View Full Version : Thi ca tư tưởng - Bùi Giáng
BanTruc
10-02-2007, 07:55 AM
Cách đây không lâu lắm, tiểu nữ có một người bạn rất thân thiết. Người ấy đã gửi tặng cho tiểu nữ Bản Thi ca tư tưởng này của Bùi Giáng. Người bạn này bây giờ không còn ở bên tiểu nữ nữa. Vốn dĩ tiểu nữ không thích Bùi Giáng lắm, nhưng đây cũng là phần còn lại trong mảng ký ức tươi đẹp với người ấy, nên cũng không đành xóa đi.
Vì PHC thúc thúc thích Bùi Giáng, nên tiểu nữ xin post lên tặng thúc thúc. Mong thúc thúc cảm thấy vui vẻ.
Thi ca tư tưởng là một số cảm nghĩ của Bùi Giáng đối với một số nhà thơ cả Việt Nam, cả nước ngoài. Thơ của Bùi Giáng không dễ đọc, có những lúc cực kỳ sến, có những lúc lại cực kỳ điên. Ngay cả bản Thi ca tư tưởng này cũng như thế. Tiểu nữ đã đọc một lần, hai lần, nhưng vẫn không có cách nào hiểu rõ những gì mà Bùi Giáng muốn truyền đạt. Kiến thức của ông sâu rộng, cả Đông cả Tây, nhưng mỗi thứ mỗi chút, mà ông nói theo cái giọng lưỡi có phần cay độc, sắc sảo, đôi chỗ lại thấy kỳ cục, chẳng theo bất kỳ một phong cách hay đường lối nào, tựa như chấm bút viết ở đấy, hạ bút viết ở đấy, thích thì viết, hứng thì viết, lộn xộn, chứ không theo một mạch văn hoàn chỉnh mạch lạc. Hãy thử xem nhận định của ông khi nói về một số thi sĩ nổi tiếng của Việt Nam "Đọc ông Nguyễn Du mãi cũng chán. Rồi từ Đường Thi, nhảy vọt qua Tây Phương, chạy tìm những Tượng Trưng, Siêu Thực, Siêu Thể, Siêu Hình, hơn hai mươi năm, kể cũng đà tới lúc ớn khắp linh hồn. Thơ Nguyễn Công Trứ là một con zéro. Thơ Cao Bá Quát là một con zéro rưỡi. Thơ theo thể Đường Luật của các ông Nho học uyên bác, toàn là rờ rẫm cóp nhặt Tàu, những bộ xương khô quái gỡ. Hàng vạn bài na ná giọng điệu giống nhau"
Có lẽ nên để mọi người tự cảm nhận.
Bùi Giáng - Thi ca tư tưởng
(Phạm Hầu, Hồ Dzếnh, Nguyễn Du, Ngân Giang)
Thơ đề tựa đầu :
Đi vào cõi thơ
Ghé chơi một trận
Bằng bước gót phiêu bồng
Cõi thơ là cõi bồng phiêu
Hoặc phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Hoặc phiêu bồng tâm ý du dương tiếu
Hoặc phiêu bồng tâm mộng trúc loạn ty
Hoặc sao thì hoặc
Dù sao thì dù
Thể thái sao thì thể thái
Cốt cách nghiễm nhiên rất mực
Vẫn là bất tuyệt phiêu bồng
Vậy kẻ nào
Tự xét mình
Từ trong tinh thể mà ra
Chả có chi là phiêu bồng tí chút
Thì chả nên cưỡng cầu
Tự ép uổng
Ghé vào thi ca thâm xứ làm chi
Cho luống cái công lao trí hải
Cho phí cái công trình bình sinh tâm nguyện
Nay kính cẩn đề kê khai vô dữ ngữ
(Bùi Giáng)
Ví đem vào Sổ Đoạn Trường
Thì treo giải Một mà nhường cho hai
(Thúy Vân và Tam Hợp Đạo Cô)
BanTruc
10-02-2007, 07:57 AM
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai
Đó là hai câu thơ cuối bài “Vọng Hải Đài”. Đó cũng là bầu khí hậu mênh mang sầu cô độc bàng bạc khắp mấy bài thơ của Phạm Hầu còn rơi rớt lại chúng ta ngày nay.
“Chúng tôi đã cố công sưu tầm nhưng chỉ được đãi ngộ sáu bài thơ. Âu cũng lấy đó là niềm vui vậy.” (Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến)
Hai ông Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng đã viết một bài hoàn hảo về Phạm Hầu.
Chẳng biết trong lòng ghi những ai?
Thềm son từng dội gót vân hài
Hỡi ơi! Người chỉ là du khách
Giây phút dừng chân vọng hải đài
Kể từ ngày gặp Phạm Hầu trong Thi Nhân Việt Nam (của Hoài Thanh Hoài Chân) tới nay đã ngót một phần tư thế kỷ. Thằng học sinh đầu xanh nay tóc đã bạc. Nó xin đọc ôn lại thơ Phạm Hầu.
Mãi dâng trọn hồn vui muôn độ trước
Chưa đủ sao? Đời đòi hỏi thêm chi?
Tai đờ nghe, mi trĩu nặng từ bi
Gió bốn hướng dằn co trong tử biệt
Phạm Hầu viết những lời như thế thuở ông hai mươi mấy tuổi đầu. Hai mươi mấy tuổi mà dường như đã có đủ trong hồn một trăm năm đạo hạnh. Ông đi vào thi ca, nghệ thuật, với tâm hồn con người thanh tu đạt đạo. Người thanh niên ấy đã biết khước từ hết mọi thứ “dưỡng chất trần gian” và âm thầm gửi cho trần gian một chút tặng vật nho nhỏ.
Ngờ đâu tặng vật nho nhỏ kia lại khổng lồ như một Kim Tự Tháp nằm giữa sa mạc mênh mông để ghi lại ngấn tích một nền văn minh huyền ảo nhất thế gian.
Ông là con nhà thế phiệt trâm anh. Ông được kế thừa “y bát” của phụ thân Phạm Liệu. Y bát chân truyền kia đã đặt toàn khối văn học tư tưởng Trung Hoa tới đứng trước trận gió Tây Phương thổi lại. Thơ Phạm Hầu từ đó là cái vùng kết tinh của hai thể tinh văn minh. Hai văn minh đang gặp gỡ nhau, gùn ghè gắn bó hay tương tranh tiêu diệt nhau chơi? Chẳng rõ. Nhưng cái Tại Thể Thi Nhân của Phạm Hầu đã chịu hiến dâng thân mình ra làm Trường Sở Trụ cho cuộc cơn kia. Ông chấp thuận cuộc hôn phối cũng như cuộc giằng co. Và đem thân mình làm chiếc dương cầm cho ngân lên những cung bậc mênh mang chưa từng thấy trong văn chương kim cổ.
Mãi dâng trọn hồn vui muôn độ trước
Chưa đủ sao? Đời đòi hỏi thêm chi?
Tai đờ nghe, mi trĩu nặng từ bi
Gió bốn hướng dằng co trong tử biệt
Trong Thi Ca Tiền Chiến, đã có một Xuân Diệu làm người thanh niên ráo riết, một Huy Cận làm người thanh niên ngậm ngùi, một Hàn Mặc Tử làm người thanh niên đau khổ cực độ, Chế Lan Viên làm người chứng nhân cho điêu tàn, Hồ Dzếnh làm người đề huề giao hảo…lại thêm một Phạm Hầu làm người nghệ sỹ cao vời trang trọng mang một thánh tính u u ẩn ẩn như Nerval. Phạm Hầu mở ra trở lại chân trời bát ngát của Nguyễn Du trong giai đoạn cuối buổi Hoàng Hôn. Ông nói ít hơn Nguyễn Du, ông không đi vào giữa những thiên vạn thể của biển dâu, ông chỉ đơn sơ có mấy lời, nhưng mấy lời đào sâu khôn tả trong mạch giếng tân thanh. “Mãi Dâng Trọn Hồn Vui” là một kỳ tác muốn chìm sâu xuống mạch thẳm sinh tồn. Rồi khi ta cũng chịu ngập mình xuống đáy thẳm kia, thì kỳ tác nọ bỗng hiện thị như một Tòa Cổ Tháp nguy nga. Xin chép hết ra đây bài thơ đấy.
Mãi dâng trọn hồn vui
Mãi dâng trọn hồn vui muôn độ trước
Chưa đủ sao? Đời đòi hỏi thêm chi?
Tai đờ nghe, mi trĩu nặng từ bi
Gió bốn hướng dằng co trong tử biệt
Tiếng rên siết giờ tàn khi chấm hết
Cảnh thường xuyên đêm sáng đổi thay màu
Tim nhói lên nức nở những Ban Đầu
Những giờ cuối rơi rơi thầm tuyệt vọng
Hay đời hỏi thịt êm và tủy nóng
Tôi xin nằm yên ổn cả chân tay
Nắng có lên không mượn rợp cây bày
Mưa có xuống thêm băng hàn chút nữa
Trong đầy ải mình trần tê ngọn lửa
Tiệc chim bằng rỉa rói một lòng đơn
Nếu tôi đau mà người nhẹ căm hờn
Chắc hoa núi vui lay ngàn đóa mộng
Muôn miệng thắm tươi nụ cười hé rộng
Muôn chân say lay động khúc quân thiều
Nếu tôi đau mà người được tin yêu
Trang sách nhỏ nâng niu hồn xứ lạ
Trên đêm thúy hoa nô liều áp má
Đôi bạn đời tay dính nhựa a-giao
Nếu tôi đau, Trời đẹp! Nếu tôi đau
Mà muôn đời mưa nắng hiểu lòng nhau.
Jesus Christ lúc lên Calvaire, ắt Ngài cũng âm thầm nguyện cầu như lời đó. Ngài đã về giữa bụi hồng, rửa chân cho bụi hồng nhân gian, bây giờ Ngài vĩnh biệt nhân gian, bây giờ Ngài vui lòng vĩnh biệt, và lời chúc phúc tối hậu của Ngài hẳn nhiên là: bụi hồng ở lại hãy tiếp tục rửa chân cho nhau.
Còn Như Lai? Như Lai ỡm ờ niêm hoa vì tiếu:- “Ta có thấy bụi hồng nào đâu? Ta đâu nào thấy đâu có bàn chân chi đâu mà rửa với chẳng rửa? – Tu Bồ Đề! Ư ý vân hà?...”
Như Lai có cái tài tình trong phép đánh trống lảng. Đọc mấy bộ kinh Phật, ta xin xóa hết những nhan đề “Kim Cương Kinh, Bát Nhã Kinh, Bà Là Mật Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Pháp Hoa Kinh, Diệu Hoa Kinh, Huyễn Hoa Đệ Nhị Kinh, Ảo Hoặc La Treizième Kinh…” Xóa hết và chép lại là: “Như – Lai – đích – đánh – trống – lảng – tài – tình – tuyệt – kỹ - kinh.
BanTruc
10-02-2007, 08:00 AM
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân…
Những câu thơ đẹp thiên h́nh vạn trạng, Nguyễn Du đă dành riêng cho Thúc Sinh một bồ rất lớn.
Mày xanh trăng mới in ngần
Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa…
Lưu tâm tới những vần riêng biệt Nguyễn Du dành riêng cho Thúc Sinh, ắt ta sẽ nhận ra một ngụ ư sâu thẳm của Nguyễn Du. Người ta sẽ không xô bồ đứng trên quan điểm tâm lư học để bảo rằng Nguyễn Du đă tả được linh động một nhân vật nhu nhược, sợ vợ, hèn nhát, v.v…
H́nh ảnh Thúc Sinh sẽ đứng tại Trung tâm cái vùng tư tưởng thăm thẳm của Liệp Hộ, mà Dịch Kinh sẽ chiếu cố tới bằng những tiếng chả hạn như: “nhứt tịch nhứt hạp vị chi Biến, văng lai bất cùng vị chi Thông…”
Hoặc: “phù kiền thiên hạ chi chí kiện dă. Đức hạnh hằng dị trĩ tri hiểm. Phù khôn thiên hạ chi chí thuận dă. Đức hạnh hằng giản dĩ tri trở…”
Hoặc: “Nguy giả, an kỳ vị giả dă. Vong giả báo kỳ tồn giả dă. Loan giả hữu kỳ trị giả dă. Thị cố quân tử an nhi bất vọng nguy, tồn nhi bất vọng vong, trí nhi bất vọng loạn…”
Vân vân vân vân. Và mọi thứ vân vân đều có thể lược giảm về một tiếng đơn sơ “vô khả, vô bất khả”.
Riêng một sự nhầm lẫn dị thường của học giả bấy nay về Thúc Sinh, đủ khiến chúng ta kinh dị hăi hùng, chẳng c̣n biết ăn nói ǵ ra ǵ được cả. Chẳng c̣n biết phải đặt vấn đề từ đâu ra đâu.
(Đă như vậy, c̣n biết rớ vào đâu mà bừa băi nêu câu hỏi về Shakespeare, Homère, Lư Bạch, vân vân?)
Cái cuộc Kim Kiều dễ hiểu. Cuộc Từ Hải Kiều, cũng không rắc rối ǵ lắm. Nhưng cái cuộc Thúc Sinh Kiều, Hoạn Thư Kiều, lại là cái cuộc hàm hỗn gây náo động nhiều nhất trong tác phẩm Nguyễn Du.
Đừng nói chi xa xôi. Chỉ thử hỏi: - Riêng cái việc Kiều tắm hoa trong một mùa Hè, lúc lửa lựu lập ḷe đơm bông ở đầu tường, riêng cái việc cô Thúy tắm thôi, đă có ǵ như một “biến cố” hăi hùng, đến nỗi Nguyễn Du đă phải để chàng Thúc vịnh vào chỗ đó, bằng một bài Đường Thi – nghĩa là bằng cả lịch sử thi ca Trung Quốc? Đem cả một khối lịch sử kia về mở đối thoại với cái ṭa thiên nhiên dày sẵn đúc kia, Nguyễn Du có dụng ư ǵ? Và từ đó Thiên Nhiên (Phusis) đă thành Tượng?
Người ta sẽ xô bồ đáp một cách nông nổi rằng: - Nguyễn Du chả có đặc biệt dụng ư ǵ hết cả. Ông phỏng theo truyện Tàu, trong truyện Tàu có bài thơ vịnh Kiều tắm, th́ ông Nguyễn Du cũng nhắc qua loa cái chuyện Thúc Sinh Vịnh Kiều tắm đấy thôi. Hỡi ôi! Nếu xét cho cùng kỳ lư, th́ trong truyện Tàu lại c̣n tỷ mỷ ghi chép bài thơ nảy lửa nọ ra:
Dạ nguyệt thanh lâu đảo ngọc hồ
Mỹ nhân thừa túy khiết cù du
Băng cơ thỏ phách tranh minh mỵ
Tuyết thái hoa âm bán hữu vô
Sở khởi đái tu hô bạn thức
Dạ hành hàm tiếu thiến nhân pḥ
Lâm ty khoái nhập phù dung trướng
Chẩm thượng đê thanh xướng chá cô….
Bây giờ chúng ta nghĩ sao? Có phải rằng bấy lâu nay những lời bàn tán của chúng ta về Nguyễn Du, chẳng qua chỉ là tán hươu tán vượn? Nếu có đúng chăng nữa, th́ cũng phải nên trả hết những lời ấy về cho truyện Tàu của Thanh Tâm Tài Nhân?
Nếu câu hỏi năo nùng ra như thế, bỗng nhiên chúng ta chạm phải một ẩn ngữ không cách ǵ trực tiếp giải đáp.
Trong truyện Tàu, quả thật Thanh Tâm Tài Nhân đă có dành cho cặp Thúc Sinh Thúy Kiều một chỗ nằm ngồi rộng răi t́nh tứ miên miên. Há đâu phải đợi tới ông Nguyễn Du mới có!
Kiều tiễn Thúc Sinh đi, đề mười bài miên man những tán thán “kim tịch thi hà tịch?” những thở than “vấn quân hà nhựt tái quy đầu? Bất tri hà nhựt thị quy kỳ?”, chiêm vọng hương quan hà xứ thị?”…Thúc Sinh đi rồi, Thúy Kiều nằm trong giường mê man hoài niệm ngâm vịnh sáu bài trùng trùng điệp điệp những “tự quân chi xuất hỹ”, những “bất cảm thượng thanh lâu”, những “bất ngôn diệt bất ngữ”, những “vô nhựt bất nam tư”, “tư quân quân bất chí… vân vân…
Kinh khủng thật.
Những lời nồng nàn cháy bỏng máu me liên tồn thốt ra như thế, quả thật không c̣n coi trời đất ra ǵ. Chúng ta không dám nấn ná ở lại lâu. Ở lại lâu trong bầu khí hậu đó, ắt sẽ loạn mất tâm thần, tiêu ma tinh thể, c̣n đâu b́nh tĩnh sáng suốt mà nhận định đâu vào đâu để bàn tới dụng ư ông Nguyễn Du hay là dụng tâm của ông Du Nguyễn. Xếp lại mọi thứ đó, câu hỏi được nêu thành chất vấn như sau: “Cả ông Nguyễn Du, cả ông Thanh Tâm Tài Nhân, cùng có dụng tâm dụng ư ǵ, mà lại tả cái cuộc Thúy Kiều Thúc Sinh một cách năo nùng thiết tha như thế?”
BanTruc
10-02-2007, 08:02 AM
Sầu hương hoa gạo đỏ bên chân
Xa nắng chiều hoe nhạt mấy phần
Một cột đèn cao mơ góa bụa
Đường dài toan nối hận gian truân
Bốn câu thơ đầu bài “Lư Tưởng” của Phạm Hầu dường như kết tụ cả mối sầu của lớp người ngày trước… Sầu trong Lửa Thiêng, sầu trong những vần tịch mịch nhất của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính… cùng t́m về đây hội họp. Bốn câu quá sức mênh mang trầm tịch. Dường như tất cả những buổi chiều cô tịch Việt Nam đă ngưng đọng lại một lần. Những buổi chiều Thừa Thiên, chiều Hà Tịnh, chiều Quảng Ngăi Nam, chiều Sơn Tây…
Nhưng mà thật ra trong bài thơ kia Phạm Hầu không có dụng ư tả buổi chiều ǵ cả. Nhan đề là “Lư Tưởng”. Người thy sĩ đi theo bóng lư tưởng đă bắt gặp màu sắc chiều tàn. Lư tưởng ở đâu? Thiết tha theo đuổi, nhưng chỉ nh́n thấy hoang vu. Chẳng ra lư tưởng là hoang vu hư không? Phải o bế hư không? Hôn phối với hư không, để thành tựu mộng hờ lư tưởng? Lư tưởng là mộng hờ? Biết rơ mộng hờ mơ góa bụa, sao vẫn cứ đeo đai đ̣i giao hoan với góa bụa?
Biết rằng vô ích sao tôi vẫn
Phung phí đời tôi mấy độ tươi
Cổ kim có một thi nhân, nghệ sỹ, hiền nhân chân chính nào, lại chẳng nhận ra chính ḿnh trong lời thở than đó của Phạm Hầu?
Đời tôi nếu rụng bao nhiêu sắc
Cũng bởi v́ tôi quá mộng hờ
Nói theo ngôn ngữ b́nh dân th́ ấy chính là cái cuộc:
Thả mồi bắt bóng
Bóng bắt chẳng được
Mồi kia không c̣n
Há chẳng là
Đáng tiếc lắm ru?
Vâng. Biết rành rành rằng thế là đáng tiếc, mà sao vẫn cứ lu bù mài miệt trong cuộc đáng tiếc kia? V́ sao như thế?
Ấy bởi lẽ trầm trọng sau đây:
Thằng thi sỹ có cái cảm tưởng cắc cớ rằng: nếu từ bỏ cái cuộc cặm cụi loay hoay bắt bóng nọ, đă đành là trách được một cuộc đáng tiếc, nhưng v́ lẽ ǵ, hỡi ôi! Chính cái sự t́nh tránh được cuộc đáng tiếc, lại chính đó là điều đáng tiếc khôn hàn, gay cấn trong mọi sự đáng tiếc ở đời.
Do đó, dù biết rằng đuổi đeo là đáng tiếc, là ṃn thân mỏi thể, thân tàn ma dại, v.v… vẫn cứ ù lỳ đuổi theo măi măi suốt một b́nh sinh.
Th́ cũng chẳng khác chi ông già Heidegger suốt một b́nh sinh cố công nhọc sức chạy đi kiếm t́m hư vô, để nắm lấy cái hư vô mà dắt d́u dẫn nó về cho Tại Thể đem nó ra mà thiết lập căn cơ cho Siêu H́nh Học!!! Một hai lận đận nói măi rằng Tồn Lưu chỉ có thể nhận diện ḿnh là lúc Tồn Lưu chịu soi bóng ḿnh trong tấm gương vô dạng của Hư Vô!
Một trận hiện diện dị thường trong khiếm diện gây nên một t́nh tự vừa hoang vắng vừa chan ḥa, một khuyết phạp thường hằng lại để mọc ra xum xuê những lá cây viên măn cứ xô ùa nhau rụng măi.
Đó là cái tạm gọi là rappochement des extrêmes: participation totale et solitude.
Bây giờ chúng ta nên thư thả đọc lại bài “Lư Tưởng” kia, suốt từ đầu tới cuối, thử đọc thuộc một trận chơi, để xem mai sau trong chiêm bao, có c̣n cơ hội điều tra ra manh mối chập chờn kia của “Lư Tưởng”.
Lư Tưởng
Sầu hương hoa gạo đỏ bên chân
Xa nắng chiều hoe nhạt mấy phần
Một cột đèn cao mơ góa bụa
Đường dài toan nối hận gian truân
Tôi theo tư tưởng vô cùng tận
Chỉ gặp vô cùng nỗi quạnh hiu
Sáng sớm: rạng đông, chiều: chạng vạng
Những giờ mới lạ có bao nhiêu?
Thuở nhỏ đêm mơ nằm thấy bướm
Giờ không mơ bướm lại mơ thơ
Đời tôi nếu rụng bao nhiêu sắc
Cũng bởi v́ tôi quá mộng hờ.
- Ao ước ngày mai sắc nắng thơm
Chiều mai thôi ráng nhuộm cô đơn
Chiều qua gió thổi lời tôi nguyện
Quên thổi giùm tôi hận chập chờn.
Tôi đợi người đây, Tuyệt Đích ơi!
Dẫu xa, xa cách mấy phương trời
Biết rằng vô ích sao tôi vẫn
Phung phí đời tôi mấy độ tươi.
Nếu bây giờ chúng ta đem cái tiếng “lư tưởng” của Phạm Hầu ra bài xích theo lối thô thiển của những người chuyên môn đẽo gọt từ ngữ theo lối phân tích tủn mủn “hợp thời trang”, th́ ắt cái lư tưởng kia không c̣n đất đứng. Phải xóa sạch nó đi để dọn đường cho khoảnh khắc hiện tại. Người ta quên mất rằng mọi ngôn ngữ thi ca là của riêng thi ca. Chúng không có liên can chi tới cái ngôn ngữ máy móc. Chúng nằm trong cái mạch sinh động tuôn trào như một làn phi tuyền từ ḷng đất uyên nguyên. Chúng nói lên cái niềm ngạc nhiên nguyên thủy của con người đối diện với cơi thế lưu ly. Nó quên bẵng mọi thứ nhân tuần cập kè trong xă hội ganh đua. V́ thế nó khai trừ cái “kư ức” lếu láo, cái “kinh nghiệm” bon chen, để phục hồi cái kư ức mênh mông, cái kinh nghiệm bát ngát trong những cuộc Lữ dị thường “trải qua một cuộc biển dâu…”
Muốn quên, th́ phải có nhớ. Muốn nhớ th́ phải có quên. Nhưng quên cái ǵ và nhớ cái ǵ? Người ta xao lăng sự xác định đó. Người ta hí hửng a dua lao đầu tới gh́ chộp viên kẹo “mới” và cứ tưởng ḿnh tân kỳ biết coi thường cái bánh cũ.
Nếu bây giờ chúng ta thử quên hết mọi giáo lư mà Ki Tô Giáo cũng như Phật Giáo ngày nay nói với ta, th́ ắt cái h́nh ảnh nguyên thủy của Chúa Ki Tô và Như Lai sẽ hiện ra trong một niềm kinh thán bao la. Nếu ta quên đi hết mọi bài giảng giải chuyện Kiều của giáo dục nhà trường và của mọi ông học giả, ắt Nguyễn Du uyên nguyên sẽ hiện trở lại với cái vùng sương bóng của cuộc Lữ mênh mông Liệp Hộ, và của cơn Tịch Nhiên bất động của Thanh Hiên. Từ đó sẽ nảy ra một cuộc Hiện Diện vô ngần trong một cuộc Đối Thoại vô tức vô thanh. Vô tức vô thanh, v́ nó không liên can chi tới những âm thanh của học giả. Vô ngần nghĩa là vô ngấn tích. Cuộc hiện diện vô ngấn tích v́ nó nằm trong một trận khiếm diện dị thường đối với mọi thứ mưu toan thủ đoạn.
Bài thơ của Phạm Hầu đi về giải thích cho Gia Long cái thái độ im ĺm của Nguyễn Du. Giải thích cho Gia Long? Nhưng có đời nào Gia Long hiểu. Những ông vua Gia Long là những ông Chúa Tể Vạn Vật, Những ông ấy không bao giờ chịu làm Kẻ Láng Giếng thơ mộng của Tồn Lưu. Biết rơ rằng những ông ấy không bao giờ nghe ra ǵ ǵ cả, nhưng Khổng Tử xưa cũng cứ mở cuộc Lữ Chu Du tới bên gùn ghè đối thoại. Đó cũng là một cách chịu chơi với Sa Mạc. Cuộc Chu Du của Khổng Tử từ đó mang trọn cái ư nghĩa câu thơ:
Một cột đèn cao mơ góa bụa
Đường dài toan nối hận gian truân.
BanTruc
10-02-2007, 08:06 AM
Xin tặng bà mấy câu thơ tôi lắp lại thơ bà một buổi chiều lỡ dở:
Hoa đào ngỏ vắng rụng mong manh
Tỉnh giấc trà suông liễu rủ mành
Đất lạnh xóm nghèo hoa chậm nở
Can tràng ai hẹn với ngày xanh
Ngày xưa chúng tôi không được đọc thơ bà. Sách Hoài Thanh Hoài Chân đă bỏ sót. Nay gặp bà trong sách của Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng. Thấy ông Bùi Khánh Đản họa thơ bà, tôi cũng xin nối điệu chút ít. Tôi không biết họa thơ. Xin gieo vài lời vịnh lạc lơng:
Mưa thu buổi sáng ướt thềm
Tiếng rên rỉ nọ c̣n thêm nỗi ǵ.
Dâng lên từng đợt lỗi ngh́
Mùa xuân đă chết ai về gọi thu
Tôi đọc kỹ những bài thơ và văn xuôi của bà trong cuốn sách ấy. Tôi biết nói ǵ bây giờ? Chẳng lẽ lại lảm nhảm nói một điều quá hiển nhiên rằng thơ bà cũng quan trọng như thơ bà Huyện Thanh Quan? Đằm thắm năo nùng như linh hồn Đoàn Thị Điểm? Bà hiện giờ ở đâu? Nếu quẩn quanh có mặt ở Sài G̣n? Th́ chắc tôi xin rúc ra khỏi gian nhà, đi t́m thăm viếng bà.
Bài “Xuân Tưởng”, bà có ghi: “Dám mong các bạn thơ trả lời bằng những câu hỏi thơ này”.
Tôi cũng không thể trả lời bằng thơ. Trả lời bằng văn xuôi cũng không thể. Chỉ có thế viết câu hỏi của bà đă nêu ra:
Hoa đào múa cánh cuối đông rồi
Một vẫy tay tiên đủ tám bài
Ngày muộn trường văn tàn nét bút
Người làm thơ muộn đấy là ai?
Là ai? tôi không biết. Nhưng người làm thơ muộn có thể biết. Vậy để nhờ người ấy đáp.
Cách mấy mươi năm giấy mực già
Bất ngờ trùng hiện gió xưa hoa
Người làm thơ muộn nêu câu hỏi
Kẻ muộn làm thơ họa há là…
Tạm đáp dở dang như thế. Bây giờ tạm gọi là b́nh tĩnh yên ổn. Xin chậm răi chép lại vài bài thơ của bà ra đây.
1. Ngày xưa
Ngày xưa có một người thơ
Vào rừng thông lạnh đợi chờ gió reo
Chim hôm loáng thoáng qua đèo
Cảnh chiều buông tiếng chuông chùa ngân nga…
2. Thế ra
Thế ra thu đă đến rồi
Thảo nào mưa gió tơi bời mấy hôm
Xa xôi ai đấy có buồn?
Thôn Dương ngành liễu vơ vàng tương tư
3. Đêm mưa
Gió mưa ướt áo đủ rồi
Sao c̣n ngấm lạnh ḷng tôi thế này
Ốm đau đă mấy tuần nay
Nét cười đă với tháng ngày trôi xa
Giờ không gạn chút vui thừa
Tựa song quạnh vắng nh́n mưa rơi buồn
Nhờ ai chắp hộ mảnh hồn
Đă v́ đau giận rũ tan khắp trời
Mưa rơi từng giọt mưa rơi
Ḷng ai có lạnh như tôi thế này
Kính thưa Ngân Giang nữ sỹ!
Văn bối nhận thấy rằng thơ và văn xuôi của tiền bối đều đạt tới mức lô hỏa thuần thanh. Tiền bối hồn nhiên đạt tới như thế là v́ tâm hồn tiền bối mênh mông? Hay là tiền bối có chịu khó luyện tập nhiều năm nên mới đạt được thập thành công lực?
Nay mai nếu tôi làm được bài thơ nào, tôi xin đề tặng tiền bối. Và nếu tiền bối cần thỉnh giáo điều ǵ, tại hạ cũng sẽ sẵn sàng chỉ vẽ cho. Chả hạn? – Chả hạn: tại hạ vốn là thằng thy sỹ đi khắp cơi uyên nguyên, siêu thực, gặp từ con chuồn chuồn nguyên thủy băo giông, tới con hùm thiêng thủy nguyên giông băo, v́ lẽ ǵ tại hạ lại c̣n chiều chuộng những bài thơ chả có chi băo tố phong ba? – Đáp rằng: tại hạ đă chán ngấy hết mọi thứ phong ba băo tố rồi. Tại hạ thấy nó cũng ù lư le lói ra một thứ nhà ma đó thôi. Ích ǵ mà triền miên lâu ngày ở trong đó. Nên bế mạc sớm cho xong. Tại hạ t́m tới viếng thăm tiền bối, xin uống một tách nước trà đạm nhiên là đủ. Chỉ cầu mong một điều: trà kia không có pha thêm những bột phấn phồn hoa, và bàn tay pha trà không phải là bàn tay của một kẻ tốt nghiệp chuyên môn nơi một trường cao đẳng Trà Đạo, Trà Lư ǵ ǵ hết cả.
BanTruc
10-02-2007, 08:08 AM
Đọc ông Nguyễn Du măi cũng chán. Rồi từ Đường Thi, nhảy vọt qua Tây Phương, chạy t́m những Tượng Trưng, Siêu Thực, Siêu Thể, Siêu H́nh, hơn hai mươi năm, kể cũng đà tới lúc ớn khắp linh hồn. Thơ Nguyễn Công Trứ là một con zéro. Thơ Cao Bá Quát là một con zéro rưỡi. Thơ theo thể Đường Luật của các ông Nho học uyên bác, toàn là rờ rẫm cóp nhặt Tàu, những bộ xương khô quái gỡ. Hàng vạn bài na ná giọng điệu giống nhau.
Chỉ c̣n mấy bài của Ngân Giang nữ sỹ và Vân Đài nữ sỹ là có linh hồn. Hai bậc tiền bối này quả có chân thành. Có sống trọn linh hồn. Bài thơ hai bà làm đúng là bài thơ sông núi. Dù có sáo chăng nữa, th́ đấy cũng là cái sáo của sông núi phát tiết ra.
Yêu thương dậy lại đầy trời
Ḷng ơi! Đường cũ núi đồi c̣n đây
Đọc câu thơ như thế, quả thật tại hạ muốn làm đứa bé xách giép cho bà, đi sau chân bà, ủng hộ bà trong cuộc ngao du sơn thủy.
Kể chuyện Nerval! Heidegger cho bà nghe.
Bà cũng biết uống rượu
Giốc cạn duyên thơ quá chén rồi
Men nồng thắm đỏ khắp hồn tôi
Vui không có bạn sầu không có
Nằm giữa ḷng trăng khóc giữa trời
Đầu ngă cành xanh vai vũ trụ
Tay ôm hương sắc những mùa tươi
Quên nghe thời khắc quên năm tháng
Say uống hương hoa giữa suốt đời
Cái thứ rượu bà uống say kia té ra không phải la de hoặc rượu đế. Tại hạ mừng hụt. Phải chi tiền bối uống rượu thật sự, th́ mỗi phen nhậu nhẹt, ắt tiền bối gọi tại hạ tới cho nhấm chút ít.
Dù sao hai câu thơ đồ sộ bát ngát của tiền bối cũng an ủi văn bối phần nào:
Vui không có bạn sầu không có
Nằm giữa ḷng trăng khóc giữa trời
Quả thật bốn ngàn năm văn hiến Việt Nam, chỉ có thể cho nảy hột tinh hoa ra hai câu thơ như thế. Phải chi ông Nguyễn Du, ông Nguyễn Trăi c̣n sống th́ văn bối đem hai câu thơ ấy đọc cho hai ông nghe.
Lục bát của bà trong bài “Biệt ly” cũng thật dịu dàng. Ta phải coi Vân Đài nữ sỹ như bà ngoại bà nội chúng ta, th́ mới cảm hết cái chỗ mênh mông trong mấy vần này:
Ḷng ta tràn ngập nỗi buồn
Như người đứng ngă ba đường nhớ ai
Trái tim hồi hộp thở dài
Ḥa theo với tiếng bốn trời tiễn đưa
Sáng nay mây trắng bơ phờ
Gió ngừng mặc rặng lau thưa bên nguồn
Thuyền đi sông nước ngại ngùng
Bến xanh xanh vẫn ngóng trông tháng ngày
Giang lăng cách trở đâu đây
Nghe đêm vượn hót nghe ngày chim kêu.
(“Tặng cảnh Cát Bà”)
BanTruc
10-02-2007, 08:12 AM
Nếu đọc Vân Đài và Ngân Giang, phải nghĩ rằng đó là lời thơ của bà ngoại bà nội chúng ta, mới cảm thấy hay thấm thía – th́ đọc Xuân Diệu, ắt nên nghĩ rằng đó là thơ của một thằng em. Sự t́nh tứ đó sẽ đổi hẳn tính cách.
Sau ba mươi năm dài, trải bao trận phiêu du ngoài đời, cũng như lưu ly trong thi ca tư tưởng, ngày nay cầm lại cuốn Thơ Thơ, tại hạ cảm thấy một cái ǵ không thể tả. Đọc lại thơ Nguyễn Bính, thơ Lưu Trọng Lư, có thể không bồi hồi chi mấy. Nhưng đọc Thơ Thơ, lại khác hẳn. Dường như toàn thể tuổi xuân bỗng sống dậy kêu gào.
Xóa đi những lời lếu láo lải nhải, c̣n lại những lời chân thật riêng biệt chân thành của tuổi trẻ:
Không có cánh nhưng vẫn thèm bay bổng
Đi sâu trong sân mà nhớ chuyện trên trời
Trút thời gian tong một phút chơi vơi
Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ
Thơ hồn nhiên rộng răi như thế đúng là thơ của thiên tài tuổi trẻ.
Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời
Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ
Chúng ta đă ngột ngạt v́ thơ đoạn trường của Nguyễn Du, thơ đ́u hiu của bà huyện Thanh Quan, thơ ồ ạt lếu láo của Nguyễn Công Trứ, thơ trắng trợn của Trần Tế Xương… thơ già trước tuổi của những thi tài nảy ra trong ṿng mười năm nay…
Th́ bây giờ cũng đă tới lúc xua ùa đi hết mọi thứ thơ năo nùng kia, và đọc lại Xuân Diệu:
V́ sao giáp mặt buổi đầu tiên
Tôi đă đày thân giữa xứ phiền
Không thể vô t́nh qua trước cửa
Biết rằng gặp gỡ đă vô duyên
Kể từ sau 1945, các loại thơ này vốn không mảy may rung động chúng ta được nữa. Chúng ta đứng trước những phong ba, linh hồn chúng ta mang những ưu tư khắc khoải khác. Thơ trữ t́nh, thơ yêu đương vớ vẩn nhớ nhung kia, chúng ta bỏ trôi mất hút, không một chút bận tâm.
Nhưng rồi phong ba cứ dồn dập, càng ngày càng mang tính cách nhố nhế thêm ra, tủn mủn đầu độc thêm ra, th́ ưu tư khắc khoải trở thành chuyện tầm phào, siêu thi, siêu tưởng, siêu triết… trở thành chuyện đĩ điếm. Văn chương văn nghệ trở thành chuyện bán cá ngoài trợ. Nợ tang bồng vay trả trả vay, trở thành chuyện phỉnh phờ con nít. Lưu thủ đan tâm, trở thành chuyện tán gái đâm toang. Chiếu hăn thanh, trở thành chiếu chăn mài cọ lầu xanh meo mốc.
Ngót hai mươi năm rồi, ngụp trong đó, chúng ta lừa lọc nhau và tự lừa dối ḿnh. Bây giờ đă thấm mệt với cái tṛ nhảy nhót nhấp nháy kia. Thôi xin từ giă mọi thứ đó. Xin chạy theo sau thằng thanh niên ngây ngô ngày trước chơi một trận.
BanTruc
10-02-2007, 08:14 AM
Bài “Rằm Tháng Giêng” của Hồ Dzếnh quả thật là một bài thơ hay:
Chị tôi vào lễ trong chùa
Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên
Ḷng thành lễ vật dâng lên
Cầu cho tiểu được ngoài giêng đắt chồng
Chị tôi phụng phịu má hồng
Vùng vằng suưt nữa quên bồng cả tôi
Tam quang ngoài mát chị ngồi
Chị nghe đoán quẻ chị cười luôn luôn
Quỉ thần thóc mách mà khôn
Số này chồng đắt đẻ con cũng nhiều
(“Rằm tháng Giêng”)
Người Việt Nam có thể không đọc Nguyễn Du, nhưng không thể nào không đọc bài thơ kia của Hồ Dzếnh.
Bài “Lời Về” của ông riêng bốn câu cuối cũng đủ là một tuyệt tác cổ kim:
Vó ngựa từ ngày vỗ xuống Nam
Truông ṃn đưa lối Hải Vân San
Áo nâu phai nhạt màu cây cỏ
Lá rụng hoa rơi đất nước Chàm
Một bài tứ tuyệt như thế đúng là một tặng vật của Đường Thi. Nhưng Đường Thi ghé xuống Việt Nam, Đường Thi đă nhảy một bước vô biên. Không c̣n Lư Bạch, Thôi Hiệu, Tô Đông Pha nào chạy kịp được nữa.
V́ trong đó có ba sử lịch đang gùn ghè nhau. Sử lịch Trung Hoa, sử lịch Việt Nam, sử lịch Chiêm Thành:
Lá rụng hoa rơi đất nước Chàm
Một câu thơ đơn giản như thế mang toàn khối Như Lai trong mấy trăm bộ kinh Phật. Và thừa dư công lực hư vô để thiết lập căn cơ cho Siêu H́nh Học Tây Phương. Ông Heidegger khỏi phải bận tâm hỳ hục lôi cả Hoelderlin, Sophocle, Parménide, vào trong cuộc thiết lập cơ sở mới làm ǵ.
Cái cuộc Lữ dị thường của Khổng Tử bỗng nhiên tiếp giáp với Thái Hư Tịch Mịch trong bốn câu thơ kia của Hồ Dzếnh. Đó là điều mà trong tập Điêu Tàn của Chế Lan Viên, ta mỏi mắt t́m không thấy.
BanTruc
10-02-2007, 08:15 AM
Nguồn thơ của Đinh Hùng trong Mê Hồn Ca là nguồn thơ lạ nhất trong thi ca Việt Nam.
Tới Đường Vào T́nh Sử, th́ nguồn thơ kia bỗng như tắt ngấm. Đinh Hùng trở thành kẻ rờ rờ rẫm rẫm. Tuy nhiên, trong Đường Vào T́nh Sử cũng c̣n mấy bài bát ngát ở lại buồn bă vô song.
Trần Thy Nhă Ca
Chợt tiếng buồn xưa động bóng cây
Người đi chưa lại dấu chân này
Bàn tay nằm đó không ngày tháng
T́nh ái xin về với cỏ may
Rồi lá mùa xanh cũng đỏ dần
C̣n đây niềm hối tiếc thanh xuân
Giấc mơ choàng dậy tan h́nh bóng
Và nỗi tàn phai gơ một lần
Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài
Khuya ch́m trong tiếng khóc tương lai
Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối
Tôi mất thời gian lỡ nụ cười
Đời sống ôi buồn như cỏ khô
Này anh em cũng tựa sương mù
Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng ṃn hết tuổi thơ
Bài “Thanh Xuân” của Trần Thy Nhă Ca nghe như lời chiếu cố của một vị Quan Âm Bồ Tát.
Tưởng chừng như nếu các vị Tổng Thống phu nhân ở thế giới t́nh cờ đọc được, ắt các phu nhân vui ḷng cạo đầu sạch sẽ để đi tu.
Tôi tiếc ḿnh không có tài bàn giải như Kim Thánh Thán Mái Tây, nên t́m không đủ lời tuyệt đối viết ra. Ngày mai ắt tôi sẽ chết không nhắm mắt được.
Thử nêu câu hỏi: Nếu như những ông Khổng Tử đọc bài thơ đó, ắt sẽ gây ra sự ǵ? Tất nhiên là các ông sẽ chẳng bận tâm hỳ hục soạn Kinh Thi, Kinh Dịch làm ǵ nữa.
BanTruc
10-02-2007, 08:16 AM
Ông ở lại trên mảnh đất đai Siêu H́nh Học Âu Châu, ông cày bừa trên mảnh đất ấy. Suốt hơn một phần ba thế kỷ, ông cặm cụi vạch gai góc và gieo vài hạt giống trên mảnh đất ngổn ngang.
Những hạt giống đầu tiên gieo vào mảnh đất đầy chướng ngại, phải là những hạt giống thích hợp.
Thích hợp với cái ǵ? Với mảnh đất đai kia với những hàng rào vây bọc mảnh đất đai kia, với bầu khí hậu phong tỏa mảnh đất đai kia. Những gai góc đủ loại đă mọc đầy, bầu khí hậu bị vẩn đục, con người Siêu H́nh Học Âu Châu không c̣n có thể nh́n ra tinh thể những “hàng cây sơ thủy” vốn đă mọc trên đó. (Trong tập thơ Lá Hoa Cồn ngày trước, tôi có ư muốn nói tới sự t́nh đó, trong những bài “Hàng Cây Sơ Thủy”, “Vào Nguyên Thủy Giục”, “Logos”, vân vân).
Những “hàng cây” nọ cần phải được nh́n ngó trở lại, muốn nh́n ngó trở lại, trước tiên phải tẩy gột những ǵ làm vướng nhăn quan.
Nh́n ngó trở lại để làm ǵ? Để đừng sa vào t́nh trạng vong bản. Quên mất cội nguồn bát ngát ban sơ, đó là lư do đă khiến những triết gia cận đại Âu Châu không cách ǵ mở đối thoại với Đông Phương.
Heidegger luôn luôn bảo rằng ông chẳng có ư dựng triết thuyết ǵ cả. Tư tưởng của ông chỉ là một tư tưởng chuẩn bị - nhứt điều chuẩn bị đích tư tưởng. (Xem Sương B́nh Nguyên và Trăng Châu Thổ).
Chuẩn bị cho cái ǵ? Đáp: cho một trận đối thoại về sau giữa Tây Phương và Đông Phương.
Do đó Heidegger lập ngôn trong một Nếp Gấp Nhị Bội, mà các triết gia Âu Châu ít chịu lưu ư tới. Cái điều đối với Heidegger chỉ là điều tạm thời, tạm bợ, người ta cho đó là điều cốt yếu. Cái điều cốt yếu th́ Heidegger lại nói thoảng qua trong những mệnh đề phụ - là những hạt giống lơ thơ gieo ra trong một vùng sương bóng vô tức vô thanh tiếp giáp với lục bát thi ca Việt Nam bất tuyệt.
Waehlens theo dơi tư tưởng Heidegger nhiều ngày, vẫn không nhận ra điều cốt yếu nọ. Mọi triết gia bàn tới Heidegger đều bàn lui bàn tới những thứ ở ngoài mép ŕa. Nghĩa là: đăng đường th́ có, mà nhập thất th́ không.
Chung quy có lẽ chỉ v́ họ măi măi ở trong cái t́nh trạng: thấy sự vụ đương nhiên là thế, mà không rơ đâu là nguyên do sử lịch đă quyết định sự vụ là thế.
Hoặc nói theo ngôn ngữ người Trung Hoa:
“Tha môn hiển nhiên thị chỉ tri kỳ đương nhiên, nhi bất tri kỳ sở dĩ nhiên”.
Khổ thay. Nếy bây giờ chúng ta ḷ ḍ chạy hỏi ông Heidegger xem sự t́nh gay cấn đó có phải có nguyên nhân éo le như thế chăng, th́ Heidegger ắt lửng lơ niêm hoa vi tiếu theo lối Khổng Tử ỡm ờ: - Tại hạ quả thật cũng chả rơ đâu vào đâu cho lắm… Kính thưa các hạ ạ! Kỳ trung nguyên nhân, lăo hủ nhứt thời giả thuyết bất thanh sở. Phản chính cứ lăo hủ sở kiến, tam thành tựu thị giá dạng đích lặc…”.
Đó là phong thái của những nhà đại tư tưởng cổ kim. Họ đáp theo lối lửng lơ. Trong khi học giả xô bồ, bao giờ cũng tấp nập nối đuôi nhau tấn công ông già kia một cách ráo riết.
Cái thái độ ráo riết kia đă bao phen khiến cho mọi cuộc đối thoại chân chính đành phải chịu phần chấm dứt ngay khi mới vừa khởi đầu.
Nếu bây giờ chúng ta thử bỏ ra khoảng chín mươi chín năm đọc lại Heidegger, ắt là chúng ta sẽ dần dà nhận thấy rằng: cái hạt giống mong manh mà Heidegger đă gieo vào mảnh đất Siêu H́nh Học Âu Châu, cái hạt giống bé bỏng đó quả thật đă manh nha mọi thứ cây cối đồ sộ, mà về sau thiên hạ sẽ thi đua nhau về leo trèo hái ngắt mọi thứ hoa quả và có thể tưởng lầm rằng hoa quả ấy là của riêng ḿnh trồng trọt ra, chứ chẳng phải của ông Heidegger hoặc Martin ǵ ráo!
Định mệnh của những tư tưởng hoằng viễn xưa nay, vẫn măi măi là như thế. Những kẻ gieo giống chả bao giờ thấy cây mọc, chẳng bao giờ thấy đâm hoa kết quả, chẳng bao giờ thu hoạch mùa màng. Họ chỉ phụng bồi cho cuộc gieo hạt, và hơn nữa, phụng bồi cho cuộc soạn sửa gieo hạt mà thôi.
Il ne servent qu’aux semailles, et même, plutôt à là préparation de celles-ci. Sie diene der Aussaat und eher noch der Vorbereitung dieser.
(Xem Trăng Châu Thổ, trg 467-468).
Heidegger là kẻ nh́n thấy rất rơ duyên do cuộc tẩu hỏa nhập ma của những Nietzsche, Hoelderlin, và - nhẹ hơn - của Rilke. Ông muốn tránh cho những nhà tư tưởng, những kẻ sáng tạo mai sau khỏi lâm vào t́nh trạnh tẩu hỏa nhập ma – đó cũng là một trong những duyên do dă khiến ông lập ngôn một cách dị thường ẩn mật.
Nếu bây giờ chúng ta suy gẫm về Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, nếu ta nghĩ rằng viết Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du tuyệt nhiên chẳng có ư kư thác tâm sự riêng tây của “di thần triều Lê” ǵ ǵ cả, th́ sự vụ ắt c̣n rọi vài tia sáng vào cuộc lập ngôn của Heidegger. Nếu như Nguyễn Du viết Truyện Kiều với cứu cánh trực tiếp mở đối thoại với Gia Long? Gián tiếp mở đối thoại với Trung Hoa? Và rộng răi hơn: mở đối thoại với sử lịch Đông Phương? Hoặc: mở đối thoại với tứ hải? – Th́ từ đó, những nếp gấp khôn hàn nào trong Truyện Kiều sẽ chậm răi mở ra? Và từ đó chúng ta sẽ “làm thơ” theo thể thái nào để đáp ứng?
Bây giờ để thử tránh lỗi tư tưởng một chiều. Chúng ta hăy nêu vài câu hỏi liên can tới tới Nietzsche.
Sự t́nh “đương nhiên” là Nietzsche có xô bồ công kích Jésus Christ. Nhưng đâu là cái lẽ “sở dĩ nhiên” của cuộc đó? Sau cuộc đó, Nietzsche bị tẩu hỏa nhập ma. Ông thật “bị” tẩu hỏa nhập ma, hay là ông cố t́nh lao đầu vào chịu trận tẩu hỏa nhập ma? Nếu ông có cố ư, th́ đâu là duyên do sự cố ư ấy? Nếu đem sự t́nh kia ra hỏi Nguyễn Du, th́ Nguyễn Du sẽ đáp bằng câu thơ nào trong Truyện Kiều? Khổng Tử sẽ phụ họa vào câu thơ đó bằng cái lời nào của Ngài? Thằng thi sỹ Việt Nam ngày nay có nên nêu mọi sự đó ra bàn luận trực tiếp? Nietzsche có bằng ḷng thuận để cho nó nêu ra hay là Nietzsche sẽ bảo rằng: “vấn đề đối với các hạ bây gờ là nên sớm đánh mất tại hạ đi!” Đánh mất bằng cách nào? Sao gọi là đánh mất? Lặng lẽ giũ áo ra đi, hay là lao ḿnh tới công kích? Hay là vừa công kích, vừa bỏ đi, vừa thân tặng ông vài vần thơ lây lất? Hay là chịu chơi gay cấn bảo rằng: - Nhân danh là thi sỹ Việt Nam, tôi xin nguyện làm nô lệ ông suốt đời?
BanTruc
10-02-2007, 08:18 AM
Ông ở lại trên mảnh đất đai Siêu H́nh Học Âu Châu, ông cày bừa trên mảnh đất ấy. Suốt hơn một phần ba thế kỷ, ông cặm cụi vạch gai góc và gieo vài hạt giống trên mảnh đất ngổn ngang.
Những hạt giống đầu tiên gieo vào mảnh đất đầy chướng ngại, phải là những hạt giống thích hợp.
Thích hợp với cái ǵ? Với mảnh đất đai kia với những hàng rào vây bọc mảnh đất đai kia, với bầu khí hậu phong tỏa mảnh đất đai kia. Những gai góc đủ loại đă mọc đầy, bầu khí hậu bị vẩn đục, con người Siêu H́nh Học Âu Châu không c̣n có thể nh́n ra tinh thể những “hàng cây sơ thủy” vốn đă mọc trên đó. (Trong tập thơ Lá Hoa Cồn ngày trước, tôi có ư muốn nói tới sự t́nh đó, trong những bài “Hàng Cây Sơ Thủy”, “Vào Nguyên Thủy Giục”, “Logos”, vân vân).
Những “hàng cây” nọ cần phải được nh́n ngó trở lại, muốn nh́n ngó trở lại, trước tiên phải tẩy gột những ǵ làm vướng nhăn quan.
Nh́n ngó trở lại để làm ǵ? Để đừng sa vào t́nh trạng vong bản. Quên mất cội nguồn bát ngát ban sơ, đó là lư do đă khiến những triết gia cận đại Âu Châu không cách ǵ mở đối thoại với Đông Phương.
Heidegger luôn luôn bảo rằng ông chẳng có ư dựng triết thuyết ǵ cả. Tư tưởng của ông chỉ là một tư tưởng chuẩn bị - nhứt điều chuẩn bị đích tư tưởng. (Xem Sương B́nh Nguyên và Trăng Châu Thổ).
Chuẩn bị cho cái ǵ? Đáp: cho một trận đối thoại về sau giữa Tây Phương và Đông Phương.
Do đó Heidegger lập ngôn trong một Nếp Gấp Nhị Bội, mà các triết gia Âu Châu ít chịu lưu ư tới. Cái điều đối với Heidegger chỉ là điều tạm thời, tạm bợ, người ta cho đó là điều cốt yếu. Cái điều cốt yếu th́ Heidegger lại nói thoảng qua trong những mệnh đề phụ - là những hạt giống lơ thơ gieo ra trong một vùng sương bóng vô tức vô thanh tiếp giáp với lục bát thi ca Việt Nam bất tuyệt.
Waehlens theo dơi tư tưởng Heidegger nhiều ngày, vẫn không nhận ra điều cốt yếu nọ. Mọi triết gia bàn tới Heidegger đều bàn lui bàn tới những thứ ở ngoài mép ŕa. Nghĩa là: đăng đường th́ có, mà nhập thất th́ không.
Chung quy có lẽ chỉ v́ họ măi măi ở trong cái t́nh trạng: thấy sự vụ đương nhiên là thế, mà không rơ đâu là nguyên do sử lịch đă quyết định sự vụ là thế.
Hoặc nói theo ngôn ngữ người Trung Hoa:
“Tha môn hiển nhiên thị chỉ tri kỳ đương nhiên, nhi bất tri kỳ sở dĩ nhiên”.
Khổ thay. Nếy bây giờ chúng ta ḷ ḍ chạy hỏi ông Heidegger xem sự t́nh gay cấn đó có phải có nguyên nhân éo le như thế chăng, th́ Heidegger ắt lửng lơ niêm hoa vi tiếu theo lối Khổng Tử ỡm ờ: - Tại hạ quả thật cũng chả rơ đâu vào đâu cho lắm… Kính thưa các hạ ạ! Kỳ trung nguyên nhân, lăo hủ nhứt thời giả thuyết bất thanh sở. Phản chính cứ lăo hủ sở kiến, tam thành tựu thị giá dạng đích lặc…”.
Đó là phong thái của những nhà đại tư tưởng cổ kim. Họ đáp theo lối lửng lơ. Trong khi học giả xô bồ, bao giờ cũng tấp nập nối đuôi nhau tấn công ông già kia một cách ráo riết.
Cái thái độ ráo riết kia đă bao phen khiến cho mọi cuộc đối thoại chân chính đành phải chịu phần chấm dứt ngay khi mới vừa khởi đầu.
Nếu bây giờ chúng ta thử bỏ ra khoảng chín mươi chín năm đọc lại Heidegger, ắt là chúng ta sẽ dần dà nhận thấy rằng: cái hạt giống mong manh mà Heidegger đă gieo vào mảnh đất Siêu H́nh Học Âu Châu, cái hạt giống bé bỏng đó quả thật đă manh nha mọi thứ cây cối đồ sộ, mà về sau thiên hạ sẽ thi đua nhau về leo trèo hái ngắt mọi thứ hoa quả và có thể tưởng lầm rằng hoa quả ấy là của riêng ḿnh trồng trọt ra, chứ chẳng phải của ông Heidegger hoặc Martin ǵ ráo!
Định mệnh của những tư tưởng hoằng viễn xưa nay, vẫn măi măi là như thế. Những kẻ gieo giống chả bao giờ thấy cây mọc, chẳng bao giờ thấy đâm hoa kết quả, chẳng bao giờ thu hoạch mùa màng. Họ chỉ phụng bồi cho cuộc gieo hạt, và hơn nữa, phụng bồi cho cuộc soạn sửa gieo hạt mà thôi.
Il ne servent qu’aux semailles, et même, plutôt à là préparation de celles-ci. Sie diene der Aussaat und eher noch der Vorbereitung dieser.
(Xem Trăng Châu Thổ, trg 467-468).
Heidegger là kẻ nh́n thấy rất rơ duyên do cuộc tẩu hỏa nhập ma của những Nietzsche, Hoelderlin, và - nhẹ hơn - của Rilke. Ông muốn tránh cho những nhà tư tưởng, những kẻ sáng tạo mai sau khỏi lâm vào t́nh trạnh tẩu hỏa nhập ma – đó cũng là một trong những duyên do dă khiến ông lập ngôn một cách dị thường ẩn mật.
Nếu bây giờ chúng ta suy gẫm về Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, nếu ta nghĩ rằng viết Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du tuyệt nhiên chẳng có ư kư thác tâm sự riêng tây của “di thần triều Lê” ǵ ǵ cả, th́ sự vụ ắt c̣n rọi vài tia sáng vào cuộc lập ngôn của Heidegger. Nếu như Nguyễn Du viết Truyện Kiều với cứu cánh trực tiếp mở đối thoại với Gia Long? Gián tiếp mở đối thoại với Trung Hoa? Và rộng răi hơn: mở đối thoại với sử lịch Đông Phương? Hoặc: mở đối thoại với tứ hải? – Th́ từ đó, những nếp gấp khôn hàn nào trong Truyện Kiều sẽ chậm răi mở ra? Và từ đó chúng ta sẽ “làm thơ” theo thể thái nào để đáp ứng?
Bây giờ để thử tránh lỗi tư tưởng một chiều. Chúng ta hăy nêu vài câu hỏi liên can tới tới Nietzsche.
Sự t́nh “đương nhiên” là Nietzsche có xô bồ công kích Jésus Christ. Nhưng đâu là cái lẽ “sở dĩ nhiên” của cuộc đó? Sau cuộc đó, Nietzsche bị tẩu hỏa nhập ma. Ông thật “bị” tẩu hỏa nhập ma, hay là ông cố t́nh lao đầu vào chịu trận tẩu hỏa nhập ma? Nếu ông có cố ư, th́ đâu là duyên do sự cố ư ấy? Nếu đem sự t́nh kia ra hỏi Nguyễn Du, th́ Nguyễn Du sẽ đáp bằng câu thơ nào trong Truyện Kiều? Khổng Tử sẽ phụ họa vào câu thơ đó bằng cái lời nào của Ngài? Thằng thi sỹ Việt Nam ngày nay có nên nêu mọi sự đó ra bàn luận trực tiếp? Nietzsche có bằng ḷng thuận để cho nó nêu ra hay là Nietzsche sẽ bảo rằng: “vấn đề đối với các hạ bây gờ là nên sớm đánh mất tại hạ đi!” Đánh mất bằng cách nào? Sao gọi là đánh mất? Lặng lẽ giũ áo ra đi, hay là lao ḿnh tới công kích? Hay là vừa công kích, vừa bỏ đi, vừa thân tặng ông vài vần thơ lây lất? Hay là chịu chơi gay cấn bảo rằng: - Nhân danh là thi sỹ Việt Nam, tôi xin nguyện làm nô lệ ông suốt đời?
BanTruc
10-02-2007, 08:22 AM
Từ rằng: ân oán hai bên
Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh
Nàng rằng: nhờ cậy uy linh
Hăy xin báo đáp ân t́nh cho phu
Báo ân rồi sẽ trả thù
Từ rằng: việc ấy để cho mặc nàng
Hai lần Từ Hải dùng tiếng “mặc nàng”. Để cho mặc nàng. Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh.
Rồi Từ Hải im lặng suốt buổi. Trong cơn im lặng, Từ Hải đă nh́n thấy Kiều chẳng minh mẫn ǵ hết. Nhưng không hề ǵ. Điều trầm trọng là cái tiếng “mặc nàng” Nguyễn Du đă để cho Từ Hải thốt lúc bấy giờ.
Hai tiếng “mặc nàng” đó ngày sau sẽ quyết định cuộc đầu hàng của Từ Hải. Việc bây giờ để cho mặc nàng, th́ mọi việc về sau cũng sẽ để cho mặc nàng quyết định.
Nghe lời nàng nói mặn mà
Thế công Từ mới đổi ra thế hàng
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng
Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng. Nguyễn Du dùng tiếng “vội vàng” một cách thật kỳ bí. Càn khôn vũ trụ ǵ cùng theo nhau điên tam đảo tứ hết cả, trong hai tiếng vội vàng kia. Cái “triều đ́nh riêng một góc trời” của Từ Hải đang lăn lóc quay lông lốc trong hai tiếng vội vàng.
Từ Hải “chịu chơi” đến cái mức bất khả tư nghị. Tuyệt đỉnh của thiên tài Từ Hải là ở chỗ đó. Trong một nháy, đem xô ùa hết cả cứu cánh đời ḿnh để đáp lại những lời “nhạt như nước ốc” của Kiều. Nhạt như nước ốc, mà chàng thấy mặn mà khôn tả, ấy bởi v́ cơi ḷng của kẻ anh hùng vốn là: đă chịu chơi, th́ bất kể lam hồng tạo bạch. Từ Hải và Tú Bà là hai thái cực. Nhưng đáo cùng, hai thái cực khác nhau ở hai điểm:
Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời
Từ Hải đă v́ Thúy Kiều mà nghênh ngang dựng một cơi biên thùy, theo chàng nói:
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng loa giậy đất uy linh rợp đường
Làm cho rơ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nường nghi gia
Nhưng bây giờ Kiều đă bảo “Ngh́n năm ai có khen đâu Hoàng Sào” th́ lập thời Từ Hải vội vàng xóa bỏ hết cái cuộc kia.
Tin lời thành hạ yêu minh
Cái niềm tin thật sự của chàng đă mất, th́ bây giờ chàng trở thành đứa bé thơ ngây, tin mọi thứ tầm phào vậy.
Tin lời thanh hạ yêu minh
Ngọn cờ ngơ ngác trống canh trễ tràng…
Từ công hờ hẫng biết đâu
Đại quan lễ phục ra đầu cửa viên
Những tiếng “hờ hẫng, trễ tràng, ngơ ngác”, Nguyễn Du dùng một cách năo nuột quỷ khốc thần sầu.
Tôi viết vội vă. Tôi không có một ngàn năm ở trước mặt. Nhưng kẻ nào có được trước mặt một ngàn năm, th́ hăy thư thả đọc lại Nguyễn Du và sẽ khám phá ra nhiều thứ thiên thu vạn đại khác.
Heidegger bảo rằng: “nhà tư tưởng càng hoằng viễn, th́ phần vô ngôn trong sách họ càng khôn lường”. Lúc nói câu đó, Heidegger ắt là có nghĩ tới Nguyễn Du vậy.
Phần vô ngôn khôn lường? Khôn lường đối với mọi người và khôn lường tự ḿnh đối với ḿnh. Người tư tưởng (cũng như thi nhân) không bao giờ lường được hết tư tưởng ḿnh. Đọc tư tưởng, đọc thi ca, từ đó chúng ta chỉ có thể nêu những câu hỏi đại khái kỳ dị như sau:
V́ sao con đường đi trong đó không bằng phẳng?
Đó có phải là một lối cưỡng bức không?
Nguyễn Du đă cưỡng bức đủ điều. Heidegger đi tới đâu cũng cưỡng bức tràn lan tới đó. Cưỡng bức Nietzsche, Rilke. Rồi quay lại tự ḿnh cưỡng bức chính ḿnh.
Cổ kim có nhà tư tưởng nào tự ḿnh cưỡng bức ḿnh nhiều như Nietzsche, như Heidegger, như Sade? Sự đó có liên can mật thiết ǵ tới Khổng Tử, Jésus Christ hay không?...
BanTruc
10-02-2007, 08:23 AM
Qua sông là một nhịp cầu
Qua tôi là một kiếp sầu vô chung
(“Tự T́nh” – Dâng Rừng)
Thế ra tôi đứng ra để đón lấy kiếp sầu vô chung? Tôi là Tại Thể? Da-sein? Tôi đón lấy sầu kia và thể nghiệm mối tương quan giữa Dasein và Sein? Giữa Tại Thể và Tồn Thể?
Qua sông là…
Qua tôi là…
Thy sĩ hai lần dùng tiếng là. Hai lần dùng tiếng qua.
Nhịp cầu là cái ǵ qua sông. Sầu vô chung là cái ǵ qua tôi. Ông Hedeigger trong cuốn Siêu H́nh Học Là Ǵ, đă từng đem cái sầu, khắc khoải, làm tinh thể của Dasein, trong mối sầu đă “nhảy vọt” một cái, băng qua mọi thể hiện của dung nhật thường lệ, và tiếp giáp với mạch tồn thể uyên nguyên.
(Đó cũng là mối sầu bàng bạc khắp Truyện Kiều)…
Nhịp cầu là cái ǵ giúp qua sông, th́ sâu vô chung cũng là cái ǵ giúp đáo bỉ ngạn.
BanTruc
10-02-2007, 08:27 AM
Từ trong tinh thể nó, Dịch là làm điều cưỡng bức. Dịch văn xuôi là điều cưỡng bức. Dịch thơ lại càng là cưỡng bức triệt để hơn nữa.
Đừng nói chi tới sự vụ dịch thơ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Chỉ thử hỏi: Có thể nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ Việt được không? Có thể nào đem thơ lục bát dịch ra làm thơ thất ngôn, hoặc ngũ ngôn, hoặc song thất lục bát, hay là thơ tám chữ?
Nói triệt để hơn nữa: Có thể nào đem thơ lục bát dịch trở lại làm thơ lục bát? Chính ông Nguyễn Du, ông có thể nào tự ḿnh đem thơ lục bát của ḿnh dịch trở lại làm thơ lục bát?
Không. Lời thơ kia chỉ hiện ra một lần trong phong thái riêng biệt của anh hoa phát tiết một lần. Buộc nó phải hiện ra trở lại trong phong thái khác, th́ anh hoa tài tử có thể cho phát tiết một lần nữa, nhưng lần sau không c̣n là lần trước.
Màu xanh của biển chiều thu năm nay không phải màu xanh của biển chiều thu năm ngoái. Màu xanh biển phút trước, không phải màu xanh biển phút sau. Luôn luôn trong vạn vật cũng như trong sinh hoạt tâm linh, có một trận tái tạo không ngừng. Phải chấp nhận sự đó như là điều hiển nhiên, th́ mọi cuộc dịch dy mới có thể c̣n chút ǵ chính đáng trong cơn liên tồn cưỡng bức.
Trái lại, nếu quan niệm hẹp ḥi, nếu cho rằng dịch phải thật “sát”, không được cưỡng bức dịch dy, th́ mặc nhiên người ta đă cưỡng bức một cách không chính đáng. V́ cuộc cưỡng bức nọ không đưa tới tái tạo tinh hoa, mà dẫn tới nô lệ ngục tù, nghĩa là sát phạt tinh hoa.
Thử đưa một thí dụ. Truyện Kiều mở ra với bốn câu:
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng
Nếu người dịch là kẻ tài hoa, ắt nhận thấy rằng điều cốt thiết trong mấy câu thơ kia, chẳng phải là cái ư tưởng nó hàm ngụ - ư tưởng “tài mệnh tương xung”, “cơi người ta trăm năm ngắn ngủi”, “cuộc biển dâu thương hải tang điền”… là những ư tưởng sáo. Trái lại, cái chỗ bất tử, cái chỗ huyền diệu của câu thơ kia lại là ở những điệp thanh, điệp âm, đối ngữ…
Trăm năm - một cuộc - những điều…
Trong cơi - trải qua – trông thấy…
Chữ tài - chữ mệnh…
Khéo là ghét nhau – mà đau đớn ḷng…
Một cuộc tương tranh, một cuộc xô xát, trong một cơi trăm năm, được âm ỷ nêu ra âm thầm triền miên trong những đối ngữ, điệp âm nọ. Đó là cái chỗ thần diệu phát tiết của thơ. Vậy lời dịch làm sao tái lập được cái chất linh diệu đó?
Ông René Crayssac, ông Trương Cam Vũ, vô t́nh hoặc hữu ư đă tái tạo được trong hai bản Pháp Ngữ và Hoa Ngữ cái chất thơ âm thầm triền miên trong cốt cách lục bát Việt Nam. Mỗi ông theo mỗi lối, thuận theo tinh hoa ngôn ngữ ḿnh, đă thể hiện trở lại trong bản dịch được chín phần mười tinh hoa ngôn ngữ.
Hăy xét bốn câu của Trương Cam Vũ trước:
Nghịch lữ nhân sinh bách tuế trung
Mệnh tài lưỡng tự xảơ tương xung
Nhất kinh thương hải tang điền biến
Mục kích tâm thương kỷ văng tung
Có thể nghĩ rằng đó là do ngẫu nhiên mà Việt Ngữ và Hoa Ngữ đă hôn phối chặt chẽ. Cũng có thể nghĩ rằng ấy là do cuộc tương giao hằng bao thế kỷ mà nảy ra kết quả đẹp đẽ kia. Dù sao th́ dù, lời thơ dịch đă không bỏ lạc cái cốt yếu trong thơ Nguyễn Du. Xin ghi ra những ngôn ngữ gùn ghè tịch hạp:
Bách tuế - lưỡng tự - nhất kinh (trăm năm – hai chữ - một trải qua.)
Đó là những đối ngữ. Và đây là những điệp thanh:
Tuế - tài - tự - tương – tang – tâm – tung nhất kinh - mục kích – thương hải – tâm thương…
Bốn câu dịch bốn câu, Trương Cam Vũ có thể tái lập được chừng đó điểm đặc biệt, lại c̣n dịch được tiếng “khéo là ghét nhau” ra làm “xảo tương xung” - Thế là người dịch đă thể hội huy hoàng cứu cánh của công việc vậy. Ông vừa thong dong đi sát ư, lại c̣n thể hiện được viên măn cái hồn thơ.
Bây giờ xét tới lời dịch của René Crayssac. Crayssac sử dụng Pháp ngữ, Crayssac không thừa thụ những thuận lợi như Trương Cam Vũ – những thuận lợi do những tương giao lâu ngày giữa Hoa Ngữ và Việt Ngữ đem lại – Crayssac đă phải cưỡng bức như thế nào, theo đường lối nào, trong lời dịch?
Những đối ngữ đi mật thiết sát gót nhau trong bốn câu nguyên tác, Crayssac không cách ǵ thể hiện lại được, th́ ông thể hiện theo lối khác bằng cách dịch dôi ra và đưa vào những điệp thanh phong phú.
Bốn câu của Nguyễn Du, ông phải dịch ra làm mười hai câu cả thảy mới tạm gọi là lột được phần nào tinh hoa nguyên tác:
Cent ans – le maximum d’une humaine existence!
S’écoulent rarement sans qu’avect persistance
Et comme si le Sort jalousait leur bonheur,
Sur les gens de talent s’abatte le malheur
Subissant l’âpre loi de la métamorphose,
On voit naitre et mourir si vite tant de choses!
Bien peu de temps suffit pour que fatalement
Surviennent ici-bas d’étranges changements,
Pour que des vert muriers la mer prenne la place
Tandis que, devant eux, ailleurs, elle s’efface!
Or, dans un temps si court, ce que l’observateur
Peut bien voir ne saurait qu’endolorir son coeur.
Nhận định thấy ǵ?
Những tiếng “trăm năm, một cuộc, những điều” của Nguyễn Du không c̣n có thể đi sát nhau đẻ gùn ghè mật thiết, v́ chúng bị loăng mất trong mười hai câu dài dậm duộc.
Nhưng Crayssac ngược lại đă biết tận dụng những điệp thanh lai láng để thể hiện chất thơ bàng bạc của Nguyễn Du. Xin chép ra đây những âm thanh âm vận láy đi láy lại:
Cent ans – s’écoulent – sans que – comme si – le sort – sur les – s’abatte – subissant si vite – suffit – surviennent – s’efface – si court – ne saurait – son coeur –
Ngoài ra, những đối ngữ thật sự của Nguyễn Du mà Crayssac không thật sự tái lập được, th́ ông cũng đă tái lập đối ngữ theo cách khác:
Sans qu’avec – et comme si – Bonheur – malheur
Nâitre – mourir
Tant de choses – bien peu de temps
Prenne la place – elle s’efface
Trên đây chỉ là một trong muôn ngàn thí dụ khác có thể đưa ra khi bàn tới chuyện dịch. Dù sao, điều cốt yếu, chẳng phải là đạt hay không, có lẽ… Điều cốt yếu, là ư thức về cái chỗ gay cấn kia, lúc khởi sự đọc văn thơ. Thơ Nerval, thơ Apollinaire, Baudelaire, Whitman, Dickinson, Rilke, Nietzsche, Heidegger, vân vân, đă bao phen khiến người dịch đành phải bó tay, bó chân, xin nhảy lùi từng trận.
Vậy nên kẻ biết dịch là kẻ biết nhảy lùi. V́ dịch là tư tưởng một cách nghiêm mật. Kẻ tư tưởng thâm viễn bao giờ cũng nhảy lùi. Kẻ biết dịch tối cao, là kẻ không bao giờ chịu dịch. Trường hợp buộc phải dịch, th́ đành cưỡng bức. Cưỡng bức để đưa tới đề huề. Trường hợp không thể đưa tới đề huề, th́ đành tái điệp nhảy lùi, song trùng bỏ cuộc. Bỏ cuộc th́ kể cũng đ́u hiu. Bèn nhảy vô cuộc trở lại. Rốt cuộc? Rốt cuộc, con người tẩu hỏa nhập ma sa vào giữa một ṿng lẩn quẩn kỳ quặc. Trong cái ṿng lẩn quẩn kỳ quặc ấy, hốt nhiên lời thơ Nguyễn Du lại thị hiện một cách năo nùng:
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng
Thơ Nguyễn Du thị hiện một cách đoạn trường như thế, th́ sự cố nào xảy ra cho thằng tài tử? Ấy là sự cố Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn… Mọi bài thơ tôi viết ra, đều là vịnh thơ Nguyễn Du tại chỗ gay cấn âm thầm nhất. Dịch thơ từ đó biến ra làm Vịnh Kiều, trong từng cơn cưỡng bức. Thơ Nguyễn Du cũng là tự ḿnh cưỡng bức ḿnh. Người ta công kích thơ tôi, chẳng qua chỉ v́ người ta tưởng rằng tôi làm thơ đưa ra cái ǵ độc đáo lắm.
Lại có kẻ cho rằng thơ tôi làm u ẩn, súc tích, hơn thơ Nguyễn Du. Ấy chẳng qua là người ta không chịu đọc thơ Nguyễn Du trong nếp gấp của nguồn thơ ông đấy thôi.
BanTruc
10-02-2007, 08:30 AM
Hoài Thanh
Ngôn ngữ thơ Việt Nam thành tựu bởi Nguyễn Du. Văn xuôi Việt Nam đạt tới cơi thâm viễn với Hoài Thanh. Hoài Thanh b́nh Kiều, Hoài Thanh viết Thi Nhân Việt Nam, có những lời bất hủ. Thiên tài Hoài Thanh đủ tư cách dựng sừng sững những thiên tài đứng lên chót vót. Và ông mở ra không biết bao nhiêu con đường cho những thi sỹ và phê b́nh gia đi sau. Dù thỉnh thoảng cũng phải bài bác ông trong phép “cưỡng bức chịu chơi”, nhưng phải nh́n nhận rằng nếu không có Hoài Thanh, th́ có lẽ ngày này chúng ta chẳng có thể viết nên một cái ǵ ra cái ǵ ǵ cả?
Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trần Đ́nh Đàn… là ba ông thầy cũ của tôi. Ba ông thuộc ṇi giáo sư xuất chúng. Rủi thay ngày học với ba ông, tôi đă thuộc Huy Cận, Nguyễn Du, Nerval, nên bài vở nhà trường của các ông chẳng đem lại chút ǵ đáng kể cho tôi. Nhưng cái phong thái trang nhă thâm viễn của các ông, vô h́nh trung, lại giúp đỡ tôi rất nhiều. Và v́ thế sách vở của các ông, về sau tôi chịu khó đọc chậm răi.
Bây giờ các bạn thử tưởng tượng. Nếu không có sách Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim… th́ ngày này có quả rằng chúng ta giống như những con gà con mất mẹ.
Riêng nói về Hoài Thanh, cái tâm hồn thi nhạc nơi ông c̣n cao xa hơn hầu hết mọi thy sỹ tôi đă gặp.
Tiện đây tôi xin tặng ông Hoài Thanh một bài thơ.
Cỗi nguồn quá vắng lặng sao
Câu kinh trầm thống phương nào dậy tuôn
Mộng thừa nhị bội bắt buông
Lừng vang tử trúc điệu buồn như mai
---------------
Đào Duy Anh
Trong buổi học, Đào Duy Anh trầm giọng buồn buồn bảo học sinh:
"Các anh nên nhớ rằng dù tôi có gắng giảng giải cách ǵ đi nữa, vẫn không thể nào khiến các anh ngờ ra hết những ǵ huyền diệu trong tác phẩm Nguyễn Du. Ngày sau nếu các anh có thể đi quanh một ṿng thi ca thế giới, các anh đón nhận tinh hoa những nguồn thơ lạ thế gian, rồi các anh quay về với Nguyễn Du lúc đầu đă bạc, ngày đó họa chăng các anh mới rơ thiên tài Nguyễn Du cao độ nào."
Hỏi ông về cuốn sách của Nguyễn Bách Khoa (Nguyễn Du và Truyện Kiều) ông lơ lửng đáp:
“Nguyễn Bách Khoa có tài, nhưng anh ta mới bước chân vào một vài học thuyết Tây Phương, anh ta say mê quá, tưởng đó là cái ǵ tân kỳ lắm lắm. Tuổi trẻ có những cái lầm đồ sộ”.
Tiện đây tôi xin tặng Đào Duy Anh một bài thơ:
Tiều phu đắn gỗ khô trên núi
Em bán than gánh củi một vài
Sau lưng ngày tháng chạy dài
Trận nh́n tiền diện an bài nắm xương
Tung bốn vó dặm trường ngựa ruổi
Mừng sát na theo đuổi máu xuân
Xương thu tủy hạ luống từng
Phổi tim quỹ đạo quây quần sang đông
--------------
Khổng Tử
Chất thơ tiềm ẩn trong ngôn ngữ Đức Khổng quả thực phi phàm. Nhưng muốn nhận ra phải có đủ đầy trăm năm đạo hạnh. Tại hạ chỉ mới có một phần tư rưỡi tuế nguyệt thôi. Nên chẳng thể dám nhận ra.
Có lẽ một vị bồ tát, một vị linh mục [1] ngày sau sẽ t́m ra cái mạch nguồn âm thầm giao tiếp Dịch Kinh và Evangile, Luận Ngữ và Evangile, Luận Ngữ và Kim Cương Kinh, Dịch Kinh và Holzwege vân vân.
-------------
Ông Lư Bạch
Nhứt chi nùng diễm lộ ngưng hương
Vân vũ vu sơn uổng đoạn trường
Riêng hai câu ấy thôi của ông cũng đủ khiến tại hạ đem Truyện Kiều đề tặng ông chơi một trận.
Người Trung Hoa đă điên rồ thêu dệt những giai thoại ngơ ngẩn tưởng làm vinh dự cho ông, nhưng thực ra đă bôi nhọ ông một cách cổ kim chưa từng có. Tại hạ đă nhiều phen muốn nêu sự vụ kia ra, những vừa nghĩ tới đă cảm thấy buôn nôn gớm guốc khôn tả.
Dưới chín suối, ông hăy yên ḷng. Bọn thy sỹ ngàn năm sau măi măi tự nhiên biết rằng những sự t́nh kia không hề có thật. Không thể nào thy sỹ như ông lại bắt kẻ khác cởi giày giép cho ḿnh. C̣n bài “Phượng Hoàng Đài” ông làm ra không phải v́ ganh tài Thôi Hiệu, mà v́ tương ứng với Thôi Hiệu.
----------
Rỡn
Khổng Tử rỡn dịu dàng bao dong, Shakespeare rỡn toe toét thiên h́nh vạn trạng, Homère rỡn bát ngát phiêu bồng. Kim Cương Kinh rỡn ôn tồn thân ái, Nguyễn Du rỡn ngậm ngùi, Camus rỡn thống thiết, Malraux rỡn ráo riết chịu chơi. Xuân Diệu rỡn tào lao, Nerval Huy Cận dường như không thể rỡn, Hồ Xuân Hương rỡm tùm lum, Bà Huyện Thanh Quan không biết rỡn, Nguyễn Thị Hoàng rỡn xót xa, Trang Tử rỡn độc đáo gay cấn, Trần Thy Nhă Ca rỡn như thiên nữ lưu đày, Saint-Exupéry có định rỡn chút ít, nhưng bỗng nhiên dừng lại tê buốt, Gide rỡn ỡm ờ c̣ ke tỷ mỷ, Sade rỡn điên cuồng. Nietzsche rỡn chết gục, Nguyễn Thị Hoàng rỡn tan hoang, Hồ Xuân Hương rỡn đo rồi đếm, đếm lại đeo, đeo xong th́ đắp xéo, Như Lai rỡn từ bi, Jésus Christ rỡn bác ái, Sophocle rỡn trang nhă thâm trầm kỳ tuyệt, Euripide rỡn ẩn ẩn hiện hiện, Ngoạ Long Sinh rỡn u nùng, Kim Dung rỡn bất tuyệt, Hồ Dzếnh rỡn nên thơ chân thiết, Tú Mỡ rỡn như đười ươi, Shakespeare rỡn như phượng hoàng, Nietzsche rỡn tan hoang xương máu, Gide rỡn lúc giật lúc buông lúc chùng lúc thẳng, Tô Man Thu rỡn năo nùng, đốt cháy máu tim. Whitman rỡn như thánh hiền thi đua lội bơi với con nít, Apollinaire rỡn như thiên thần yêu dấu gái trần gian, Emily Dickinson rỡn kín đáo thơm tho, Faulkner rỡn cho vừa ḷng ma quỷ, Goethe rỡn trung ḥa đôn hậu, Heidegger rỡn với phong thái thần thánh đóng vai trịnh trọng giáo sư, Whitman rỡn cho thánh hiền chịu thua con trẻ, Gide rỡn cà gật uyên bác chịu chơi, Apollinare rỡn như ḍng suối xuân ghẹo khe mùa thu sầu mộng, Tản Đà rỡn trong từng trận tẩu hỏa nhập ma, Mỹ Nga rỡn thi đua lên thăm chị Nguyệt, Việt Nam ngày xưa biết rỡn, ngày nay hết cơ hội để cùng tứ hải rỡn rồi rồi, Trung Hoa rỡn bất khả tư nghị, ông Kút Xếp rỡn chỉ được một thời gian ngắn, cô Phùng Khánh không thích thiên hạ đùa dai. V́ sao như thế? V́ đùa dai th́ cái rỡn ắt biến thành cái rỡmmm…
----------
Hồ Dzếnh
Giếng vàng ánh ngọc ngh́n xưa
Giở trang sách cũ hương thừa c̣n bay
Mà sao người đó ta đây
T́nh duyên phảng phất như ngày đă xa
Người về ta mới nhớ ra
Yêu là thế đấy, mơ là thế thôi
(“Phong Châu” – Quê Ngoại)
Lửa thơ bừng cháy giữa đời
T́nh thơ thắm thiết cho người bán mua
Ư thiêng người thiếu ta thừa
Ngh́n kho ân lộc trăm mùa mạnh Xuân
Khinh nẻo hẹp, ghét nơi gần
Mắt xa thẳm hỏi muôn lần dặm băng
Dẫu tàn trên đỉnh kiêu căng
C̣n hơn muôn thuở cao bằng ngọn cây
Thơ về nắng sáng lừng lay
Gấp đi cánh phượng cho ngày rạng ra
Cơi trần vẳng tiếng thiên nga
Thơ không tuổi ư không già muôn năm
Gối lên bắc đẩu ta nằm
Nghe rung chân lạ thơ thần mười phương
Non cao nên dáng non buồn
Tuyết sương thắm măi linh hồn quạnh hiu
Non tuy run rét bao chiều
Vẫn đem cao cả tiêu điều gửi mây
(Hoa Xuân Đất Việt)
----------
Phạm Thị Lan
Phạm Thị Lan là em ruột Phạm Quang B́nh. Mười lăm tuổi. Làm thơ tuy không vững bằng Phạm Quang B́nh, nhưng quả thật cùng ṇi thiên tài nhỏ tuổi. Xin chép ra đây hai bài tiêu biểu.
Chị Hai
Chị hai xuống chợ tồi tàn
Ướt hai tấm áo một hàng nước mưa
Buổi đi sớm, buổi về trưa
Ướt một tấm áo c̣n chưa vừa ḷng
Ở trên tôi tạm nói là “không vững bằng”. Thật ra sao gọi là vững? Sao gọi là không? Chất thơ thiên tài tuổi nhỏ phải là như thế mới được.
Cô Bạn
Cô bạn học không thuộc bài
Nghe mưa nghe nắng thở dài ngoài kia
Đầu hôm cho đến giữa khuya
Học bài không thuộc vở b́a giấy khô
Sợ thầy hay là sợ cô
Sáng nay không dám bước vô nhà trường
Đáng lẽ ra, đối với một học sinh c̣n nhỏ, ta chẳng nên nói với nó rằng nó là thiên tài. Nhưng trường hợp Phạm Thị Lan, th́ lại khác. Bảo nó là thiên tài th́ nó cười rộ đáp: “Thiên tài hay không, không cần thiết. Cháu chỉ xin bác mua cho cháu một quyển văn phạm thế là đủ”.
--------------
Albert Camus
Ông nêu vấn đề “cơi phi lư” cốt để nói cái ǵ khác? Nghĩa là nếu bây giờ ta thật sự muốn mở cuộc đối thoại chân chính với tư tưởng Camus, th́ điều trước tiên là phải khai triển phần vô ngôn trong tư tưởng của ông. (Xem mấy quyển Tư Tưởng Hiện Đại).
“Thoại trung hữu thoại”, lời nói đơn giản đó của người Tàu xưa, dường như tới ngày này vẫn chẳng học giả nào lưu tâm tới.
Với Camus, với Heidegger vân vân, suốt mấy mươi năm, nói quanh quẩn vẫn không rồi. Heidegger nêu vấn đề Être và étant, vấn đề pensée méditante và pensée calculante, vân vân, ấy là ông muốn nhân đó mà đặt ra vấn đề khác. Nếu chỉ phải phân biệt đơn giản có thế thôi, th́ hà tất phải lắm lời – cái “huyền ngoại chi âm” – th́ dù tẩu hỏa nhập ma có tự nhận ḿnh rơ biết cái điều Heidegger nói, ta vẫn ù ĺ nằm vĩnh viễn trong cơi pensée calculante.
Cái pensée calculante đó đă khiến người ta cứ tiếp tục ngộ giải Camus, Gide, là những nhà tư tưởng tương đối không có quá u uẩn trong phép lập ngôn. Và cho dẫu người ta không ngộ giải một cách quá hồ đồ, dẫu cho người ta thể hội được cái điều Camus Gide muốn nói, người ta cũng chỉ mới thấy cái “đương nhiên” mà chưa nhận ra cái “sở dĩ nhiên” - chỉ tri kỳ đương nhiên, nhi bất tri kỳ sở dĩ nhiên.
Chung quy vẫn cái pensée calculente cứ ám măi, ngay trong lúc người ta tuyên bố chống lại nó.
Bấy giờ nếu chúng ta chịu sực bàng hoàn, chợt hồi tỉnh một chút, th́ câu hỏi lù lù hiện ra trong đầu óc máu me, ấy là: - Sao gọi là mệnh đề phụ?
(Trong mấy tập một vài nhận xét về Truyện Kiều, một vài nhận xét về Lục Vân Tiên – Tân Việt xuất bản 1957 – có vài mệnh đề phụ đồ sộ, mà cho tới ngày nay vẫn chẳng có một ai lưu ư tới).
Bây giờ nếu thử một phen triệt để dứt khoát với mọi thứ luận lư chi ly của triết học Âu Châu, (chúng cứ ám lấy chúng ta tại chỗ vô h́nh trung, ngay khi ta nguyền rủa chúng), thật sự thử đọc Camus và những thi sỹ thiên tài Tây Phương hiện đại với những con mắt của những nhà tư tưởng và thi nhân Đông Phương (trong đó có Nguyễn Du), th́ mọi nhận định của ta sẽ đổi khác từ ngọn ngành tới cội rễ. Và chúng ta sẽ càng hiểu được nguyên do cuộc lập ngôn tam bành của những ông Nietzsche, và trận cưỡng bức nghiêm mật của những ông Heidegger.
Người ta không bao giờ thật sự chiêm niệm, nên những điều đơn giản hiển nhiên, đối với người ta cứ như trở thành hồ đồ, không chính xác. Người ta thường chỉ trích tôi tư tưởng vơ đoán, không mạch lạc, hoặc sai lệch điểm này, khuyết điểm nhầm lẫn chỗ kia. Không bao giờ người ta giật ḿnh sực tỉnh trong thâm để linh hồn, để thể hội rằng: lúc bo bo công kích theo lối “đam đam khuy tứ” đó, th́ chính người ta đă đang chịu làm miếng mồi mềm mại cho cái tinh thần máy móc hỗn độn của chính cái tinh thần duy lư thô thiển mà người ta đang công kích. Cái tư tưởng “calculante” nó luôn luôn c̣n c̣ kè xúi giục tủy năo người tẩu hỏa nhập ma, bằng một đường lối luẩn quất kỳ dị. Nó cũng có cái tính chất “nhị bội” riêng biệt của nó.
Hầu hết những điều Heidegger, Nietzsche, Gide, Camus… đă nói, là nói với Âu Châu Triết học, nơi giữa mảnh đất đai Siêu H́nh Học. Th́ dù nói cao, dù nói thấp, là chỉ cao thấp đối với Siêu H́nh Học Âu Châu, vạch một đường cày trong mảnh đất Âu Châu. Không thể đem ra công kích hoặc tán dương theo lối tư tưởng một chiều, bỏ lạc cái lẽ “sở dĩ nhiên” trong phép lập ngôn của họ. Càng không thể đem ra ca ngợi nhằm chủ đích gián tiếp tàn phá ngôn ngữ bọn tài tử Đông phương.
Cho đến ngày nay người ta vẫn bảo rằng Nguyễn Du kư thác tâm sự “di thần triều Lê” trong tác phẩm của ông – th́ như thế tư tưởng c̣n bước đi bước đứng như thế nào? Rồi những điều Nguyễn Du nói với ma, th́ quỷ lại tưởng là nói với quỷ, lại tưởng là nói với thánh thần. Những ngộ giải chạy tràn lan. Quỷ không hài ḷng về Nguyễn Du, thần thánh bực bội v́ Nguyễn Du, thánh thần lại hoan hỷ v́ Nguyễn Du!!! Thật không c̣n biết làm sao ḍ cho ra manh mối. Minotaure tha hồ chạy đú đỡn trong mê cung “hỗn thủy” đó để triệt để “mô ngư, tróc giăi”, từ trong Khung Cửa Hẹp tới mọi lối quanh quẩn của l’Étranger. Trong khi đó, Rilke bó tay, cặm cụi dịch thơ Valéry, dịch văn Gide. Chỉ một ḿnh Rilke biết Gide muốn nói ǵ trong Khung Cửa Hẹp. Th́ Minotaure lại vồ lấy Rilke để nuốt chửng La Porte Étroite.
Thế th́ sao gọi là L’Immoraliste? Gide viết tiếp La Symphonie Pastorale. Camus viết tiếp La Peste.
Chạy đuổi theo Gide, Camus, Minotaure quay về o bế Walt Whitman. Lợi dụng Lá Cỏ để tàn phá Lá Cồn. Học đ̣i vài thể điệu Mưa Nguồn để xua đuổi Ngàn Thu Rớt Hột.
Vậy xin viết vài câu thơ lai rai.
Hoàng Hậu luống muộn màng Công Chúa
Nảy hoa xuân cành múa lộn ṿng
Ba thu càng lắc càng đong
Càn đầy tâm sự cơi ḷng càng vơi
Quả thực là một món quà đặc sắc, một mâm cỗ đầy ắp mà mỗi món ăn muốn tiêu hoá được ắt hẳn sẽ mang lại cho lão phu không dưới năm chục sợi tóc bạc. Chân thành cảm ơn Koko đại tiểu thư, có dịp sẽ xin hậu tạ, sẽ đem vật chất để đền đáp tinh thần!
Lam Dai Ngoc
10-03-2007, 10:01 AM
cô nương nên post những bài này vào Việt Nam Thi Các, nơi đó là nơi chúng ta post những bài thơ của những thi sĩ nổi tiếng như Bùi Giáng, c̣n riêng Hàn Yên Các là nơi chúng ta cho ra đời những bài thơ con cóc, những ngớ ngẩn vu vơ do những thi sĩ Luyện Vơ Đường sáng tác :D :D
Powered by vBulletin™ Version 4.0.3 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.