung quy chỉ v́ cái màu xuân xanh bất tuyệt ban sơ của Dương Hoàng Hậu. Màu xuân ấy đă một lần tái sinh cách đây ba mươi năm trong h́nh hài máu me Nam Phương Hoàng hậu. Tại hạ yêu Dương Quư Phi bao nhiêu th́ cũng yêu Nam Phương Hoàng Hậu bấy nhiêu".
Mặc dù Bùi Giáng luôn tôn kính Nam Phương, nhưng ông cũng hài hước, cà rỡn, lan man trên h́nh ảnh của bà cũng bởi tính của ông như vậy. Tuy nhiên, Bùi Giáng cố gắng giữ "chuẩn mực", không bao giờ đi quá đà. Một đôi khi ngẫu hứng quá th́ ông cũng chỉ viết như thế này: "Chiêm bao anh thấy Hoàng hậu Nam Phương dắt tay Marilyn Kim Cương nương tử tới gơ cửa xin vào thăm viếng anh th́ anh bảo rằng anh đang bận viết lá thư cho em nên không thể nào đón tiếp Hoàng hậu được th́ cảm phiền Hoàng hậu hăy lui gót chờ qua ngày mai anh sẽ ân cần chiếu cố".
Bùi Giáng cũng có sáng tác một đôi bài thơ về Nam Phương. Trong bài Chiêm bao Nam Phương Hoàng hậu, dù là một bài thơ thuộc vào thể "điên loạn", nhưng ông vẫn đủ "tỉnh táo" để ng̣i bút không chệch qua chỗ thiếu đứng đắn: "Kê bô tí xí đêm đà/Ki ba ri xí i à xán da/Xă dan xoàng xĩnh giang hà/Ồ mô pha cố cồ ri xa ́/Tử t́ mỉm tí t́ ti/Miệng vàng hợp nhất nhu ḿ nhị biên/Ra sông ngồi ngó diện tiền/Ngần sương sái diện uy quyền nữ vương".
Bên cạnh Hoàng hậu Nam Phương, ni cô Trí Hải xuất hiện trong các trang sách Bùi Giáng một cách khá dày. Bà là một người có tŕnh độ uyên thâm, tác giả của một số đầu sách. Có lúc Bùi Giáng gọi bà là Trí Hải ni cô, có lúc gọi là mẫu thân Phùng Khánh. Bùi Giáng làm rất nhiều bài thơ về bà. Có thể kể tên một số bài như Mẹ Phùng Khánh, Kính tặng Phùng mẫu thân, Mẹ Phùng Thăng Khánh, Phùng Khánh Mẫu Thân...
Rất nhiều người thắc mắc v́ sao Bùi Giáng gọi người này là mẹ, là mẫu thân. Bùi Giáng cũng từng "giải thích" chuyện đó trong Thi ca tư tưởng như sau: "Phùng Khánh vốn là bà mẹ Việt Nam. Tôi lại là con dân Việt Nam. Vậy th́ tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, th́ chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, th́ chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?".
Có lẽ Bùi Giáng đă t́m thấy nơi người nữ tu này điều ǵ đó gần gũi với h́nh bóng người mẹ xa xưa của ông, hoặc là tấm ḷng nhân ái của bà làm ông cảm động, hoặc là trí tuệ mẫn tiệp của bà khiến ông nể phục... V́ một trong những lư do nào đó mà ta không thể đoan chắc được, thi sĩ bật ra tiếng gọi mẹ trong vô thức một cách da diết. Những bài thơ của ông v́ thế đọc lên thấy vừa tức cười vừa tội nghiệp: "Mẹ c̣n nhớ nữa con chăng/Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên/Tuy đôi phen chết nếp nền/Cung vang lừng bậc điệu đền bù xoang/Mẹ về ngơ vắng vườn hoang/Thừa thiên sông lạnh kéo sang khu rừng"..."Mẹ nh́n con nữa c̣n chăng/Mẹ đi đứng gót mẹ hằng hằng qua/Lúc vui buồn mẹ nhớ nhà/Quận châu xứ sở con đà lăng quên/Phùng thăng mẹ chớ xui nên/Từng cơn điên dại khôn đền cho con"... "Nghe tin con chết giữa đường/Mẫu thân Phùng Khánh càng thương con nhiều/Con bèn tái điệp giấn liều/Chết thêm một trận hoang liêu song trùng/Mẹ càng bất tuyệt nhớ nhung/Ngày đêm mẹ khóc vô cùng v́ con"... "Con thương Phùng Khánh vô ngần/Phùng thăng thân mẫu cũng gần như nhiên/Nguyệt rừng lộng lẫy man nhiên/Trăng ngàn thơ dại ngậm nghiêng nghiêng vành"...
Những câu thơ này, dù không được b́nh thường, nhưng nó lại gieo vào ḷng người đọc một nỗi niềm man mác. Phải chăng trong tiếng gọi mẹ thiêng liêng ấy là một sự cô độc tận sâu thẳm hồn người ? Nhưng Bùi Giáng là như vậy. Trong suy tư, trong cảm xúc, trong cuộc đời... ông lúc nào cũng hồn nhiên như con trẻ.
Trần Đ́nh Thu
Con người rong chơi suốt ngày này đă để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đáng kinh ngạc. Tổng số sách Bùi Giáng viết hoặc dịch đă được in lên tới trên dưới 70 cuốn. Làm sao ông có thể tạo ra một khối lượng tác phẩm đồ sộ như vậy trong khi không ai thấy ông làm việc cả? Do Bùi Giáng viết với tốc độ quá nhanh chăng? Quả là như vậy thật. Câu chuyện do một nhà văn gần gũi với Bùi Giáng trước năm 1975 kể sau đây quả là kỳ lạ.
Nhà văn này cho biết, khi một tạp chí văn học thực hiện số chuyên đề về Bùi Giáng vào năm 1973, ông được phân công giới thiệu những bài thơ mới nhất mà Bùi Giáng sáng tác. Những bài vở khác của số tạp chí đó đă được những người khác thực hiện xong, chỉ c̣n chờ đợi những bài thơ của Bùi Giáng thôi. Nhưng Bùi Giáng sống rày đây mai đó, không có một địa chỉ nào cố định, biết ông ở nơi đâu mà t́m. Thật là nan giải. Đang loay hoay chưa biết kiếm t́m ở đâu th́ thi sĩ bất ngờ ghé vào ṭa soạn. Trước mắt mọi người là một bộ da bọc xương trong quần áo rộng thùng th́nh, một mái tóc dài đạo sĩ rối như tổ quạ, một cái túi vải cộng với một cây gậy. Nhà văn mỉm cười kéo Bùi Giáng ra trước ṭa soạn chụp chung một tấm h́nh làm kỷ niệm rồi mới hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Bùi Giáng gật đầu đồng ư liền.
Tưởng rằng Bùi Giáng sẽ lấy những bài thơ đă chép sẵn ở túi vải ra hoặc nếu không có sẵn th́ ông nói để chờ ông về nhà lấy đem tới liền hoặc là ông sẽ khất hôm sau đem thơ đến. Nhưng tất cả mọi dự đoán đều không đúng. Bùi Giáng chỉ hỏi mượn ṭa soạn một cây bút, xin một xấp giấy và một... chai bia. Xong rồi ông bắt đầu ngồi xuống bàn. Và ông viết. Không phải là ông ngồi nhớ để chép lại những bài thơ làm từ hôm qua hôm kia hoặc tuần trước, mà là ông ngồi để sáng tác thơ ngay tại chỗ.
Bấy giờ mọi người mới kinh ngạc nh́n nét bút, trong tay ông "thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả", và những câu thơ lần lượt hiện ra trên giấy mà theo lời nhà văn trên là "như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút, từ đầu ngón tay thôi". Chai bia c̣n sủi bọt th́ Bùi Giáng c̣n ngồi viết không ngừng. Thơ cũng tuôn ra không ngừng trên những trang giấy. Nét chữ cũng nắn nót chỉn chu chứ không phải gạch đi xóa lại. Sau khi chứng kiến "gă phù thủy" Bùi Giáng sáng tác thơ ngay tại chỗ, nhiều người trong ṭa soạn bấy giờ mới hiểu được một phần bí ẩn của con người ông. Một người khác chứng kiến chuyện này tâm sự: "Lần đó, tôi đă thấy, đă hiểu tại sao Bùi Giáng cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lăng du mà vẫn có ngay ngh́n câu một buổi. Đúng là ngủ ra thơ, thở ra thơ, uống la-de, hút thuốc lá ra thơ".
Sau khi sáng tác đủ đơn đặt hàng của ṭa soạn, Bùi Giáng uống cạn chai bia, cười và lặp lại ba tiếng cửa miệng "vui thôi mà", rồi đứng lên đi thẳng. Bùi Giáng ra khỏi ṭa soạn mà mọi người vẫn c̣n ngồi ngẩn ra đó, ai nấy đều chưa hết bàng hoàng kinh ngạc.
Quá tŕnh tư duy và lao động sáng tạo trong con người Bùi Giáng như thế nào? Ông đă h́nh thành những tứ thơ ra sao? V́ sao ông có thể tuôn ra được những câu thơ mà không cần suy nghĩ? Đó là những câu hỏi mà rất nhiều người ṭ ṃ muốn biết nhưng có lẽ không ai t́m hiểu được. Ông Huỳnh Ngọc Chiến, một người quen biết với Bùi Giáng kể, một lần nọ có mấy người bạn Quảng Nam cùng ngồi uống cà phê với Bùi Giáng, một người rất ái mộ Bùi Giáng ṭ ṃ hỏi ông thường làm thơ như thế nào, th́ Bùi Giáng cười và nói: "Qua làm thơ cũng giống như em là kỹ sư mà làm toán lớp ba rứa thôi". Theo ông Huỳnh Ngọc Chiến th́ lúc đó Bùi Giáng trả lời rất thành thật, chẳng có một chút biểu hiện cao ngạo nào cả. V́ thế có thể tin lời Bùi Giáng rằng với ông, làm thơ là một công việc dễ dàng, đơn giản như ta làm toán cộng toán trừ, đặt bút vào là làm chứ không cần phải suy nghĩ.
Chính nhờ khả năng viết nhanh đó mà Bùi Giáng đă cho ra đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ như trên. Giai đoạn ra sách nhiều nhất của Bùi Giáng là khoảng từ năm 1964 đến năm 1970. Riêng năm 1969 Bùi Giáng cho ra đời đến mười cuốn sách. Cũng trong những năm này có những người đứng ra thành lập nhà xuất bản với mục đích chủ yếu để in tác phẩm của Bùi Giáng.
Trần Đ́nh Thu
Từ trước đến nay có rất nhiều người đặt câu hỏi: Bùi Giáng có phải là một người bị mắc bệnh điên hay không? Cũng đă có rất nhiều bài viết về Bùi Giáng đề cập đến vấn đề này, trong đó một số tác giả khẳng định Bùi Giáng là người điên trong khi một số khác lại nói ngược lại.
Trong một bài viết, tác giả Trần Đới khẳng định: "Một sự thực là Bùi Giáng chưa bao giờ điên. Cũng như anh chẳng bao giờ giả điên. Càng chưa bao giờ Bùi Giáng bất măn trước bất cứ thời thế nào. Bởi lẽ dễ hiểu là Bùi Giáng chẳng sống theo thời thế, mà chỉ biết sống từ cơi văn nghệ lúy túy càn khôn của anh. Thời kỳ của Bùi Giáng bộc phát ra bên ngoài mà chúng ta gọi là điên, ấy là thời kỳ tỉnh lại và hưng phấn cùng độ của người nghệ sĩ. Tất cả lẽ chân thiện mỹ của nghệ thuật thi ca từ nhiều đời nhiều kiếp đều dồn về lúc đó... Bây giờ người thi sĩ này chỉ c̣n một cách duy nhất để sáng tác nguồn cảm hứng kia là sống".
Một người khác, ông Nhất Thanh, th́ viết như thế này: "Ồ, chẳng có ngôn từ nào thích hợp với Bùi Giáng cả. Ông chỉ là một ông già b́nh thường nhất, dễ thương nhất. Nếu có điên chăng, có lẽ là tất cả chúng ta".
Bùi Giáng hiển nhiên cũng biết việc nhiều người tranh căi nhau rằng ông có điên hay là không điên. Ông đă tự viết về ḿnh như sau: "Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, th́ trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy".
Đọc đoạn đó của ông người ta thấy hơi bối rối. Vậy th́ Bùi Giáng là người như thế nào? Ông là một người điên hay là một người b́nh thường? Nhưng có một sự thật không thể chối căi: Bùi Giáng đă từng là bệnh nhân của bệnh viện tâm thần hẳn hoi. Năm 1969 là năm ông in được nhiều tác phẩm nhất nhưng cũng là năm mà ông vấp phải cú sốc lớn thứ hai trong đời. Bùi Giáng bị hỏa hoạn thiêu cháy hết toàn bộ sách vở quư hiếm, một số tranh và đặc biệt nhiều bản thảo hoàn chỉnh mà ông rất tâm đắc. Con người hồn nhiên của Bùi Giáng có lẽ không bị sốc v́ chuyện này, nhưng sau đó người thân của ông phải đưa ông vào Bệnh viện Tâm thần Biên Ḥa để chữa trị. Cung Tích Biền kể: "Khoảng đầu thập niên 70 có lẽ người ta đưa ông vào nhà thương điên Biên Ḥa chữa cái bệnh đứng ngă ba nh́n ra ngă bảy. Từ nhà thương điên trở ra, bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường t́nh: "Nhà thương Biên Ḥa trị cái tẩu hỏa hay nhỉ!". Ông trả lời tỉnh queo: "Chữa trị quái ǵ đâu. Chẳng là ở ngoài ḿnh thấy ḿnh điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra ḿnh là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn ḿnh nhiều. Do vậy mà ḿnh tự động thôi điên".
Nghe Bùi Giáng nói như thế, hẳn người ta cảm thấy ngờ ngợ rằng những việc làm không giống ai của ông là do ông muốn thế chứ chẳng phải do bệnh tật ǵ gây ra. Nhà văn Đào Hiếu viết: "Cũng có thể hiểu Bùi Giáng như thế này: Ông coi đời là hữu hạn, là phi lư, là chốn lưu đày, là cơi phù du là cái mớ ḅng bong vớ vẩn...".
Chung quanh vấn đề Bùi Giáng, có hai điều cần nêu ra sau đây. Một là, không phải chỉ có ḿnh Bùi Giáng vừa có những biểu hiện tâm thần vừa làm thơ viết văn. Có rất nhiều bệnh nhân của các bệnh viện tâm thần là nhà văn, nhà thơ, họa sĩ... Họ có thể vẽ tranh, sáng tác văn thơ ngay trong thời gian điều trị bệnh. Có điều họ không có sẵn cái gốc tài năng xuất chúng như Bùi Giáng nên không trở thành hiện tượng đặc biệt mà thôi.
Hai là, những hành vi khác người của Bùi Giáng đă được các nhà chuyên môn xác định có nguyên nhân bệnh lư hẳn hoi chứ không phải là vấn đề tư tưởng hay nhân sinh quan ǵ cả. Có điều, v́ ta thấy cái điên của ông cũng hơi khác người nên cảm thấy ngờ ngợ. Nhưng dần dần ta sẽ được rơ hơn khi xem xét đến các vấn đề khác. Cần biết rằng, không riêng ǵ Bùi Giáng mà nhiều bệnh nhân tâm thần khác, tiếp xúc với họ đôi khi ta cũng dễ nhầm lẫn v́ thấy họ có vẻ thật thật giả giả, nửa điên nửa tỉnh. Cho nên chúng ta không thể kết luận được về t́nh trạng của họ mà phải là các nhà chuyên môn.
Không ai biết Bùi Giáng, đọc Bùi Giáng mà không yêu mến ông. Đó là sự thật. Gọi ông là người tỉnh cũng được, điên cũng được, dù là tỉnh hay điên ông cũng đă để lại cho đời những vần thơ mênh mang trác tuyệt. Ông mở ra một thế giới thi ca cao vời, ảo diệu. Nói như một người từng gần gũi với ông: "Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có được thêm ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta c̣n được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu". Quả đúng như vậy !
Trần Đ́nh Thu
Năm 1970, Bùi Giáng được các bác sĩ ở Bệnh viện Tâm thần Biên Ḥa cho xuất viện. Ngay trong năm đó, ông đă in hai cuốn sách là Biển Đông xe cát và Mùa thu trong thi ca. Qua năm 1971 ông in Ngày tháng ngao du. Lúc này ông cũng đă bắt đầu ngao du thực sự trên khắp những nẻo đường Sài thành chứ không chỉ ngao du trong các trang sách.
Phạm Xuân Đài một người gần gũi với Bùi Giáng kể: "Bây giờ anh ít làm thơ lắm, c̣n các cơn điên th́ viếng anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện vùng chợ Trương Minh Giảng, chỗ Đại học Vạn Hạnh là nơi ngày xưa anh từng trú ngụ, đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng. Anh đang thể hiện một năng lực nào đấy đang đầy ắp trong người anh. Có khi anh múa may trong một lớp áo ḷe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa vơ, miệng ḥ hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô h́nh đang hiện diện ngay trước mặt ḿnh. Đêm khuya một hai giờ sáng người ta nghe thấy một người đi vừa tranh luận với chính ḿnh, lời lẽ khó hiểu, th́ ai nấy đều biết đó là Bùi Giáng".
Năm 1972 ông in khá nhiều sách: Đường đi trong rừng, Lời cố quận, Lễ hội tháng ba, Con đường ngă ba - Bước đi của tư tưởng. Năm 1973 in Bài ca quần đảo, Hoàng tử Bé. Năm 1974 in Mùi hương xuân sắc.
Khi không làm ǵ, ông lại ngao du nhiều hơn. Một người quen biết khác với Bùi Giáng, ông Nguyễn Văn Thức kể lại như sau: "Có một lần gặp một người bạn, người bạn đó đă nói với tôi: Bùi Giáng dạo này điên lắm. Tôi bán tín bán nghi tự hỏi không biết có thật không”. Nhưng một hôm, Nguyễn Văn Thức đă tận mắt chứng kiến những ǵ xảy ra trước mắt ḿnh, mới tin lời người bạn nói lúc trước: "Một ông lăo ăn mặc thời thượng đang nhảy múa trên đường Duy Tân, nay là đường Phạm Ngọc Thạch. Quần áo lếch thếch, dơ dáy, màu sắc lung tung. Tay cầm một ống sáo, đầu đội khăn có cắm lông gà lua tua. Râu ria xồm xoàm. Ống sáo trên đầu bịt một chiếc bong bóng đỏ, mỗi lần thổi bung lên tóp xuống, không phát ra một thứ âm thanh nào. Đang từ ở một mé đường ông lại chạy tông ra giữa đường nhảy múa. Chiếc bong bóng cứ liên tiếp phùng ra tóp vào. Lũ trẻ chạy theo bu quanh ḥ reo thích chí. Cứ thế ông diễu hành dọc theo đường Duy Tân lên đường Hiền Vương, nay là đường Vơ Thị Sáu. Đám trẻ cứ bu theo ông chọc ghẹo. Ông rượt đuổi chúng chửi rủa thậm tệ và miệng lẩm nhẩm những ǵ không ai hiểu nổi. Đứng ngoài nh́n ông diễu hành, tôi thấy cám cảnh nên đă trờ xe đến gần gọi ông, nhưng ông không hề nghe vẫn tiếp tục nhảy múa. Vài đứa trẻ nh́n tôi lấy làm lạ. Tôi tiếp tục gọi ông. Lần này ông quay lại nh́n và nhận ra tôi rồi nhờ tôi chở đến nhà Đinh Cường. Khi ngồi ở sau xe tôi, Bùi Giáng trở nên hiền khô. Tôi thấy hai đ̣n bánh treo ṭn teng ở cổ kỳ kỳ. Bùi Giáng hiểu và cho tôi hay là mẹ Trịnh Công Sơn vừa mới cho".
Và đây là một cảnh tượng khác xảy ra trên đường phố Sài Thành mà "diễn viên chính" không ai khác hơn ngoài thi sĩ của chúng ta: "Bùi Giáng nhảy múa trước Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đường Nơ Trang Long quận B́nh Thạnh. Ông cầm một cây đu đủ khô queo dài cỡ hơn hai mét. Lúc nào cũng vung cây đu đủ lên nhảy múa, quần áo vẫn lôi thôi, chằng vá đơn kép, màu sắc linh tinh. Đám trẻ con, người lớn bu vào. Giữa đám đông ấy tôi đến gần Bùi Giáng, vỗ vai ông: Nhảy múa ǵ măi vậy, ông? Nghe hỏi, ông quay phắt lại phía tôi, nhếch cặp mắt trắng dă, dữ tợn với dáng vẻ thủ thế. Tôi mỉm cười cầu ḥa. Khi nhận ra tôi - vẫn một tên trung niên ông đă từng gặp: À, mày, mày cho tao về xóm gà đi. Vào nhà tao chơi. Không cần ǵ phản ứng của tôi, ông nhảy phóc lên yên sau xe đạp. Lúc này xe gắn máy của tôi đă mất nên chở ông rất khó khăn, vả lại trên tay ông đang cầm một cây đu đủ dài hơn hai mét. Bùi Giáng và tôi đang là tṛ cười cho đám đông. Tôi nói là bận không thể chở được. Ông nói như phán: Cứ đi đi, chở cây này về dùm tao. Bùi Giáng cứ gác gốc cây đu đủ lên tay lái xe đạp, ngọn th́ ông đặt lên vai. Ông lại phán: Đi mày ! Giây phút này tôi bỗng trở nên một gă hề, rất hề. Giá ông đọc vài câu thơ Pháp lên giọng rồi xuống giọng th́ tuyệt. Nhất định là một sân khấu ngoài trời. H́nh ảnh này tôi đă gặp nhiều lần ở quán cà phê Huy Tưởng. Tôi cố sức đạp đi mà không nổi, v́ lỉnh kỉnh quá. Vài người trong đám đông đề nghị, đi xích lô thôi. Tôi đồng ư ngay. Bùi Giáng th́ lưỡng lự. Nhưng trời xui đất khiến ông cũng nhảy xuống. Tôi đưa ông ít tiền để ông đi xe, nhưng ông chỉ lấy một nửa trước sự ngạc nhiên của tôi và nhiều người..."
Nói về chuyện ngao du của Bùi Giáng, Phạm Xuân Đài kinh ngạc: "Cái ông già gầy g̣ ngoài sáu mươi ấy lấy đâu ra sức lực để trải qua các cơn điên dữ dội của ḿnh? Đấy là một điều bí ẩn. Đi lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đă làm được".
Trần Đ́nh Thu
Le petit Prince, một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất thế gian của nhà văn Pháp Saint Exupéry, cuốn sách được coi là bài thơ bất hủ ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người, bản dịch tiếng Việt đầu tiên của cuốn sách tuyệt vời đó là của Bùi Giáng với cái tên Hoàng tử bé. Hàng triệu người Việt Nam qua nhiều thế hệ đă yêu mến Hoàng tử bé qua ng̣i bút hồn nhiên lăng đăng của Bùi Giáng.
Trong các năm từ 1966 trở đi, Bùi Giáng dịch rất nhiều tác phẩm văn học của các nhà văn nổi tiếng nước ngoài. Mảng sách này chiếm một tỷ lệ khá lớn trong những cuốn sách của Bùi Giáng. Ngoài các tác phẩm của Saint Exupéry, Bùi Giáng c̣n dịch các tác phẩm của Shakespear, Albert Camus, André Gide, các tác giả Trung Quốc và nhiều tác giả phương Tây khác. Ông thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và chữ Hán.
Trong những bản dịch của ông, một số ông dịch trung thành với nguyên bản, một số khác ông vừa thể hiện được tinh cốt của tác phẩm, vừa... sáng tạo. Và có một số tác phẩm ông không chịu dịch trọn cuốn sách mà vừa dịch vừa… cà rỡn.
Ta hăy đọc một cuốn tiểu thuyết dịch nửa chừng như vậy của Bùi Giáng. Cuốn Nhà sư vướng lụy được Bùi Giáng dịch, Quế Sơn xuất bản lần đầu vào năm 1969. Đây là tác phẩm của một nhà văn Trung Hoa đồng thời cũng là một nhà sư tên là Tô Mạn Thù.
Thoạt đọc cuốn sách, ta bắt gặp cái giọng văn vừa khúc chiết vừa văn hoa của ông khi xưa, lúc ông viết "Một vài nhận xét…": "Tại Bách Việt, về phía Nam bờ biển, có dăy Kim Nhân Sơn nguy nga dựng sững. Những lúc trời quang mây tạnh, ta có thể nhận thấy phía bên dưới sườn núi xanh um ẩn ẩn hiện hiện một mái ngói hồng lóng lánh, lập ḷe như lớp vảy con ḱnh ngư. Đó là ngôi chùa Hải Vân, vẫn c̣n nguyên như thuở xưa, cái ngày nhà Tống sụp đổ"… "Cho tới ngày nay, nh́n sơn lĩnh ở xa xa cuối chân trời, vân khí sầm uất, bàng bạc chiều chiều như c̣n gợi măi vang bóng triều đại xưa. Và thỉnh thoảng tiếng sóng vỗ bi thống c̣n khiến lữ khách ngậm ngùi, cúi đầu lặng lẽ, không dám gợi lại những bóng ma năo nùng của quá khứ".
Ta thích thú đọc tiếp những trang sau. Nhưng đọc khoảng hai ba chục trang nữa th́ ta chợt thấy thấp thoáng một vài cụm từ "có vấn đề", chẳng hạn: "Con xin trút giũ thảy thảy hết trở lại cho Như Lai, để suốt một b́nh sinh đi theo dấu chân liên tồn của Tuyết Mai tiên nữ".
Tuy nhiên chúng ta vẫn c̣n đọc được thông suốt văn bản thêm khoảng bốn nămchục trang tiếp theo. Rồi cuối cùng ta đụng vào cái mớ rối ḅng bong của Bùi Giáng. Lúc này, Bùi Giáng bắt đầu lên đồng: "Mặt hồ nguy nga nào tinh khiết thế, cho đến nỗi những ngư ông ngư phủ đă ngây thơ báo biểu rất mực rằng, nh́n đăm đăm vào ắt các anh sẽ thấy những Đô Thị Phiêu Bồng Huyền Thuyết Cổ Hy nhô lên bất chợt bởi thần thuật Đa Na Ô kỳ bí, ở diện tiền bọn người h́ hục lao công, hồ ngọc ôi, ngươi quyến rũ dă man ǵ như thế, khiến hằng hằng mỗi mỗi cường quốc nọ cứ lăm le muốn chiếm hữu đất đai xứ sở kia cho bằng được".
Từ lúc này trở đi, người ta không biết đâu là lời của tác giả nguyên bản đâu là lời của Bùi tiên sinh nữa. Lúc đó Bùi Giáng bắt đầu… múa bút. Ông vứt bỏ những t́nh tiết của tiểu thuyết ra ngoài để thay vào đó là những chuỗi dài từ ngữ dính chùm nhau, kéo từ trang này qua trang khác của ông, hết văn xuôi lại đến thơ.
"Hỡi ôi!/Lời tối hậu? Ư tuyệt trù /Bỗng dưng chắp nối cho sầu ma hoang/Lời thăm thẳm? Ư khôn hàn/V́ đâu riêng tụ về hàng thơ điên/Bán khai nhân vật diện tiền/Sương lung bán ẩn suốt miền cảo thơm".
Nhưng chưa hết đâu. Bùi Giáng vẫn chưa thỏa măn khi đă đùa giỡn như thế. Cho nên ông đưa nàng Kim Cương của ông vào trong cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc: "Ôi em Kim Cương ngàn thu một thuở Nương Tử rất mực vô ngần Nam Diện cành Nam màu lan sơn thủy". Chúng ta không thể b́nh luận ǵ được ở chỗ này nữa.
Cho đến lúc Bùi Giáng hoàn toàn quên luôn việc dịch tiểu thuyết khi ông nhảy vào trong bối cảnh để xưng là tại hạ và ngâm thơ hoặc là hát: "Anh đă hái ngành lá cây thạch thảo/Em nhớ cho mùa thu đă chết rồi/Chúng ta sẽ không tương phùng được nữa/Mộng trùng lai không có được trên đời".
Có lẽ nói sẽ không hết ư. V́ vậy nên trích vào đây một đoạn bản dịch tiểu thuyết Nhà sư vướng lụy của Bùi Giáng:
"Nói xong nàng vén áo xiêm, chỉnh đốn quỳ một chân xuống, trang trọng đón chút quà mọn như đón tặng vật trời ban. Ôn tồn thuần hậu mà rằng:
- Kính tạ Tam Lang! Tam Lang từ nay đừng dùng tiếng "cô nương cô nưỡng cô nuồng" mà gọi tôi. Nghe có vẻ ra làm sao ấy. Chẳng thân thiết tí nào.
Tôi nói:
- Kính thưa cô nương. Tại hạ đồng ư là: tiếng cô nương nghe ra không có vẻ thân mật. Nhưng c̣n tiếng "cô nuồng" th́ quả là thân thiết bịch bồ.
Tĩnh Tử hỏi:
- Hà dĩ kiến đắc?
Tôi đáp:
- Nhân v́ tiếng "cô nuồng" có chứa chất âm thanh "uông uông uồng uồng" ngụ trong tính t́nh nên lời tuyệt diệu.
Tĩnh Tử hỏi:
- Tuyệt diệu như răng?
Tôi nói:
- Như rằng uông uồng chuồn chuồn thèm thuồng và ở truồng vân vân.
Tĩnh Tử ph́ cười:
- Tam Lang chớ có giỡn như thế em không có bằng ḷng.
Tôi nói:
- Dạ vâng.
Nuồng bảo:
- Dạ, vâng cái chi. Tam Lang hăy dùng tiếng ừ vậy.
Tôi đáp:
- Nhiên.
Nuồng nói:
- Phải. Nhiên. Giờ đây em đă nhận tặng vật của anh, sớm hôm nh́n ngắm, em sẽ không quên con người sẽ không quên con người đă ban cho".
Đến đây cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc coi như hoàn toàn biến mất trong bàn tay của một dịch giả tài hoa nhưng không b́nh thường này.
Trần Đ́nh Thu
Không chỉ làm thơ, dịch tiểu thuyết, viết sách khảo luận triết học, Bùi Giáng c̣n viết rất nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thơ. Đọc những tùy bút này, ta nh́n thấy tâm hồn ông mênh mang ảo diệu, thăm thẳm như bầu trời. Ông cảm nhận được những điều tinh vi huyền bí nhất của thi ca. Ông đúng là tri âm của các thi sĩ. Chúng tôi xin giới thiệu một bài trong số đó, đây là bài Bùi Giáng viết về Tuệ Sỹ, trích trong tập Đi vào cơi thơ.
Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia c̣n ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u... Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông chả nên lấy thế làm bực ḿnh.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại c̣n mang một nguồn thơ Việt phi phàm ? Một bài thơ "Không đề" của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh măi trên đồi hoang
Phút vội vă bỗng thấy ḿnh du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Mới nghe bốn câu thôi, tôi đă cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cơi dạ.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, nếu không th́ nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.
Ông đáp: Để về hỏi lại ni cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời
Hội cũ
Xin xuống ḍng thư thả như thế. Ắt nh́n thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm ǵ ? - Khung trời hội cũ.
Một hội Đạp thanh ? Một hội nao nức ? - "Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?".
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ...
Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một h́nh dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều "phải nói" với mọi người "muốn nghe" với riêng ḿnh "không thiết chi chuyện nói".
Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy ǵ hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm ǵ tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).
Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.
Vua Gia Long ngày xưa đă từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du: "Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài th́ trẫm trọng dụng (... ...). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế ?".
Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu v́ sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cơi mộng thần di, hồn dịch !
Vua đă ban cho chan ḥa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa ḷng, vẫn chưa cứ thả
mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.
Đáp: Ấy chính bởi đôi mắt nh́n đây mà thấy những đâu đâu.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Đôi mắt ướt ? Đôi mắt của ai ? V́ sao ướt ? V́ lệ trào, hay là v́ quá long lanh ?
Thi sĩ không nói rơ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.
Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại v́ nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan ḥa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đă đánh mất rồi chăng ?
"Áo màu xanh không xanh măi trên đồi hoang"
Áo nào màu xanh ? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đă ngẫu nhiên một lần nh́n đắm đuối ?
Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. V́ Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài G̣n tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh măi
Trên đồi hoang
Phút vội vă bỗng thấy ḿnh du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vă bỗng thấy ḿnh du thủ ? Ḿnh là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vă lại dám làm thân du thủ ? Dám gác bỏ kệ kinh ? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn ?
Phải có nh́n thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng v́ lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Mối t́nh rộng thả suốt biển non im ĺm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của ḷng ḿnh bơ vơ không gột rửa.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Ta tưởng như nghe ra "cao cách điệu" bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.
Thi nhân đă mấy phen ngồi ngó trăng tàn ? Ngồi trên một đỉnh đá ? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?
Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm t́nh sừng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du:
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Một tiếng "buồn chăng" lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, d́u về cả một khúc tâm thanh đoạn trường:
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi:
Đếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Đủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh
Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ ? Một tuổi xuân chưa vừa ? Một tuổi vàng sớm chấm dứt ? Một tuổi "đá" sớm từ giă mọi yêu thương ?
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thư khép ḿnh trong bốn bức tường với nhạt nḥa ủ rũ ngục tù.
Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đă trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.
Trần Đ́nh Thu
Tôi đă gặp Bùi Giáng nhiều lần trên trang sách trước khi thực sự được gặp ông. Cơ may ấy có được chính là nhờ tôi đi chiến trường. Chứ nếu cứ ở Hà Nội, th́ chắc măi sau ngày giải phóng tôi mới đọc được Bùi Giáng.
Hồi chiến tranh, sách vở của miền Nam ra được Hà Nội rất ít. Nhưng ở chiến trường, tôi lại có điều kiện đọc rất nhiều sách xuất bản ở Sài G̣n từ tủ sách của ông Nguyễn Văn Linh chủ trương sắm cho Ban tuyên huấn TWC (R). Tôi có người bạn làm "thủ thư" của tủ sách ấy, v́ vậy không chỉ được đọc thơ Bùi Giáng, tôi c̣n được đọc nhiều tác phẩm của A.Camus và Saint-Exupery mà ông dịch. Tôi không thuộc số người làm thơ chịu ảnh hưởng Bùi Giáng - số này tôi biết khá đông - nhưng tôi chịu lối làm thơ ngẫu hứng của Bùi Giáng. Nó rất gần với "thơ tự động" của phương Tây, nhưng lại đặc Việt Nam, v́ đó thường là thơ lục bát. Lục bát th́ không thể là thơ... Tây được rồi! Bùi Giáng chơi với thơ lục bát như kiểu trẻ con chơi với những con giống hay những mẩu gỗ nhỏ - chơi tṛ xếp đặt. Những câu lục bát bất thần của ông có thể khiến ta phải giật ḿnh. Không biết Mưa nguồn có phải là tập thơ đầu tay của Bùi Giáng không, nhưng tôi đă đọc trong đó những câu thơ tinh khiết, những câu thơ tự nguồn mà thường ở những tập thơ đầu tay - như một mối t́nh đầu - nhà thơ có được một cách hoàn toàn không cố gắng, thậm chí không ư thức. Ngày c̣n ở chiến trường, tôi đă biết Bùi Giáng rất mê thơ Huy Cận do đọc những lời "tán" đầy đam mê của ông về thơ Huy Cận. Tôi không ngờ, tháng 5/1975, khi vào Sài G̣n và t́nh cờ được gặp Bùi Giáng, th́ chính ông đă đưa thơ Huy Cận ra đố tôi. Dạo đó mới giải phóng, người ta th́ bận năm bận mười, c̣n đám phóng viên binh vận chúng tôi th́... thất nghiệp. Chiến tranh đă kết thúc, chúng tôi cũng không c̣n "đối tượng" để tuyên truyền nữa. Vậy là suốt ngày tôi lang thang la cà ngoài đường, mê mẩn với những "quầy sách dă chiến" trên các con phố lớn của Sài G̣n. Một buổi tối, anh Hoàng Liên - một cây bút sắc sảo của "đội ngũ tuyên truyền binh vận" chúng tôi - xuất thân từ một kư giả Sài G̣n - mời mấy anh em chúng tôi đến nhà anh uống rượu mừng sum họp. Tôi nhớ nhà anh Hai Hoàng ở một con hẻm thuộc khu Nguyễn Thông - Ḥa Hưng ǵ đó, nhà cũng khiêm nhường thôi. Anh Hoàng Liên là người Quảng Nam, trước khi vào chiến khu h́nh như khá thân với nhà văn Vũ Hạnh. Dĩ nhiên anh cũng là đồng hương của Bùi Giáng thi sĩ, nhưng tiệc rượu hôm đó th́ chỉ Vũ Hạnh, nhà láng giềng, lại là "dân công tác thành" - tức "VC nằm vùng" là được mời. Thủ trưởng của chúng tôi hôm ấy cũng có mặt, và tỏ ra hứng khởi. Th́ lúc ấy ai mà chẳng hứng khởi: chiến tranh đă chấm dứt, gia đ́nh sum họp,"Miền Nam nhận họ" cơ mà! Chúng tôi và nhà văn Vũ Hạnh vừa uống rượu vừa nói với nhau nhiều chuyện một cách từ tốn và giữ lễ. Anh Vũ Hạnh th́ tôi đă biết tiếng và đă đọc nhiều trước đó, biết cả anh là "Việt Cộng nằm vùng" do đọc báo Sài G̣n. Có lẽ do mới giải phóng, người ở rừng và người ở thành lần đầu gặp nhau hay sao đó mà anh Vũ Hạnh có vẻ dè dặt. Chúng tôi th́ vô tư, cứ uống và nói to, vui vẻ thoải mái. Bỗng cửa nhà anh Hai Hoàng mở toang, và một vị khách bất ngờ xuất hiện. Một người râu tóc tung bay, già th́ không hẳn v́ dáng đi c̣n phong độ lắm, mà trẻ th́ không phải do có rất nhiều... râu (!). Anh Vũ Hạnh nhỏ nhẹ giới thiệu: "Anh Bùi Giáng, nhà thơ". Tôi nhớ, h́nh như lúc ấy Bùi tiên sinh đang quẩy trên vai cái ǵ đó, trông nửa như Bồ Đề Đạt Ma, nửa như... bác hành khất. Bùi tiên sinh không đợi mời, ông ngồi luôn xuống sàn nhà cùng chúng tôi, và... đọc thơ. Không phải thơ ông, tôi nhớ, mà h́nh như là thơ Huy Cận. Đọc thơ và nói huyên thuyên, rất vui, chẳng giữ ư hay để ư đến bất cứ thứ ǵ. Anh Vũ Hạnh có vẻ hơi ngại, nhất là khi có mặt vị thủ trưởng của chúng tôi. Nhưng Bùi Giáng th́ chẳng ngại ngần. Ông cũng nâng ly, uống một chút rượu cho vui, và nhắm với món... nói. Thấy trong chiếu rượu chỉ có tôi là c̣n trẻ và tôi tỏ ra phấn khởi khi gặp ông, Bùi tiên sinh quay sang bắt chuyện với tôi. Ông nói như Hoàng Liên đây th́ ông tin là VC, v́ nhà Hoàng Liên nghèo. C̣n Vũ Hạnh, ông không tin, v́ Vũ Hạnh có nhà ba hay bốn lầu ǵ đó! Anh Hoàng Liên phải thanh minh cho khách là nhà văn Vũ Hạnh có được ngôi nhà này do nuôi chim cút chứ không phải làm áp-phe hay bóc lột ai. Bùi Giáng cười khà khà và chuyển sang... đố thơ. Dĩ nhiên không phải đố thủ trưởng của tôi v́ thủ trưởng hơi nghiêm và có vẻ không hưởng ứng lắm. Bùi Giáng bèn đố tôi. Ông đọc mỗi lần mấy câu thơ và hỏi tôi có biết thơ của ai không? Có đoạn tôi biết là thơ Huy Cận, có đoạn tôi không biết. Tất cả đều là thơ Huy Cận. Bùi tiên sinh chê tôi, ông không hiểu tại sao một người trẻ được giới thiệu là "nhà thơ" như tôi mà không thuộc hết thơ Huy Cận (?). Đúng là tôi dở, nhưng tôi căi cố với Bùi tiên sinh là tôi chưa thuộc chứ không hẳn là không thuộc. Chưa thuộc v́ tôi chưa có điều kiện đọc hết thơ Huy Cận, chứ nếu đă đọc th́ có khi cũng thuộc (?). Tôi nói lấy được chứ thuộc thơ vốn là điểm yếu nhất của tôi. Ngay thơ ḿnh tôi cũng không thuộc, nói ǵ đến thơ người! Bùi tiên sinh có vẻ rất vui, ông nói đủ chuyện mà giờ tôi cũng không nhớ là những chuyện ǵ. Tất nhiên với Bùi Giáng th́ không có "vùng cấm" trong những câu chuyện không đầu không đũa như thế. Do đó thủ trưởng của tôi có vẻ không hài ḷng. Ông không nói ǵ, nhưng tôi và anh Hai Hoàng đều biết. Thủ trưởng của tôi dĩ nhiên không biết Bùi Giáng là ai, có những đặc điểm ǵ, lại mới giải phóng, t́nh h́nh Sài G̣n chưa ổn định, nên ông cảnh giác là chuyện không khó hiểu. Nhưng với Bùi Giáng, đó cũng không là trở ngại ǵ lớn! Ông vẫn nói, vẫn vui, vẫn hoa chân múa tay như ở chỗ không người. Và ông chuyển sang... coi bói. Cho tôi.
Trần Đ́nh Thu
Kỳ 15 mỗ không tìm thấy, sau nầy có tình cờ tìm được thì sẽ mang lên sao...
------------------------------------------------------
Trong bài thơ Vùng (Zone) nổi tiếng, G.Apollinaire, có lẽ nhìn từ tháp Eiffel đã thấy những cây cầu bắc qua sông Seine như một bầy cừu "kêu be be sáng nay". Nếu thay vì bầy cừu là bầy dê, thay nàng chăn cừu là chàng chăn dê, lại thấy thấp thoáng hình bóng một Bùi Giáng nơi thượng nguồn con sông Thu Bồn đang chăn những đám mây trên mặt nước sông vào buổi sáng mùa thu nào đó.
Là người dịch rất nhiều tác phẩm trứ danh của văn học Pháp, nhưng hình như Bùi Giáng chưa có dịp đi Paris. Vậy mà tôi đã... gặp ông ở ngay kinh đô Ánh sáng này. Cuối năm 2003, tôi sang Paris dự Festival Thơ quốc tế, và khi có dịp ghé quán Foyer Viet Nam ở số 80 phố Monge quận 5 (khu Latin), người tôi gặp đầu tiên ở đây là... Bùi Giáng! Đúng hơn, là tôi đã gặp một bức chân dung Bùi Giáng vẽ bằng bút sắt. Nét vẽ rất có thần. Lại đôi mắt sáng quắc nhìn tận đâu đâu. Lại vẻ mặt hồn hậu của một lão nông xứ Quảng Nam đang mơ màng như nhớ lại câu thơ tuyệt vời của Apollinaire: Bergere ô tour Eiffel le troupeau des ponts bêle ce martin (Ôi tháp Eiffel nàng chăn cừu bầy cầu be be sáng nay - bản dịch của Hoàng Hưng). Tôi hỏi nhà thơ Võ Văn Thận - người phụ trách Foyer VN - và được biết bức chân dung Bùi Giáng là của họa sĩ Trần Văn Liêm-một người rất hâm mộ Bùi tiên sinh ở Paris. Mà không chỉ họa sĩ Liêm, khi Võ Văn Thận tặng tôi tập thơ mới của anh Bàn chân dưới đất, tôi cũng đã đọc trong những câu thơ của người xa xứ này rất nhiều hơi hướng Bùi Giáng. Anh Thận cũng là người hâm mộ, và có lẽ hơn cả hâm mộ, yêu quý Bùi Giáng. Đi lang thang giữa những phố cổ của Paris, thỉnh thoảng tôi lại gặp những người già chánh hiệu... Bohemiens. Họ uống rượu hoặc không uống rượu nhưng ngồi hoặc nằm ngay vỉa hè những con phố đông người qua lại. Trong hình dáng những người già tóc râu xõa xượi ấy, tôi lại thấy thấp thoáng một Bùi Giáng đang cảm nhận Paris bằng tất cả thể xác và tâm hồn mình. Chợt nhớ bản dịch tuyệt vời của Bùi tiên sinh tác phẩm u ẩn mà run rẩy tình người của Saint-Exupery Cõi người ta (Terre des hommes). Đúng là phải tới tay Bùi Giáng thì nguyên tác này mới có chữ "cõi" và chữ "ta" trong bản dịch. Giở một quyển sổ cũ, cách đây hơn 20 năm, tôi đã chép lại một đoạn văn xuôi trong Cõi người ta, chép để giữ cho mình như một lời biết ơn tác giả và dịch giả: "Punta Arenas! Tôi tựa lưng vào bờ giếng. Những đàn bà già nua tới đây lấy nước. Trong tấn bi kịch đời họ, ngày mai tôi sẽ biết riêng chỉ một cử động tôi đòi ấy thôi. Một bé con ngửa cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Ngày mai trong kỷ niệm của tôi, sẽ chỉ còn ghi riêng hình ảnh một đứa bé lạc loài, sầu khổ không nguôi. Tôi là kẻ lạ tới đây. Tôi không biết, không biết gì hết cả. Thế giới họ, tôi không thể bước vào, làm tôi dám nói. Những yêu thương, những ganh ghét, những niềm vui của con người, cả một tấn tuồng rộng lớn đó diễn ra trong một khung cảnh bé bỏng xiết bao. Từ đâu con người khơi dẫn được về cho mình nguồn khát vọng vô biên. Từ đâu? Con người vốn bị phó mặc cho rủi may, bị vất ra sống trên một miền đất mà phún thạch hỏa sơn còn hâm hấp nóng, mà những trận bão cát sắp tới, mà những cơn mưa tuyết sắp về, còn hăm dọa mãi! Nền văn minh của họ chỉ là một lớp vàng mạ mỏng manh. Hỏa sơn sẽ xóa, sẽ bôi. Một biển mới sẽ dâng triều. Một cơn lốc cát". Tác phẩm văn học nước ngoài, khi qua một dịch giả đồng điệu sẽ hiện ra bằng Việt ngữ như vậy đó! Một bài thơ văn xuôi đích thực, đầy xúc cảm và nhuyễn như thể nó được viết bằng tiếng... Việt. Tôi biết, nhiều người kêu Bùi Giáng ở một số bản dịch khác, rằng ông dịch tùy hứng và cả... tùy tiện quá! Nhưng chúng ta thử đọc Cõi người ta hay Hoàng tử bé của Saint-Exupery, hãy đọc Ngộ nhận hay Carnets của Albert Camus qua bản dịch Bùi Giáng, ta sẽ cảm nhận được hết sự tinh tế và uyên áo của nguyên tác qua một bản dịch. Tôi nhớ, ngày còn chiến tranh, ở chiến trường Đông Nam Bộ, tôi đã chép từng đoạn văn A.Camus trong Sổ tay (Carnets) qua bản dịch Bùi Giáng, và những đoạn văn tuyệt vời ấy đã an ủi tôi rất nhiều ngay trong những hoàn cảnh thắt ngặt của chiến tranh. Sau này, đã có những dịch giả dịch lại những tác phẩm trên của A.Camus hay Saint-Ex, nhưng phải nói thực, họ không vượt qua được bản dịch cũ của Bùi Giáng. Cần phải ghi công ông ở lĩnh vực truyền bá văn học thế giới này. Một người chỉ tự học ngoại ngữ mà có thể trở nên uyên thâm như thế, có thể "tung tăng" như thế trong khi dịch thuật, quả là hiếm có! Người như thế mà chưa một lần sang Paris để mặc sức chăn cừu hay chăn dê trên sông Seine thì thật đáng tiếc! Nhớ những ngày ở Paris hay xuống Orleans với nhà văn Đặng Tiến, ở đâu tôi cũng cảm thấy phảng phất sự hiện diện của Bùi Giáng trong những câu chuyện trao đổi về văn học, trong những bài thơ hay bài viết của các bạn văn người Việt ở Pháp mà tôi được đọc. Anh Thận còn tặng tôi một đĩa DVD về ngày giỗ Bùi Giáng ngay tại Paris, tại quán Foyer thân thiết và ấm cúng. Những bài thơ của Bùi tiên sinh đã được trình bày trong ngày giỗ ấy. Coi như ông đã đến Paris và đã lang thang dọc những con phố lát đá mờ ảo khu Latin này rồi, khu Đại học nổi tiếng của Pháp và cũng là nơi vinh danh rất nhiều nhà thơ nhà văn Pháp mà Bùi Giáng đã có lần chuyển dịch sang Việt ngữ. Trong dòng sông văn học khá bình thản của ta mà có được một người "quậy tưng" như Bùi Giáng kể cũng đặc biệt và thú vị. Nhưng rồi, ngay trong những lúc "quậy" như thế, chợt ta chìm lắng lại với những câu thơ kiểu như thế này: "Một hồn rũ rượi trong mưa/Nhớ ôi ngọc trắng ngày chưa cát lầm". Như một khúc bi ca về cội nguồn trinh thục của Thơ. Như nỗi hoài nhớ về một thiên đàng tuổi thơ đã biền biệt. Thiên đàng ấy bên một dòng sông và những ngọn đồi lúp xúp mọc toàn sim mua...
Thanh Thảo
Trở lại với giai đoạn Mưa nguồn, chàng thanh niên Bùi Giáng c̣n giữ niềm tin ở mùa xuân, ở trần thế trong thời gian, ở Màu xuân: Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt, hay trong bài Bờ xuân tiếp theo:
Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hăm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích. (Mưa nguồn, tr.38-39)
Mùa xuân, mùa xuân hiển hiện, lung linh ánh sáng, long lanh thinh sắc. Trong niềm hoan lạc của đất trời, con người an tâm vui hưởng, v́ tin ở sự tuần hoàn miên viễn, như tin vào một cánh én:
Én đầu xuân tuyết đầu đông
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa
(Mưa nguồn, tr.62)
Người ta thường nói: xuân về. Chữ về tin tưởng an lạc như Về Cố Quận. Xuân về với gió đông, xuân mang thương nhớ trở về (Nguyễn Bính). Chữ về gây cảm giác ấm cúng, thân thiết, tin cậy:
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Ta nh́n nhau trong bóng nước mơ màng
Nước chảy măi bởi v́ xuân trở lại
Với ḍng trong em hẹn ở bên đường
Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại
Thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia
Ta sẽ đợi nghe đời em nói măi
Bên đời ai vạn đợi đă chia ĺa
Mùa xuân hẹn thu về em trở lại
Bên đời đi c̣n giữ măi hay không
Gịng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng.
(Mưa nguồn, tr.61)
Thơ là hạnh phúc của ngôn từ như trong Một ngày lễ hội, tên một bài thơ Holderlin được Heidegger b́nh minh. Hạnh phúc trong lời nói, của lời nói, dù nói để chẳng nói ǵ: thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia. Câu thơ không mang lại một thông tin nào cả. Xưa kia làm ǵ ? Bờ nước ấy: ấy nào ? Nào ai biết. Chỉ biết là không gian và thời gian hạnh phúc. Hạnh phúc không cần nội dung. Hạnh phúc không cần lư do, không cần tự thức.
Ngơ ban sơ, hạnh ngân dài, cổng xô c̣n vọng... Bùi Giáng mách ta thế, và có lần kể:
Xưa kia tôi đă có lần
Và bây giờ đă đôi phần tôi quên
(Ca dao, Mưa nguồn, tr.143)
Nhà thơ không cho biết đă có lần làm ǵ, nhớ ǵ và quên ǵ, nhưng chúng ta cảm rằng xưa kia ấy là hạnh phúc, ngay trong nhịp thơ tần ngần, ngập ngừng, lơ đăng. Hồ Dzếnh rất được Bùi Giáng yêu thích, đă thật thà hơn:
Có lần tôi thấy tôi yêu
Dáng cô thôn nữ khăn điều cuối thôn
Xa rồi, nay đă lớn khôn
Biết cô hàng xóm có c̣n nhớ nhau ?
Chúng ta đối chiếu, sẽ thấy sự khác biệt giữa hai tác giả, và đặc sắc của thơ Bùi Giáng mà chúng tôi gọi là hạnh phúc của ngôn ngữ:
Xin yêu măi và yêu nhau măi măi
Trần gian ôi ! Cánh bướm cánh chuồn chuồn Hạnh phúc ấy là Xuân trần gian, ăm ắp trong thơ Bùi Giáng, thời điểm mưa nguồn trên mái tóc. Cùng với tinh thần đó, trước khi mất, ông đặt cái tên Thơ vô tận vui cho một tập di cảo sắp sửa được xuất bản.
Tuy nhiên, niềm vui vô tận ở đây chỉ là một minh triết về cuộc sống. Từ đó không thể nói đời và thơ Bùi Giáng lúc nào cũng vui, dù theo lẽ buồn vui tương đối của sự đời. Vui ở đây hiểu theo nghĩa hiền triết Đông phương, như cá vui, bướm vui trong Nam Hoa kinh của Trang Tử. Nh́n dưới góc độ tư tưởng hiện sinh của phương Tây, th́ ngược lại, có thể nói đến "bi kịch".
Từ 1948, Bùi Giáng có câu thơ sấm kư: Ngày Xuân xanh sơ ngộ để thiên thâu (Mưa nguồn, tr.57). Câu thơ quan trọng, mang mâu thuẫn, có tính cách biện chứng, giữa thiên thu và sơ ngộ. Một mặt, nó nằm trong mạch Vũ trụ ca của Huy Cận:
Ḷng chim gieo sáng dệt vân sa
Trên bước đường xuân trở lại nhà
Mở sách chép rằng: vui một sáng
Ngh́n năm c̣n măi tấm ḷng ta
(Áo xuân, 1942)
Mặt khác, nó báo hiệu cho chủ đề “chết từ sơ ngộ”, và Màu hoa trên ngàn sơ khai đă là Màu hoa cuối cùng:
Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng
(Chớp biển, tr.45)
Bùi Giáng, rất sớm, đă linh cảm rằng ḿnh suốt đời đứng nguyên ở một tọa độ, xác định bởi một không gian Cố Quận và một thời điểm Nguyên Xuân:
Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay
Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
Người đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này
(Chỗ này, Mưa nguồn, tr.82)
Có một mùa xuân nào, tuần hoàn trong trời đất, cùng với niềm vui nào đó. Nhưng có một hạnh phúc khác, màu xuân khác không bao giờ trở lại với nhân gian:
Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận
Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào
(…) Người viết măi một màu xanh cho cỏ
Người viết hoài một màu cỏ cho xuân…
(Bài ca Quần Đảo, tr.22-23)
Rồi suốt đời, khi sáng suốt, khi cuồng điên, qua hàng vạn trang sách, người thơ chỉ làm hoài làm hủy một bài thơ, vẽ cho ḿnh một chân dung duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân.
Xuân mười sáu suốt bến xuân ch́m tắt
Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ
(Bài ca Quần Đảo, tr.11)
Năm mười sáu tuổi đă xảy ra biến cố ǵ trong đời tác giả làm ch́m tắt mùa xuân ? Chúng ta không biết, chỉ biết là ông làm thơ từ tuổi ấy, khoảng 1942, tại Huế, theo lời ông kể ở đầu sách Lời Cố Quận.
Xuân về xuân lại xuân đi
Đi là đi biệt từ khi chưa về
Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu.
Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa.
Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu.
Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa nay có một.
Đặng Tiến
Hôm mùng ba mùng bốn theo nhau đẩy lùi mồng một mồng hai của hôm nay Nguyên Đán (Mưa Nguồn, tr.164)
Câu thơ văn xuôi này của Bùi Giáng mang hai đặc tính: một là ư nghĩa nói về ngày Tết và mùa Xuân, hai là chữ nghĩa đi ngược chiều thời gian.
Dĩ nhiên là mồng ba đẩy lùi mồng hai; mồng hai đẩy lùi mồng một. Như vậy hôm nay Nguyên Đán nằm ở vị trí nào trên chuỗi tháng ngày? Nói khác đi, Bùi Giáng đứng tại thời điểm nào ở đầu tháng giêng để phát ngôn?
Lời thơ theo trật tự số mục, và lối đếm thông thường: mùng một, mùng hai… mùng ba, mùng bốn… Nhưng theo ư nghĩa câu thơ th́ phải nói ngược lại: mùng bốn mùng ba (sẽ) theo nhau đẩy lùi mồng hai mồng một. Như vậy, nhà thơ phát ngôn từ ngày hôm nay Nguyên Đán, như Nguyễn Bính năm 1940:
Năm mới tháng giêng mồng một Tết
C̣n nguyên vẹn cả một trời Xuân
Nhưng nếu hiểu (đă) theo nhau, th́ tác giả lên tiếng vào ngày mồng năm. Và trong cả hai giả thuyết, trật tự chữ nghĩa trong câu thơ Bùi Giáng vẫn không thuận chiều.
Rối rắm như vậy để nói lên một điều cơ bản: thơ Bùi Giáng là một “ḍng nước ngược” một tâm thức đi ngược chiều thời gian, trong một Sử Lịch, ngược ḍng Lịch Sử.
Trong hàng vạn trang sách để lại, Bùi Giáng thường dùng từ Sử Lịch. Chỉ một lần dùng chữ Lịch Sử để chối bỏ:
Sử Lịch phai trang
Chạy quàng
Là Lịch Sử
(Lá Hoa Cồn, tr.55)
Xuân trong thơ Bùi Giáng là xuân không mùa, xuân duy nhất và tuyệt đối, mà ông gọi là Nguyên Xuân (Lá Hoa Cồn, tr.26), là khởi thủy của nguồn sống, nguồn thơ, quê của Em Mọi, của Đười Ươi, đồng thời là đối tượng, là cứu cánh của sáng tạo, của Lời Cố Quận, Tiếng Gọi Về:
Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
(Mưa Nguồn, tr.25)
Tác phẩm, và cuộc đời Bùi Giáng là niềm thủy chung trước sau như một với một Màu Hoa Trên Ngàn: ông khởi đi từ đây và trở về lại đấy.
Xuân là nguồn mạch thơ tuôn tuôn từ miền xa biệt:
Lỡ từ lạc bước chân ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn
oOo
Mùa xuân xuất hiện thường xuyên trong tập Mưa Nguồn, và tái hiện trong Lá Hoa Cồn, về sau chỉ thấp thoáng mỗi ngày một ít, ở những thi phẩm cuối đời.
Mưa Nguồn - thi phẩm đầu tay và đều tay nhất của Bùi Giáng được in năm 1962, gồm có nhiều bài làm từ 1948. Lời thơ trong sáng, tươi thắm và tha thiết, vào tập bằng hai câu mào đầu:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau
Là câu thơ nổi tiếng sớm nhất của Bùi Giáng, v́ nó có thể được sử dụng ở nhiều tần số khác nhau: buồn hay vui, u hoài hay đùa cợt, ví dụ khi bè bạn gặp nhau ngoài phố, lặp lại câu thơ: xin chào nhau giữa con đường, dù không hiểu miên trường là ǵ.
Và ư tác giả có thể ngược lại: mùa xuân phía sau, miên trường phía trước. Cũng cần nói thêm, thời đó, 1962, thơ Bùi Giáng chỉ được truyền tụng trong một giới độc giả và bằng hữu, đồng hương, chứ không phải là một “hiện tượng văn học” như gần đây.
Có thể là thơ của tuổi xanh, nên tập Mưa Nguồn đă khởi đi từ nhiều h́nh ảnh thắm tươi, điệu thơ ánh ỏi:
Những nhành mai sớm sương bên lá
Những nhành liễu chiều gió bên cây
Cũng lay lất bởi đời xuân em ạ
Thế nên chi anh cũng viết ḍng này
(Những Nhành Mai, Mưa Nguồn, tr.10)
Lời thơ tham dự với đất trời vào niềm hoan lạc của mùa xuân. Thể thơ cổ điển, nhưng tác giả đă trộn lẫn thơ bảy và tám chữ, với âm điệu lạ ở câu hai. Nhưng đặc sắc trong thơ Bùi Giáng thời ấy là những h́nh ảnh tân kỳ trong thể thơ truyền thống:
Tay lẩy bẩy níu ǵ xuân bay biến
Ô thiều quang ! Làn nước cũ trôi mau
Em đi lên vói bắt mấy hương màu
Miền đất Thượng có mấy bờ hoa mọc
Xa biệt lắm Mưa Nguồn trên mái tóc
Đă mấy lần thổi lạc lệ lưa thưa
(Giă từ Đà Lạt, 1958, Mưa Nguồn, tr.94)
Lời thơ diễn tả niềm hoang mang trước thời gian, ư tưởng không mới, nhưng lối kết hợp ẩn dụ th́ mới, so với lối thơ tám chữ trước đó.
Ở Xuân Diệu, Huy Cận niềm ám ảnh của phôi pha không gây bất ngờ như với Ôi thiều quang ! làn nước cũ trôi mau…
Trần gian phôi pha, thời gian hủy diệt, nhưng nhà thơ chấp nhận quy luật, nên đă gh́ siết hai tay, Nàng Thơ đẹp của trần gian ứa lệ:
Tôi đă nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
(…)
C̣n ở lại một ngày c̣n yêu măi
C̣n một đêm c̣n thở dưới trăng sao
Th́ cành mộng c̣n tung lên không ngại
Níu trời xanh tay vói kiểng chân cao
Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết
Sẽ rồi ra vĩnh biệt với ngươi thôi
Ta chết lặng bó tay đầu lắc
Đài xiêu ôi xuân sắp rụng mất rồi
(Phụng Hiến, Mưa Nguồn, tr.30)
Những bài thơ tin yêu cuộc sống, tươi sáng và thắm thiết như vậy ít khi thấy ở những tập thơ sau, mà cũng ít người nhắc đến. Âu cũng là một thiệt tḥi cho ông. Chúng tôi trích dẫn một bài thơ xuân thắm tươi, có lẽ làm vào mùa xuân 1973, toàn văn:
Nắng Nguyên Đán
Chạy đi em, nắng gió bốn chân trời
Về chân đất dưới chân em mọc cỏ
Nắng Nguyên Đán lục lam hay hồng đỏ
Tía vi vu hồng lục cũng bao hàm
Chạy đi em ! sương gió nắng thênh thang
Trời đất đẹp từ b́nh minh vũ trụ
Nắng Nguyên Đán của nguyên xuân đầy đủ
Cỏ hoa hương chồi nhú lộc miên man
Và riêng mở duy Một Hàng Ẩn Mật
Nắng phơ phất v́ sắc hương phơ phất
Dưới khung trời mặt đất mở thênh thang
Chạy đi em, gót ngọc bỏ hai hàng.
(Bài Ca Quần Đảo, tr.54)
Phong cách nhắc lại một bài thơ trước:
Chạy đi em, qua vườn thắm theo ngày
Cùng với phút giây này phơi mở lá
Em ngó nhé cành xanh cây giục giă
Hoa nghiêng đầu ríu rít cạnh chim kêu…
(Mưa Nguồn, tr.96)
Nhưng nhịp thơ nhanh, âm điệu khỏe, h́nh ảnh rộn ràng hơn, một điệu thơ hiếm có ở Bùi Giáng, nhưng vẫn lấy lại chủ đề nguyên xuân, và giọng lẳng lơ cố hữu, cỏ mọc hai hàng, đi đến ngôn ngữ Ẩn Mật về sau. Tóm lại, một bài thơ không Bùi Giáng mà vẫn Bùi Giáng.
Đặng Tiến
Mưa Nguồn, tên sách là một từ ngữ, h́nh ảnh thông thường, như trong thành ngữ dân gian, chớp bể mưa nguồn.
Những trận mưa rừng núi là hiện tượng thiên nhiên quen thuộc, có lẽ Bùi Giáng đă nhiều lần chứng kiến cụ thể thời trai trẻ, khi chăn dê miền trung du Trung Phước, khoảng 1946. Đây là những trận mưa giông lớn, ào ạt đổ xuống rất nhanh, nhất là vào mùa hè, gây ấn tượng mạnh. Mưa Nguồn có thể hiểu theo nghĩa đen.
Lại thêm nghĩa bóng: mưa móc, ân sủng dội xuống nơi cội nguồn cuộc sống, ào tuôn, “giáng” xuống một lần rồi thôi, nhưng cũng có thể trở lại, trong lẽ tuần hoàn, như lời chờ mong của Tản Đà: Nước đi ra bể lại mưa về nguồn, trong Thề Non Nước.
Cần hiểu thêm, chữ nguồn, ở quê Bùi Giáng, c̣n có nghĩa đời sống của dân tộc thiểu số ở miền trung du Trung Bộ, mà Bùi Giáng thường xuyên tiếp xúc. Họ thuộc nhiều chủng tộc, chủ yếu là người Gié Triêng và Ca Tu, mà cuộc đời hoang dă đă tạo ra và lưu lại nhiều ấn tượng sâu xa trong tâm thức Bùi Giáng. Cuộc trao đổi hàng hóa giữa hai miền xuôi ngược - ngày nay gọi là Kinh Thượng - đă để lại câu ca dao:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên
Nậu nguồn là những thương nhân chuyên môn buôn bán với Mạn Ngược. Và ở đây có thể phát âm hai vần ngùn/chùn theo giọng Quảng Nam của Bùi Giáng, cũng như Mưa Ngùn. Như vậy mới kết vần được hai câu ca dao địa phương khác, mà Tế Hanh hay Sơn Nam ưa tham chiếu:
Chim quyên xuống đất ăn trùn
Anh hùng lỡ vận lên ngùn (nguồn) đốt than
Thơ Bùi Giáng, có khi cần phải phát âm theo giọng tác giả, mới thú vị:
Chén trà sương sớm bên thềm
Vừa chờ chim hót vừa thèm chim (chiêm) bao.
(Chén Trà, Báo Thời Văn, tr.24)
Chim hót đối ngẫu với chim (chiêm) bao.
Chữ Nguồn ở Bùi Giáng là một h́nh ảnh vừa quê mùa vừa uyên bác, tự nhiên mà tinh tế. Gốc Hán Việt là “nguyên”, là nguồn cội, là nguồn sống, là Sơ Nguyên Ngọn Suối: con chim điên v́ nhớ Suối vô cùng. Suối cũ Suối xanh Suối bờ mọc cỏ. Suối vơ vàng em có hai tay Suối mừng nh́n thấy. Suối khóc suốt đêm bây giờ suối nín... (Gió Nguồn, Lá Hoa Cồn, tr.75).
Suối ở đây là Nguồn Xuân Tinh Thể. Nhưng nói vậy là nói lắp, v́ Xuân đă là Nguồn, và Suối đă là Xuân. Tiếng Anh rất hàm súc khi dùng một từ Spring để chỉ Xuân và Nguồn. Trong thơ Bùi Giáng, Xuân đồng nghĩa với Nguồn, như trong tiếng Anh. Nó là cơi uyên nguyên có trước Trời Đất, là “cái cửa khe huyền diệu” - “huyền tẫn chi môn” theo lời Lăo Tử. Chữ “tẫn” Ngô Tất Tố diễn dịch là khe, mà có người cắt nghĩa là giống cái, tức là mẹ đẻ của muôn vật. Đó cũng là một nghĩa”(1).
Có lẽ, từ đó h́nh ảnh khe, kết hợp với người Nữ, thường xuất hiện nơi thơ Bùi Giáng. Chữ môn nghĩa là cửa (nhân tạo), linh mục Ḍng Tên, Claude Larre dịch là Porte (des secrètes merveilles)(2) có lẽ, về sau đă gợi ư cho Bùi Giáng làm đoạn thơ nổi tiếng bắt đầu với hai chữ ngơ và cửa:
Ngơ ban sơ, hạnh ngân dài
Cửa xô c̣n vọng điệu tài tử qua
Niềm vui, nghĩa sống con người đă xô cửa bước ra từ cơi ban sơ ấy, và ngân dài, âm vọng qua lời thơ của người tài tử. Nhưng về sau lại lỡ từ lạc bước bước ra... và tác giả, hay độc giả có thể tùy nghi ráp nối nhiều câu lục bát khác vào đoạn trên, như Tuệ Sĩ đă gợi ư trong một bài báo rất uyên bác, trên Báo Văn 1973:
Ta về ngóng lại mưa sa
Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào
Hoặc:
Em về giũ áo mù sa
Trút quần phong nhụy cho tà huy bay
Vân vân... Như đă nói: toàn bộ tác phẩm Bùi Giáng có thể xem như là một bài thơ duy nhất, một nét chữ lên đàng quẩn quanh. Và người đọc lư thú, v́ cảm giác tham dự vào cuộc chơi, thậm chí là đồng tác.
Người đời thường trích dẫn mấy câu thơ hay, bề ngoài đơn giản, nhưng kỳ thật là phức tạp:
Hỏi tên ? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê ? Rằng mộng ban đầu đă xa
Gọi tên rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.
(Chớp Biển, tr.132)
Hai câu đầu là một h́nh ảnh từ chương. Câu sau đă khó hiểu hơn: một, hai, ba nghĩa là ǵ? Hoặc ta cho là thơ cà chớn, không cần t́m hiểu; hoặc ta t́m hiểu và tham chiếu vào Đạo Đức Kinh, lời Lăo Tử: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”; ư thức con người đong đưa giữa cái nghi và cái diệu: không nghi th́ không có diệu, không nhờ cái diệu th́ không giải tỏa được cái nghi. Đo và Đếm là hai thao tác của Tâm và Tưởng để tiếp xúc và nhận thức ngoại giới: đo cái liên tục và đếm cái gián đoạn. Nhưng c̣n là, là ǵ? Là môi giới qua Lời Nói. Nhưng Lời Nói là ǵ? Chúng ta trở về vị trí đong đưa sóng biển giữa Diệu và Nghi.
Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng đơn giản. Mà không hiểu, chưa chắc đă đơn giản.
Bàn về một chữ Xuân mà phải dàn xa dặm dài, như vậy phải biết ngừng lời, v́:
Thưa rằng nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
(Chào Nguyên Xuân, Mưa Nguồn, tr.25)
Đặng Tiến
Và có lúc, Bùi Giáng đă đẩy niềm u hoài tiền sử của ḿnh lên xa hơn nữa trong thời gian, qua h́nh ảnh Đười Ươi - người chưa thành người :
Ta về rũ áo đười ươi
Trút tờ phong nhă cho người phụ nhau
(Ta Về, Thơ Bùi Giáng, tr.198)
Đi vào cảnh giới si mê
Gọi đười ươi dậy nhe răng ra cười
(Nhe Răng u buồn, trong Sa Mạc Trường Ca)
Bùi Giáng có bài thơ tổng kết đời ḿnh:
Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quàng xiên reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Điệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân
(Thuở Chưa Điên, Thơ Bùi Giáng, tr.86)
Hai chữ Đười Ươi ở đây sao mà bùi ngùi, thê thiết !
Đười Ươi Thi Sĩ, nhiều lần Bùi Giáng tự xưng như thế, để bày tỏ niềm hoài vọng t́m lại thiên tính của con người, khi chưa lập thành xă hội, trong cơi trời đất Sơ Nguyên.
Thuở Uyên Nguyên ấy, là mùa Xuân của Đất Trời, mùa Xuân của Con Người.
Nói chuyện Mùa Xuân trong thơ Bùi Giáng mà chưa lên tận Ngọn Nguồn để diện kiến Đười Ươi, th́ chưa vui.
Viết đến đây, chợt về đôi kỷ niệm, chung quanh ngày Tết và mùa Xuân, hiểu theo nghĩa thông thường, không ẩn ư hay biểu tượng, triết lư ǵ. Ba ngày Tết, ba tháng Xuân, và h́nh ảnh Tuổi Xuân, như một cành hoa mai, nở một lần trong thơ Bùi Giáng :
Xuân này em có về không
Nhành mai cố quận nở bông dịu dàng
(Thơ Bùi Giáng, tr.85)
Và đối với Bùi Giáng, ngày xuân không câu nệ h́nh thức:
Mỗi mùa xuân lá trổ bông
Quên tờ cung chúc cũng không hề ǵ
(Huế làm Thơ, Bài Ca Quần Đảo, tr.44)
Tiếp theo là một h́nh ảnh khác của ngày Tết Nguyên Đán:
Mồng ba Tết ra đường con gặp
Một trẻ em đi bán đậu phụng rang
- "Thầy mua giúp ! Đầu năm, dịp Tết"
Con mua nhiều, rồi nước mắt chứa chan
V́ con biết ngày Mồng ba một dịp
Không c̣n về cho bao đứa trẻ con
Bán đậu phụng hay lau giày lau dép
Đă lang thang đầu gối rụng mỏi ṃn.
(...)
Hỡi Thượng Đế ! Cúi đầu con thưa lại
Ở trần gian ai cũng khổ liên miên
Người đă dựng cảnh tù đày đọa măi
Để làm ǵ ? Cho sáng nghĩa Vô Biên ?
(Chớp Biển, tr.127-128)
Bài thơ hé mở một góc độ khác trong tâm hồn Bùi Giáng: khía cạnh xă hội, nhân đạo trong thơ ông, xuất hiện ngay ở tập thơ đầu, nhưng càng ngày càng rơ nét về sau.
Nhất là từ khoảng 1970, trong đời sống lang thang bên hè phố, ông chung đụng với nhiều lớp người cùng khổ, chủ yếu là trẻ em nghèo khó và côi cút, mà ông rất mực yêu thương, chia sẻ từng miếng cơm manh áo. Đây là thời gian ông ư thức rơ t́nh người trong cơ khổ:
Anh vẫn tưởng đầu đường thương xó chợ,
Ai có ngờ xó chợ cũng thương nhau
Ôi đầu đường ôi xó chợ nơi đâu
Là nơi đó chốn kia anh rất rơ
Trong máu me từng khoảnh khắc sơ đầu
(Anh vẫn Tưởng, Bài Ca Quần Đảo, tr.48)
Bùi Giáng là một nghịch lư.
Ông là một tác gia hàng đầu, một nhà thơ lớn trong văn học Việt Nam hiện đại, đă sống, làm thơ và qua đời, bên lề ḍng văn học chính thống. Rồi trong những điều kiện lịch sử nhất định, thơ ông được truyền tụng, truyền khẩu, tạo nên một hiện tượng Bùi Giáng, vào ba thập niên cuối cùng của thế kỷ hai mươi.
Anh Em
Anh thương em như thương một bà trời
Em thương anh như thương hại một ông trời bơ vơ
Kể ra từ bấy tới giờ
T́nh yêu phảng phất như tờ giấy rung.
Áo xanh
Lên mù sương, xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Th́ xin cứ để bóng chiều đi qua
Biển dâu sực tỉnh giang hà
C̣n sơ nguyên mộng sau tà áo xanh.
Thơ Bùi Giáng
Tác gia Bùi Giáng, và nhà thơ Bùi Giáng đích thực, bị chen lấn giữa những huyền thoại Bùi Giáng. Và những kẻ mến yêu Bùi Giáng đầy thiện chí, đă nhiệt t́nh viết bài ca ngợi, càng làm rối mù thêm tọa độ của ông trên văn đàn, thêm phần tơ chỉ rối chiêm bao.
Bùi Giáng cả đời chăm chỉ đặt hai bàn chân, chân trái và chân mặt, bên lề xă hội, nhưng đă lừng danh. Đây là một nghịch lư, giới hiện sinh một thời có thể gọi là phi lư.
Bài này dĩ nhiên là không có tham vọng giải quyết nghịch lư nói trên. Nhưng lần theo ư xuân đến thượng nguồn thơ Bùi Giáng, người đọc có thể t́m lại được một trong nhiều sợi tơ mành xuyên qua thi phẩm và tư tưởng Bùi Giáng.
Đặng Tiến
Tánh khí Bùi Giáng như chúng ta từng biết, đó là con người của niềm hoan lạc phát tiết đến vô cùng, ngay cả tên của ḿnh ông cũng đem ra đùa giỡn một cách rất hồn nhiên. Khi cuốn Hoàng tử bé được in, ông có tặng tôi một cuốn, kư tên Bàng Giúi kèm theo hai câu lục bát sở trường: "Chép tờ Kim Hải Thạch Bi/Hồn ca Vũ Địa lối về Long Quân".
Ông ăn mặc lôi thôi lếch thếch, bầy hầy hết chỗ nói. Một lần, vào năm 1964 hay 1965 ǵ đó, tôi thấy ông “bỏ áo vô thùng” với giày vớ hẳn hoi, đến ṭa soạn tạp chí Bách Khoa do ông Lê Ngộ Châu làm chủ biên và quản lư, ở 160 Phan Đ́nh Phùng (nay là Nguyễn Đ́nh Chiểu, TP.HCM). Tôi c̣n nhớ mang máng là ông nói chuyện rất lịch sự với ông Nguyễn Minh Tuynh, chủ biên tạp chí Mai. Hồi ấy tôi nh́n ba ông như những tượng đài. Nhưng có lẽ đó là lần ăn mặc đàng hoàng duy nhất trong đời Bùi Giáng.
Người ta thường bảo "an cư" mới "lạc nghiệp", nhưng điều này hoàn toàn trái quy luật đối với Bùi Giáng. V́ cả đời ông, tôi nghĩ vậy, có lẽ chưa có một ngày an cư. Với Bùi Giáng th́ cái câu "Quân tử thực vô cầu bảo, cư vô cầu an" mới là chân lư. Nhiều người cho rằng Bùi Giáng điên, và đă có lần người ta đưa ông tới nhà thương điên Biên Ḥa. Tuy vậy, theo tôi th́ ông bất cần đời th́ có chứ không hề điên loạn. Thần kinh của ông là thứ thần kinh "ngoại cỡ", rất dễ bị kích hoạt trước xung động của đời sống bốn xung quanh. Tất nhiên ông đă ra khỏi nhà thương điên và ghi lại sự kiện đó bằng thơ: "Biên Ḥa bệnh viện ghi tên/Đoạn trường sổ ấy c̣n nên ghi ǵ?".
Nhạc sĩ Phạm Duy, trong hồi kư của ḿnh, đă từng ao ước có được một ngày sống "hết ḿnh" như Bùi Giáng. Sống hồn nhiên hết ḿnh được như Bùi tiên sinh th́ thật thú vị biết bao nhiêu, nhưng trong chúng ta mấy ai có thể hồn nhiên hết ḿnh như vậy được!
Tôi xin kể chuyện này, không biết chị Kim Cương biết không. Có một buổi sớm, Bùi Giáng, trong trang phục "thập cẩm", quảy đủ thứ chai, lọ, bao b́ mà người ta vứt ra đường, đến gơ cửa ngôi nhà mới của kỳ nữ Kim Cương ở quận Phú Nhuận.
Lời Bùi Giáng tặng Cung Văn trong trang đầu cuốn Hoàng tử bé do An Tiêm ấn hành
Xui cho ông, kỳ nữ vắng nhà. Gia nhân thấy diện mạo dị nhân, sợ quá chỉ hé cửa, không mở hẳn. Bùi tiên sinh của chúng ta đ̣i vô nhà ngồi đợi chủ nhân. Tưởng ông già đi ăn xin, người nhà của kỳ nữ chạy xuống bếp xúc một lon gạo mang lên cho ông. Bùi Giáng vui vẻ nhận lon gạo đổ vào túi, cười khềnh khệch rồi trợn mắt khen lấy khen để: "Hạt châu, hạt châu!". Vừa nói, Bùi tiên sinh vừa bước theo cách của các nhà sư khất thực, rồi tḥ tay vào túi lấy gạo ra rải dọc đường, từ Hoàng Diệu ra Trương Quốc Dung, rồi Công Lư (nay là Nguyễn Văn Trỗi). Ông vừa hân hoan rải gạo vừa giải thích với những người qua đường ṭ ṃ nh́n ông rằng làm như vậy cho "chim muông biết lối quay về tổ ấm".
Chúng ta đă biết con người "điên điên khùng khùng" đó không chỉ đạt đến cơi mênh mang của thi ca, uyên thâm trong học thuật mà c̣n là một bậc thầy thượng thừa của nghệ thuật chữ nghĩa. Cố đại đức Thích Thanh Tuệ, người khai sinh ra Nhà xuất bản An Tiêm, đă mê Bùi Giáng đến mức coi Bùi Giáng như một "thương hiệu" riêng của nhà xuất bản ḿnh. Trong rất nhiều sách của ông được An Tiêm xuất bản, có 2 cuốn tôi đặc biệt thích thú. Đó là 2 bản dịch tiểu thuyết của Saint Exupéry. Le Petit Prince, ông dịch là Hoàng tử bé, c̣n Terre des Homes, ông dịch là Cơi người ta. Dịch hai cái tựa như thế quả là thần sầu.
Tôi c̣n nhớ một bài tứ tuyệt trong Thanh Hiên thi tập, nguyên tác là:
Thiên địa phiêu chu phù tợ diệp
Văn chương tàn tức nhược như ty
Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ
Đông phong thành hạ bất thăng t́nh
Bùi Giáng đă dịch bài tứ tuyệt đó ra lục bát như sau:
Thuyền con chiếc lá giữa trời
Thơ văn tiếng thở như lời tơ than
Trông vời hồng rụng ngổn ngang
T́m đâu chốn cũ muôn vàn dưới kia
"Chuyển ngữ" được như Bùi tiên sinh, theo ngu ư, nước ta không có được bao lăm người!
Cung Văn Nguyễn Vạn Hồng
Đó là nhận xét, đồng thời là một lời cảnh báo, khuyên răn Bùi Giáng của một người có vai vế trong ḍng họ Bùi - ông Bùi Văn Nam Sơn.
Ông Bùi Văn Nam Sơn là một trí thức lớn định cư ở hải ngoại, là Chủ tịch Hội Người Việt Nam yêu nước ở Cộng ḥa liên bang Đức suốt ba thập kỷ. Gần đây ông có một công tŕnh đồ sộ, đó là công tŕnh dịch và chú giải cuốn Lư tính thuần túy của Immanuel Kant, dày gần 1.300 trang, là tác phẩm kinh điển nền tảng của triết học cổ điển Đức và phương Tây. Trong một bức thư gửi Bùi Giáng viết bằng chữ Hán từ CHLB Đức, Bùi Văn Nam Sơn viết: "Bùi tần thân lăo điệc nhă giám" (tạm dịch: "Thân gửi người cháu già họ Bùi tàn tạ của ta"). Trong "trùng trùng tâm cảnh", bức thư có đoạn: "Ngô viên tự hữu vô tâm chi trúc, tự nhĩ lai thời, kiêm hữu trường lữ chi nhân, khả phát nhất tiếu ! Nhiên nhi, vu vơ chi vũ mạc đ́nh; phóng túng h́nh hài, ngang tàng tính mệnh, phất vi dă !...". (Tạm dịch: "Trong khu vườn của ta tự dưng xuất hiện một cây trúc vô tâm, nó vốn là một kẻ lữ hành lang thang, có thể nở một nụ cười, hồn nhiên vu vơ như mưa rơi đầy sân, rồi bỏ mặc cho thân xác, ngang tàng không coi tính mệnh ra ǵ cả...". Sinh thời Bùi Giáng rất kính nể Bùi Văn Nam Sơn, chắc hẳn là do trí tuệ uyên thâm của người chú họ này, mặc dù ông nhỏ tuổi hơn Bùi Giáng. Trong nhiều dịp giỗ chạp, gặp gỡ, đàm luận, tranh căi về chuyện đời chuyện người trước đây mà tôi được mục kích, hạnh ngộ, tôi thấy Bùi tiên sinh là người rất "chịu" lắng nghe Bùi Văn Nam Sơn. Đó cũng là một chuyện lạ.
Trở lại chuyện Hoàng tử bé. Đọc lại bản dịch của Bùi Giáng, người ta không chỉ thấy ông lột tả được bản chất của nguyên tác mà c̣n "nhập hồn" vào câu chuyện. Có lẽ từ tâm hồn ngây thơ khoáng đạt của ḿnh mà ông đă dịch đến chỗ vi diệu nhất của tác phẩm. Trong trang đầu của cuốn sách, Bùi Giáng trích 4 câu thơ của Huy Cận: "Bích Câu đâu nữa bóng chàng Uyên/Sông núi thô sơ bặt tiếng Huyền/Có lẽ hồn ta không đẹp nữa/Nét thần thôi họa bức thiên duyên". Bốn câu thơ đó không dính dáng ǵ đến câu chuyện của Saint Exupéry cả, nó như một tiếng tơ rung khởi động trong tâm hồn trước khi đọc tác phẩm. Và đọc xong câu chuyện th́ ta chợt hiểu... Chưa hết, ông c̣n làm thơ tặng tác giả "Trung niên tặng Saint Exupéry": "Ngậm ngùi từ biểu ngôn trưng/Âm dong tiếu mạo h́nh dung xa vời". Và trong phần cuối cuốn sách, Bùi Giáng c̣n đăng kèm một chùm 10 bài thơ của ḿnh. Dưới đây, là 3 bài thơ của ông:
Mắt buồn
Bóng mây trời cũ hao ṃn
Chiêm bao náo động riêng c̣n hai tay
Tấm thân với mảnh h́nh hài
Tấm thân thể với canh dài băo dông
Cá khe nước cơng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Ầm trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ h́nh hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
C̣n hai con mắt khóc người một con
Ông điên
Ông điên từ bữa hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm
Thanh thiên về dự hội đàm
Thành thân thiên hạ muôn vàn mai sau
***
Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau
Tuyệt mù biển cạn sông sâu
Bụi hồng tản mác trước sau bây giờ
Dzaách
Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên
Đời này đất đá cằn khô
Điên duỗi dọc, điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời
Điên rồi rốt cuộc hỡi ôi
Cũng đành chấm dứt ĺa đời hết điên
Cung Văn Nguyễn Vạn Hồng
Nhà thơ Bùi Giáng có tất cả 8 anh chị em, nhưng đều ở xa. Người bên Mỹ, người tại Hà Nội, người gần nhất cũng ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Tính quen lang thang không nhà không cửa, lấy đường phố Sài G̣n đùa giỡn, nên người quan tâm ai cũng lo cho trong những ngày cuối đời của thi sĩ kỳ dị này.
Nhà thơ Bùi Giáng có một người em họ là ông Bùi Văn Vơ vào Nam từ năm 1965 cất nhà sinh sống tại đường Lê Quang Định, G̣ Vấp, sau này là chốn nương tựa cuối cùng của nhà thơ lăng tử giang hồ. Ông Vơ không biết đích xác anh họ ḿnh trôi dạt nơi đâu. Đến 1978, t́nh cờ một hôm con trai ông là Hải đi bộ đội về thăm nhà, lên Thủ Đức chơi, th́ gặp "ông bác" Bùi Giáng của ḿnh trên đó. Hải dắt bác về, với một bộ dạng thật là kinh khủng. Ông Vơ thương quá, thôi th́ đất nhà c̣n rộng, cất thêm một căn nhà lá nhỏ cho ông anh nương tựa. G̣ Vấp hồi ấy c̣n vườn tược sum suê, khu đất của ông Vơ lại khá rộng, nên căn nhà lá nép ḿnh dưới tàng cây râm mát, chim kêu hoa nở suốt ngày. Căn nhà hư, ông Vơ lại cất căn khác, tất cả 3 lần, cho đến khi Bùi Giáng được ở trong căn nhà lợp tole, vách tường đàng hoàng. Nhưng ông nào chịu ở. Ông mắc vơng giữa hai cây xoài to tướng, nằm lắc lư nh́n hoa nắng đong đưa. Hôm tôi và nghệ sĩ Kim Cương trở lại thăm chốn cũ, hai cây xoài vẫn xơa cành như cô gái xơa tóc che cho nhà thơ, và hai đầu dây vơng vẫn được ông Vơ để nguyên nơi gốc cây, không tháo ra, cứ như lát nữa đây chàng giang hồ thi sĩ sẽ từ đâu đó quay về mắc vơng ngủ say. Hoa nắng vẫn lung linh từng đốm nhỏ, rọi vào áo Kim Cương, như hào quang lấp lánh của nàng tiên nữ mà suốt cuộc đời Bùi Giáng tôn thờ. Kim Cương thoáng bùi ngùi ngồi cạnh gốc xoài, nhắc đóa hồng ngày xưa bà tặng ông chính tại nơi này, và nhà thơ đă ngủ say trước mắt bà hồn nhiên như một đứa trẻ. Gương mặt ấy măi măi si t́nh, nhưng măi măi trẻ con.
Ông Vơ nói: "Th́ Bùi Giáng mê trẻ con cũng lạ kỳ như thế. Đi đâu bạn bè cho tiền, hay vô chùa được nhà sư cho tiền, ổng cũng đem chia hết cho trẻ con. Tụi nó thương ổng lắm. Nhưng đứa nào tới sau, ổng hết tiền để chia, thỉnh thoảng có đứa lại đánh ổng. Chẳng những thương trẻ con, ổng c̣n thương hết bá gia thiên hạ. Có lần ổng kêu cháu Uyên con tôi đưa tiền, Uyên rút chiếc nhẫn đang đeo cho ổng, ổng đi một hồi gặp bà bán vé số than là không có vốn, thế là ổng cho luôn chiếc nhẫn. Đến bộ đồ người ta mới cho, ổng cũng đem bố thí". Cô Oanh, con ông Vơ c̣n nhớ như in kỷ niệm về ông bác của ḿnh, nhiều lần đă mở cửa mời mấy bà ve chai vô gom đồ. Lũ cháu hoảng hốt: "Trời ơi sao bác lại cho người ta lấy đồ nhà ḿnh!". Bùi Giáng thủng thẳng đáp: "Th́ người ta không có, người ta mới lấy. Có th́ lấy làm chi!". Hết ư kiến. Cả xe honda dựng ngoài sân, ông cũng bảo đừng khóa. "Kệ nó, mất chi đâu mà sợ!".
Cuối đời, Bùi Giáng được sống trong t́nh cảm gia đ́nh khá ấm áp, có anh em cháu chắt nhân hậu cưu mang, dù chỉ là anh em họ. Gia đ́nh ông Vơ cũng "chịu đựng" Bùi Giáng không kém ǵ Kim Cương, nhưng cũng không ai phiền trách. Thường th́ mỗi sáng ông Vơ cho anh ḿnh tiền bỏ túi, nhưng tối đến khi Bùi Giáng quay về nhà là y như rằng ông Vơ phải chạy ra trả tiền xích lô. C̣n số tiền hồi sáng đă vào tay lũ trẻ con hoặc một người hành khất nào đó. Có khi Bùi Giáng say khướt, nằm mẹp ở đầu hẻm, các cháu phải xúm lại khiêng vô. Có khi cả nhà phải dọn rác cả đống v́ Bùi Giáng "tha" về đủ thứ hộp lon, nón rách, giày rách, áo quần, rơm rạ... Có khi ông đi suốt một tuần mới về, trên người chỉ c̣n cái quần đùi và mắt th́ tím bầm, người ốm tong teo. Hỏi ra, ông lạc tới B́nh Chánh, bị người ta đánh rồi nhốt vô thùng phuy, may được đứa nhỏ kéo ra. Ông bà Vơ lại chăm chút anh ḿnh cho lại sức.
Vợ ông Vơ, bà Hoàng Thị Như Hồng, mỉm cười nhắc lại những nét dễ thương ngộ nghĩnh của ông. "Ông thương cháu lắm. Lũ con và cháu ngoại của tôi giỡn với ông suốt, nhưng tôi không dám cho ông bế v́ sợ rủi ông lên cơn... Ông đi chùa, thầy cho thức ăn chay hay bánh cam ông cũng mang về cho cháu". Tôi thắc mắc chuyện vệ sinh của ông, rằng không biết ông tắm rửa như thế nào. "Ồ, ông sạch sẽ lắm chứ. Nằm lăn ra đất th́ cứ nằm, nhưng rồi tắm rửa rất kỹ. Tôi giặt đồ cho ông, nặng quá nên phải lấy chân đạp. Ông nh́n một hồi, thở dài: Tội hắn quá! Hắn làm chi mà cô đạp nó? Tôi nín cười không được. Tới bộ quần áo mà ông cũng thương”, bà Hồng vừa cười vừa rơm rớm nước mắt.
Hoàng Kim
Thấy Bùi Giáng có những biểu hiện không b́nh thường, chính quyền phường cũng có lần mời nhà thơ đi trị bệnh tâm thần, ông liền trả lời: “Bác sĩ cả thế giới này trị được bệnh điên chưa mà cỡ phường đ̣i trị?”. Cán bộ phường đầu hàng!
Ông thường nằm vơng tới 10 giờ đêm mới chịu vô nhà. Nổi hứng, ông trèo lên hai cây ổi trong vườn la hét ầm ĩ hoặc ca hát nghêu ngao. Trăng sáng, hương ổi thơm thơm tỏa ra khu vườn, chắc là gợi cho ông những điều kỳ bí, nên đầu óc cũng chung chiêng. Nhánh ổi x̣e xuống mái nhà nhỏ, có một bóng người râu tóc um tùm ngồi chơi với trăng, thật t́nh chẳng biết là cảnh điên hay cảnh tiên nơi trần thế, nơi nhân gian đang đắm ch́m trong mộng mị, tính toan.
Nhiều hôm, ngủ vài tiếng đồng hồ, khoảng 3-4 giờ sáng ông leo rào đi ra. Nhà ông Vơ khi ấy chưa xây tường rào, mà chỉ có dàn kẽm gai bao quanh. Bùi Giáng kiếm đồ quăng lên đống kẽm, thế là leo ra khỏe re, không bị trầy xước tí ǵ. Ông Vơ cười: “Ổng khôn chứ điên chỗ nào! Ổng c̣n nhớ dai kinh khủng. Ai nói câu ǵ, mấy năm sau ổng c̣n nhớ như in. Có bận ổng gật gù bảo: Thầy bói nói bây giờ tôi nghèo chớ chừng tôi chết rồi tôi mới giàu. Chẳng biết thầy bói xem cho ổng hồi nào mà ổng c̣n nhớ kỹ như vậy”.
Bùi Giáng đi lang thang suốt năm, nhưng có lúc lại không thèm đi đâu, ở nhà luôn cả tháng. Và cả tháng đó là thời gian ông... tịnh khẩu. Không la hét, không chửi mắng, cũng không đọc thơ, không nhắc Kim Cương, ni sư Trí Hải, cũng không giỡn đùa với cháu chắt... Tuyệt đối im lặng. Bà Vơ hỏi: “Anh có ăn cơm không?”. Đáp: “Ừm...”. Hỏi: “Anh ăn thêm nữa không?”. Đáp: “Không”. Một tiếng duy nhất. Và lúc tịnh khẩu là lúc ông đem quần áo ra... vá. Có tin được không? Bàn tay ấy, tâm trí ấy mà ngồi tỉ mỉ từng đường kim sợi chỉ? Bà Vơ nói: “Trời, ông vá áo khéo lắm, khéo hơn cả phụ nữ. Ông vá miếng h́nh tṛn, miếng h́nh vuông, h́nh tam giác, đẹp như người ta vẽ. Ngồi im thin thít mà vá, không nói tiếng nào. Tiếc quá, lũ nhỏ nhà tôi dọn dẹp, không c̣n giữ được cái áo, cái quần nào của ông để mọi người xem bàn tay khéo léo ấy”. Bà Vơ cũng có một cái áo vá chằng vá đụp, đem ra làm giẻ lau, th́ ông cản lại: “Cô cất vô tủ đi, sau này nước ngoài qua mua đắt lắm đó!”. Bây giờ th́ lại lên cơn điên thiệt!
Hết thời kỳ “tịnh chân, tịnh khẩu” th́ ông tiếp tục đi lang thang. Mấy đứa cháu đi học t́nh cờ gặp ông đang... ngồi thiền tại ngă tư quận 6. Thế là mấy bà người Hoa nghĩ rằng “Phật sống”, xúm nhau quỳ lạy. Mấy bả mà biết đó là “nhà thơ Bùi Giáng” chắc dám đem thơ của ông về... tụng.
Trong cơn điên, ông lại đi lấy cho bằng được chiếc giày của Kim Cương, rồi xỏ dây đeo ṭng teng nơi cổ như... dây chuyền. Bà Vơ nhớ, chiếc giày đó mới toanh, h́nh như chưa đi bao giờ. Về tới nhà, ông tháo ra đặt trên bếp để đi tắm. Bà Vơ thấy vậy, dọn vô một nơi gọn gàng. Ông t́m không thấy, hốt hoảng như mất vàng mất ngọc. Chừng bà Vơ mang ra, ông chửi muốn... tắt bếp, và đ̣i đánh cô em dâu v́ dám xúc phạm tới “tiên nữ” của ông.
Vậy mà gia đ́nh vẫn thương yêu đùm bọc ông. Khi ông mất, gia đ́nh lập bàn thờ, cúng giỗ suốt 4 năm. Sau đó đem di ảnh ông về nhà thờ họ tộc tại B́nh Chánh, và mỗi năm cúng giỗ tại mộ phần ở G̣ Dưa. Hiện nay anh Hoài (rể của ông Vơ) coi phần cúng kiến. Nhưng khổ nỗi, chẳng năm nào dự đoán được chính xác số khách đến dự. V́ bạn bè văn nghệ và người ái mộ ông ở khắp nơi kéo về, khi lên đến vài trăm, chẳng biết đường nào mà chuẩn bị thức ăn đăi tiệc. Mấy năm đầu đăi tiệc chay v́ có nhiều nhà sư đến dự, sau đăi tiệc mặn v́ bạn bè đông quá.
Bùi Giáng không c̣n nữa nhưng ông không chết. Dường như ông “giáng” xuống cơi trần này rong chơi một chút ta bà, rồi cưỡi thơ về trời, nhẹ như mây như khói...
Hoàng Kim
Năm 1978 Bùi Giáng về ở với ông Vơ, nhưng đến năm 1985 ông mới gặp được người bạn vong niên, không ngờ cũng là người thừa kế của ḿnh sau này. Đó là đứa cháu rể tên Hoài, con rể của ông Vơ, cất nhà trong khuôn viên của gia đ́nh.
Anh Hoài thật sự ngỡ ngàng trước một ông bác vợ "kỳ quặc" nhưng vốn không có cha từ 18 tuổi, nên anh rất quấn quưt, thương yêu và kính trọng ông. Măi đến năm 1990, anh mới bắt đầu đồng cảm với Bùi Giáng, và động viên ông sáng tác trở lại. Bùi Giáng là một cơi riêng huyền diệu, cả thế gian này chưa chắc được mấy người hiểu ông, huống chi một kẻ "ngoại đạo" với văn chương như anh Hoài. Với tấm ḷng thương quư thôi, anh đă xâm nhập được vào cơi riêng ấy, và giữ lại cho đời một bóng h́nh Bùi Giáng thiên thu.
Có lẽ Bùi Giáng tỉnh táo ra kể từ khi tập thơ của ông được nhóm Việt Thường cho xuất bản tại Canada vào năm 1990. Rồi năm 1993, NXB Hội Nhà văn lại cho tái bản tập Mưa nguồn. Bùi Giáng được tôn vinh trở lại, và ông cũng hết điên, bắt đầu một cuộc thăng hoa mới không kém phần rực rỡ. Anh Hoài tiết lộ, ông đă từng th́ thầm bí mật với anh: "Tao đâu có điên. Tao phải giả điên như thế để đi hết cuộc hành tŕnh của tao, khỏi bị quấy rầy". Ai quấy rầy? Th́ anh em, họ hàng, bạn bè, chính quyền, và tất cả mọi người trong cơi nhân gian... Thôi kệ, ông nghĩ vậy th́ cứ cho là vậy! Trong cái cơi mênh mênh mang mang của ông ấy mà... Chẳng ai bắt bẻ làm ǵ. Thật t́nh, người ta thương Bùi Giáng nhiều hơn ông tưởng. Ông quá nhân hậu với đời, làm sao đời không nhân hậu với ông!
Ông nằm trên vơng lắc lư, và quẹt thơ vào bất cứ cuốn sổ nào, trang giấy nào. Nói "quẹt", v́ nét chữ ông khi ngang, khi ngửa, khi lại xiên xiên, khi chen chúc vào một góc giấy học tṛ. Có nhiều bài, nhiều trang, ông làm rơi văi trong cơn say. Người đi nhặt, rồi cất giữ trân trọng chính là anh Hoài. Đến khi anh gom góp và xuất bản dùm ông cuốn Rong rêu, ông trố mắt hỏi: "Ủa, mày lượm của tao đó hả? Tao vui vui làm mấy bài thơ, mày lượm làm ǵ". "Bác cứ làm thơ đi. Con hứa với bác cái ǵ bác làm con sẽ in hết". Anh Hoài hứa, mà như một lời thề với chính ḿnh. Bùi Giáng cảm động. Và sau này làm được bài nào ông thường gọi anh Hoài đến cho xem.
Sách vở trong pḥng ông, ông quư hơn vàng, đố ai đụng tới được, kể cả bà Vơ và chị Uyên (vợ anh Hoài) vào dọn dẹp ông cũng không cho. Ông cố t́nh để dơ dáy vậy để đừng ai bước vào cơi riêng của ông. Chỉ duy nhất anh Hoài có thể vô sắp xếp lại dùm ông. Anh đau lắm khi phát hiện nhiều người đă "chôm" thơ của bác ḿnh bằng cách xé ngang nửa cuốn thơ ông đang viết dở dang. Từ đó, ông viết xong cuốn nào, anh đem cất kỹ. Ông cười hề hề: "Mày cứ đọc đi, rồi muốn hỏi ǵ th́ hỏi, tao nói cho". Nhớ lại, anh Hoài thở dài: "Tiếc là tôi không thấu nổi tư tưởng của bác. Có lần thu băng nghe ông nói, mở ra nghe, cũng không theo nổi. Ông nói đủ chuyện cổ kim, bên Tây bên Tàu, rất uyên bác. Lại c̣n dạy chữ Phạn cho các sư trong chùa nữa". Anh chỉ c̣n biết động viên bác sáng tác để làm vui.
Nhưng Bùi Giáng không sáng tác cho vui, mà ông làm trối chết. Ông họa một lèo hết trơn tập thơ của Thân Thị Ngọc Quế, lấy tên Tuyết băng vô tận xứ. Và ông ngồi ngay cái bàn trước cửa nhà anh Hoài mà dịch cuốn Thục nữ học đường của André Gide, đêm nào cũng thức trắng, chỉ một tháng là xong. Đây là quyển tiểu thuyết nói về tâm lư phụ nữ rất hay, mà tính ông vốn yêu phụ nữ, nên say mê là lẽ đương nhiên. Đến cuốn thứ hai cũng của André Gide là Dưỡng chất trần gian, th́ anh Hoài hoảng quá không cho bác làm việc kiểu đó nữa, bỏ dở dang nửa cuốn. "Thôi thôi, bác làm thơ cho vui đi!". Anh "dụ dỗ" Bùi Giáng, và ông nghe lời. Nhờ vậy mà ông có gần chục tập thơ vào lúc cuối đời, như Tâm sự tuổi già, Trúc mai, Rớt hột phiêu bồng... anh Hoài sẽ cho xuất bản nay mai cùng với Tuyết băng vô tận xứ và Thục nữ học đường. Người ta không thấy Bùi Giáng làm việc lúc nào, vậy mà vẫn có tác phẩm, hóa ra ông chỉ làm việc về đêm, thường là thức trắng. Bộ năo ông rất lạ kỳ, say đó, rồi tỉnh như không. Bác Vơ kể: "Một hôm ông Ngô Văn Tao đến nhờ Bùi Giáng dịch dùm một quyển sách, thấy ông nằm vơng dưới gốc xoài, say khướt, ông Tao bảo thôi đi về. Bùi Giáng mở mắt, đưa đây, đưa đây. Rồi dịch một lèo mấy trang, xơa hai tay giấy rơi lả tả xuống đất, xong ngủ kḥ".
Giai đoạn 1994 - 1996, Bùi Giáng sáng tác rất dữ. Và ông cẩn thận làm giấy ủy quyền cho đứa cháu rể quản lư toàn bộ tác phẩm của ḿnh. "Sau này mày in sách lo cho mấy đứa nhỏ". Đó là những đứa cháu nhỏ xíu mà ông cũng dành cho nhiều câu thơ chân thành:
Ngày mai ông sẽ ĺa đời
Các con ở lại buồn vui thế nào
Ông về chín suối chiêm bao
Thần tiên mộng mị mừng chào các con
Không chỉ cao siêu, diễm tuyệt, mà ông c̣n có hàng trăm bài thơ đời thường, đầy thương yêu như thế. Ông ban phát thơ cho khắp nhân gian, h́nh như ai cũng có phần...
Ta sực tỉnh máu tim vừa mới chớm
Đă thiên thu ở lại giữa hồn ta
Phổi tim như cây lá trước hiên nhà
Cùng chim hót chan ḥa ta tỉnh giấc
Bức thư t́nh chưa "công bố"
Bùi Giáng viết thư và làm thơ cho Kim Cương nhiều vô kể, nhưng trong đó có một bức thư Kim Cương chưa hề trông thấy. Đó là bức thư ông viết năm 1998 (trước khi chết vài tháng) rất tỉnh táo, nhưng lại không đưa cho Kim Cương, chỉ anh Hoài cất giữ. Sau này, anh Hoài có kể cho Kim Cương nghe về lá thư này, nhưng v́ quá bận bịu nên lá thư lại trôi vào quên lăng. Măi đến khi chúng tôi thực hiện loạt bài này anh mới đưa cho chúng tôi đăng tải, cũng là "ra mắt" Kim Cương lần đầu tiên.
Cô Kim Cương yêu quư,
Kể cũng gần 50 năm quen biết và yêu mến cô. Đó là hạnh phúc lớn đi suốt đời tôi. Sau này cô cao hứng đến nhà viếng thăm tôi. Ấy thật bất ngờ. Rủi ro lần đầu tôi say rượu chẳng biết ǵ cả. Lần thứ nh́, tôi tỉnh táo. Tâm hồn thoải mái như được cùng tiên tái ngộ. Mấy ngày rày cứ giở mấy tấm ảnh chụp chung với cô. Gương mặt cô càng ngày trông càng lạ. Mấy đứa cháu gái, cháu dâu, cháu ruột chúng xúm xít trầm trồ: "Cô Kim Cương ngoài đời đẹp hơn trên ti vi... Lạ quá! Lạ quá!". Gương mặt cô có nét hồn hậu, trung hậu dịu dàng. Ai ai cũng nhận thấy thế. H́nh như sau này cô gặp hạnh phúc lớn hay sao mà bỗng nhiên trông cô c̣n trẻ hơn xưa nay? Lúc trước đọc báo nghe cô nói có ư mua cho tôi một cái nhà. Tôi cảm động đến ngẩn ngơ. Giữa đêm tỉnh giấc, c̣n âm ỉ khóc lóc một ḿnh. Nhưng cô nghĩ xem? Làm sao tôi dám chấp nhận? Tôi vốn già điên say rượu... ở với tụi cháu sum vầy mấy chục năm nay, chúng quen thuộc tính nết tôi rồi. Chúng vui vẻ hân hoan chịu đựng. Nhiều lúc tôi lại có ư chọc cho chúng la rầy để nghe cho vui vẻ lỗ tai... đỡ buồn hiu quạnh... Tuổi già tôi có được đôi ba bạn thân và c̣n giữ được t́nh nghĩa của cô th́ thử hỏi c̣n ǵ tốt đẹp hơn nữa? Xin mời cô thỉnh thoảng ghé lại nhà coi như đi nghỉ mát. Được nh́n thấy cô là tự nhiên hết buồn, hết điên, hết say rượu. Chúc cô suốt đời sung sướng.
Bùi Giáng 98 (Mậu Dần)
Hoàng Kim
Cát lầm ngọc trắng thiên thu
Gió băng trời bụi thổi mù bay theo
Bay từ phố thị giắc gieo
Tới thôn ổ những quanh queo con đường
Gặp người thôn nữ bờ mương
Suối khe nàng tắm du dương một ḿnh
Lên bờ ngồi khóc lặng thinh
Không than thở những mối t́nh dở dang
Gió bay gió thổi dịu dàng
Ru nàng vào giấc mơ màng ngủ yên
Ngủ yên bên lá cỏ chiều
Giữa trời thu mỏng gió d́u mây trôi
Ngủ yên bên suối bên đồi
Bên rừng thu tạnh bên người xót xa
Cát lầm ngọc trắng ố hoa
Bên đời thổn thức thiết tha bên người
Ngủ yên cây cỏ ngậm ngùi
Một giờ yên ngủ lấp vùi trăm năm
Tỉnh ra t́m lại chỗ nằm
Chốn xa xôi ấy đêm rằm trăng soi
Nàng tiên ấy đă đi đâu
Đi mùa động đậy đi màu hương phai
Đi về ngày mốt ngày mai
Đêm tăm tối mộng đi dài dặm băng
Tôi nằm ngủ thấy dưới trăng
Đi về rất mực rất quen một nàng
Nàng đi trận gió thênh thang
Dẫn nàng đi khắp lang thang lối về
Lối về cố quận sơn khê
Làng thôn bao xiết cần kề bao xa
Gũi gần cũng thể mà ra
T́nh thương xa vắng thiết tha bao từng
Chào nhau một bận nấu nung
Niềm đau xưa đă luống từng đă quen
Đầu xanh tư lự mấy phen
Mấy miền mấy cơi nhớ quên mấy lần
Thông đèo rừng núi suối ngân
Mây trời vấn vít hồng vàng mây bay
Tôi ngồi chắp măi bàn tay
Chắp t́nh cây bút chép hoài bài thơ
Em đi tháng rộng ngày dài
Em về tháng rộng nằm dài hơn năm
Mỏi chân duỗi cẳng em nằm
Ngủ yên sao mắt lệ đầm đ́a tuôn
Đau thương không có cỗi nguồn
Hoặc là rất có vui buồn gọi nhau
Em đi rất mực sang giàu
Em về rất mực càng giàu sang hơn
Em đi chồng chất oán hờn
Tưởng như triều biển đang lồng lộng dâng
Lồng lên lộn xuống muôn phần
Dặm đường dằng dặc mỏi chân em về
Chào nhau như suối chào khe
Như rừng chào biển như khe chào rừng
Đằm đ́a mắt lệ rưng rưng
Trầm phù xóa trước vui mừng một hôm
(Một hôm tim máu rải hàm
Quên đi quá khứ nhớ nàng tương lai
Nàng về hiện thể thiên thai
Bước trong hiện tại bước ngoài thời gian)
Nước non mây trắng nắng vàng
Gió đưa đẩy lá vạn ngàn rung rinh
Người đi tiên nữ vô t́nh
Tuyết băng ngọc diện bất b́nh chuyện chi
Một hôm bất chợt người về
Gịng khe theo gót người về thăm tôi
Ro re suối ngọc núi đồi
Suối tuôn róc rách khắp nơi chốn nào
Ngh́n phương một phút thao thao
Một giờ bất tuyệt chốn nào là nơi
Chốn em chốn chị bồi hồi
Chốn em mười sáu chồn ngồi thở ra
Môi cười răng nở ngọc ngà
Miệng cười môi nở ngàn hoa thắm hường
Hôn em một phút phi thường
Anh nằm chết ngất mùi hương muôn đời
Hôn em một phút pha phôi
Anh nằm chết giữa bầu trời dửng dưng
Tỉnh ra nửa sợ nửa mừng
Tận cùng gió núi trăng rừng tái sinh
Tiếc v́ em vẫn quá xinh
Mà tôi lẩy bẩy rung rinh tuổi già
Chiêm bao toàn thể ngọc ngà
Tôn lưu mặt đất tiên nga lập thành
Đi về bước chậm bước nhanh
Nghe mùa động đậy nhịp chân lưu tồn
Giật ḿnh giật mẩy bôn chôn
Nỗi niềm thổn thức làng thôn bấy chầy
Tiếc ǵ tháng rộng ngày dài
V́ em muôn thuở tháng ngày chào nhau
Em cầm giỏ đi hái dâu
C̣n tôi xách dép theo hầu sau chân
Một giờ cũng thể muôn năm
Muôn năm cũng thể trăm năm một giờ
Một giờ tặng một bài thơ
B́nh minh khuê nữ đợi chờ hoàng hoa
Bài thơ thái thậm dao ca
Bài thơ thượng thặng sơn hà hiến dâng
Tặng em từng đă bao lần
Mà không biết thật tử phần ở đâu
Tận cùng gió gác trăng lầu
Tái sinh rừng biển buồn rầu trăm năm
Đi về phố thị t́m em
T́m em rừng biển chênh vênh thị thành
Trang đời em giữ quá xanh
Một chiều man dại nh́n anh đợi chờ
Thấy em như thể hững hờ
Thấy tôi như thể nửa chờ nửa không
Thị thành sắp bước vào đông
Thành thân băng tuyết phiều bồng xuân xanh
Mặt trời mang chở đi đâu
Một trời băng tuyết trên đầu mang đi
Mặt trăng mỉm miệng thầm th́
Trăng mùa thu mọc cũng v́ t́nh em
Mặt trời mang chở trăng đêm
Vào sương băng tuyết tùy em năo nùng
T́nh yêu có lẽ mông lung
Chết từ muôn một song trùng tái sinh
Bất ngờ em giết người anh
Vô t́nh bất ư ai đành biết đâu
Éo le có lẽ dài lâu
Khéo vô duyên bấy là đầu hay đuôi
Sự t́nh kể ngược kể xuôi
Khẩn trương vô cớ sụt sùi vô căn
Oái oăm rất mực thường hằng
Toi đâm đấm đá ôi chèng đét ôi
Ngẫm ra cho kỹ càng chơi
Kỳ càng kỳ cục ba rơi cũ càng
Đời xiêu đổ lộn đường đi đứng
Nguồn xưa đâu anh lững thững t́m về
Gặp em tưởng gặp t́nh quê
Nào ngờ cố quận chán chê anh rồi
Bờ khe anh trở lại ngồi
Nh́n chuồn chuồn múa bốn trời ba con
Một mai một cuốc lại c̣n
Cần câu cũng một méo tṛn hử em
Tṛn hay méo tùy em nhận định
Méo hay tṛn đủng đỉnh đong đưa
Giờ tṛ ma quái thốt thưa
Quỷ thần số dzách thượng thừa một cây
Phi thường thánh nữ thở dài
Thần tiên thái thậm thiên thai bực ḿnh
Đầy vơi đắm đuối tâm t́nh
Em xinh hơn cả thiên h́nh đă xinh
Dă man là cái giai nhân
Thuyền quyên mọi rợ tưởng gần tưởng xa
Em từ thiếu nữ bước ra
Thành thân thục nữ tên là thuyền quyên
Mang đêm mỹ nữ chênh vênh
Em làm đắm đuối dưới trên bao người
Mỹ nhân cách điệu tuyệt vời
Giai nhân từ đó càng vời tuyệt hơn
Phi thường thánh nữ thở than
Tiên nương gào thét giậy tràn tiếng kêu
Bực ḿnh gió thổi qua đèo
Hỡi ôi nhan sắc bọt bèo thiên thu
Hỡi ôi mỹ nữ trầm phù
Hồng nhan bạc mệnh tuyệt trù cổ kim
Tôi về nghe vọng sơn xuyên
Cô em mọi nhỏ tự tiền kiếp qua
Mời em xơi một chén trà
Ṭng lai giai mính giang hà giai nhân
Em đi bước với hai chân
Miệng em đầy đủ thành phần hai môi
Trăm năm dâu biển cơi đời
Em nằm duỗi dọc dưới trời ngủ yên
(Giữa đêm Noel 1996)
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.